Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.02 KB, 7 trang )

MỞ ĐẦU
Quyền lực nhà nước là một vấn đề vô cùng phức tạp, nó luôn biến động và có những
thay đổi to lớn trong những năm gần đây. Trong mục XIV, Dự thảo báo cáo Chính trị có
viết: “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế
kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ
sở quyền lực nhà nước là thống nhất”, tại Điều 2 của Hiến pháp năm 2013 cũng đã thể
hiện quan điểm chỉ đạo đó. Cùng bàn về vấn đề này PGS.TS.Lê Minh Tâm có: “bàn về
tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” – (Tạp chí Luật học, số 5/2003).
PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan có:“nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp” – (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2007). Để hiểu rõ hơn về
vấn đề này em xin chọn vấn đề 3 để nghiên cứu, đồng thời đúc rút một cách sâu sắc những
kiến thức đã học trong quá trình vừa qua.
NỘI DUNG
1.Tóm tắt bài viết: “bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công,
phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” của tác giả
Lê Minh Tâm:
Quyền lực(QL): QL được hợp thành từ quyền và lực, trong đó quyền được hiểu là
khả năng được thực hiện hành vi và lực là sức mạnh bảo đảm cho quyền có tính hiện thực
và khả thi. Khái niệm QL luôn thể hiện sự giới hạn bởi mức độ kết hợp, tương tác giữa
quyền và lực. Vì vậy, QL là khả năng được đảm bảo bằng sức mạnh để thực hiện những
hành vi hoặc buộc người khác phải thực hiện những hành vi nhất định theo định ý chí của
người có quyền hoặc được trao QL. Có nhiều loại QL và mỗi loại lại có nguồn gốc, cơ sở
tồn tại được đảm bảo bằng sức mạnh và thiết chế khác nhau, mỗi loại QL lại có những biến
dạng rất trong phú, tuy nhiên trong thực tế lại có sự tương tác, thâm nhập lẫn nhau nên khó
tách bạch một cách rạch ròi các biến dạng của mỗi loại QL. Do sự phức tạp của các loại
QL và các biến dạng của chúng ngày càng gia tăng đòi hỏi cách tiếp cận phải toàn diện và
hệ thống.
Quyền lực nhà nước(QLNN): QLNN là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị.
Tính chất đặc biệt vì: nó là quyền lực công khai, thống nhất, bao trùm toàn xã hội, nó có đủ


1


sức mạnh để kiểm soát và ràng buộc các chủ thể theo nghĩa rộng nhất phải phục tùng.
QLNN mang đặc điểm: Thứ nhất, chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến trình độ nhất
định dẫn đến nhà nước ra đời. Thứ hai, cơ sở tồn tại bao gồm nhiều yếu tố: được xã hội
thừa nhận rộng rãi, được hợp pháp hóa dưới hình thức pháp lí, được bảo đảm bằng sức
mạnh của bộ máy nhà nước và các tiềm năng kinh tế hợp pháp. Thứ ba, phạm vi tác động
rất rộng lớn. Thứ tư, tính thống nhất cao nhất, tính thứ bậc phức tạp nhất. Thứ năm, QLNN
được biểu hiện công khai với danh nghĩa chủ quyền nhân dân, chủ quyền quốc gia, được
thừa nhận về mặt quốc tế. QLNN là quyền lực chính trị đặc biệt nhưng ở mức độ khác
nhau nó luôn hàm chứa nhiều yếu tố của các loại quyền lực khác nhau.
Tính thống nhất của QLNN: Thống nhất là một trong những thuộc tính cơ bản của
QLNN. Thuộc tính này xuất phát từ: Về nguồn gốc, QLNN không phải là quyền lực tự
thân mà bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, nhân danh quyền lực nhân dân, chịu sự kiểm
soát của quyền lực nhân dân. Về bản chất, cội nguồn xã hội thì QLNN là một chỉnh thể
thống nhất, không thể chia cắt thành các bộ phận biệt lập. Sự thống nhất ấy còn bắt nguồn
bởi bản thân nhà nước, nhưng do nhu cầu của tổ chức lao động quyền lực, quyền lực được
trao cho các chủ thể mà tập trung quá mức, không rõ ràng về mặt pháp lý thì việc phân
định QLNN thành các bộ phận để có sự phân công hợp lý là cần thiết, nhưng sự phân định
đó phải bảo đảm tính thống nhất của QLNN. Tính thống nhất của QLNN hoàn toàn không
phải là sự tập trung quyền lực, mà là thuộc tính thể hiện bản chất của quyền lực còn tập
trung hay phân tán quyền lực là phương thức, cơ chế tổ chức và thực thi nội dung của
quyền lực. QLNN bao giờ cũng có tính thống nhất nhưng cách thức và cơ chế tổ chức và
thực thi QLNN trong các chế độ thì lại rất khác nhau.
Sự phân định tương đối của QLNN: Được xuất phát từ nhu cầu có tính khách
quan, là phương thức tổ chức và thực thi quyền lực, quá trình xuất hiện, tồn tại, phát triển
của nó mang đặc điểm: Xuất hiện chậm, nhiều biến dạng và chịu sự tác động của nhiều yếu
tố. Bởi mãi đến khi chế độ PK bị lật đổ thì sự phân định quyền lực mới có điều kiện thực
hiện. Cộng với KH-KT phát triển, xã hội biến đổi không ngừng, các QHXH phức tạp hơn,

đòi hỏi nhà nước giải quyết. Khi đó, QLNN cũng có những thay đổi về nội dung, hình thức
và phương pháp tác động. Nhu cầu về sự phân định quyền lực được chấp nhận để đáp ứng
nhu cầu khách quan đó. Là đại diện chính thức của toàn xã hội nên bộ máy nhà nước là
thiết chế lớn nhất, bao trùm tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, để đảm bảo tính thống nhất của
QLNN, phát huy được sức mạnh của từng bộ phận quyền lực trong quản lý thì sự phân
2


định quyền lực nhà nước là cần thiết. Tuy nhiên, sự phân định này chỉ có tính tương đối
đảm bảo có sự hài hòa, tạo ra quyền lực thống nhất. Hiện nay, thuyết phân lập quyền lực
thành ba bộ phận: lập pháp, hành pháp, tư pháp được thừa nhận, áp dụng rộng rãi ở nhiều
nước, tuy nhiên mức độ, hiệu quả sử dụng các yếu tố của lý thuyết này lại rất khác nhau.
Có nước đã phân định quyền lực thành bốn, năm quyền. Vì vậy, phải xem xét sự phân định
quyền lực một cách toàn diện trong một chỉnh thể thống nhất cùng với các yếu tố tác động
từ bên ngoài.
Sự giới hạn, tương tác giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và sự cần
thiết phải có sự phân công phối hợp trong việc thực hiện các quyền: Quyền lập pháp là
quyền làm ra pháp luật, nó được coi là quyền thiêng liêng, là phương tiện quan trọng nhất
để tổ chức, thực thi, kiểm soát QLNN, đảm bảo tự do dân chủ của công dân. Quyền lập
pháp được giao cho cơ quan đại diện cao nhất do nhân dân bầu ra(quốc hội). Trên bình
diện tổng thể, quyền lập pháp của QH là không có giới hạn, nhưng trên bình diện cụ thể,
quyền lập pháp luôn có những giới hạn của nó. Trước hết, luôn bị giới hạn bởi những
nguyên tắc pháp luật. Thứ hai, quy định bởi tính tối cao của chủ quyền nhân dân nên quyền
lực của QH bị giới hạn trong một phạm vi nhất định mà hiến pháp quy định trong sự hài
hòa với các quyền thuộc hành pháp, tư pháp, các quyền công dân. Đồng thời, quyền lập
pháp của QH còn bị hạn chế bởi cơ chế kiểm tra, bảo đảm tính hợp hiến của đạo luật do
QH ban hành. Thứ ba, thực tiễn cho thấy QH không thể độc lập thực hiện quyền lực của
mình mà luôn cần đến sự phối hợp của hành pháp, tư pháp.
Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật, quyền này được giao cho các cơ
quan hành chính nhà nước. Xuất phát từ đặc điểm, tính chất của các cơ quan hành chính

nhà nước, nội hàm quyền hành pháp mở rộng bao gồm: quyền chấp hành pháp luật do QH
ban hành ra và quyền hành chính, chủ động, linh hoạt trong quản lý, điều hành các lĩnh vực
đời sống XH. Vì vậy, quyền lực cơ quan hành chính nhà nước dù bị giới hạn bởi những
khuôn khổ pháp luật nhưng phạm vi các quyền lại rộng lớn, đảm bảo thực hiện thống nhất,
rộng khắp trên toàn lãnh thổ với nhiều chức năng.
Quyền tư pháp được hiểu là quyền tài phán, quyền này được giao cho tòa án. Cơ
quan thực hành quyền tư pháp được đặc trưng bởi tính độc lập của tòa án, khi xét xử thẩm
phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do những nguyên tắc pháp luật đặt ra đối với cơ
quan lập pháp, các luật do QH lập ra không đủ hoặc không khả thi đã phát sinh nhu cầu mở
rộng khái niệm quyền tư pháp, sử dụng án lệ; tòa án có quyền phán xử tính hợp hiến của
3


đạo luật do có quan lập pháp ban hành, tính hợp pháp của cơ quan hành pháp. Làm cho
nguyên tắc tư pháp độc lập không còn nguyên vẹn, đặt ra nhu cầu phải có sự kiểm soát tính
hợp pháp của cơ quan tư pháp.
Tóm lại, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là những bộ phận QLNN. Mỗi bộ phận đều
có sự độc lập nhất định nhưng giữa chúng luôn tác động, đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Sự
phân định mỗi bộ phận này chỉ có trên lý thuyết, nên phải xác định rõ cơ sở biểu hiện đặc
thù của mỗi loại để tìm ra mức độ hợp lý trong việc phân công và phối hợp hiệu quả mỗi
loại quyền lực nói riêng và quyền lực nhà nước nói chung.
2. Sự giống và khác nhau trong cách hiểu về tính thống nhất của QLNN; sự phân công,
phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giữa “bàn về
tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” - Lê Minh Tâm và “Nguyên tắc quyền
lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” – Nguyễn Minh Đoan.
Giống nhau: Cả hai tác giả đều cho rằng:
Về cơ sở và nguồn gốc của tính thống nhất của tính quyền lực nhà nước:
Quyền lực nhà nước không phải là tự thân mà bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, nhận

quyền từ nhân dân – một khối thống nhất tạo nên một khả năng thống nhất vô cùng to lớn
trong đời sống xã hội.
Sự thống nhất của quyền lực nhà nước còn bắt nguồn từ bản thân nhà nước. Bởi, với tư
cách là một tổ chức thì luôn là một chỉnh thể thống nhất hành động vì những mục tiêu nhất
định, bộ máy quyền lực nhà nước phải được tổ chức một cách khoa học đảm bảo tính
thống nhất tối đa của quyền lực trong điều kiện, khả năng cho phép.
Do đó, xét về bản chất và nguồn gốc thì quyền lực nhà nước là thống nhất. Dù cho các nhà
nước có thành lập, phân định thành bao nhiêu cơ quan thì vẫn phải đảm bảo tính thống nhất
và tính chỉnh thể của quyền lực nhà nước.
Về ưu điểm của sự phân công của quyền lực nhà nước:
Phân công quyền lực nhà nước một cách hợp lí nhằm tránh sự tập trung, cực quyền, tạo ra
cơ chế bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức công khai, có thể kiểm soát được
4


nhằm chống độc đoán, lạm quyền, vi phạm tự do dân chủ của nhân dân; Phân công quyền
lực hợp lí sẽ phát huy được sức mạnh của mỗi bộ phận quyền lực trong quản lý điều hành,
tạo sự chủ động linh hoạt, tránh sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà
nước.
Về thuyết phân lập quyền lực: có ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp được
các nước trên thế giới thừa nhận rộng rãi. Ở một số nước ngoài ba nhánh quyền lực trên
còn có thêm các thứ quyền lực khác.
Về tính phân định tương đối của quyền lực nhà nước:
sự phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước cũng chỉ
mang tính chất tương đối, nghĩa là cơ quan được phân công thực hiện một quyền lực nào
đó vừa có sự độc lập tương đối những vẫn có sự hòa quyện vào nhau để tạo ra quyền lực
thống nhất.
Về ưu điểm của sự phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước:
Hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự phối hợp chặt chẽ với
nhau, hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau, yếu tố này là chức năng của cơ quan này thì có

thể sẽ trở thành giới hạn của cơ quan kia.
Khác nhau:
Về nhược điểm của quá trình phân công thực hiện quyền lực nhà nước:
Nếu như tác giả Lê Minh Tâm không đề cập tới vấn đê này thì tác giả Nguyễn Minh Đoan
lại nhắc tới: trong quá trình phân công thực hiện quyền lực nhà nước có thể dẫn tới tình
trạng đùn đẩy và tranh nhau thực hiện đối với một số công việc của nhà nước; sự phân
công không rõ ràng, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước không chặt
chẽ dẫn đến hiện tượng không quy kết được trách nhiệm, hay “chạy trọt” để được công
việc “ngon”.
Về sự phân công quyền lực được thể hiện như thế nào?
Với tác giả Nguyễn Minh Đoan thì sự phân công quyền lực luôn diễn ra theo nhiều chiều
khác nhau: Theo chiều ngang giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp, theo chiều dọc giữa
cùng một loại cơ sở ở các cấp khác nhau. Phân công quyền lực nhà nước không chỉ dừng
5


lại giữa các cơ quan nhà nước khác nhau mà còn bao hàm cả sự phân công trong mỗi loại
cơ quan nhà nước khi cùng thực hiện một loại quyền lực.
Còn với tác giả Lê Minh Tâm thì việc phân định quyền lực nhà nước là thành các bộ phận,
nhánh, yếu tố chủ yếu là theo chiều ngang giữa các cơ quan cùng cấp (nhất là các cơ quan
nhà nước ở trung ương).
Về nguyên nhân của sự phối hợp quyền lực của nhà nước:
Điều này không được đề cập rõ trong bài viết của tác giả Lê Minh Tâm, còn đối với tác giả
Nguyễn Minh Đoan thì: do xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước, sự thống
nhất ở mục đích cuối cùng, chức năng, nhiệm vụ chung của cả nước đòi hỏi các cơ quan
nhà nước phải có sự phối hợp chặt chẽ.
Về mức độ tương tác, phối hợp giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp
Với tác giả Lê Minh Tâm thì chủ yếu đề cập nhiều hơn tới những nhiệm vụ, quyền hạn và
những giới hạn của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy có đề cập tới sự phối hợp,
tương tác giữa các quyền nhưng không rõ ràng và chi tiết.

Còn với tác giả Nguyễn Minh Đoan thì lại đề cập tới rõ ràng hơn về sự phối hợp giữa các
quyền: phối hợp là hỗ trợ lẫn nhau để cùng thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước. Giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện quyền lực nhà nước thì có sửu dụng chế ước, kiểm soát lẫn nhau. Sự phối hợp còn tạo
ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền
lực nhà nước. Sự phối hợp trong cùng một hệ thống các cơ quan nhà nước để thực hiện
cùng một quyền lực chính là thực thi nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cơ quan.
3. Quan điểm cá nhân về nội dung quy định tại khoản 3, Điều 2 Hiến pháp Việt Nam
năm 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp”.
Hiến pháp và pháp luật đã quy định, Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ
thực hiện quyền hành pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Quốc hội trực tiếp nhận
quyền lực từ nhân dân, Quốc hội thành lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước và giám sát
tối cao đối với toàn bộ bộ máy nhà nước. Mặc dù các cơ quan trong bộ máy nhà nước có
6


chức năng, thẩm quyền khác nhau song luôn phải phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ với nhau
trong quá trình hoạt động để đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, kiểm soát quyền lực nhà nước
được quy định ở tầm Hiến pháp. Theo em, đây là một bước tiến lớn trong lịch sử Việt Nam
vì sự quy định rõ cho 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảm bảo tương đối trong việc
hạn chế nguy cơ lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán, lại làm tăng vai trò trách nhiệm của
đội ngũ công chức.
Tuy nhiên, em cho rằng ở Việt Nam nguyên tắc này thực hiện chưa triệt để, vì lẽ:
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn nằm trong nguyên tắc tập quyền. Tất
cả quyền lực nhà nước đều phải đặt dưới quyền lực tối cao của Quốc hội, mà trong Hiến
pháp mới vẫn chưa có quy định nào rõ ràng thể hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước đối
với Quốc hội (lập pháp).

Việc kiểm soát quyền lực chỉ dừng lại ở mức phòng ngừa, trong khi khả năng lạm quyền có
thể xảy ra. Như trong trường hợp thông qua việc giám sát của lập pháp, mà hành pháp
chỉnh sửa lại các chính sách của mình, nhưng khi cần can thiệp của Tòa án do bất phân
đúng sai, thì theo Hiến pháp mới tư pháp của Việt Nam không có chức năng xét xử các
hành vi của lập pháp và hành pháp.
Nhà nước Việt Nam thì đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hình thành bộ máy lãnh
đạo từ trung ương đến địa phương nằm song song. Đây chính sự tập quyền cho sự lãnh đạo
của Đảng.
Như vậy, khi bàn về vấn đề này chúng ta cần phải có cái nhìn toàn diện, hệ thống chứ
không nên phiến diện một chiều để góp phần hoàn thiện hơn cho pháp luật Việt Nam.
KẾT BÀI
Trên đây là toàn bộ quá trình nghiên cứu của em về chủ đề 3 trong thời gian vừa
qua. Do kiến thức còn hạn hẹp, khả năng nhận thức vấn đề chưa được sâu rộng nên bài làm
còn rất nhiều thiếu sót và hạn chế, em rất mong nhận được sự đánh giá quý báu đến từ phía
của các thầy, các cô.

7



×