Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.19 MB, 109 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Ngành: LUẬT KINH TẾ

TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH

Hà Nội – năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Trần Thị Như Quỳnh

Người hướng dẫn: TS. Võ Sỹ Mạnh

Hà Nội – năm 2019




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và tài liệu
trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên
cứu nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy
đủ.
Người cam đoan

Trần Thị Như Quỳnh


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ
đạo nhiệt tình và quý báu của TS. Võ Sỹ Mạnh và tập thể thầy, cô Khoa sau đại học,
Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương.
Nhân dịp này, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Võ Sỹ Mạnh và tập
thể thầy, cô Khoa sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương. Tác giả
cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu và tạo mọi điều kiện tốt nhất đồng thời đã có
những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thành công trình nghiên cứu cuối khóa của
Trường đại học Ngoại thương.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm hiểu
thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những sai sót.
Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý thầy cô, bạn bè, đồng
nghiệp và độc giả.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn


Trần Thị Như Quỳnh


Từ viết tắt
Unidroit

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Anh

Tiếng Việt

Insitut International pour

Viện Thống nhất Tư pháp

l`Unification des Droits

Quốc tế

Privé
Công ước viên

Công ước Viên năm 1980
của Liên Hợp quốc về hợp
đồng mua bán hàng hóa
quốc tế

WTO

World Trade Organization


Tổ chức thương mại Thế
giới

CHLB Đức

Cộng hòa Liên Bang Đức

BLDS 2015

Bộ luật dân sự 2015

Hợp đồng TMQT

Hợp đồng thương mại Quốc
tế

PICC

Principles of International

Những nguyên tắc hợp đồng

Commercial Contract

thương mại quốc tế của
UNIDROIT

PECL


Principles of European

Những nguyên tắc Luật hợp

Contract Law

đồng châu Âu

Luật KDBH

Luật kinh doanh bảo hiểm

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

BLHH

Bộ luật hàng hải

HĐDV

Hợp đồng dịch vụ


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn: Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại.
Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:
- Đã phân tích khái niệm hợp đồng, thông tin và nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã làm rõ các đặc điểm của giai đoạn tiền hợp đồng thương mại và điều
chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã làm rõ và phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
trong một số nước và văn bản quốc tế.
- Đã rút ra được quy định của một số nước và văn bản quốc tế về nghĩa vụ
cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã phân tích quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp
thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong pháp luật Việt Nam.
- Đã đưa ra được một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng về
nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã đưa ra các kiến nghị cụ thể về áp dụng pháp luật liên quan đến: vi phạm
nghĩa vụ liên quan đến cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, thời điểm và nội
dung của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đối với một số loại hợp
đồng thương mại cụ thể.


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI ĐOẠN
TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................... 9
1.1.

Hợp đồng thương mại ................................................................................. 9


1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 9
1.1.2. Phân loại hợp đồng thương mại ............................................................. 12
1.1.3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại....................... 14
1.2. Giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ............................................................ 22
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 22
1.2.2. Điều chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ................... 23
1.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại............ 26
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 26
1.3.2. Điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại ......................................................................................... 31
1.3.3. Nội dung nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại

.................................................................................................................. 37

CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP
ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUỐC TẾ....... 41
2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật
một số nước ............................................................................................................ 41
2.1.1. Pháp luật của nước Anh ........................................................................... 41
2.1.2. Pháp luật của nước Pháp ......................................................................... 43
2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong một số văn
bản quốc tế. ............................................................................................................ 46


2.2.1. Bộ nguyên tắc pháp luật Châu Âu .......................................................... 46
2.2.2. Công ước Viên ........................................................................................... 51
2.3. Nhận xét rút ra từ nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước và
văn bản quốc tế về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại ... 53
CHƯƠNG 3. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP

ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................ 56
3.1. Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng ......................................................................................... 56
3.1.1. Những quy định chung............................................................................. 56
3.1.2. Quy định trong một số lĩnh vực thương mại cụ thể ................................ 58
3.2.1. Sự chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành .......................... 67
3.2.2. Quy định không rõ ràng, thiếu tính chính xác........................................ 71
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................................................... 74
4.1. Định hướng hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại ............................................................................................................. 74
4.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại .................................... 76
4.2.1. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm ................................................. 77
4.2.2. Đối với hợp đồng dịch vụ.......................................................................... 80
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 85
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 88


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng theo từ điển Tiếng Việt là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay
nhiều bên, quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết
thành văn bản. Còn theo Điều 683 BLDS, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay
nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên. Đồng
thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh

các quyền và nghĩa vụ.
Trong giao kết hợp đồng, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng
quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có thể đánh giá,
dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất thiệt hại đối
với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của các bên tham
gia hợp đồng. Trong giai đoạn tiền hợp đồng, mặc dù các bên chưa có sự ràng buộc
với nhau về nội dung của hợp đồng nhưng họ đã có sự qua lại, tác động tới nhau.
Đây là giai đoạn để các chủ thể tìm hiểu nhau, tìm ra các lợi ích của mình trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Do đó, pháp luật cần phải điều chỉnh để cân bằng lợi ích
của các bên, cụ thể hơn là điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng. Ở các nước có nền
kinh tế phát triển và hệ thống pháp luật tương đối ổn định, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức
thì pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng không là vấn đề mới. Tại Việt Nam,
nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng còn là một khái niệm gần như là không
được chú trọng, chỉ đến khi Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự
2005 ra đời, thì nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng mới được quy định như
là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng chuyên biệt: như việc
chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng hàng hải, hợp đồng bảo hiểm....Cho
đến nay, các quy định này cũng nảy sinh nhiều bất cập và trong quá trình thực hiện
còn nảy sinh nhiều vướng mắc. Do vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam kết hợp với tham khảo pháp luật nước ngoài để từ đó rút ra những kinh
nghiệm cho việc điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng là việc cần thiết cả về lý luận
và thực tiễn. Đấy là lý do để tác giả chọn chủ đề “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai
đoạn tiền hợp đồng thương mại” làm đề tài luận văn luật học của mình.


2

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
a. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm BLDS 2015 được ban hành và có hiệu lực,

chưa có một công trình nghiên cứu nào đầy đủ, có hệ thống về nghĩa vụ cung cấp
thông tin tiền hợp đồng thương mại. Mà các bài viết chủ yếu chỉ đi sâu vào một
dạng hợp đồng cụ thể, một số công trình đơn lẻ về từng nội dung thuộc giai đoạn
tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. Một số công trình điển hình:
- Cuốn sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Ngọc Khánh do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2007, đề cập đến khái
niệm, chức năng, vị trí của hợp đồng. Ý chí và tự do ý chí trong hợp đồng, giao kết,
thực hiện và sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm hợp đồng;
- Cuốn sách “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, tập 1”
của tác giả Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật 2013. Trong cuốn
sách này, tác giả tuyển chọn các bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối
chiếu chúng với Bộ luật dân sự và Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao và các văn bản pháp luật khác, có so sánh, tham chiếu với những nội dung
tương ứng của pháp luật của nhiều quốc gia khác và nhất là của Bộ nguyên tắc châu
Âu về bồi thường thiệt hại (ngoài hợp đồng). Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả
đã đưa ra nhiều đề xuất để hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ luật học “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”
của tác giả Lê Trường Sơn bảo vệ năm 2015 tại trường Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh đưa ra đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy
định của Bộ luật dân sự 2005 và các vấn đề liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng.
Đồng thời, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ lý luận
và thực tiễn về giai đoạn tiền hợp đồng và pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp
đồng, góp phần làm rõ vai trò và nội dung của giai đoạn tiền hợp đồng;
- Bài viết “Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng – Pháp
luật Việt Nam và một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Bình Minh và Hà


3


Công Anh Bảo đăng trên tạp chí Kinh tế đối ngoại số 68 năm 2017. Ở bài viết này
tác giả đã phân tích những quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong
một số hợp đồng chuyên biệt như: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động, hợp
đồng giao kết với người lao động…tác giả làm rõ những điểm mới của Bộ luật dân
sự 2015, so sánh với quy định pháp luật của các nước trên thế giới và các quy định
trong pháp luật quốc tế, để từ đó đánh giá quy định về loại thông tin cần phải cung
cấp đã rõ ràng, cụ thể hay chưa;
- Bài viết “Cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp
đồng bảo hiểm” của tác giả Phạm Si Hải Quỳnh đăng trên Tạp chí khoa học số 3
năm 2017, làm rõ cở sở hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin ở các nước
cũng như ở Việt Nam, từ đó phác họa sơ lược giải pháp có thể cho việc hoàn thiện
các quy định pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng có
những đề nghị, giải pháp thừa nhận và áp dụng tư tưởng, kinh nghiệm của các nước
vào quá trình thống nhất lại các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp
đồng bảo hiểm ở Việt Nam;
- Bài viết “Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ quyền của các bên trong
tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng” của tác giả Võ Minh Trí và Trần Phú Quý
đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2018, cung cấp một số kiến thức cơ bản
về trách nhiệm tiền hợp đồng với tư cách là một công cụ pháp lý bảo vệ quyền và
lợi ích của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng.
Như vậy, với một số công trình điển hình, các tác giả đã phân tích và chỉ rõ
tầm quan trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng nói chung
và một số loại hợp đồng chuyên biệt. Từ đó, định hướng và bổ sung những thiếu sót,
hoàn thiện những quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.
b. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng không phải là
vấn đề mới, nên có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, tiêu biểu như sau:
- Cuốn sách Droit européens du contrat của tác giả Resmy Cabrillac Nxb.
LGDJ 2012. Trong cuốn sách, tác giả đã dành một mục riêng về “những quan hệ



4

tiền hợp đồng” từ trang 46 và tiếp theo. Ở đây, tác giả không đưa ra định nghĩa
“quan hệ tiền hợp đồng” và cũng không cho biết quan hệ này bắt đầu từ khi nào và
chấm dứt từ khi nào. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy ở đây một số thông tin quan trọng
về các hệ thống pháp luật Châu Âu liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng như tự do
trong giai đoạn tiền hợp đồng, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng, nghĩa vụ
thông tin tiền hợp đồng, trách nhiệm tiền hợp đồng cũng như bản chất pháp lý của
trách nhiệm tiền hợp đồng. Những thông tin nêu trên không liên quan đến pháp luật
Việt Nam nhưng sẽ được khai thác trong từng phần tương ứng của luận văn để làm
cơ sở cho những đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam;
- Cuốn sách Formation du contrat của các tác giả J. Ghestin, G. Loiseau và Y M Seriet, Tome 1, Nxb. LGDJ 2013 công trình này tập trung vào vấn đề xác lập hợp
đồng và cụ thể là tập trung vào sự ưng thuận của các bên trong việc xác lập hợp
đồng theo pháp luật Pháp có đối chiếu với một số hệ thống pháp luật Châu Âu. Liên
quan đến giai đoạn tiền hợp đồng, công trình này có rất nhiều thông tin về nghĩa vụ
tiền hợp đồng (từ trang 1251-1307). Công trình có những nội dung liên quan đến
nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Ở đây, người đọc thấy sự hình
thành và phát triển nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng;
- Cuốn sách Projet de cadre commun de reference - Principes contractuels
communs (dịch sang tiếng Việt là Dự thảo khung tham chiếu chung - Bộ nguyên tắc
chung về hợp đồng) do Bénédicte Fauvarque-Cosson và Denis Mazeaud làm chủ
biên, Nxb. Société de lesgislatinon compare 2008. Cuốn sách tập thể này phân tích,
bình luận Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu dưới góc độ so sánh với Dự thảo
tham chiếu chung của Châu Âu cũng như các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng
(như Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên) và với các Dự thảo về pháp luật hợp
đồng (như Tiền Dự Thảo sửa đổi Bộ luật dân sự Pháp, Tiền Dự Thảo Bộ luật Châu
Âu về hợp đồng). Ở cuốn sách này, người đọc thấy những thông tin về giai đoạn
tiền hợp đồng (như yêu cầu thiện chí, nghĩa vụ thông tin và trách nhiệm hợp đồng…)
được trình bày đan xen với việc phân tích, đánh giá Bộ nguyên tắc luật hợp đồng

Châu Âu cũng như so sánh với các văn bản quốc tế, Dự thảo luật nêu trên. Nội dung
về giai đoạn tiền hợp đồng trong cuốn sách này không liên quan trực tiếp tới pháp


5

luật Việt Nam nhưng rất bổ ích cho việc xác định được xu hướng của pháp luật
đương đại và làm sáng tỏ, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai đoạn tiền hợp đồng.
Các nội dung của cuốn sách về giai đoạn tiền hợp đồng sẽ được khai thác trong các
phần tương ứng của luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn
thiện các quy định pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định và thực tiễn áp dụng quy định về
nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại. Mặt khác,
đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm pháp luật của một số nước tiêu
biểu cho các hệ thống Civil law, Common law và một số văn bản pháp luật quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn có nghiên cứu một số quy định chuyên biệt của
chuyên ngành kinh tế như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo
hiểm nhưng nghiên cứu những quy định của Bộ luật dân sự 2015 và các vấn đề thực
tiễn phát sinh từ việc áp dụng Bộ luật này sẽ là nội dung chủ yếu của luận văn như
đã nêu trong phần mục đích nghiên cứu. Vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn
cũng sẽ tập trung hướng tới đóng góp cho việc sửa đổi, bổ sung Luật thương mại

2005 trong thời gian tới. Các đóng góp này có ý nghĩa thiết thực cho các loại hợp
đồng trong đó có hợp đồng thương mại, đặc biệt là giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại, trong giai đoạn hội nhập kinh tế.
- Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghĩa
vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, thông qua đó, có sự kết hợp và đối chiếu với hệ thống pháp luật trên thế
giới, tham khảo hệ thống pháp luật của một số nước trong hệ thống Civil law,


6

Common law (điển hình là pháp luật của Pháp và Đức, vì ở các nước này, nguyên
tắc tập trung và thiện chí được ghi nhận và đề cao, theo đó nghĩa vụ cung cấp thông
tin là nghĩa vụ bổ sung, cụ thể hóa và nguyên tắc thiện chí và trung thực), các văn
bản Quốc tế như Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại Quốc tế, Công
ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và dự thảo khung tham chiếu
chung Châu Âu. Đồng thời, luận văn sẽ nghiên cứu về một số quy định chuyên biệt
như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sơ hữu trí
tuệ.
- Về nội dung: Tác giả chỉ nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn
xảy ra trước khi hợp đồng thương mại được giao kết, tức là giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại. Vì hợp đồng thương mại có rất nhiều loại hợp đồng, tác giả sẽ tập trung
nghiên cứu một số loại cụ thể như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hàng
hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai…để qua
đó thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại.
5.

Phương pháp nghiên cứu


Luận văn nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại là
một vấn đề mới, đi sâu vào một dang hợp đồng chuyên biệt cụ thể, đó là hợp đồng
thương mại. Do đó, cần phải áp dụng nhiều phương pháp để vừa phân tích được
những cái mới, bổ sung được những khoảng trống trong khoa học pháp lý Việt Nam.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung:
- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn: Đây là một phương pháp cơ
bản, phù hợp cho quá trình nghiên cứu đề tài. Thông qua thực tiễn về tầm quan
trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, bản thân sẽ có
những nhận thức lý luận đúng đắn và hợp lý, từ đó sẽ rút ra được những hạn chế và
hướng khắc phục để hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn
tiền hợp đồng thương mại.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp thu thập thông tin khoa
học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy


7

lôgic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết. Sau đó bằng các liên kết, sắp xếp các
tài liệu, thông tin đã thu thập được để tổng hợp vấn đề một cách cụ thể và toàn diện.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đối với đề tài “Nghĩa vụ cung cấp
thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại”, chủ yếu sẽ phân tích các tình huống
cụ thể, theo bản án cụ thể. Để từ đó tìm ra các phân tích, đánh giá tính hợp lý, bắt
buộc của nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phương pháp này cũng được sử dụng xuyên suốt
trong việc nghiên cứu toàn bộ luận văn nhằm trình bày các nội dung của luận văn
theo một trình tự, bố cục hợp lí, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các nội
dung để đạt được mục đích và yêu cầu đã được xác định cho luận văn.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Phương pháp này được sử dụng trong việc
so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các văn
bản pháp lí quốc tế, để từ đó tìm ra những điểm tương đồng, sự khác biệt cũng như

xu hướng phát triển của pháp luật trên thế giới về giai đoạn tiền hợp đồng. Phương
pháp này cũng được kết hợp sử dụng trong tất cả các chương của luận văn và từ sự
so sánh này, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai
đoạn tiền hợp đồng thương mại.
6.

Dự kiến đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình pháp lý nghiên cứu cụ thể chi tiết, có hệ thống dưới
góc độ lý luận và thực tiễn, góp phần củng cố và hoàn hiện về cơ sở lý luận, khoa
học pháp lý đối với nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
Đồng thời, luận văn cũng làm rõ hơn vai trò của giai đoạn tiền hợp đồng trong hợp
đồng thương mại, góp phần hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý trong giai đoạn giao kết
hợp đồng, qua đó, cũng là tài liệu tham khảo để các bên giải quyết tranh chấp về
hợp đồng thương mại.
Luận văn phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam trong áp dụng khoa
học pháp lý về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại, so
sánh với hệ thống pháp luật của các nước phát triển trên thế giới, để từ đó rút ra
những kinh nghiệm, đồng thời có những kiến nghị kịp thời, phục vụ cho việc hoàn


8

thiện quá trình giao kết hợp đồng thương mại.
7.

Bố cục dự kiến của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 4 Chương.

Chương 1. Cơ sở lý luận về về hợp đồng thương mại, giai đoạn tiền hợp
đồng thương mại và nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.
Chương 2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
trên thế giới.
Chương 3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
trong pháp luật Việt Nam.
Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ
cung cấp thông tin.


9

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI
ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP
THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
Trong quá trình thành lập và hoạt động của mình, việc tham gia ký kết hợp
đồng đặc biệt là hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại là yếu tố không
thể thiếu của các doanh nghiệp. Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương
mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp
lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận
cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Hình thức của hợp đồng thương
mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất
đơn giản và ngắn gọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công
phu bởi những luật sư giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp
dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia.
1.1. Hợp đồng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
Hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc
không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng thường gắn liền
với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một

phần dự án cho mình. Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án
sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng
kinh tế) hay xã hội. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng lời nói
có thể có người làm chứng, nếu vi phạm hợp đồng hay không theo cam kết thì hai
bên sẽ cùng nhau ra tòa và bên thua sẽ chịu mọi phí tổn.
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên
nhằm mục đích xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết.
Như vậy, một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thỏa thuận nhưng không phải mọi
thỏa thuận đều là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Khái niệm
trên có một tầm bao quát rất rộng, nhưng đã thể hiện được bản chất của một hợp


10

đồng với danh nghĩa là luật chung của Luật thương mại 2005. Luật thương mại
2005 đứng dưới góc độ là một luật riêng so với luật chung là Bộ luật dân sự, nên
hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự có chung một số đặc điểm cơ bản, nhưng
bên cạnh đó hợp đồng thương mại cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt, tuy nhiên
Luật thương mại 2005 lại không đưa ra một khái niệm nào về hợp đồng thương mại.
Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay đổi
đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường
xuyên, chính vì vậy hợp đồng thương mại cũng được xem trọng hơn. Mặc dù Luật
thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu
Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận
giữa hai hay nhiều bên (ít nhất có một trong các bên phải là thương nhân hoặc các
chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa
vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Nội dung của hợp đồng
thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên
tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những

quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng.
Với cách hiểu về hợp đồng thương mại như trên, hợp đồng thương mại mang
những đặc thù như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng thương mại: Hợp đồng thương mại được
kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân. Đây cũng
chính là một đặc điểm đặc trưng của hợp đồng thương mại so với hợp đồng dân sự.
Như vậy, chủ thể trong hợp đồng thương mại gồm thương nhân (bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh), cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên
quan đến thương mại.1 Trong hợp đồng thương mại, có thể có những hợp đồng đòi
hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp
đồng đại lý thương mại…hay có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là
thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng môi giới thương

1

Điều 2 Luật thương mại 2005


11

mại, hợp đồng bảo hiểm…Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân
cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng thương mại khi họ có hoạt động liên
quan đến thương mại. Có hai trường hợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại
diện theo ủy quyền. Trong giao kết hợp đồng thương mại, đại diện theo pháp luật
thường xảy ra khi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp. Khi đó giám đốc doanh
nghiệp hoặc người mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng. Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ
thể hợp đồng hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác thay
mình thực hiện giao kết hợp đồng. Người được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu

được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định cho phép ủy quyền lại.
- Thứ hai: về hình thức thì hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức
mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng
phải được thiết lập bằng văn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác
mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm….Điều 24 Luật thương
mại 2005 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán
hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các
quy định đó”. Luật thương mại 2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản
bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax,
thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba: về đối tượng của hợp đồng thì đối tượng của hợp đồng thương mại là
hàng hóa. Theo nghĩa thông thường, hàng hóa được hiểu là những sản phẩm lao
động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người.
Dựa vào tính chất pháp lý, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất
động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền về tài sản…Tại Việt
Nam, theo khoản 3 Điều 5 Luật thương mại năm 1997, đối tượng được coi là hàng
hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng,
các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới
hình thức cho thuê, mua, bán. Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất


12

thương mại ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở những loại hàng hóa này mà với cách
liệt kê như Luật thương mại 1997 đã bỏ hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Khắc
phục bất cập trên, khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “i, Hàng hóa bao
gồm:
I, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

ii, Những vật gắn liền với đất đai”
Như vậy hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa đang tồn
tại hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động
sản được phép lưu thông trong thương mại.
Thứ tư: Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Xuất phát từ mục
đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi các thương nhân tham gia
ký kết một hợp đồng thương mại suy cho cùng cũng đều vì mục đích lợi nhuận.
Theo khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, đối với những hợp đồng giữa thương
nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi, việc
có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ họp đồng này hay không là do
bên không có lợi nhuận quyết định.
Thứ năm: Nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ hợp đồng đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Các
bên thỏa thuận nội dung hợp đồng càng chi tiết thì việc thực hiện hợp đồng càng
thuận lợi, phòng ngừa được những tranh chấp có thể phát sinh. Luật thương mại
2005 không quy định bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào
nhưng có những điều khoản quan trọng cần phải chú ý là: đối tượng, chất lượng, giá
cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng hóa.
1.1.2.

Phân loại hợp đồng thương mại

Quan hệ kinh doanh thương mại được xác lập và thực hiện thông qua hình
thức pháp lý chủ yếu là hợp đồng. Hợp đồng trong kinh doanh thương mại có thể
chia thành nhiều loại khác nhau. Việc phân loại hợp đồng nhằm mục đích xác định
cơ chế điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng, nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng. Theo pháp luật hiện hành, hợp đồng


13


trong lĩnh vực thương mại được phân loại theo những tiêu chí chủ yếu sau:
- Căn cứ vào mức độ tương xứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, hợp đồng
nói chung được phân chia thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng
song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; các bên đồng thời là
người có nghĩa vụ và có quyền. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có
nghĩa vụ.
- Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các quan hệ hợp đồng,
hợp đồng được phân chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Hợp đồng chính
là hợp đồng mà hiệu lực của nó không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. Hợp đồng phụ
là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính;
- Căn cứ vào chủ thể được hưởng lợi từ hợp đồng, hợp đồng được phân chia
thành: Hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng và hợp đồng vì lợi ích của
người thứ ba. Ở hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng, việc thực hiện
nghĩa vụ của một bên nhằm mang lại lợi ích (bảo đảm quyền) của bên kia trong
quan hệ hợp đồng. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên
giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích
từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.
- Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ kinh tế, hợp đồng được chia thành các
loại sau:
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa;
+ Hợp đồng vận chuyển hàng hóa;
+ Hợp đồng trong xây dựng cơ bản;
+ Hợp đồng trung gian thương mại (Hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp
đồng môi giới thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa);
+ Hợp đồng dịch vụ xúc tiến thương mại: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo; hợp
đồng trưng bày và giới thiệu sản phẩm hàng hóa.
+ Hợp đồng tín dụng;



14

+ Hợp đồng bảo hiểm;
+ Hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư: hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng
liên doanh.
Về mục đích của các bên trong hợp đồng: Hợp đồng kinh doanh phát sinh
trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nên ít nhất phải có một bên chủ thể có
mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng. Nếu cả hai bên chủ thể đều không có
mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự đơn thuần. Ngược lại,
nếu cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận thì hợp đồng được coi là hợp đồng kinh
doanh hay hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu
một bên có mục đích lợi nhuận và một bên không có mục đích này. Trường hợp này
gọi là giao dịch hỗn hợp.
Để xác định xem đây là hợp đồng dân sự hay thương mại, Luật Thương mại
Việt Nam sử dụng phương pháp như sau:
- Nếu bên có mục đích lợi nhuận không phải là thương nhân thì hợp đồng đã
giao kết là hợp đồng dân sự.
- Nếu bên có mục đích lợi nhuận là thương nhân thì việc xác định hợp đồng
dựa vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận, cụ thể là:
- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật Dân
Sự 2005 thì đó là hợp đồng dân sự.
- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật
Thương Mại 2005 thì đó là hợp đồng kinh doanh.
Đối với đề tài nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại, tác giả sẽ đi sâu phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với một số
loại hợp đồng cụ thể, chuyên biệt: hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng bảo
hiểm, hợp đồng mua bán nhà ở hinh thành trong tương lai… để làm rõ hơn nghĩa vụ
cung cấp thông tin của các bên chủ thể khi tham gia kí kết hợp đồng thương mại.
1.1.3.


Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại

Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng


15

trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động trao đổi hàng hóa ngày càng trở nên
đa dạng và phong phú. Để làm được điều đó mỗi trao đổi đều phải dựa trên sự bình
đẳng. Tức là có sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia trao
đổi. Thực tế đã cho thấy, có không ít trường hợp các tranh chấp thương mại xảy ra
là do sự phân chia quyền và nghĩa vụ giữa các bên là không rõ ràng và không hợp lý.
Điều này đã gây ra không ít khó khăn, thiệt hại về thời gian, công sức, uy tín của
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ mới bước chân vào ngành…
Việc thỏa thuận hợp đồng có sự công bằng trong quyền và nghĩa vụ của các
bên tham gia hợp đồng là rất cần thiết. Bên cạnh đó, sự thỏa thuận phải tuân theo
đúng quy định của pháp luật, để các bên có thể đảm bảo quyền và nghĩa vụ của
mình khi tham gia giao kết hợp đồng. Do hợp đồng thương mại rất rộng với nhiều
loại hợp đồng, nên tác giả chỉ phân tích quyền và nghĩa vụ của các bên trong một số
hợp đồng cụ thể, để qua đó thấy được nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên trước
khi giao kết hợp đồng thương mại.
Để tiến hành các hoạt động thương mại, thương nhân phải kí kết và thực hiện
các hợp đồng thương mại. Khi hợp đồng được hình thành và có hiệu lực pháp luật,
những cam kết trong hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận thì coi là vi phạm hợp đồng thương mại. Trong hợp đồng
thương mại ngoài các điều khoản do các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng thì
các bên còn phải tuân thủ những nội dung pháp lý bắt buộc đã được pháp luật quy
định mà các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng (điều
khoản thường lệ). Mặc dù, những điều khoản này không được đưa vào hợp đồng
theo quy định của pháp luật thì việc các bên không thực hiện những điều khoản này

cũng sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng thương mại cũng tức là vi phạm pháp
luật về hợp đồng thương mại và sẽ bị áp dụng chế tài. Các hình thức chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm,
bồi thường thiệt hại… Như vậy, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại không
chỉ bao gồm các hành vi vi phạm chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương
mại, xâm phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước mà còn bao gồm
những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Phù hợp với từng loại hành vi vi


16

phạm pháp luật hiện hành quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý với nhiều loại
chế tài khác nhau. Theo nghĩa này, chế tài trong hoạt động thương mại có thể được
áp dụng đối với mọi vi phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn hại
đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng như đầu cơ lũng đoạn thị
trường…đến các vi phạm pháp luật có tính chất “riêng tư” giữa các thương nhân,
như hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp
đồng. Những hình thức chế tài được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế
tài hành chính, chế tài hình sự hoặc chế tài mang tính chất dân sự, phù hợp với tính
chất của từng loại hành vi vi phạm. Về phạm vi áp dụng, chế tài thương mại được
áp dụng đối với mọi hành vi vi phạm trong mọi lĩnh vực thương mại. Chủ thể quyết
định áp dụng biện pháp chế tài là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản
lý Nhà nước đối với chế tài hành chính, Tòa án đối với chế tài hình sự…) hoặc
chính thương nhân bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng. Phân tích rõ quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng chuyên biệt: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận
chuyển hàng hóa để làm rõ hơn ý nghĩa của việc cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại. Vì đây là hai loại hợp đồng thương mại thường gặp nhất,
thông tin thường khó định hình và việc cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp
đồng rất cần thiết và có ý nghĩa đối với các bên.
 Đối với hợp đồng chuyên biệt như hợp đồng bảo hiểm: Trong giao kết

đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng.
Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có khả năng đánh giá, dự
đoán các rủi ro. Nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng giúp bảo vệ sự công bằng và lợi
ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm. Do đó, hiểu được quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm sẽ là tiền đề rất quan
trọng để các bên có đi đến quyết định ký hợp đồng với nhau hay không. Hơn nữa,
hợp đồng bảo hiểm là quan hệ chia sẻ rủi ro. Đối tượng của hợp đồng là rủi ro có
thể xảy ra. Điều này thể hiện ở chỗ, những hiểu biết về rủi ro là căn cứ chủ yếu để
các bên cân nhắc, tính toán lợi ích, thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình có tham
gia hay không tham gia hợp đồng bảo hiểm, hoặc nếu có tham gia thì ở mức độ,
điều kiện như thế nào: mức phí bảo hiểm ra sao và các điều kiện bảo hiểm cụ thể là


17

gì. Nói khác đi, nhận thức về rủi ro chính là điểm nút trong quan hệ ý chí giữa các
chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm. Là điểm nút của quan hệ rủi ro lại không phải
là yếu tố định hình rõ ràng. Không giống như đối tượng của của các hợp đồng thông
thường khác, ví dụ hợp đồng mua bán nhà thì căn nhà có thể được các bên trực quan
đánh giá qua các yếu tố cụ thể, rõ ràng như vị trí địa lý, kết cấu, hình dáng…của căn
nhà, rủi ro – đối tượng của hợp đồng bảo hiểm - lại chỉ có thể được suy đoán đến
một cách gian tiếp thông qua những thông tin liên quan mà mỗi bên có, ví dụ như
thông tin về quy mô, tình trạng pháp lý, vị trí địa lý…của đối tượng bảo hiểm. 2
Tính chất không định hình rõ ràng của rủi ro tiềm ẩn một nguy cơ, theo đó các
bên rất dễ hiểu khác nhau về rủi ro. Nguy cơ này trở nên hiển hiện khi đặc thù quan
hệ bảo hiểm là sự bất cân xứng về dòng thông tin giúp đánh giá và dự đoán rủi ro.
Cụ thể, người mua bảo hiểm, do quen thuộc hơn với đối tượng bảo hiểm, là người
nắm giữ và tiếp cận thông tin về rủi ro so với người bảo hiểm. Còn người bảo hiểm
biết rất ít hoặc thậm chí không có thông tin nào về rủi ro. Hiện tượng dòng thông tin
không cân bằng tạo vị thế kẻ mạnh cho người mua bảo hiểm, theo đó bằng việc

kiểm soát thông tin mà mình biết về rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể kiểm soát nhận
thức về rủi ro của bên bảo hiểm. Trong khi đó, mặc dù người bảo hiểm có thể đối
phó với thế mạnh của bên mua bảo hiểm bằng cách tự mình tiến hành điều tra, tìm
hiểu về các thông tin, nhưng vì rất nhiều lý do, ví dụ như lý do về thời gian hạn chế
của quá trình giao kết hợp đồng, công việc điều tra này không phải lúc nào cũng có
thể toàn diện và kết quả đầy đủ, chính xác. Hơn nữa, bản thân công việc điều tra,
xác minh nào cũng đi liền với nó là phí tổn và thời gian. Do vậy, có thể nói rằng, dù
muốn hay không, thì người bảo hiểm vẫn ở vị thế của kẻ yếu, chịu sự lệ thuộc vào
chia sẻ thông tin từ phía người mua bảo hiểm.
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:
- Quyền cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm:
+ Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

Phạm Si Hải Quỳnh, Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng, tra cứu tại
/>2


×