ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN CHÍ LINH
CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI
TRƢỜNG
RỪNG TẠI LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN CHÍ LINH
CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI
TRƢỜNG
RỪNG TẠI LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỒNG SƠN
Đà Lạt – 2012
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
i
Danh mục các bảng, sơ đồ
ii
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ TÀI
CHÍNH DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG
1.1.
Khái niệm cơ chế tài chính
9
1.2.
Chính sách dịch vụ môi trường rừng
11
1.3.
1.4.
1.1.1.Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường rừng
11
1.2.2. Nguyên tắc và hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
14
Nội dung cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng
15
1.3.1. Thu từ dịch vụ môi trường rừng
15
1.3.2. Chi từ dịch vụ môi trường rừng
22
Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tài chính dịch vụ môi trường
29
rừng
1.4.1. Chính sách của nhà nước
29
1.4.2. Năng lực quản lý của nhà nước
29
1.4.3. Sự đồng thuận của đối tượng phải chi trả
30
1.4.4. Chất lượng dịch vụ cung ứng
30
1.4.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên phải chi
31
1.4.6. Thiên tai, hạn hán
31
trả
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ
33
MÔI TRƢỜNG RỪNG TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1. Tổng quan về tài nguyên rừng tại tỉnh Lâm Đồng
33
2.1.1. Hiện trạng đất có rừng
34
2.1.2. Hiện trạng đất lâm nghiệp theo ba loại rừng năm 2010
34
2.2.Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh
36
Lâm Đồng
2.2.1. Cơ chế tài chính trước khi thực hiện thí điểm chi trả dịch
36
vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng
2.2.2. Cơ chế tài chính sau khi thực hiện Quyết định số 380/QĐ-
39
TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm
Đồng
2.2.3.Cơ chế tài chính khi triển khai thực hiện nghị định
43
99/2010/NĐ-CP về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
2.2.4.Đánh giá sự khác nhau giữa các giai đoạn thực hiện
49
2.2.5. Ảnh hưởng từ nguồn thu-chi tài chính thực hiện chi trả
51
dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng
2.2.6. Các quan hệ tài chính giữa các chủ thể: cơ quan quản lý,
chủ rừng và người nhận giao khoán bảo vệ rừng
52
2.2.7. Công tác kiểm tra, giám sát
2.3. Đánh giá thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng
54
56
tại tỉnh Lâm Đồng
2.3.1. Những kết quả đạt được
56
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
63
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
67
TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG TẠI TỈNH
LÂM ĐỒNG
3.1. Định hướng của tỉnh Lâm Đồng đối với công tác quản lý bảo vệ
67
rừng và phát triển dịch vụ môi trường rừng
3.1.1. Định hướng hiệu quả kinh tế
67
3.1.2. Định hướng hiệu quả về môi trường
67
3.1.3. Định hướng chi trả dịch vụ môi trường rừng
69
3.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng
3.2.1. Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng
70
70
quản lý Quỹ và Cơ cấu tổ chức bộ máy của Quỹ bảo vệ & phát triển
rừng của tỉnh
3.2.2. Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các Đề án đã xây dựng
73
3.2.3. Tăng cường hoàn thiện công tác thu
74
3.2.4. Công khai thủ tục thu, chi
74
3.2.5. Thực hiện công khai, minh bạch
74
3.2.6. Xử phạt và khen thưởng
74
3.3. Kiến nghị thực hiện hoàn thiện cơ chế tài chính địch vụ môi
75
trường rừng
3.3.1. Kiến nghị Chính phủ
75
3.3.2. Kiến nghị đối với Bộ Tài chính
76
3.3.3. Kiến nghị Bộ Nông nghiệp& phát triển nông thôn
76
3.3.4. Kiến nghị đối với UBND tỉnh Lâm Đồng
77
KẾT LUẬN
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Stt
Nguyên nghĩa
1
BVR
Bảo vệ rừng
2
CP
Chính phủ
3
DVMTR
Dịch vụ môi trường rừng
4
NĐ
Nghị định
5
PES
Chi trả dịch vụ môi trường rừng
6
PTNT
Phát triển nông thôn
7
PTR
Phát triển rừng
8
UBND
Ủy ban nhân dân
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
1
Bảng số
Tên bảng
Bảng 1.1 Giá trị rừng trong việc điều tiết nước trong những năm
Trang
18
ẩm ướt
2
Bảng 1.2 Giá trị rừng trong việc điều tiết nước trong những năm
18
khô hạn
3
Bảng 2.1
Kết quả thu tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2009,
41
2010
4
Bảng 2.2
Kết quả chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm
42
2009 , 2010
5
Bảng 2.3 Kết quả thu tiền tiền dịch vụ môi trường rừng năm
45
2011 và 6 tháng năm 2012
6
Bảng 2.4 Kết quả chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2011
46
và 6 tháng năm 2012
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ,BIỂU ĐỒ
STT
Sơ đồ, biểu đồ
Tên sơ đồ, biểu đồ
Trang
1
Biểu đồ 2.1
Diện tích đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng
35
2
Sơ đồ 3.1
Sơ đồ hệ thống Hội đồng Quỹ bảo vệ &PTR
71
3
Sơ đồ 3.2
Sơ đồ hệ thống tổ chức Quỹ bảo vệ &PTR Lâm
73
ii
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lâm Đồng là tỉnh cực Nam Tây nguyên có có diện tích tự nhiên
977.219 ha, diện tích đất lâm nghiệp 601.477ha, trong đó, diện tích có rừng
566.492ha, tỷ lệ độ che phủ của rừng chiếm 61,5%; là tỉnh đầu nguồn của 9
tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông Cái,sông Lũy và Sêrêpok; rừng
Lâm Ðồng không những có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tếxã hội của tỉnh mà còn đóng góp lớn cho kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường cả nước. Lợi ích của rừng đem lại rất lớn cho toàn xã hội: Tài nguyên
rừng hiện còn khá phong phú và tính đa dạng sinh học rất cao; là tỉnh đầu
nguồn của 5 con sông lớn cung cấp 2000MW điện, cung cấp nước sinh hoạt,
sản xuất không chỉ cho Lâm Đồng mà còn cho các tỉnh lân cận và TP. Hồ Chí
Minh; rừng bảo vệ môi trường sinh thái, đem lại cảnh quan, du lịch nghỉ
dưỡng, du lich sinh thái.
Dân số hiện nay của Lâm Đồng có khoảng 1,2 triệu người, trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 21%, phương thức sản xuất lạc hậu, đời
sống khó khăn; phá rừng làm rẫy là tập quán hàng ngàn năm; 22% dân di cư
tự do; 13% dân di cư đến theo kế hoạch, như vậy tốc độ tăng dân số cơ học rất
nhanh (từ 0,3 triệu người năm 1976 lên 1,2 triệu người năm 2009) đã tạo ra
áp lực phá rừng làm rẫy lấy đất sản xuất làm nông nghiệp là rất lớn.
Mặc dù, Trung Ương, Tỉnh ban hành nhiều cơ chế chính sách tương đối
phù hợp và đã tạo động thái chuyển biến rõ rệt trong hoạt động lâm nghiệp
của địa phương; phát huy cao nhất hiệu quả đầu tư của nguồn vốn ngân sách
nhà nước và kết quả của việc đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng với tỉ trọng vốn
đầu tư cho trồng rừng ngoài ngân sách nhà nước trong thời gian qua chiếm
24%; nâng độ che phủ của rừng từ 56% năm 1995 lên 61,5% năm 2009.
Nhưng các chính sách Lâm Nghiệp hiện có chưa đủ mạnh để khuyến khích
1
bảo vệ rừng, lâm nghiệp Lâm Đồng vẫn chưa là chỗ dựa vững chắc của trên
250.000 đồng bào dân tộc thiểu số sống ở trong rừng, gần rừng và rừng vẫn
không nuôi được họ.
Tình hình phá rừng, khai thác rừng còn diễn ra phổ biến. Chất lượng rừng tự
nhiên ngày càng giảm sút.
Tuy nhiên, tài nguyên rừng vẫn còn là tiềm năng do chưa có chính sách
và cơ chế quản lý, sử dụng hợp lý nên giá trị đóng góp của ngành lâm nghiệp
còn ở mức rất khiêm tốn và nghịch lý, thu nhập bình quân của người làm nghề
rừng thường kém hơn Tỉnh ít rừng. Làm thế nào để bảo vệ rừng và phát triển
rừng ở Lâm Đồng đang là một thách thức rất lớn. Nếu không có chiến lược
căn cơ, không có giải pháp đột phá thì diễn thế rừng sẽ đi xuống. Cần một
chính sách gắn rừng với dân, lấy rừng nuôi dân, dân phải có thu nhập và tiến
tới làm giàu từ rừng, sản phẩm của rừng tạo môi trường sinh thái, tạo nguồn
thu cho địa phương.
Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi
trường rừng và chọn Lâm Đồng, Sơn La là hai tỉnh để triển khai thực hiện.
Đây là cơ hội, là nguồn lực tài chính mới góp phần phát triển ngành Lâm
nghiệp của tỉnh, thông qua thực hiện cơ chế tài chính mới“những người được
hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm đóng góp nhằm bảo vệ và phát triển
rừng”.
Đây là chính sách phù hợp với thực tiễn, thể hiện được mối quan hệ
kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả cho người cung
ứng dịch vụ môi trường rừng . Chính sách này đã tạo ra nguồn tài chính mới
để đầu tư cho sự nghiệp bảo vệ rừng và phát triển rừng ở Lâm Đồng, nhằm
giảm nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với công tác quản lý bảo vệ
rừng để tăng đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng rừng . Mô hình thí điểm
2
tại Lâm Đồng – Việt Nam đã được dư luận các tổ chức quốc tế quan tâm và
ủng hộ .
Tuy nhiên, đây là nguồn thu tài chính mới không đưa vào nguồn thu –
chi ngân sách hàng năm của tỉnh để thông qua Hội đồng nhân dân . Do đó
việc triển khai công tác thu, khai thác tất cả các khoản thu và thực hiện quản
lý, sử dụng nguồn thu này một cách hiệu quả đúng theo quy định của chính
sách là yếu tố quyết định đến sự thành công của chính sách .
Vì lý do trên, tác giả chọn thực hiện Đề tài: “Cơ chế tài chính dịch vụ
môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng”.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ngày nay, con người đã nhận ra rằng, các giá trị sử dụng của rừng gồm
giá trị hiện vật và giá trị sử dụng trừu tượng. Nếu con người muốn có cuộc
sống an lành thì phải trồng rừng và bảo vệ rừng để rừng sản xuất ra các giá trị
sử dụng ấy và nếu các giá trị này được cung ứng cho mọi thành viên trong
xã hội thụ hưởng thì các chủ rừng phải được chi trả, hoàn lại vốn hay lao
động mà họ đã đầu tư cho rừng. Theo Nguyễn Tuấn Phú (2008), rừng là “loại
hàng hoá đặc biệt” có giá trị rất lớn, chiếm tới 60-80% tổng giá trị kinh tế mà
rừng tạo ra. Do đó, cần phải được hình thành “thị trường” để trao đổi giữa
người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng của rừng với người hưởng thụ các
giá trị này. Các hoạt động trao đổi cung ứng dịch vụ sử dụng môi trường từ
rừng được gọi là “Chi trả dịch vụ môi trường rừng”. Đó là những cơ sở để
hình thành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam.
2.1. Các chƣơng trình tiền đề cho PES tại Việt Nam
Dự thảo Luật Đa dạng sinh học trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp
thứ 4 ngày 18/10/2008 có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền
vững đa dạng sinh học đề cập đến các nguồn thu từ PES. Hiện tại, Quỹ động
3
vật hoang dã thế giới (WWF) đang thực hiện một số dự án về các mô mô hình
PES như: bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái.
Chương trình Bảo tồn Đa dạnh sinh học khu vực Châu Á đánh giá cao
tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PES rừng ở 3 tỉnh Lâm Đồng, Đồng
Nai và Bình Phước, những mô hình này được triển khai thực hiện từ năm
2006-2009 do Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với tổ chức Winrock
Internationnal.
Chương trình Môi trường trọng điểm và sáng kiến hành lang bảo tồn
đa dạng sinh học do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ từ năm 20062010. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số họat động đánh giá và
tìm cơ hội thị trường cho PES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị.
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện dự án chi trả
dịch vụ môi trường ứng dụng tại khu vực ven biển. Dự án xây dựng cơ chế
chi trả hấp thụ CO2 trong lâm nghiệp thí điểm tại huyện Cao Phong tỉnh Hoà
Bình, do Trung tâm Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng thực hiện.
Hiện tại, Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên và Môi trường
(thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa
học công nghệ “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả
dịch vụ môi trường đất ngập nuớc ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế
PES phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững
các vùng ngập nước.
Những chương trình nói trên đã có những kết quả bước đầu và cho thấy
rằng, Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần
thiết để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái, tạo cơ sở pháp lý và
kinh nghiệm thực tiễn bước đầu để PES thực sự ứng dụng có hiệu quả rộng
rãi ở Việt Nam.
4
2.2.Các hoạt động nghiên cứu liên quan
Trong tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại
Việt Nam” của nhiều tác giả (Hoàng Minh Hà và ctv, 2008) đã đề cập đến
những vấn đề ban đầu liên quan đến PES (chi trả dịch vụ môi trường) ở Việt
Nam. Theo tài liệu này, có một vài nghiên cứu điểm liên quan đến môi trường
rừng (MTR) nói riêng đã được tiến hành ở nước ta là:
- Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn sông Đồng
Nai do Cơ quan phát triển DANIDA của Đan Mạch và các đối tác nghiên cứu
nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm tại hồ Trị An và vùng hạ lưu sông Đồng Nai.
Vấn đề đặt ra là vùng hạ lưu sông bị ô nhiễm thì chi phí để xử lý nước ở đây
sẽ tăng. Nhưng quan trọng là nghiên cứu phải xây dựng được cơ chế chi trả
giữa các công ty cung cấp nước và nhóm đối tựơng gây ô nhiễm ở thượng
nguồn. Bước đầu tiên đã xác định nguyên nhân gây ô nhiễm và chi phí xử lý
nước của các nhà máy nước. Khi xác định được mối liên hệ này thì sẽ xây
dựng cơ chế chi trả. Nghiên cứu này đã đưa ra các thông điệp: (i) Các chi phí
và lợi ích của việc bảo vệ nguồn nước là những yêu cầu chính để thuyết phục
người mua tham gia; (ii) Nguồn tài chính hỗ trợ là cần thiết cho những thay
đổi ban đầu trong các phương thức sử dụng đất ở thượng nguồn; (iii) Kế
hoạch chi trả dịch vụ MTR có nhiều khả năng thành công nếu các lợi ích của
người mua là rõ ràng.
- Xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, một
nghiên cứu điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Dự án được Trường
Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường phối
hợp xây dựng. Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường và xoá đói giảm
nghèo thông qua nâng cao mức thu nhập từ sản phẩm rừng và lợi ích thu được
từ việc bán tín chỉ các-bon. Các thông điệp từ nghiên cứu điểm này cho thấy
rằng: (i) Xây dựng các dự án các-bon trong lâm nghiệp sử dụng cơ chế phát
5
triển sạch (CDM) là một quá trình phức tạp và tốn kém; (ii) Cần lồng ghép
các dự án phát triển lâm nghiệp với các lợi ích từ việc kinh doanh tín chỉ cácbon thông qua cơ chế chi trả tự nguyện; (iii) Chia sẻ lợi ích rõ ràng và sự
tham gia của cộng đồng địa phương và nông dân là chìa khoá để triển khai dự
án thành công.
Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần
thiết để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái. Trong tất cả các nghiên
cứu điểm về PES đã trình bày, vấn đề không phải ở chỗ thiếu nguồn tài chính
mà chính là thiếu một khung pháp lý (Vũ Tấn Phương, 2006).
Tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường tại Việt Nam” (Hoàng Minh Hà và
ctv, 2008) cũng đã đưa ra một số kiến nghị liên quan đến chức năng phòng hộ
của rừng đầu nguồn:
- Nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng đất vùng thượng
nguồn và chất lượng nước ở vùng hạ nguồn, tính toán các chi phí nhằm duy
trì chất lượng nước;
- Thu hút các cộng đồng địa phương tham gia ký kết hợp đồng với các
bên hưởng lợi từ rừng;
- Đảm bảo các hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với các cơ chế
chi trả, đặc biệt xây dựng được cơ chế rõ ràng cho cộng đồng địa phương
trong việc hưởng lợi từ quản lý tài nguyên được giao;
- Tiến hành nghiên cứu điểm về chi trả dịch vụ môi trường cho người
nghèo, tập trung vào các cơ chế chi trả nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói. Các
mô hình này có thể gồm: tăng cường sự an toàn về hưởng dụng đất, tạo cơ hội
để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định, trả công lao động
cho việc bảo vệ môi trường sao cho người dân thực hiện được các hoạt động
cho sinh kế của họ.
6
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu đánh giá cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng giai
đoạn 2009-2010 và 2011-2012 tại Lâm Đồng ;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ
môi trường rừng tại Lâm Đồng .
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi
trường rừng, mô hình áp dụng tại một số nước ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường
rừng tại Lâm Đồng giai đoạn thí điểm theo Quyết định 380/QĐ-TTg trong 2
năm 2009-2010; Thực hiện nghị định 99/2010/NĐ-CP trong năm 2011,2012.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính
dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng .
4. ĐỐI TƢỢNG & PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu : Cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng
4.2. Phạm vi nghiên cứu : Cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại
tại tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2009-2010 và năm 2011, 2012
- Thu từ dịch vụ môi trường rừng
- Chi từ nguồn thu dịch vụ môi trường rừng .
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tra cứu tài liệu
- Thu thập số liệu
- Phân tích, đánh giá và xử lý thông tin
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
7
Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dịch vụ môi trường rừng để
khai thác triệt để các khoản thu và quản lý, sử dụng đúng mục đích và hiệu quả
nguồn thu này.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường
rừng.
Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh
Lâm Đồng.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi
trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng.
8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH
DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG
1.1.
Khái niệm cơ chế tài chính
Theo Thạc sĩ Võ Khắc Thường (2012), khái niệm ”Cơ chế tài chính” và
”Cơ chế quản lý tài chính” đến nay vẫn còn những cách nhìn nhận khác nhau.
Có quan điểm cho rằng trên khía cạnh nào đó thì hai khái niệm này có thể
được xem là đồng nhất. Điều này được giải thích rằng, khi dùng khái niệm cơ
chế tài chính là hàm ý các bộ phận cấu thành, tác động của tài chính là một
thể thống nhất, được định hướng theo mục tiêu nhất định và tài chính lúc này
mới chỉ ”có khả năng ” trở thành một công cụ để quản lý kinh tế. Khi sử dụng
khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” thì ngoài nội dung của ”Cơ chế tài chính
” như đã nêu trên, tài chính được khẳng định rõ nét là một công cụ để quản lý
kinh tế. Cách nhìn nhận như trên chưa phải là một lý giải thỏa đáng, bởi hai
khái niệm này, nếu qua một thuật ngữ được sử dụng thì rõ ràng giữa chúng có
một nguồn gốc kinh tế và có mối quan hệ hữu cơ, song không thể đồng nhất
hoàn toàn về nội dung, cơ cấu, vai trò cũng như phương thức tồn tại và vận
động
Để làm sáng tỏ thuật ngữ ”Cơ chế tài chính” và ”Cơ chế quản lý tài
chính ” cần phải thông qua khái niệm về ”Cơ chế kinh tế ” và ”Cơ chế quản lý
kinh tế ”, bởi lẽ kinh tế quyết định tài chính hay nói cách khác, tài chính phản
ánh các quan hệ kinh tế. Trong các mối quan hệ này kinh tế là gốc. Song cũng
cần nhấn mạnh rằng tài chính không thụ động phản ánh các quan hệ kinh tế,
ngay cả điều chỉnh các quan hệ kinh tế đồng hành .
9
Theo TS.Phạm Quang Trung (2003), Thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài
chính” đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản, tài liệu, sách báo và
trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, trong thực tế cụm từ ”Cơ chế tài chính”
cũng được một số tác giả sử dụng để hàm ý cơ chế quản lý tài chính.
Sự phân biệt không rõ ràng giữa hai khái niệm ”Cơ chế quản lý tài
chính” và ”Cơ chế tài chính” thể hiện khá rõ trong thực tế, qua các tài liệu,
các văn bản, các quy định,v.v... Xét về phương diện thực tiễn, việc sử dụng
lẫn lộn như vậy không gây ra những hậu quả gì đáng kể và có thể chấp nhận
được theo thói quen trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật việc
hiểu chính xác khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” là cần thiết, nhằm hạn
chế những nhầm lẫn, sai sót trong trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính
sách và ứng dụng trong thực tiễn.
Tuy nhiên, hầu như có rất ít tài liệu nghiên cứu và luận giải về bản thân
khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” . Khi đề cập đến vấn đề quản lý tài
chính hoặc có liên quan đến quản lý tài chính, hầu hết các tác giả ngầm định
rằng không cần giải thích về thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính” và coi như
đã thống nhất cách hiểu về nó .
Để xem xét đầy đủ nội dung ý nghĩa của thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài
chính”, cần nghiên cứu khái niệm bao trùm trực tiếp của nó, đó là khái niệm ”
Cơ chế quản lý kinh tế” cho nên việc tiếp cận khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh
tế ” sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính”.
Khi nghiên cứu về hai khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh tế” và ”Cơ chế
kinh tế ” cho thấy rằng: Trong thực tế hai thuật ngữ này có thể được sử dụng
thay thế cho nhau, ranh giới giữa chúng tương đối mờ nhạt, do đó có sự lẫn
lộn ở một chừng mức nào đó .
10
Như vậy ”Cơ chế tài chính” có thể hiểu là một phạm trù kinh tế khách
quan phản ánh sự hình thành tồn tại và vận động của một phương thức sản
xuất tương ứng, trong đó chịu sự chi phối trực tiếp bởi quan hệ sản xuất mà
cốt lõi là quan hệ hoặc chế độ sở hữu cấu thành của quan hệ sản xuất đó.
1.2.
Chính sách dịch vụ môi trƣờng rừng
1.2.1. Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chi trả dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái
(Payment for ecosysterm servieces - PES)
hay còn go ̣i là chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường (Payments for Environment Services
- PES) là một lĩnh vự c hoàn toàn mới nhưng đã thu hút đươ ̣c sự quan tâm của
các quốc gia và các nhà khoa học trên toàn thế giới . PES triể n khai sớm nhấ t
ở Mỹ la tinh , châu Âu , châu Phi . PES cũng đươ ̣c phát triể n và thực hiê ̣n thí
điể m ta ̣i châu Á n hư Indonesia , Philippiness , Trung Quố c , Ấn Độ và Việt
Nam.
Costa Rica, Mexico và Trung Quố c đã xây dựng các chương triǹ h PES
quy mô lớn , chi trả trực tiế p cho các chủ rừng để thực hiê ̣n các biê ̣n pháp bảo
vê ̣ rừng nhằ m tăng cường
cung cấ p các dich
̣ vu ̣ thủy văn , bảo tồn đa dạng
sinh ho ̣c, chố ng xói mòn , hấ p thu ̣ cacbon và ta ̣o cảnh quan đe ̣p…
Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường của tổ chức For
est
Trends, The katoomba group (2011); Đánh giá giá tri ̣ kinh tế của công tác bảo
tồ n hê ̣ sinh thái của Pagiola , S., K vonRitter , (2004) đã xác đinh
̣ các dich
̣ vu ̣
hê ̣ sinh thái cơ bản , cơ hô ̣i và thách thức khi tham gia thi ̣trường chi trả dich
̣
vụ môi trường .
Mô ̣t số nghiên cứu khác tâ ̣p trung vào viê ̣c phát triể n thi ̣trường cacbon
như: Cái nhìn từ tương lai : Hiê ̣n tra ̣ng của thi ̣trường các bon tự nguyê ̣n 2011
(Forestrends, 2011); Hiê ̣n tra ̣ng và xu thế thi ̣trường Cacbon
2011 (World
Bank, 2011) hoă ̣c các công triǹ h nghi ên cứu về cách đo đa ̣c , thẩ m tra và xác
11
đinh
̣ chấ t lươ ̣ng dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái rừng như
: Hướng dẫn đo cacbon rừng
(Timothy R .H. Pearson and Sandra L .Brown, 1997); Điề u tra rừng và sổ tay
các phương pháp phân tích đất
(Amacher, M.C; O’Neil, K.P, 2003); Những
nghiên cứu này đã đóng góp phầ n không nhỏ trong quá trình xây dựng hê ̣
phương pháp luâ ̣n về cách đo đa ̣c , giám sát , thẩ m tra chấ t lươ ̣ng rừng và dich
̣
vụ môi trường rừng .
Nghiên cứu đầ u tiên về chi trả di c̣ h vu ̣ môi trường (PES) ở Việt Nam do
các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
(RCFEE) và các đối tác nước ngoài như tổ chức Winrock Quốc tế , trung tâm
lâm nghiê ̣p thế giới , thực hiê ̣n và xuấ t bản
ấn phẩm “Chi trả dịch vụ môi
trường cho người dân vùng cao về dich
̣ vu ̣ môi trường mà ho ̣ cung cấ p”
.
Nghiên cứu này đã góp phầ n lồ ng nghép PES vào Luâ ̣t đa da ̣ng sinh ho ̣c , xây
dựng các chin
̣ mức chi trả
́ h sách hỗ trơ ̣ cho PES và đă ̣c biê ̣t tâ ̣ p trung xác đinh
của những người sử dụng điện cho những người bảo bệ rừng đầu nguồn .
Tiế p đó là nghiên cứu về PES thông qua quyế t đinh
̣
TTg về chin
̣ vu ̣ môi trường rừng ở
́ h sách thí điể m chi trả dich
380/2008/QĐ –
Viê ̣t Nam. Mục
đić h của nghiên cứu này là ta ̣o ra cơ sở cho viê ̣c xây dựng khung pháp lý về
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng . Điạ điể m thực hiê ̣n là Tin̉ h Sơn
La và tin
̣ đố i tươ ̣ng sử du ̣ng dich
̣
̉ h Lâm Đồ ng . Kế t quả nghiên cứu đã xác đinh
vụ, xác định được xuất phí phải chi trả cho mỗi đơn vị dịch vụ môi trường và
thành lập được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với số tiền chi trả ở tỉnh Sơn La
và Lâm Đồng .
Trên cơ sở thành công của
2 dự án nghiên cứu thí điể m
, năm 2010
chính phủ đã ban hành nghị định 99/2010/ NĐ – CP quy đinh
̣ về viê ̣c chi trả
dịch vụ môi trường rừng . Đế n thời điể m hiê ̣n nay đã có mô ̣t số tỉnh triể n khai
thực hiê ̣n nghi ̣đinh
̣
99/2010/NĐ-CP như: Ninh Thuâ ̣n , Lạng Sơn , Quảng
12
Nam… Tuy nhiên , phầ n lớn các hoa ̣t đô ̣ng triể n khai ta ̣i các tin̉ h này mới
dừng ở viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o thực hiê ̣n nghi ̣đinh
̣
99; thành
lâ ̣p tổ kỹ thuâ ̣t, thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh ...
Môi trường rừng: Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh
thái rừng : thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan
thiên nhiên. Môi trường rừng có giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và
con người, gọi là giá trị sử dụng của của môi trường rừng, gồm : bảo vệ đất,
điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống
thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và
sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác .
Dịch vụ môi trường rừng: Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung
ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã
hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ : Bảo vệ đất, hạn chế
xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết và duy trì nguồn
nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng,
giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy
thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; Bảo vệ cảnh
quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ
cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự
nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Chi trả dịch vụ môi trường rừng là
quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới. Các dịch vụ môi trường rừng có
vai trò ngày càng tăng. Trong khi nhu cầu về các dịch vụ này liên tục tăng thì
năng lực của các hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ đó ngày càng suy giảm. Do
đó rất cần xác lập quan hệ chi trả cho dịch vụ này với mức chi trả (giá cả) ngày
càng tăng lên. Bản chất của chi trả cho dịch vụ môi trường rừng là một dịch
vụ công cộng mang tính vô hình nhưng người được chi trả lại rất cụ thể.
13
Chi trả dịch vụ môi trường rừng "Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa
bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ". Như vậy,
chi trả dịch vụ môi trường rừng là một quan hệ tài chính mới cho một loại
hình dịch vụ công cộng là dịch vụ môi trường rừng. Việc chi trả này bao gồm
các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch
vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả... Mặc dù còn nhiều ý kiến và quan
điểm khác nhau nhưng chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành hình thức
chi trả tài chính phổ biến trong cơ chế chính sách của nhiều quốc gia, trong đó
Việt Nam đã tiếp cận và bước đầu đang triển khai thực hiện.
1.2.2. Nguyên tắc và hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Nguyên tắc: Chi trả dịch vụ môi trường rừng thực hiện theo nguyên
tắc: Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả
dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng ( rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng và rừng sản xuất) tạo ra dịch vụ đã cung ứng .
Hình thức chi trả : Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng thông
qua 2 hình thức : Chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch
vụ môi trường rừng (người phải chi trả, người mua) trả tiền trực tiếp cho
người cung ứng dịch vụ môi trường rừng (người được chi trả, người bán).
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch
vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường
rừng thông qua một tổ chức nhận ủy thác để trả tiền cho cung ứng dịch vụ
môi trường rừng (người được chi trả, người bán).
14
1.3.
Nội dung cơ chế tài chính dịch vụ môi trƣờng rừng
Cơ chế dịch vụ môi trường rừng: Cơ chế dịch vụ môi trường rừng là
cơ chế mà ”Những người được hưởng hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm
đóng góp nhằm bảo vệ và phát triển rừng ”
Người hưởng lợi (người phải chi trả dịch vụ môi trường rừng là những
tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng và họ có trách
nhiệm phải chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu
rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng .
Các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ môi trường rừng sử dụng
nguồn thu này để chi phí cho công tác quản lý bảo vệ rừng nhằm phát triển
rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp
các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các
hoạt động kinh doanh du lịch .
1.3.1. Thu từ dịch vụ môi trường rừng
Thu dịch vụ môi trường rừng là nguồn thu được phát sinh từ bên cung
ứng dịch vụ môi trường rừng (bên bán) cho bên sử dụng dịch vụ môi trường
rừng (bên mua) thông qua hợp đồng hợp đồng thỏa thuận tự nguyện có ràng
buộc về mặt pháp lý giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường
rừng.
1.3.1.1. Đối tượng phải chi trả
Các cơ sở sản xuất điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế
xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối ; về điều tiết và duy trì
nguồn nước cho sản xuất thủy điện ;
Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về
điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch ;
15
Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn
nước phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất ;
Các tổ chức cá nhân, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi
từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự
nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch
vụ du lịch.
Các đối tượng phải trả tiền DVMTR cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các
bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên,
sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản .
Tiền Chi trả DVMTR của các tổ chức, cá nhân phải chi trả là một yếu
tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không
thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của
pháp luật .
1.3.1.2. Xác định mức chi trả
Theo nghiên cứu, đánh giá của Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học
vùng châu Á do Thạc sĩ kinh tế Trần Kim Thanh thực hiện vào tháng 4/2008
Về Giá trị của rừng trong việc bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn lưu vực Đa
nhim, tỉnh Lâm Đồng ở vùng thượng lưu của sông Đồng Nai để làm cơ sở cho
việc xây dựng chính sách thí điểm cấp quốc gia về Chi trả dịch vụ môi trường
rừng cho tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp nghiên cứu cụ thể cho việc sản xuất điện ở nhà máy thủy
điện Đa nhim đã sử dụng nguồn nước từ lưu vực Đa nhim, tỉnh Lâm Đồng ở
vùng thượng lưu của sông Đồng Nai đã cho thấy :
Vai trò của rừng trong việc điều tiết nước trong lưu vực là rất rõ. Nó
tạo dòng chảy trong mùa khô cao hơn và giảm dòng chảy trong mùa mưa. Nó
16
dẫn đến việc tổng sản lượng điện của nhà máy thủy điện Đa nhim giảm đi 6
triệu Kwh/năm trong trường hợp một năm ẩm ướt và 27 triệu Kw/h/năm trong
những năm khô hạn nếu 45.000ha rừng thông chuyển sang canh tác nông
nghiệp.
Giá trị của rừng trong việc điều tiết nước : Sản lượng của nhà máy
thủy điện Đa nhim đã được tính toán trên cơ sở dữ liệu chảy tràn hàng tháng
đến hồ do mô hình SWAT tính toán cho những năm ẩm ướt và những năm
khô hạn . Sản lượng điện của đa nhim sẽ được tối đa hóa nư là (i) sự sử dụng
tối đa thể tích hoạt động bằng việc hạ thấp mực nước hồ chưa đến mức nước
tối thiểu WL= 1,018m mỗi năm; (ii) Quy luật vận hành sẽ không bị hạn chế
bởi sản lượng điện đầu ra từ nhà máy Đa Nhim; (iii) Sự duy trì hàng năm của
turbines được xem xét như là tổng thời gian hoạt động sẽ là 347,75 ngày/năm.
Theo số liệu tại bảng 1.1 cho ta thấy : Chuyển đổi 45.000ha rừng thông
sang sản xuất nông nghiệp sẽ giảm sản lượng điện đầu ra 6,35 triệu Kwh/năm
trong những năm rừng ẩm ướt. Kết quả là tổng thất thoát điện là 0,2539 triệu
USD/năm. Giá trị điều tiết nước trong những năm ẩm ướt là 5,64
USD/ha/năm;
Theo số liệu tại bảng 1.2 cho ta thấy: Trong những năm rừng khô hạn,
vai trò của rừng trong việc điều tiết nước sẽ rất quan trọng cho sản xuất điện ở
Đa Nhim. Chuyển đổi 45.000ha rừng sang sản xuất nông nghiệp sẽ làm giảm
sản lượng đầu ra là 26,6 triệu Kwh/năm. Nó dẫn đến kết quả là tổng thất thoát
điện là 1,0638 triệu USD/năm. Giá trị trị rừng trong việc điều tiết nước trong
những năm khô hạn là 23,64 USD/ha/năm.
17