TÀI LIỆU HỌC TẬP
ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
Tháng 8/2020
1
MỤC LỤC
STT
1
Nội dung
Trang
Chương 1: Văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
9
1.1
Văn hoá học
9
1.2
Đại cương văn hoá Việt Nam – Một nghiên cứu ứng dụng của văn hoá học
17
Chương 2: Bản sắc văn hoá Việt Nam (Mặt tinh thần của văn hoá Việt Nam)
23
2.1
Đời sống tôn giáo
23
2.2
Đời sống tín ngưỡng
29
2.3
Triết lý
31
2.4
Văn hoá giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ
34
2.5
Nghệ thuật thanh sắc và hình khối
35
Chương 3: Bản sắc văn hoá Việt Nam (Mặt vật chất của văn hoá Việt Nam)
39
3.1
Văn hoá nhân cách
39
3.2
Văn hoá làng xã
42
3.3
Văn hoá đô thị
44
3.4
Văn hoá Nhà nước và dân tộc
45
Chương 4: Khái lược về diễn trình văn hoá Việt Nam
48
4.1
Văn hoá Việt Nam trong giao lưu với văn hoá bên ngoài
48
4.2
Khái quát sự hình thành và phát triển của văn hoá Việt Nam
54
Chương 5: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
61
5.1
Tác động của toàn cầu hoá đối với bản sắc văn hoá Việt Nam
61
5.2
Xung đột văn hoá trong thời đại toàn cầu hoá
62
5.3
Chủ nghĩa đa văn hoá – một chính sách mới nổi trong quản lý văn hoá
64
5.4
Giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
66
2
3
4
5
2
CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HOÁ HỌC VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
1.1 Văn hoá học
1.1.1 Sự cần thiết của Văn hoá học
Hiện nay, toàn cầu hoá đang làm cho mối quan tâm đến văn hoá trở nên “nóng”
hơn. Có thể nêu ra những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy mối quan tâm đến văn hoá và sự
gia tăng tầm quan trọng của văn hoá học (với tư cách là khoa học; hay tập hợp các nghiên
cứu về văn hoá), như dưới đây:
Nguyên nhân thứ nhất: trong tiến trình lịch sử của nhân loại, các mối liên kết cộng
đồng trên cơ sở văn hoá thường tỏ ra bền vững và chịu được thử thách của thời gian hơn
những mô thức liên kết khác, chẳng hạn như nhà nước hay thị trường.
Nhưng trong điều kiện toàn cầu hoá, tính tuyệt đối, tối cao, tính không chuyển
nhượng và chia cắt của chủ quyền quốc gia đang gặp phải nhiều vấn đề; mà cụ thể là:
trước áp lực của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, sinh thái, an ninh, và các vấn đề chung
khác nữa do toàn cầu hoá mang lại, ranh giới giữa các quốc gia đang dần bị mờ đi.
Nguyên nhân thứ hai: là nhu cầu tự khẳng định và bảo tồn cấu trúc của quốc gia –
dân tộc trước áp lực của toàn cầu hoá. Văn hoá bản địa đang bị xâm thực bởi những nền
văn hoá khác do toàn cầu hoá đem lại, đặc biệt là văn hoá và lối sống Mỹ - cái hiện đang
lan tràn trên các kênh truyền hình, trên Internet và các phương tiện thông tin đại chúng,
hoặc các ấn phẩm của Holywood..., các xã hội công dân của những nước phát triển đang
kêu gọi và gây sức ép với chính phủ, buộc các chính phủ phải đưa ra những chính sách bảo
hộ về văn hoá dân tộc, mà thực chất, là bảo vệ môi trường dân chủ truyền thống của xã hội
công dân. Vì là những nước ở vị thế yếu, nên sự hội nhập vào đời sống quốc tế tiềm ẩn khá
nhiều hiểm hoạ, mà trong số đó là sự giảm tính tự quyết trong các thương lượng quốc tế
cũng như trong xử lý các vấn đề nội bộ. Đứng trước tình hình đó, các chính phủ viện đến
bản sắc văn hoá dân tộc, đến ý thức hệ tôn giáo... nhằm chống lại sự áp đặt từ phía các
nước lớn khi chúng nhân danh các giá trị và chuẩn mực toàn cầu mà đưa ra những quyết
định bất lợi cho những nước đang chậm phát triển.
Nguyên nhân thứ ba:là nhu cầu phản tư (tự khẳng định, tự bảo vệ, tự đánh giá) của
các cá thể trước tính đa dạng và bất định do toàn cầu hoá đem lại. Cùng với sự gia tăng
3
quá trình toàn cầu hoá, văn hoá sẽ gia tăng sức mạnh của nó như lực lượng của cái đa dạng
nhằm đối trọng lại quá trình nhất dạng hoá.
Nguyên nhân thứ tư: là, trong điều kiện toàn cầu hoá, văn hoá đang ngày càng có
tiếng nói quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Sự gia tăng vai trò của văn hoá đối với
kinh tế có thể thấy rõ trên hai phương diện: tăng trưởng kinh tế và kinh tế tri thức. Trong
điều kiện toàn cầu hoá, cơ hội tăng trưởng không còn nằm ở bản thân vốn và công nghệ,
mà nằm ở khả năng thu hút và tiêu hoá chúng. Đến lượt mình, việc hấp thụ công nghệ và
vốn đến đâu, điều đó lại phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế - chính trị, xã hội và văn hoá của
một quốc gia, được xét đến một thời điểm xác định (vốn xã hội). Đó cũng chính là con
đường dẫn các nhà kinh tế học hiện đại hiện đại đến với các tác nhân tăng trưởng phi kinh
tế, mà văn hoá là một lực lượng quan trọng và có tính bao trùm.
1.1.2 Bản chất của Văn hoá học
Có nhiều bộ môn khoa học cùng nghiên cứu văn hoá dưới nhiều khía cạnh khác
nhau, như dân tộc học, nhân học, xã hội học, triết học... Tuy nhiên, chỉ có Văn hoá học là
nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể tự biến đối và phát triển.
Cho đến nay, văn hoá học đã phát triển tới độ - bao hàm trong bản thân nhiều
khuynh hướng khác nhau, khiến cho việc xác định đối tượng và phương pháp của nó trở
nên hết sức khó khăn.
“Văn hoá học đặt ra nhiệm vụ xây dựng các tri thức về các nền văn hoá của người
khác (điều đó có nghĩa là người nghiên cứu cần đối xử với nền văn hoá của chính mình với
một thái độ trung lập, khách quan và bình đẳng như đối với bất kỳ nền văn hoá nào khác).
Chỉ có thái độ như vậy mới có cái gọi là văn hoá học.”
1.1.3 Các trường phái cơ bản trong nghiên cứu văn hoá
a. Sử học văn hoá của Christopher Dawson (1889 -1970)
Nghiên cứu của Dawson về lịch sử có một đặc điểm rõ nét là xoay quanh vấn đề
giữa tôn giáo và văn hoá để khảo sát một cách toàn quá trình diễn biến và động lực bên
trong của văn hoá phương Tây.
Theo ông, “vấn đề tôn giáo và văn hoá với tính cách là một mạng lưới các mối quan
hệ phức tạp và rộng rãi, đã liên kết phương thức sinh hoạt xã hội vơi tín ngưỡng tinh thần
và quan niệm giá trị. Những tín ngưỡng tinh thần và quan niệm giá trị này lại được xã hội
coi là chuẩn tắc tối cao của đời sống và là quy phạm tối cao của hành vi cá nhân và của xã
4
hội; bởi vậy, để tiến hành nghiên cứu những quan hệ này chỉ có thể đặt chúng vào cái cụ
thể , tức là toàn bộ lịch sử thực tại của chúng”.
Nguyên do giữa văn hoá và tôn giáo luôn tồn tại một thứ quan hệ nội tại như vậy,
nên trên thực tế, các loại văn hoá đều thể hiện ra như là một loại hình đặc thù của sự kết
hợp giữa tín ngưỡng tôn giáo với phương thức sinh hoạt xã hội.
Dawson đã bỏ phần lớn tinh lực của đời mình vào nghiên cứu lịch sử “tôn giáo –
văn hoá”, vốn là một lĩnh vực được xem là khá “xa lạ” – để làm rõ về mặt lịch sử xem sự
biến thiên đồng nhịp của văn hoá với tín ngưỡng tôn giáo như thế nào, và xem văn hoá đã
lấy tín ngưỡng tôn giáo làm động lực khởi phát cho bản thân như thế nào.
b. Tinh thần văn hoá của Paul Tilich (1886-1965)
Paul Tilich cho rằng, sư phân rẽ thậm chí là mâu thuẫn giữa văn hoá và tôn giáo là
một kiểu chia rẽ về mặt tinh thần. Nếu muốn san lấp nó, trước hết cần phải xem lại một
vấn đề cơ bản: Tôn giáo là gì? Theo mạnh lập luận đó, ông phân loại quan điểm về tôn
giáo thành hai nhóm: Quan niệm của các nhà thần học và quan niệm của các nhà khoa học.
Các nhà thần học coi tôn giáo là ân huệ của Thần thánh. Trong khi đó, các nhà khoa
học xem tôn giáo chỉ là sự uỷ thác nhất thời của tinh thần nhân loại. Đằng sau sự đối lập
bên ngoài nói trên, thực tế giữa hai loại quan niệm trên vẫn có sự thừa nhận chung, đó là:
xem tôn giáo như hoạt động tín ngưỡng đối với một tồn tại tối cao gọi là Thượng Đế”.
Theo Paul Tillich, “Tôn giáo là mặt tinh thần của nhân loại”. “Tôn giáo-xét từ ý
nghĩa cơ bản nhất và rộng rãi nhất của từ này, chính là mối quan thiết cuối cùng”. Theo
ông, từ quan niệm “lý luận” chuyển tới quan niệm “thực tại” về tôn giáo, sẽ đưa lại một
loạt thành quả về tư tưởng, mà một thành quả lớn trong số đó chính là: Thôi thúc người ta
nhận thức lại vấn đề quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá.
c. Nhân học văn hoá của Bronislaw Malinowski (1884 -1942)
Bronislaw Malinowski là người sáng lập ra trường phái “chức năng văn hoá”. Ông
coi “nhân học văn hoá” là một khoa học chủ đạo trong nghiên cứu văn hoá, và coi những
nghiên cứu khoa học khác về văn hoá đều là những phân nhánh của “nhân học văn hoá”.
Xem xét qua toàn bộ hệ thống lý luận văn hoá của Bronislaw Malinowski, quan
niệm trên được thể hiện rất rõ ràng trong nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ với tư cách là
một bộ phận cấu thành quan trọng.
5
Tuy Malinowski nhiều năm chuyên tâm nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ, nhưng
ông lại ôm một kỳ vọng cao hơn đối với kết luận của mình. Theo ông, quan điểm nói trên
không chỉ thích dụng với nghiên cứu tôn giáo nguyên thuỷ mà còn có ích cho nghiên cứu
văn hoá nói chung. Ông cho rằng: “Nói chung, đã có văn hoá thì tất có tôn giáo...Dù văn
hoá mang tính phái sinh và gián tiếp đối với nhu cầu tôn giáo, nhưng suy đến cùng, tôn
giáo lại bắt rễ từ những nhu cầu cơ bản của nhân loại, và làm thăng hoa mãn phương thức
văn hoá của những nhu cầu này”.
d. Xã hội học tôn giáo của Max Weber (1864 -1920)
Max Weber nhờ vào nghiên cứu so sánh hàng loạt tôn giáo trên thế giới của mình
mà nổi tiếng trong giới học thuật đương đại. Chính ông đã gọi thứ nghiên cứu ấy là “xã hội
học tôn giáo”. Tuy phạm vi nghiên cứu xã hội học tôn giáo của Max Weber rất rộng,
nhưng những vấn đề được bàn đến lại rất tập trung. Các tác phẩm nghiên cứu so sánh về
tôn giáo thế giới của ông đều cố gắng làm rõ một chủ đề: Quan hệ giữa giữa luân lý tôn
giáo và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Weber chủ yếu thông qua việc xem xét lại các hiện
tượng văn hoá trên thế giới trong tính chỉnh thể của chúng, để từ đó đặt ra vấn đề nói trên.
Theo Weber, tính độc đáo của hiện tượng “văn hoá phương Tây” là ở “lý tính hoá”. Tính lý
tính hoá này thể hiện trong tất cả các lĩnh vực – từ khoa học, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc
cho đến chính trị, pháp luật...
Weber cho rằng, gốc rễ đích thực của văn hoá phương Tây cận đại là ở tinh thần của
chủ nghĩa tư bản xuất phát từ quan niệm về “thiên chức” – “bổn phận” của đạo Tin lành,
mà nền tảng của nó là thuyết “Cứu rỗi”. Giữa tinh thần của chủ nghĩa tư bản của tinh thần
của chủ nghĩa tư bản Cận đại, hoặc có thể nói một yếu tố cơ bản không chỉ là tinh thần của
chủ nghĩa tư bản Cận đại mà bao gồm tất thảy tinh thần văn hoá Cận đại – hành vi lý tính,
lấy quan niệm “thiên chức và bổn phận” làm cơ sở chính là được sản sinh ra tư chủ nghĩa
khắc kỷ của Cơ Đốc giáo”.
e. Triết học lịch sử của Arnold Josheph Toynbee (1889 -1975)
Theo ông, quá trình nghiên cứu phải khởi đầu từ tín ngưỡng tôn giáo để đi đến các
nền văn minh trong chỉnh thể. Và sự vận động của cái chỉnh thể sau này: từ hình thành,
nảy sinh, hưng thịnh... cho đến suy tàn – đó chính là lịch sử. Theo đó, lịch sử không lấy
các quốc gia làm đơn vị, hay nói cách khác là làm chủ thể của mình; mà thay vào đó, sẽ là
các nền văn minh trong tính trọn vẹn của chúng.
6
Với cách tiếp cận như vậy các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông đã hàm chứa hai
luận điểm quan trọng nhất:
- Đơn vị nhỏ nhất có thể thuyết minh độc lập trong nghiên cứu lịch sử tuyệt nhiên
không phải là từng quốc gia riêng lẻ, mà là một nền văn minh mang tính chỉnh thể.
- Tất cả các nền văn hoá đều song hành tồn tại; (phủ nhận tính thứ bậc của thuyết
tiến hoá văn).
Hai luận điểm trên đây là tiền đề lôgíc để triển khai toàn bộ hệ thống triết học lịch
sử của Toynbee. Ông cho rằng, kết cấu của nền văn minh chủ yếu cấu thành từ ba mặt cắt:
Chính trị, Kinh tế và Văn hoá. Trong đó, văn hoá là tinh hoa của “xã hội văn minh”; còn
chính trị, kinh tế bị ông xem là thành phần thứ yếu. Ở đây Toynbee đã phân biệt hai khái
niệm cơ bản là “văn hoá” và “văn minh”.
f. Triết học văn hoá của Ernst Cassirer (1874-1945)
Nội dung triết học văn hoá của Ernst Cassierer tương đối phong phú, liên quan rộng
rãi đến ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, chính trị... có thể nói là toàn
cảnh về mặt triết học của các hiện tượng văn hoá nhân loại. Trong đó, nghiên cứu thần
thoại – tôn giáo chiếm vị trí cực kỳ quan trọng.
Cassier chỉ ra rằng: ‘Triết học văn hoá xuất phát từ giả thuyết dưới đây: Thế giới
văn hoá nhân loại không phải là sự tổng hoà giản đơn các thực tế đơn lẻ, rời rác. Nó lấy
những thực tế ấy để làm nên một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ, và chỉ từ giác độ mới có
thể cắt nghĩa được nó”. Chính vì vậy mà Cassirer đưa thần thoại – tôn giáo vào phạm vi
phân tích của triết học văn hoá nhằm làm rõ nội hàm phong phú của văn hoá nhân loại.
Theo ông, nếu như coi văn hoá là một chỉnh thể đang triển khai tầm vóc của nó
trong thời gian lịch sử để thực hiện mục tiêu nhân tính và tự do; thì thần thoại là một phỏ
nan quạt trong mô hình “vòng tròn nhân tính – tự do”, bên cạnh những phổ nan quạt khác
nhau như nghệ thuật hay khoa học.
1.1.4 Đối tượng nghiên cứu của văn hoá học
a. Khái niệm Văn hoá.
- Định nghĩa của UNESCO về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn
ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu
7
thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng
dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
- Với tư cách là một chỉnh thể, Văn hoá mang trong nó những đặc trưng cố hữu sau:
+ Văn hoá là cái phân biệt con người với động vật; Văn hoá là đặc trưng riêng có
của xã hội loài người.
+ Văn hoá không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải có sự học tập,
giao tiếp.
+ Văn hoá là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá.
- Các khái niệm tương cận: bản sắc, văn minh, văn hiến, văn vật
- Bản sắc chính là văn hoá, song không phải bất cứ yếu tố văn hoá nào cũng được
xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hoá nào giúp phân biệt một cộng đồng
văn hoá này với một cộng đồng văn hoá khắc là bản sắc. Khái niệm bản sắc có hai quan hệ
cơ bản: thứ nhất, nó là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau (quan hệ bên ngoài);
và thứ hai, nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng văn hoá phải có
(quan hệ bên trong).
- Văn minh: để chỉ trình độ phát triển cao của một nền văn hoá. Việc xác định “cao”
hay “thấp” dựa vào hai tiêu chí cơ bản là: tính duy lý và tính phổ biến của nền văn hoá ấy.
+ Tính duy lý thể hiện ở mức độ tách khỏi giới tự nhiên của con người, được biểu
đạt thông qua hệ thống các đồ vật xã hội (vật chất), và hệ thống các chuẩn mực, các tri
thức (tinh thần).
+ Tính phổ biến thể hiện ở tình trạng, các cá thể trong cộng đồng văn hoá được xét
đến đều hoạt động dựa trên các hệ thống nói trên (tính đồng nhất văn hoá cao); và những
hệ thống chuẩn mực ấy có ảnh hưởng mạnh đến các nền văn hoá khác.
+ Văn hiến văn vật: Văn hiến và văn vật là những thuật ngữ đặc trưng của văn hoá
phương Đông. Văn hiến dùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người có tài đức
chuyển tải (văn = văn hoá, hiến = hiền tài). Văn vật là truyền thống văn hoá tốt đẹp được
thể hiện thông qua một đội ngũ nhân tài và hiện vật trong lịch sử.
1.1.5 Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của văn hoá học
a. Phương pháp chung
8
- Phương pháp hệ thống – chỉnh thể: Hệ thống là một hiện thực được cấu thành bởi
những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên một phương
thức tổ chức nhất định.
Trong một hệ thống, bao giờ cũng tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnh hưởng chi
phối các yếu tố còn lại. Tuỳ theo vị thế của mình trong cấu trúc của hệ thống, mỗi yếu tố sẽ
phải đảm nhiệm chức năng nhất định.
Phương pháp này đòi hỏi phải ứng xử với các hiện tượng văn hoá như những thành
tố nằm trong hệ thống lớn, và tuy tìm ý nghĩa của chúng chính là trong bối cảnh lớn đó,
chứ không cắt đoạn chúng theo địa giới hành chính hay phân giới địa lý.
- Giao lưu – tiếp biến văn hoá: là phương pháp nghiên cứu văn hoá dựa trên lý
thuyết các trung tâm và sự lan toả văn hoá hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hoá với
các đại biểu như F.Rasel, L.Frobenius, F.Giabner, W.Schmidt, Gelliot Smith...
- Thuyết này cho rằng, sự phân bổ của văn hoá mang tính không đồng đều; văn hoá
tập trung ở một số khu vực sau đó lan toả ra các khu vực kế cận. Càng xa trung tâm, ảnh
hưởng của văn hoá gốc càng giảm – cho đến khi mất hẳn. Cơ chế này tạo ra vùng giao thoa
văn hoá – nơi chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều trung tâm văn hoá, và cả những “vùng
tối” nơi sức lan toả không với tới.
- Phương pháp lịch sử. Khảo cứu sự tiến triển của một nền (hay một hiện tượng văn
hoá) theo trục thời gian. Nó đem lại bức tranh phong phú, sinh động, các tiểu tiết, các tài
liệu cụ thể liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Bên cạnh những mặt mạnh vốn có, phương
pháp này cũng gặp phải những hạn chế nhất định như:
+ Bị lệ thuộc nhiều vào các tài liệu và các di chỉ tìm được.
+ Quy luật phát triển vào đối tượng thường bị chèn lấp bởi các sự kiện mạng tính
mảnh đoạn.
+ Đối tượng thường được hình dung như một tập hợp bao gồm các biểu hiện đa
dạng hơn là một chỉnh thể có kết cấu và có lôgíc phát triển nội tại.
-
Phương pháp lôgíc.
Khảo cứu đối tượng (văn hoá) theo lát cắt đồng đại (trong không gian đương đại).
Nó có ưu điểm là cho phép hình dung về kết cấu của đối tượng cùng với các chức năng và
các yếu tố cấu thành. Nó cũng vạch ra được quy luật nội tại của đối tượng, nhờ đó đối
tượng được tái hiện như một chỉnh thể sống động, vận động tự thân. Nó cũng giảm sự phụ
9
thuộc của nghiên cứu vào các tài liệu lịch sử. Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có
những hạn chế nhất định như: dễ rơi vào tự biện, kém sinh động và thiếu các luận cứ thực
chứng.
- Thống nhất giữa lô gisc và lịch sử (Toạ độ văn hoá). Toạ độ văn hoá là một
phương pháp nghiên cứu văn hoá theo hai trục cơ bản: Không gian văn hoá. Thông
thường, không gian văn hoá vẫn được quan niệm là vùng địa lý; còn thời gian văn hoá
được xác định bằng niên đại lịch sử. Về thực chất, đây là phương pháp nghiên cứu mang
tính tổng hợp, bởi nó bao hàm trong bản thân nhiều phương pháp hỗ trợ khác, mà cụ thể là:
nó sử dụng phương pháp lô gisc, địa văn – hoá, giao lưu – tiếp biến văn hoá..., để xác định
không gian văn hoá. Trong khi đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để xác định thời
gian văn hoá (tiến trình văn hoá – là kết quả của việc áp dụng phương pháp này)
b. Phương pháp chuyên ngành
- Cách tiếp cận Địa –văn hoá: Địa – văn hoá vừa là một phương pháp dùng để
nghiên cứu văn hoá theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặc
điểm văn hoá dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiện.
Cơ sở khoa học của phương pháp này là các luận điểm cho rằng:
+ Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên.
+ Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi vật chất với môi trường
tự nhiên.
+ Quá trình trao đổi chất nói trên diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tự nhiên và
cải tạo tự nhiên.
+ Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hoá.
- Cách tiếp cận Nhân học văn hoá: Nhân học văn hoá là một khoa học liên ngành
về văn hoá. Nó chủ yếu nghiên cứu văn hoá từ hai giác độ: nhân chủng và ngôn ngữ (thổ
ngữ). Điều đó có nghĩa là các cộng đồng có cùng cội nguồn huyết thống và ngôn ngữ sẽ
được xem là có tính đồng nhất văn hoá.
Phương pháp nhân học – văn hoá đã lấy hai thuộc tính cố hữu và nổi trội mà bất kỳ
cộng đồng văn hoá nào cũng có, đó là chủng và thổ ngữ của chủng để phân vùng văn hoá.
Chẳng hạn, với phương pháp đó người ta phân Châu Âu ra thành ba nhóm văn hoá: văn
hoá Slavơ, văn hoá Latinh và văn hoá Gecmanh.
-
Cách tiếp cận Tín ngưỡng – Tôn giáo:
10
Tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, tôn giáo không ngừng tác động lên
hai mặt của đời sống con người: cộng đồng và cá thể. Ở cả hai bình diện đó, tôn giáo đều
phát huy chức năng bù đắp của mình. Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hoà, chức năng bù
đắp đó chẳng những không hề suy giảm mà còn chuyển hoá thành những hình thức và
khuynh hướng mới.
-
Cách tiếp cận sử học: Sử học văn hoá
Là hệ quả của việc ứng dụng phương pháp lịch sử vào trong nghiên cứu các hiện
tượng văn hoá. Nó đem lại cái nhìn chi tiết về tiến trình văn hoá, qua các thời kỳ, các giai
đoạn trong lịch sử. Đây là một phương pháp truyền thống thường được sử dụng khi nghiên
cứu văn hoá của cộng đồng người nằm trong lòng nhà nước dân tộc.
-
Cách tiếp cận xã hội học (Xã hội học văn hoá).
Sử dụng các phương pháp của Xã hội học như: định tính, định lượng, thống kê, trắc
nghiệm, điền giã và phỏng vấn... vào nghiên cứu các hiện tượng văn hoá. Nó vạch ra vai
trò và mức độ ảnh hưởng của văn hoá đối với mỗi địa phương hay mỗi cộng đồng cụ thể
trong việc thực hiện các chính sách xã hội, trong việc lựa chọn các khuynh hướng ứng xử,
cũng như trong cách thức phản ứng trước những biến đổi xã hội.
-
Cách tiếp cận kinh tế học (Kinh tế học văn hoá)
Kinh tế học văn hoá nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá đến phát triển
kinh tế ở các cấp độ: khu vực, địa phương. Nó tập trung vào rõ ảnh hưởng của các yếu tố
văn hoá đối với việc lựa chọn triết lý kinh doanh, xu hướng kinh doanh, xu hướng lựa
chọn và tiêu dùng sản phẩm...
1.2 Đại cương văn hoá Việt Nam – Một nghiên cứu ứng dụng của văn hoá học
1.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Đối với Đại cương văn hoá Việt Nam, thì văn hoá Việt Nam được hiểu là Văn hoá
của dân tộc Việt Nam – tức văn hoá của cộng đồng người sinh sống trong phạm vi lãnh thổ
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Bởi vậy, việc nghiên cứu văn hoá
của từng tộc người riêng lẻ hiện đang sinh sống tại Việt Nam – sẽ không phải là nhiệm vụ
chủ đạo của tài liệu này.
1.2.2 Xác định đối tượng nghiên cứu
Thông thường, chủ thể văn hoá được phân thành: Cộng đồng và cá nhân.
a. Cộng đồng
11
- Nhân loại: Ở cấp độ chủ thể là nhân loại, văn hoá được nhìn nhận như “cái không
phải giới tự nhiên”, tức là được quy về cái phẩm chất mà chỉ con người mới có. Nhân loại
là chủ thể của văn hoá – theo nghĩa rộng nhất của khái niệm văn hoá.
- Cộng đồng khu vực: là cộng đồng người được phân bổ trên một vùng địa lý xác định
và là chủ nhân của một nền văn hoá – văn minh.
- Tộc người: Là chủ thể mang tính cộng đồng, được xác định theo sự phân bổ về chủng
và thổ ngữ. Gắn với tộc người là văn hoá tộc người.
- Quốc gia – dân tộc: Chủ thể của văn hoá dân tộc.
Khi đi sâu vào xem xét văn hoá dân tộc, chủ thể văn hoá còn được phân nhỏ tiếp tục và
tạo nên một hệ thống mang tính thứ bậc. Tuy nhiên, đối với từng dân tộc trên thế giới, hệ
thống này là không giống nhau, mà sẽ biến đổi tuỳ theo kết cấu đặc thù của mỗi dân tộc.
b. Cá nhân
Văn hoá học quan niệm rằng, mỗi cá nhân (cá thể) vừa là chủ thể, vừa là vật mạng của văn
hoá cộng đồng mà anh ta tuỳ thuộc. Do đó, văn hoá của mỗi cá nhân đều in dấu các tính
quy định của văn hoá – loài, bên cạnh những phẩm chất văn hoá độc đáo mà chỉ riêng anh
ta mới có. Điều đó có nghĩa là giữa các cá thể vẫn tồn tại một “mẫu số chung về văn hoá”
– và cái “mẫu số chung về văn hoá” ấy được xem là văn hoá nhân cách của một cộng
đồng.
Như vậy, văn hoá nhân cách không hướng đến việc mô tả đời sống của từng cá nhân
cụ thể, riêng lẻ; mà trái lại – nó luôn cố gắng tìm ra mẫu số chung về văn hoá giữa các cá
nhân đồng thuộc một nền văn hoá.
Vận dụng lý thuyết phân bậc văn hoá vào xem xét chủ thể văn hoá Việt Nam, hệ thống
biểu đạt văn hoá Việt Nam được xác định như sau:
- Cá nhân – và tương ứng với nó là: Văn hoá nhân cách của người Việt Nam.
- Các cộng đồng cơ bản bao gồm làng xã, đô thị, nhà nước dân tộc; và tương ứng với
chúng là các kiểu hình văn hoá: Văn hoá làng xã, Văn hoá đô thị; văn hoá nhà nước – dân
tộc.
1.2.3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp lôgic
Với phương pháp lô gisc, kết cấu văn hoá của dân tộc Việt Nam không phải là một
tổng cơ học của các văn hoá tộc người, và cũng không bị cắt lớp thành các tầng văn hoá
12
theo tiến trình lịch sử kiểu như: văn hoá bản địa và văn hoá do giao lưu – tiếp biến. Theo
đó, văn hoá Việt Nam được phân xuất thành: các yếu tố phổ biến, các yếu tố đặc thù và các
yếu tố đơn nhất.
- Yếu tố phổ biến (mang tính nhân loại): Đây là những yếu tố mang tính duy lý và phổ
quát, chung cho toàn nhân loại và chủ yếu là gắn với các hệ giá trị chuẩn của văn minh
công nghiệp và hậu cộng nghiệp,
- Yếu tố đặc thù (mang tính khu vực): Cái đặc thù, theo quan điểm biện chứng được
hiểu là sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đơn nhất. Trạng thái hoà trộn giữa tính phổ
biến với tính đơn nhất trong văn hoá tạo nên những sắc thái đặc thù mang tính khu vực.
Sắc thái này vừa dùng để phân biệt một khu vực văn hoá này với những khu vực còn lại
trên thế giới; song lại vừa dùng để xác định tính đồng nhất văn hoá trong bản thân khu vực
ấy. Yếu tố đặc thù trong văn hoá Việt Nam cũng chính là những yếu tố đặc trưng của Văn
hoá Đông Nam Á. Đó là loại hình văn hoá nông nghiệp mang tính định cư với những
phẩm chất cơ bản được khảo sát sau đó.
- Yếu tố đơn nhất – không lặp lại.
Đây là những yếu tố cấu thành bản sắc vân hoá Việt Nam. Và như đã xác định
trước, thì đây chính là đối tượng chủ đạo của Đại cương văn hoá Việt Nam. Nhưng cũng
phải thừa nhận một thực tế là, cho đến nay, bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn còn là một vấn
đề để ngỏ, do còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh chủ đề ấy.
b. Địa – văn hoá Việt Nam
Đặc trưng địa lý của Việt Nam là : Nhiệt độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn),
và có gió mùa. Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hoá gắn với
nông nghiệp với những đặc điểm sau:
+ Trồng lúa nước
+ Sống định cư và hoà hợp với thiên nhiên.
+ Đề cao vai trò của phụ nữ.
+ Sùng bái mùa màng, sinh nở (văn hoá phồn thực – nông nghiệp)
Do nằm trong vùng địa lý này, nên cấu thành các yếu tố đặc thù trong nội dung văn
hoá Việt Nam.
Bên cạnh đó, điều kiện địa lý Việt Nam tạo ra những phẩm chất độc đáo
+ ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao
13
+ Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường thuỷ và đường bộ - cửa ngõ của
Đông Nam Á nên người dân thường xuyên giao lưu với khu vực
c. Nhân học văn hoá Việt Nam
Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng. Tính đa dạng văn
hoá là kết quả của sự đa dạng tộc người (hiện có 54 tộc người đang sinh sống tại Việt
Nam), trong đó tộc người Kinh đóng vai trò chủ thể (chiếm 90%).
Về mặt chủng, tộc người Kinh (Việt) là sự hoà huyết của các tộc người sinh sống tại
khu vực Đông Nam Á. Đây là một khối dân cư hùng hậu bao gồm nhiều tộc người với tên
gọi chung là người Bách Việt.
Về mặt ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông hiện nay là kết quả của quá trình hoà hợp
các thổ ngữ của các tộc người trong cộng đồng Bách Việt và quá trình Hán hoá.
Về mặt lịch sử, lúc đầu ngôn ngữ của người Kinh gồm các thổ ngữ của người Bách
Việt. Cùng với sự hoà huyết và chung sống, và xuất phát từ nhu cầu giao tiếp, các thổ ngữ
này bị biến đổi để trở thành một thứ ngôn ngữ chung cho cả cộng đồng; đó là ngôn ngữ
Việt – Mường. Các yếu tố cơ bản cấu thành ngôn ngữ Việt Mường là: Môn – Khơ me, Tày
– Thái.
d. Tiếp cận tôn giáo với văn hoá Việt Nam
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, Việt Nam thuộc cộng đồng các
quốc gia (cùng Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma...). Cách phân loại này đã không xếp
Nho giáo và hàng tôn giáo.
Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá dựa trên dấu hiệu tôn giáo là rất khó
khăn, do thiếu tính thuần nhất về tín ngưỡng và tôn giáo. Bởi vậy, việc sử dụng lý thuyết
giao lưu – tiếp biến văn hoá để nghiên cứu trong trường hợp này là hết sức cần thiết.
e. Văn hoá Việt Nam dưới góc độ giao lưu – tiếp biến
Dưới góc độ giao lưu – tiếp biến, văn hoá Việt Nam là kết quả của các cuộc gặp gỡ
văn hoá lớn trong khu vực.
- Giao lưu với văn hoá Ấn: trực tiếp (lan toả tiên phát) qua đường biển đông; gián
tiếp (lan toả thứ phát) qua Văn hoá Bắc thuộc, văn hoá Chăm Pha ở Trung Bộ và Óc Eo ở
Nam Bộ.
+ Giao lưu với văn hoá Trung Hoa: chủ yếu bằng con đường cưỡng chế (bị xâm
lược, đô hộ và đồng hoá)
14
+ Giao lưu với văn hoá Phương Tây: Ngoại giao, du học, di cư, hội nhập quốc tế,
tham dự vào mạng truyền thông – liên lạc toàn cầu, ứng dụng các chuẩn mực kinh tế....
2.2.4 Ý nghĩa của Văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
a. Trang bị năng lực phản tư văn hoá
Trong một thế giới đang bị toàn cầu hoá, sự khẳng định tính cá biệt của nhân cách
là rất quan trọng, để cá thể không bị hoà tan vào những chuẩn mực chung mang tính toàn
cầu đang lấp đầy không gian sống. Chỉ như vậy sự độc đáo của nhân cách mới được bảo
tồn, và do đó, ca nhân mới tìm thấy ý nghĩa của sự tồn tại. Để làm được điều này, sự hiểu
biết về bản sắc văn hoá của cộng đồng mình Tuỳ thuộc – là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi
cá nhân.
b. Có tác dụng giáo dục và bồi dưỡng nhân cách
Việc nhận thức và thẩm thấu các giá trị của cộng đồng là điều kiện tiên quyết để hình
thành nhân cách. Nhân cách được bộc lộ qua ứng xử, qua sự lựa chọn và cách giải quyết
vấn đề mà mỗi cá nhân trong cuộc sống thường nhật phải đối mặt. Các chuẩn mực dẫn dắt
hành động của cá nhân luôn là văn hoá của cộng đồng mà tại đó cá nhân sinh ra và lớn lên.
Chỉ khi ý thức được các chuẩn mực văn hoá ấy, cá nhân mới có thể chủ động trong
quá trình khẳng định nhân cách, biết loại bỏ đi những yếu tố kìm hãm và tiếp thu những
yếu tố có tác dụng tích cực – phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại, đồng thời vẫn giữ
được diện mạo văn hoá dân tộc.
c. Giúp lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết
lý sống của người Việt Nam.
- Việc hiểu biết về các nền văn hoá thế giới và văn hoá dân tộc, ngoài việc đem lại một
cái nhìn đối sánh, còn giúp lý giải từ giác độ văn hoá, vì sao lại có sự khác biệt trong cách
ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách lựa chọn triết lý sống của những cộng đồng khi đứng
trước những tình huống (được giả định là) giống nhau.
- Đây là những kiến thức hết sức hữu ích cho việc hình thành nên triết lý kinh doanh,
xây dựng ý thức pháp luật, định hướng tâm lý tiêu dùng, và tạo lập phong cách làm việc
sao cho có hiệu quả.
- Những kiến thức này cũng giúp người học đánh giá đúng mức các cơ hội cũng như
những thách thức mà thời đại đang đặt ra đối với bản sắc văn hoá dân tộc.
CÂU HỎI ÔN TẬP
15
1. Bản chất của văn hoá học và sự cần thiết của văn hoá học?
2. Phân biệt khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá và văn minh.
3. Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong Đại cương văn hoá Việt Nam.
4. Ý nghĩa của văn hoá học và Đại cương văn hoá Việt Nam
16
CHƯƠNG 2
BẢN SẮC VĂN HOÁ VIỆT NAM
(Mặt tinh thần của văn hoá)
2.1 Đời sống tôn giáo
2.1.1 Vị trí của tôn giáo trong đời sống con người
Tôn giáo thường được hiểu là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần
thánh, cũng như những đạo lỹ, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những
ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục.
Vai trò vủa tôn giáo trong xã hội thể hiện ở một số chức năng của nó, đó là: Chức năng
tích hợp xã hội hay còn gọi là hết hợp xã hội. Chức năng thứ hai là kiểm soát xã hội. Thứ
ba là chức năng hỗ trợ xã hội.
2.1.2 Các tôn giáo bản sắc của Việt Nam
a. Phật giáo ở Việt Nam
- Khái quát về lịch sử hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo
Đạo Phật được hình thành ở Ấn Độ khoảng thế kỉ thứ VI TCN. Người sáng lập là Thái
tử Sidharta (Tất Đạt Đa), con Vua Tịnh Phạn (một nước nhỏ thuộc miền Nam Ấn Độ Nepan ngày nay). Thái tử đã ra đi tìm cách giải thoát cho mọi người khỏi mọi khổ đau, và
Người đã tìm được con đường giải thoát bằng “Tứ Diệu đế” (Bốn chân lý).
Thứ nhất, Khổ để khẳng định cuộc đời của con người là khổ. Bốn phương đều là bể
khổ, từ đó Phật giáo đã chia nỗi khổ của con người ra làm tám loại (bát khổ). Đó là: Sinh,
lão, bênh, tử, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, thụ biệt ly và thụ ngũ uẩn khổ.
Thứ hai, Nhân đế là nguyên nhân của nỗi khổ, Phật giáo chỉ ra 12 nguyên nhân
(Thập nhị nhân duyên).
Thứ ba, Diệt đế khẳng định mọi nỗi khổ đều có thể b ị tiêu diệt.
Thứ tư, Đạo đế là con đường để tiêu diệt nỗi khổ. Phật giáo chỉ ra 8 con đường
chính (Bát chính đạo). Đi theo con đường Bát chính đạo, có thể được giải thoát, muốn
thoát khổ vĩnh viễn, phải lên được cõi Niết bàn.
Trong quá trình phát triển đạo Phật chia thành hai phái: Phái Tiểu thừa (Nam tông)
“Cỗ xe nhỏ” ngụ ý chỉ chở một người và Phái Đại thừa (Bắc tông): “Cỗ xe lớn” ngụ ý là
chở được nhiều người. Sau này, từ Đại thừa đã phát triển thành nhiều tông phái:
+ Thiền tông
+ Mật tông
+ Tịnh Độ tông
17
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên. Vào những năm 168 –
189, Khâu – đà – la đã đến Luy Lâu, trị sở của quận Giao chi và nơi đây đã trở thành trung
tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Phật giáo được tiếp thu thời kỳ này là Phật giáo Tiểu
thừa, Phật (Bụt) được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu.
Đầu thế kỷ thứ V, có một nhà sư tên là Bồ-đề-đạt-ma, từ Ấn Độ sang Trung Hoa xây
dựng nền một Đại thừa giáo mang màu sắc Trung Hoa (nhập thế) và sau đó đã ảnh hưởng
sang Việt Nam.
Vào thế kỷ XIII, xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm. Người sáng lập ra Thiền phái Trúc
Lâm là Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), năm 1299, ông chính thức xuất gia vào tu ở
núi Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh).
-
Đặc trưng của Phật giáo Việt Nam
Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt Nam
bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của
riêng Việt Nam, thể hiện qua các đặc trưng sau:
+ Phật giáo Việt Nam gắn bó với dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu trang dựng nước
và giữ nước, từng là cơ sở của khối đoàn kết các dân tộc.
+ Tính tổng hợp.
Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống.
Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo, các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du
nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau.
Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, tín ngưỡng truyền thống đã tiếp
nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên. Sau đó Phật giáo cùng tín ngưỡng truyền thống
tiếp nhận Đạo giáo. Rồi tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên “Tam giáo đồng
nguyên”. Ba tôn giáo trợ giúp lẫn nhau.
Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác để hình
thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là “Thiên nhân hợp nhất” và “Vạn
giáo nhất lý”.
+ Kết hợp giữa đạo với đời, Phật giáo vốn là tôn giáo xuất thế nhưng khi vào Việt
Nam, Phật giáo lại mang tính nhập thế. Nói đến Phật giáo Việt Nam, lẽ dĩ nhiên không thể
không nói đến quan hệ giữa Phật giáo và chính trị trong lịch sử.
+ Khuynh hướng thiên về nữ tính
+ Phật giáo Việt Nam là phương tiện để biểu đạt chủ nghĩa nhân đạo và tính vị tha
của dân tộc Việt Nam.
b. Nho giáo
18
-
Quá trình hình thành và nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo
Nho gia là một trường phái triết học của Trung hoa do Khổng tử sáng lập ra vào
khoảng thế kỷ
thứ VI TCN. Đến thời nhà Hán mới được gọi là Nho giáo.
Nho giáo là một học thuyết về chính trị - xã hội và con người. Học thuyết của Nho
giáo không bàn đến những lực lượng siêu nhân mà chỉ chú trọng đến việc xây dựng một xã
hội có kỷ cương và mọi người trong xã hội đều được hạnh phúc mà Khổng tử gọi là Xã hội
Đại Đồng, đồng thời chủ chương giáo dục, đào tạo con người để thực hiện xã hội tương lai
đó.
Về Chính trị - xa hội. để thực hiện xã hội đại đồng, Nho giáo đã xây dựng một
đường lối chính trị dựa trên cơ sở của đạo đức, gọi là Đức trị.
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên theo nhiều
con đường, nhưng chủ yếu thông qua sự xâm lược của nhà Hán.
Đặc trưng cơ bản của Nho giáo hậy kỳ, là biến triết lý của Khổng tử thành hệ thống
quy phạm ứng xử và phương thức cai trị cứng nhắc, nặng nề, áp đặt một chiều từ trên
xuống dưới. Do đó, trong con mắt của người Việt Nam, Nho giáo là ý thức hệ đặc trưng
của tầng lớp cai trị phong kiến.
Bằng sức mạnh cưỡng chế, Nho giáo đã trùm lên đời sống tinh thần của con người
Việt Nam và chèn lấp các yêu tố văn hóa này xuống hàng thứ yêu bằng cách tước bỏ khỏi
chúng tính hợp pháp.
-
Đặc trưng của Nho giáo Việt Nam
Thứ nhất, Quan niệm về “nước” của người Việt Nam khác với quan niệm “nước”
của Khổng tử. Ở thời Khổng tử, “nước” theo quan niệm của người Trung Quốc là vua, là
cái mà vua có quyền cắt xẻ để ban cho các bên chư hầu.
Đối với người Việt Nam, nước là nơi họ sinh ra lớn lên và là cái mà họ giành giật
lấy từ tay thiên nhiên (khai khẩn, trị thủy, lấn biển). Bởi vậy, nó không thuộc về bất cứ ông
vua nào, triều đại nào – mà của chính người dân.
Thứ hai, Nho giáo bị khúc xạ qua tâm lý làng xã của người Việt Nam. Con người
Việt Nam trước hết là con người của cộng đồng làng xã, và “nước” cũng chỉ là sự phóng
chiếu của mô hình làng xã ở quy mô mở rộng hơn mà thôi. Thế nên, không phải Nho giáo
mà chính văn hóa làng xã mới là nền tảng của tâm thức người Việt Nam, và khi Nho giáo
19
vào Việt Nam nó buộc phải tán sắc qua lăng kính này. Biểu hiện cụ thể của sự tán sắc đó
là:
+ Người dân làng xã luôn quan niệm Nho giáo là thứ học vấn của tầng lớp cai trị và
giữ thái độ “kính nhi, viễn chi” (tôn trọng mà tránh xa).
+ Người Việt Nam học đạo Nho cốt để ra làm quan, nên chỉ chú trọng đến các quy
định thi cử mà không nhấn mạnh đến nhân sinh quan hay lối sống, hoặc đạo đức Nho giáo.
+ Các nhà nho Việt Nam không tách thành tầng lớp nho sỹ độc lập như ở Trung
Hoa. Trái lại, họ luôn quan niệm mình là thành viên của cộng đồng làng xã. Bị chi phối với
văn hóa làng xã, các nhà nho Việt Nam đã cải tiến chữ Hán thành chữ Nôm để chuyền tải
văn hóa làng xã.
c. Đạo giáo
- Khái quát quá trình hình thành và những nội dung cơ bản của Đạo giáo.
Đạo gia là một trường phái triết học của Trung Hoa do Lão tử sáng lập ra vào cùng
thời với Khổng tử nhưng tư tưởng lại hoàn toàn đối lập với Khổng tử. Nếu Khổng tử quan
tâm đến việc xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người sống theo những quy định chung
(Lễ) thì Lão tử lại chủ trương con người sống hoàn toàn theo quy luật của tự nhiên, xóa bỏ
mọi ràng buộc xã hội. Vì vậy, học thuyết của Lão tử chủ yếu bàn đến vấn đề Thế giới
quan, ít bàn đến Nhân sinh quan.
Một hệ thống thần linh phức tạp, gồm những thực thể phi vật chất, những lực lượng
tự nhiên được nhân cách hóa, những ma quỷ hình thù kỳ quái, bên cạnh đấy là những vĩ
nhân thời xưa được tôn làm thần do đức hạnh của họ, và các Đạo sĩ đã trở thành bất từ nhờ
đắc đạo, đó là Đạo giáo.
Đạo giáo là một tôn giáo được thành lập vào những năm đầu công nguyên ở Trung
Hoa, bao gồm hai phái: Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên.
Đạo giáo phù thủy dùng các phép thuật, bùa ngải trừ tà, trị bệnh. Đạo giáo phù thủy
hình thành vào khoảng cuối thứ II, đầu thế kỷ III.
Đạo giáo thần tiên dạy tu tiên, luyện đan cầu trường sinh bất tử, có hai nhánh là
ngoại dưỡng và nội tu. Đạo giáo thần tiên hình thành từ thời Đông Tấn (236 – 334) với
nhân vật Cát Hồng.
Theo quan niệm của Đạo giáo, vì thần tối cao điều khiển tất cả các thần khác, là
Ngọc Hoàng. Đi kèm theo Ngọc Hoàng là Nam Tào giữ sổ sinh, Bắc Đẩu giữ sổ Tử.
20
Nơi thờ của Đạo giáo gọi là đền. Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ
II. Các tín ngưỡng bản địa là môi trường để Đạo giáo dễ dàng thâm nhập vào đời sống của
cư dân tại Giao Chỉ. Chính vì thâm nhập bằng con đường đó nên Đạo giáo với tư cách là
một triết lý sống ít được người chân Việt Nam biết đến, mà chủ yếu người ta quan niệm về
nó như Đạo phù thủy với các bùa chú và pháp thuật.
-
Đặc trưng của Đạo giáo Việt Nam
+ Đạo giáo ở Việt Nam không tồn tại biệt lập mà hòa trộn với tín ngưỡng bản địa.
Kết quả của sự hòa trộn đó là sự ra đời của Đạo giáo phù thủy được lưu hành trong nhân
dân.
+ Ở Việt Nam Đạo Giáo còn hòa trộn với Nho giáo – tạo nên triết lỹ sống an nhàn,
ở ẩn, không màng danh lợi của nhiều nhà nho Việt Nam.
d. Đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo là sự kết hợp giữa Phật giáo Tinh Độ tông và tín ngưỡng thờ Tổ tiên,
tạo thành một tông giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam.
-
Khái quát sự ra đời của Đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc
thị trấn Phý Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.
-
Giáo lý Hòa Hảo
Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ
Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”.
Phần “Học Phật” chủ yếu dựa vào giáo lý đọa Phật, song được giản lược nhiều và
có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
Phần “Tu nhân” theo giáo lý Hòa Hảo, tu nhân có nghĩ là tu “tứ ân hiếu nghĩa”.
Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có
công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho
rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người.
-
Nghi lễ và tổ chức
Đạo Hòa Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Họ chủ trương giúp đỡ những
người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém.
Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc
lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo
21
gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo này không xây dựng chùa chiền, không có
tượng ảnh thờ. Việc thờ phụng này thể hiện tư tưởng của Phật giáo: “Phật tại tâm, tâm tức
Phật”. Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất
nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguuyên nhân.
e. Đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ
XX. Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ “một nơi cao”, nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó
Thượng đế ngực trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn
có danh xưng đầy đủ là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.
Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật
giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát
sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm kanfh lánh dữ, giúp đỡ xung quanh,…
-
Khái quát sự ra đời của Đạo Cao Đài
Các tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận người được xem là tín đồ đầu tiên
của đạo là ông Ngô Văn Chiêu. Là một viên chức trong chính quyền thực dân Pháp, vốn
chịu ảnh hưởng của Minh Sư Đạo, một nhánh của Tam giáo.
-
Tôn chỉ Cao Đài là “Tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất”.
+ Tam giáo quy nguyên là đường lối để thực hiện mục đích “Thế đạo đại đồng,
Thiên đạo giải thoát”.
+ Ngũ chi phục nhất: tức Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo phục
nhất. Đó là đường lối tu hành tuần tự như lên năm nấc thang. Phục nhất có nghĩa là thống
nhất thành một hệ thống bổ sung cho nhau. Hợp thành đạo pháp nhất quán nhằm đưa
người tu đạt đến mục đích.
2.2 Đời sống tín ngưỡng
2.2.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng và tôn giáo trong nhiều trường hợp được sử dụng vỡi nghĩa tương
đương.
Những giữa tín ngưỡng và tôn giáo vẫn có sự khác biệt, thể hiện ở hai phương diện.
Thứ nhất, xét về phạm vi ảnh hưởng thì tôn giáo có phạm vi ảnh hưởng rộng, có thể
mang tính quốc gia, thậm chí quốc tế, còn tín ngưỡng chỉ mang tính địa phương.
22
Thứ hai, xét về nội dung và tổ chức thì tôn giáo có người sáng lập, có giáo lý, giới
luật, tầng lớp tăng lữ và cộng đồng tín đồ nên nó là hiện tượng xã hội mang tính tổ chức
cao, hướng đến đời sống tâm linh siêu việt. Tín ngưỡng thường gắn với đời sống trần tục
một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức cá nhân.
2.2.2. Một số tín ngưỡng cơ bản của người Việt
Về cơ bản các tĩn ngưỡng của người Việt Nam đều có những đặc điểm sau:
- Gắn bó mật thiết với thiên nhiên
- Đề cao vai trò của người phụ nữ
- Tôn trọng sự cân bằng hài hòa âm dương
- Tính dung chấp cao
a. Tín ngưỡng phồn thực (phồn là nhiều, thực là nảy nở)
Là hình thức tín ngưỡng tôn thờ sự giao hợp, sinh nở của cư dân nông nghiệp, tồn
tại ở nhiều nơi trên thế giới.
Tín ngưỡng phồn thực tồn tại dưới hai hình thức:
- Thờ sinh thực khí (sinh là đẻ, thực là nảy nở, khí là công cụ): là hình thức tín
ngưỡng đơn giản, phổ biến ở nền văn hóa nông nghiệp có ở các vùng, miền của Việt Nam.
Thờ sinh thực khí là thờ những công cụ có thể tạo ra được sự sinh nở.
- Thờ hành vi giao phối: tục thờ này thể hiện sự giao hợp tự nhiên giữa giống đực
và giống cái, có tác dụng kích thuchs sự sinh sôi nảy nở trong vũ trụ.
b. Tín ngưỡng thờ Mẫu
Là một trong các hình thức của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Mẫu của người Việt
Nam không chỉ là các Bà, Mẹ, điểm khác biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Nam chính là các hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa thành các Bà, Mẹ.
Tín ngưỡng thờ Mẫu được hình thành từ công việc sản xuất nông nghiệp, con người
phải phụ thuộc vào các yếu tố của tự nhiên. Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến
kết quả trong quan hệ xã hội là lối sống tôn trọng phụ nữ và trong tín ngưỡng là các nữ
thần chiếm ưu thế. Cái mà họ hướng tới là sự phồn thực nên nữ thần được thờ là các Bà,
Mẹ - những người có thể tạo ra sự sinh nở. Từ đó, dẫn đến tục thờ Mẫu.
-
Thánh Mẫu Thượng Thiên
Thánh Mẫu Thượng Ngàn
Thánh Mẫu Thoải
Gọi là Tam tỏa Thánh Mẫu. Sau này, người Việt Nam bổ sung thêm một vị là Thánh
Mẫu Nhân phủ - cai quản con người – mặc đồ vàng – gọi là Tứ Phủ.
23
Nơi thờ cũng các vị này là Phủ, Đền, Điện; các Mẫu có thể được thờ chung hoặc thờ
riêng từng vị.
Tín ngưỡng này là hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể. Gắn bó với nó là hệ thống
các huyền thoại, truyện thơ nôm, bài văn chầu, hát chầu văn, hát bóng, hầu bóng và lên
đồng.
c. Tín ngưỡng thờ tổ tiên.
Là một hình thức của tín ngưỡng sùng bái con người trong gia đình. Con người trở
thành đối tượng được thờ cúng vì người xưa cho rằng: con người được tạo ra bởi hai phần:
thể xác và linh hồn.
Thờ Tổ tiên là thờ những người trong gia đình, dòng họ có công lao sinh thành,
dưỡng dục ra mình. Ở Việt Nam, tín ngưỡng này còn được gọi là Đạo Ông Bà, được coi
gần như tôn giáo.
Trong gia đình người Việt Nam, bao giờ cũng có bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ tổ tiên
được đặt ở chính giữa của gian chính. Tín ngưỡng này là một hình thức sinh hoạt cộng
đồng trong gia đình, gia tộc người Việt Nam, có tác dụng củng cố mối quan hệ trong gia
đình, gia tộc. Đồng thời nhắc nhở, giáo dục con cháu về nguồn gốc, lịch sử, truyền thống
của gia đình, gia tộc.
Trong gia đình, ngoài tổ tiên, người Việt Nam còn thờ vị thần trông coi gia cư, định
đoạt phúc họa cho một gia đình, đó là Thổ công – một dạng của Mẹ Đất.
d. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (hoặc Thần Hoàng)
Là hình thức tín ngưỡng sùng bái con người trong làng xã. Tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng được ảnh hưởng từ Trung Quốc, chỉ vị thần làm chủ một thành lũy được truyền
sang Việt Nam từ thế kỷ thứ IX.
Đại bộ phận các vị Thành Hoàng làng đều có một lý lịch ghi thành văn bản gọi là
thần tích hoặc thần phả, ngọc phả. Đa số sự tích về Thành Hoàng là những truyền thuyết,
sau này được triều đình công nhận (trừ yêu thần, tà thần).
Thành Hoàng được thờ ở đình làng, mỗi làng có một đình. Đình làng vừa là nơi thờ
Thành Hoàng, vừa là nơi sinh hoạt của làng. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng được tổ chức
thành Lễ Hội ở các làng vào mùa xuân, lễ hội Thành Hoàng chính là cầu nối giữa quá khứ
với hiện tại và tương lai. Đồng thời, tạo nên một sự giao lưu về văn hóa giữa các cư dân
trong làng, cũng như giữa các làng với nhau.
24
Trong phạm vi quốc gia, Việt Nam có tín ngưỡng thờ Vua Tổ là Hùng Vương với
ngày giỗ là 10/3 ở Phong Châu tỉnh Phú Thọ.
2.3
Triết lý
2.3.1 Triết lý Âm dương
a. Nội dung của triết lý Âm dương
Triết lý ÂM dương ra đời vào thời kỳ Ân – Thương (thế kỷ XVII TCN đến thế kỷ
XII TCN), có nhiều truyền thuyết về tác giả của thuyết này. Theo Huyền thoại là do vua
Phục Hy và Vũ Vương. Nghiên cứu thuyết Âm dương một cách có hệ thống nhất vẫn là
trong Kinh Dịch, cuốn sách được coi là của Thánh nhân viết vì trong đó chứa đựng toàn bộ
qui luật của vũ trụ, bao gồm cae Trời, Đất và Người.
Kinh Dịch bao gồm hai phần: Kinh và Truyện. Phần Kinh gồm các quẻ, đó là các ký
hiệu trong truyền thuyết là do Phục Hy khi trị thủy trên sông Hoàng Hà và Vũ Vương khi
trị thủy trên sông Lạc tìm thấy.
Phần Truyện chính là lời giải thích cho các quẻ trong Kinh, được tạo bởi rất nhiều
người của nhiều trường phái triết học Trung Hoa. Trong đó, Khổng tử là người được coi có
công lao giải thích các quẻ trong Kinh Dịch theo một hệ thống lý luận nhất quán, vì vậy,
các nhà Nho đã coi Kinh Dịch là một trong ngũ Kinh.
Theo Kinh Dịch, lúc đầu, toàn bộ vũ trụ là một khối khí (gọi là Thái cực), trong sự
vận động của nó sinh ra hai khí âm và dương (gọi là lưỡng nghi).
- Trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại hai khí trái ngược nhau, đó là khí âm
và khí dương. Vì vậy, trong vũ trụ, không có không có cái gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn
dương, trong âm có dương, trong dương có âm.
- Hai khí âm dương có tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau: âm cực sinh dương,
dưỡng cực sinh âm.
b. Vai trò của triết lý Âm dương trong đời sống của người Việt Nam
Triết lý Âm dương đã trở thành nền tảng trong nhận thức của người Việt Nam, vì
vậy, nó chi phối tất cả mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam.
Trong nhân sinh quan của người Việt Nam, triết lý Âm dương còn thể hiện trong
những quan niệm về họa – phúc, hay – dở… Chính nhờ đó mà có triết lý sống quân bình,
cố gắng không làm mất lòng ai. Triết lý sống quân bình này tạo ra ở người Việt Nam khả
năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh.
25