Tải bản đầy đủ (.docx) (127 trang)

Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án công ty ACV

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (494.05 KB, 127 trang )

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Anh Đào

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTECH

: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam

HKVN


: Hàng không Việt Nam

XDCB

: Xây dựng cơ bản

XDCT

: Xây dựng công trình

CTXD

: Công trình xây dựng

TSCĐ

: Tài sản cố định

UBND

: Ủy ban nhân dân

QLDA

: Quản lý dự án

QLĐT

: Quản lý đầu tư


TMĐT

: Tổng mức đầu tư

GPMB

: Giải phóng mặt bằng

DVOR

: Dẫn đường vô hướng sử dụng hiệu ứng Doppler

DME

: Thiết bị đo khoảng cách

DVOR/DME: Đài dẫn đường
NDB

: Thiết bị dẫn đường vô tuyến sóng dài vô hướng

ILS

: Hệ thống hạ cánh chính xác

AMSC

: Trung tâm chuyển điện văn tự động

ACC/HCM : Trung tâm điều hành bay đường dài

CNTT

: Công nghệ thông tin

GPS

: Đồng hồ thời gian chuẩn

VSAT: Trạm thông tin vệ tinh mặt đất
ADS-B
3

: Hệ thống thiết bị giám sát tự động phụ thuộc


VHF

: Trạm thu phát sóng có tần số rất cao

ICAO

: Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế

TKKT

: Thiết kế kỹ thuật

TK BVTC :Thiết kế bản vẽ thi công
CNS


: Thông tin, dẫn đường, giám sát

VATM

: Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

4


DANH MỤC HÌNH

5


DANH MỤC BẢNG

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế từ năm 1986, kể từ đó đến nay
Việt Nam đã chuyền từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng thể
hiện rõ tính chất cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, nhất là sau khi
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, TPP. Hiện nay, các
doanh nghiệp Việt Nam, không phân biệt các thành phần kinh tế đều đang phải
đối mặt với sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đặc
biệt là trong ngành xây dựng nói chung và xây dựng các công trình hàng không
nói riêng thì sự cạnh tranh càng gay gắt đến từ các doanh nghiệp nước ngoài

với những lợi thế về vốn, công nghệ và trình độ quản lý. Do đó việc tồn tại và
phát triển trong môi trường cạnh tranh như vậy đòi hỏi doanh nghiệp cảng hàng
không phải có những chính sách, giải pháp hợp lý, một trong những giải pháp
đó chính là phải quản lý tốt các dự án công trình hàng không mà doanh nghiệp
đang khai thác.
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam là công ty cổ phần hoạt động theo
mô hình Công ty mẹ - Công ty con, được chuyển đổi từ Công ty TNHH Một
thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần do
nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam
hiện đang quản lý, đầu tư, khai thác khai thác hệ thống 22 Cảng hàng không
trong cả nước, bao gồm 09 Cảng hàng không quốc tế, hiện tại tổng Công ty
đang triển khai các dự án: Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc,cảng hàng
không Phù Cát, cảng hàng không Tân Sân Nhât- nhà ga T2, cảng hàng không
Buôn Ma Thuột, cảng hàng không Cát Bi, cảng hàng không Cà Mau,cảng hàng
không Rạch Giá, cảng hàng không Chu Lai. Tuy nhiên trong thời gian gần đây
đã xuất hiện những dấu hiệu trong cốc tác quản lý và triển khai các dự án trên
7


như: chậm tiến độ dự án, phát sinh nhiều chi phí phụ, thất thoát kinh phí dự án,
các ban quản lý dự án tỏ ra lỏng lẻo trong công tác giám sát tiến độ và chất
lượng.
Xác định được tầm quan trọng của vấn đề, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Luận
văn cao học là “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý dự án các công trình hàng không tại Tổng công ty Cảng hàng không
Việt Nam ACV” làm đề tài cho nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý dự án đầu tư xây dựng
nhằm định hướng cho việc hoàn thiện quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Tổng
công ty Cảng hàng không Việt Nam.

Phân tích thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Tổng công ty Cảng hàng
không Việt Nam, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thực
trạng này.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những lý luận và thực tiễn về
quản lý dự án đầu tư xây dựng tại các dự án do doanh nghiệp (Tổng công ty
Cảng hàng không Việt Nam) làm Chủ đầu tư.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính tại Tổng công
ty Cảng hàng không Việt Nam; tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn giai đoạn
2013 - 2015 và đinh hướng đến 2018 của Tổng công ty Cảng hàng không Việt
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu mô tả:
8


Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các nhà quản trị cũng như các cán
bộ phòng kế toàn tài chính, nhằm thu thập được các thông tin liên qua như: tình
hình hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua, tình hình sử dụng
tài sản và nguồn vốn và định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Thu thập các dữ liệu cần thiết chủ yếu tại phòng kinh doanh và kế toán
từ các nguồn sẵn có như tài liệu của phòng kế toán qua các năm 2013 -2015,
báo tạp chí và internet. Phương pháp này giúp em đưa ra được kết luận, có cái
nhìn tổng quan hơn về hoạt động phân tích tài chính của Tổng công ty Cảng
hàng không Việt Nam và nhận ra được những bất cập trong hoạt động để có đề
xuất hợp lý nhất.
- Phương pháp xử lý thông tin:

Tiến hành phân tích thống kê miêu tả bằng kỹ thuật lập bảng, so sánh
ngang các số liệu thu được, sắp xếp theo thứ tự các dữ liệu đã được thu thập,
rút ra mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu đã thực hiện,và đưa ra kết luận cho
vấn đề nghiên cứu và các phương hướng làm cơ sở đưa ra giải pháp.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng
Chương II: Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư
xây dựng tại Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam

9


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm đầu tư

Đầu tư là một phạm trù đặc biệt đối với phạm trù kinh tế, xã hội của đất nước.
Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quá
trình bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt được những mục
tiêu nhất định trong tương lai. Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất
kinh tế, đó là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Cũng có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt
động kinh tế nhằm thu lại lượng vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất
định. Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô

hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Luật đầu tư số
59/2005/QH11, ngày 29/11/2005).
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, chẳng hạn theo tiêu thức quan
hệ hoạt động quản lý của chủ đầu tư, có hai loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý
hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Chẳng hạn như nhà đầu tư thông qua
việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán:
Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích như cổ tức, tiền
lãi trái phiếu…nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình
bỏ vốn đầu tư.
10


Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này
nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh
hoạt đời sống của xã hội. Đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa
chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung. Đó là việc bỏ
vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ việc khảo sát và quy
hoạch, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ
sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho
nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó

là việc chủ thể kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội.
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt
động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển. Thực tế lịch sử đã
cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ sở
vật chất - kỹ thuật tương ứng. Các hoạt động đầu tư thường được tiến hành theo
dự án, vậy thế nào là một dự án, nên tiến hành quản lý dự án như thế nào.
1.1.2 Dự án đầu tư

1.1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định
dựa trên nguồn vốn xác định (Theo điều 3 - Luật đấu thầu ), hay nói cách khác
dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được
11


thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ
nhằm tạo ra một thể thực mới.
“Dự án đầu tư” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây
dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được
sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản
phẩm hoặc dịch vụ trong khoản thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu
tư trực tiếp). (Nghị định 52/1999/NĐ-CP, ngày 08/07/1999).
1.1.2.2 Sự cần thiết của dự án đầu tư
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: dự án đầu tư là cơ sở thẩm định và ra
quyết định đầu tư.
Trên góc độ chủ đầu tư: Dự án đầu tư là căn cứ để xin phép đầu tư và giấy phép
hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tư kỹ thuật, xin hưởng các khoản

ưu đãi đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của
các định chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ để kêu gọi góp vốn hoặc
phát hành các cổ phiếu, trái phiếu…
Dự án đầu tư khi được xây dựng sẽ đem lại những kết quả kinh tế và xã hội to
lớn:
Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện giao
thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác
khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi.
Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong
khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị.
1.1.2.3. Đặc điểm của dự án đầu tư
Dự án có mục đích, kết quả xác định. Điều này có thể hiện tất cả các dự án đều
phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con
đường, một dây chuyền sản xuất….Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm
12


vụ cần thực hiện. Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi
nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các
nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
Dự án chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự
sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được
chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán.
Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung
cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước. Dự án nào cũng có sự
tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các
nhà tư vấn. Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước. Tùy theo tính chất của dự
án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác
nhau.
Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính

khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại duy nhất.
Môi trường hoạt động “ va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau
cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và
với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị…Trong
quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ
trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu
hai lệnh lại mâu thuẫn nhau…do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan
hệ phức tạp nhưng năng động.
Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt
động đầu tư phát triển. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao
động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời
gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đều tư thường có độ rủi ro cao.
1.1.2.4. Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án XDCT

13


Theo nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009, nghị định này
của Chính phủ quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi
chung là dự án) được phân loại như sau:
a/ Theo quy mô và tính chất
Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho
phép đầu tư ; các dự án còn lại được phân thành 3 Nhóm A, Nhóm B, Nhóm C
Việc phân loại dự án theo quy mô và tính chất của dự án nhằm giúp ta quản lý
dự án được tốt và nhằm mục đích:
- Phân cấp quản lý: Thủ tướng chính phủ, các Bộ, ngành, UBND các tỉnh,
thành phố.
- Lựa chọn chủ đầu tư.
- Lựa chọn hình thức quản lý dự án.
- Quyết định trình tự đầu tư và xây dựng.

- Quyết định trình tự thiết kế (thiết kế 1 bước, 2 bước, 3 bước).
- Quyết định thời hạn cấp vốn nếu là vốn ngân sách.
- Quyết định điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức tham gia dự án.
- Quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu.
- Quyết định thời hạn bảo hành công trình.
- Quyết định hình thức quản lý và sử dụng công trình.
b/ Theo nguồn vốn đầu tư
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà cước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước.
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước;
14


1.1.2.5. Vòng đời của dự án đầu tư.
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ
ràng nên dự án có một vòng đời. Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn
giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án (Chủ trương lập dự án); giai
đoạn nghiên cứu phát triển (lập dự án); giai đoạn thực hiện & quản lý; giai
đoạn kết thúc.
Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô và
mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và
cơ sở thực hiện dự án.
Có thể minh họa sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư như sau:
1
Hình
thành

Nghiệm
2

Kết
thúc
4

Lập

thu & bàn

Phát
Vòng đời

triển

Dự án
Điều hành

Triển khai

Thực hiện
3
15


Hình 1.1 Sơ đồ vòng đời của dự án đầu tư

Có thể thấy trong các giai đoạn trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và
quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án, dự án có phát huy tác
dụng tối đa khi đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào
việc xác định mục tiêu đúng đắn. Nội dung chủ yếu của giai đoạn chuẩn bị đầu
tư là việc xây dựng dự án đầu tư. Trong đó vấn đề chất lượng, tính chính xác

của các kết quả nghiên cứu tính toán và dự án là quan trọng nhất.
Đến giai đoạn thực hiện đầu tư thì vần đề thời gian là vấn đề quan trọng hơn vì
đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến khả năng về vốn,
thời cơ cạnh tranh của sản phẩm. Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa công trình
vào khai thác sử dụng thì việc tổ chức quản lý và phát huy tác dụng các kết quả
của dự án là quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại của dự
án.
1.2. Quản lý dự án đầu tư
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của quản lý dự án

Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối
tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Quản lý dự án (Project Management – PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi
và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần
tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn
trong phạm vi ngân sách được được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả
năng thực hiện chuyên biệt. Nói cách khác QLDA là công việc áp dụng các
chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án hay nói cách
khác QLDA là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực
hiện được mục tiêu đề ra.
QLDA đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp nó mang tính duy nhất không
có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào.
16


Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu
về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác
nhau,…thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý
tưởng từ Chủ đầu tư. Cho nên việc điều hành QLDA cũng luôn thay đổi linh
hoạt, không có công thức nhất định.

QLDA là một yếu tố quan trọng quyết định tồn tại của dự án. QLDA là
sự vận dụng lý luận, phương pháp quan điểm có tính hệ thống để tiến hành
quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc có liên quan tới dự án đầu tư dưới sự
ràng buộc về nguồn lực có hạn.
Theo Viện quản lý dự án (PMI): “Quản lý dự án là ứng dụng kiến thức,
kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để thỏa mãn các yêu cầu
của dự án”.
Theo Giáo trình quản lý dự án của tác giả PGS.TS. Từ Quang Phương:
“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và
giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã
định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và
điều kiện tốt nhất cho phép”.
Dù tiếp cận theo góc độ nào thì quản lý dự án cũng bao gồm ba giai đoạn
chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện và giám sát.
+ Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc,
dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế
hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng sơ
đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.
+ Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao
gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý
tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng
17


công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố
trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị cho phù hợp.
+ Giám sát. Đây là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích
tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những
vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác

đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh
nghiệm, kiến nghị các pha của dự án.
Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
1. Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án.
2. Khách thể của QLDA liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là
toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án). Những công việc này tạo thành quá
trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ
tồn tại của dự án.
3. Mục đích của QLDA là để thể hiện được mục tiêu dự án, tức là sản phẩm
cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Bản thân việc quản lý
không phải mục đích mà là cách thực hiện mục đích.
4. Chức năng của QLDA có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự
án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực
hiện. Quá trình thực hiện mỗi dự án cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta
thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo.
1.2.2. Mục đích của quản lý dự án

QLDA đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu
hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích chủ
yếu như sau:
- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án.
18


- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm
quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án.
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án.
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều

chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự án được. Tạo điều
kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những
bất đồng.
- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn.
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc
dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được
duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên
quan chặt chẽ với nhau và có thể biểu diễn theo công thức sau:
C = f (P,T,S)
Trong đó:

C: Chi phí
P: Mức độ hoàn thành công việc (kết quả)
T: Yếu tố thời gian
S: Phạm vi dự án

Cùng với sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản
lý dự án, mục tiêu của quản lý dự án cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng
về lượng và thay đổi về chất. Từ ba mục tiêu ban đầu (hay tam giác mục tiêu)
với sự tham gia của chủ thể gồm chủ đầu tư, nhà thầu và nhà tư vấn đã được
phát triển thành tứ giác, ngũ giác mục tiêu với dự tham gia quản lý của nhà
nước. Quá trình phát triển của các mục tiêu của dự án từ ba mục tiêu đến bốn
mục tiêu, năm mục tiêu thể hiện như hình sau:

19


Chi phí

Chất lượng

Kết quả
Kết quả
mong muốn

Chủ đầu tư
Nhà thầu
Nhà tư vấn
Nhà nước
Chi phí

Chi phí
cho phép

Thời gian
cho phép

Thời

An

gian

toàn

Thời
gian

Chất
*/Chủ lượng
đầu tư

*/ Nhà thầu

Chi
phí

*/ Nhà tư vấn

Thời gian

An

*/ Nhà nước

toàn

Vệ
sinh

Hình 1.2: Quá trình phát triển các mục tiêu quản lý dự án
1.2.3. Quá trình quản lý dự án

Công tác QLDA các dự án có một quá trình bao gồm nhiều công việc.
Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp giao vốn
để thực hiện Dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu kết thúc xây dựng đưa
vào khai thác sử dụng với mục đích cuối cùng là tạo ra những sản phẩm đáp
ứng yêu cầu đề ra, sử dụng có hiệu quả. Để làm được điều này cơ quan được
giao nhiệm vụ QLDA phải làm tốt các công việc sau: Lập và xin phê duyệt quy
hoạch; lập báo cáo đầu tư (dự án nhóm quan trọng Quốc gia), lập Dự án đầu tư;
các bước thiết kế; đấu thầu; chỉ định thầu; các thủ tục cần thiết để đủ điều kiện
khởi công được công trình; quản lý chất lượng công trình; thanh toán vốn đầu

tư; đưa Dự án vào khai thác sử dụng. Đối với mỗi Dự án có quy mô, tính chất
khác nhau nên công tác QLDA cũng khác nhau, có sự phối hợp với các cơ quan
ban ngành khác nhau.

20


Quá trình QLDA đầu tư gồm các giai đoạn: Chủ trương, ý tưởng đầu tư, Chuẩn
bị đầu tư; kết thúc đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào quản lý khai
thác sử dụng.

Chủ trương, ý tưởng đầu tư
Xác định
Chuẩn bị đầu tư
Dự án được
phê duyệt

Thực hiện đầu tư

Dự án được
nghiệm thu

Kết thúc đầu tư
Hình 1.3: Quá trình quản lý dự án

Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng chi phối, cho nên hoạt động đầu tư
xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn của dự án.
Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở
cho tham nhũng trong hoạt động đầu tư và xây dựng. Trên cơ sở quy hoạch
được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư được thực hiện theo các bước

trong từng giai đoạn như sau.
1.2.3.1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Chủ đầu tư dự án chuẩn bị lập hồ sơ đầu tư theo các nội dung sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư.
- Nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của
sản phẩm, tìm nguồn cung cấp thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng
về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
21


- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng:
+ Tờ trình phê duyệt đề cương – dự toán chi phí khảo sát lập báo cáo nghiên
cứu khả thi.
+ Thông báo cho lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
+ Quyết định chỉ định đơn vị tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
- Lập dự án đầu tư;
- Thẩm định dự án đầu tư.
- Phê duyệt dự án đầu tư.
Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt dự án như sau:
a) Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định trước khi trình người có thẩm
quyền quyết định dự án bao gồm:
- Tờ trình thẩm định dự án;
- Dự án đầu tư xây dựng công trình gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ
sở;
- Văn bản cho phép đầu tư đối với dự án quan trọng quốc gia; văn bản chấp
thuận về quy hoạch ngành đối dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành;
văn bản chấp thuận về quy hoạch xây dựng đối với dự án không có trong quy
hoạch xây dựng;
- Các văn bản pháp lý có liên quan.

b) Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ dự án của
chủ đầu tư và gửi tới cơ quan để lấy ý kiến, đồng thời gửi hồ sơ để lấy ý kiến
thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền quyết định dự án.
Cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm tổ chức thẩm định và gửi kết
quả thẩm định tới đơn vị đầu mối thẩm định dự án.

22


Để đảm bảo thuận tiện, đơn vị đầu mối thẩm định dự án có thể ủy quyền cho
chủ đầu tư trực tiếp gửi hồ sơ dự án và giải trình với cơ quan có thẩm quyền
quyết định thiết kế cơ sở.
Giai đoạn này có ý nghĩa thật sự quan trọng, nó vạch ra phương hướng đầu tư
đúng đắn, hợp lý của dự án. Thành bại của một dự án, dự án có phát huy tác
dụng tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác
định mục tiêu đầu tư đúng đắn. Do đó công việc đầu tư bao gồm: Nghiên cứu
về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư. Xem xét khả năng về nguồn vốn
đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư, tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa
điểm xây dựng. Lập và trình duyệt quy hoạch, báo cáo đầu tư,dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư được coi là hiệu quả khi giai đoạn chuẩn bị đầu tư đáp ứng
được các yêu cầu về quy hoạch, kỹ thuật, hiệu qủa tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội do dự án đem lại.
Dự án phải phù hợp với quy hoạch được duyệt
Về nguyên tắc trong hoạt động đầu tư công tác quy hoạch cần đi trước một
bước làm cơ sở cho công tác lập dự án. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động đầu tư
thì ngay trong quá trình lập dự án cần quan tâm thỏa đáng đến công tác quy
hoạch.
Các dự án có yêu cầu phải duyệt quy hoạch thì trước tiên Chủ đầu tư thuê tổ
chức Tư vấn có năng lực lập quy hoạch tổng thể và chi tiết trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt. Có quy hoạch Nhà nước mới quản lý vĩ mô, điều tiết,
phân bố, định hướng sự phát triển các vùng, các nghành cho phù hợp tránh sự

chồng chéo, đầu tư không có hiệu quả về sau. Do đó Quy hoạch xây dựng phải
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch xây dựng dài hạn.
Tính thống nhất của quy hoạch xây dựng với quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành. Ngoài ra còn phải thể kiện được tính
khả thi của quy hoạch và biện pháp quản lý quy hoạch xây dựng.
23


Dự án phải đạt được yêu cầu về mặt kỹ thuật
Lập báo cáo đầu tư :
Các Dự án Quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội trước khi
lập dự án đầu tư xây dựng công trình, các dự án quan trọng Quốc gia các Chủ
đầu tư phải lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Chính phủ để xem
xét trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư.
Nội dung của Báo cáo đầu tư:
- Nếu được sự cần thiết đầu tư xây dựng công trình, các điều kiện thuận lợi và
khó khăn, chế độ khai thác tài nguyên Quốc gia nếu có.
- Dự kiến quy mô đầu tư, diện tích xây dựng, các điều kiện, cung cấp vật tư
thiết bị, nguyên vật liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật; phương án giải
phóng mặt bằng, tái định cư nếu có; các ảnh hưởng của dự án đối với môi
trường, sinh thái, phòng chống cháy nổ, an ninh, quốc phòng.
- Nêu rõ hình thức đầu tư.
- Xác định sơ bộ TMĐT, thời gian thực hiện dự án, phương án huy động vốn
theo tiến độ và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án và phân kỳ đầu tư nếu có.
Trên cơ sở báo cáo đầu tư xây dựng công trình được lập, Chủ dự án có trách
nhiệm gửi tới Bộ quản lý ngành. Bộ quản lý ngành là cơ quan đầu mối giúp
Thủ tướng Chính phủ lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan,
tổng hợp đề xuất ý kiến Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ
trương và cho phép đầu tư.
Thời gian lấy ý kiến:

- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo đầu tư xây dựng công
trình, Bộ quản lý ngành phải gửi văn bản lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa
phương liên quan.

24


- Thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được ý kiến phải có Văn bản trả lời
về những nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình. Trong vòng 7 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời theo thời hạn nêu trên, Bộ quản lý
ngành phải lập báo cáo để trình.
Lập dự án đầu tư:
Chủ đầu tư lập dự án xây dựng công trình nếu có năng lực hoặc thuê tổ chức tư
vấn có năng lực lập khi Báo cáo đầu tư (đối với dự án quan trọng Quốc gia)
được duyệt. Sau khi Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi hồ sơ đầu tư xây dựng công
trình tới khi người quyết định đầu tư để phê duyệt.
Nội dung của dự án đầu tư XDCT bao gồm thuyết minh và thiết kế cơ sở.
Phần thuyết minh của dự án: Xác định được sự cần thiết phải đầu tư, địa điểm
xây dựng. Mô tả quy mô và diện tích công trình, các hạng mục công trình bao
gồm công trình chính, phụ; phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ.
Các giải pháp thực hiện: Phương án GPMB, tái định cư nếu có; các phương án
thiết kế kiến trúc đối với công trình trong đô thị và công trình có yêu cầu kiến
trúc, phân đoạn thực hiện, tiến độ thực hiện và hình thức quản lý dự án. Đánh
giá tác động môi trường, các giải pháp phòng chống cháy nổ và các yêu cầu về
an ninh quốc phòng. Tổng mức đầu tư dự án, nguồn vốn, các chỉ tiêu tài chính
và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án.
Phần thiết kế cơ sở
- Thiết kế cơ sở là điều kiện và căn cứ để xác định tổng mức đầu tư thực hiện
các bước thiết kế tiếp theo. Nội dung của thiết kế cơ sở là dự án phải thể hiện rõ
được giải pháp chủ yếu, bao gồm thuyết minh và bản vẽ.

- Thuyết minh thiết kế cơ sở được trình bày chung hoặc riêng trên các bản vẽ
để diễn giải thiết kế, gồm những nội dung sau:

25


×