MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................5
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.........................................................5
6. Đóng góp của luận văn .......................................................................................6
7. Bố cục nội dung của luận văn .............................................................................7
CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ SAU NGÀY
1/11/1963 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/6/1965 .............................................................8
1.1. Khái quát phong trào sinh viên, học sinh Huế trước ngày 1/11/1963 .............8
1.1.1. Mảnh đất và con người Huế .....................................................................8
1.1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của học sinh Huế trước năm 1954 .10
1.2. Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến trước ngày
19/6/1965 ..............................................................................................................20
1.2.1. Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế ...............................20
1.2.2. Chủ trương của Đảng .............................................................................26
1.2.3. Diễn biến phong trào ..............................................................................30
CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ NGÀY
19/6/1965 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 31/1/1968 ...........................................................41
2.1. Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế từ ngày 19/6/1965 đến
trước ngày 31/1/1968 ............................................................................................41
2.1.1. Khái quát tình hình miền Nam Việt Nam...............................................41
2.1.2. Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế từ ngày
19/6/1965 đến trước ngày 31/1/1968................................................................43
2.2. Chủ trương của Đảng .....................................................................................46
2.2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam và Khu
ủy Trị - Thiên ....................................................................................................46
2.2.2. Chủ trương của Tỉnh ủy Thừa Thiên ......................................................48
2.3. Diễn biến phong trào......................................................................................51
2.3.1. Giai đoạn 1: Đấu tranh chống Mỹ và Thiệu - Kỳ mở rộng chiến tranh (từ
ngày 19/6/1965 đến ngày 11/3/1966) ...............................................................51
2.3.2. Giai đoạn 2: Phong trào sinh viên, học sinh Huế ủng hộ sĩ quan, binh
lính ly khai chính quyền Sài Gòn (từ ngày 12/3/1966 đến ngày 21/6/1966) ...54
2.3.3. Giai đoạn 3: Khôi phục và củng cố phong trào từ ngày 22/6/1966 đến
trước Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 (31/1/1968) ................................67
CHƯƠNG 3: TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG
TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ NĂM 1963 ĐẾN NĂM 1968.................73
3.1. Tính chất của phong trào ...............................................................................73
3.2. Đặc điểm của phong trào ...............................................................................75
3.2.1. Quy mô của phong trào ..........................................................................75
3.2.2. Sự quyết liệt của phong trào ...................................................................76
3.2.3. Hình thức và biện pháp đấu tranh của phong trào ..................................77
3.3. Ý nghĩa lịch sử của phong trào ......................................................................78
3.3.1. Phong trào góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng Thừa
Thiên Huế nói riêng, cách mạng miền Nam nói chung trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước .........................................................................................78
3.3.2. Phong trào chứng minh tinh thần đấu tranh bất khuất của sinh viên, học
sinh Huế ............................................................................................................80
3.3.3. Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cách mạng miền Nam
và cách mạng Việt Nam ...................................................................................81
KẾT LUẬN ..............................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................86
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), phong trào đô thị
là một mũi nhọn sắc bén góp phần quan trọng đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Phong trào đô thị luôn lôi kéo nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội tham gia, trong
đó, đông đảo nhất và đóng vai trò quan trọng nhất là sinh viên, học sinh. Hay nói
cách khác, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh là một bộ phận quan trọng
của phong trào đô thị.
Có thể nói, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Huế và Sài
Gòn là hai đô thị ghi nhiều dấu ấn với phong trào sinh viên, học sinh tranh đấu đòi
dân sinh, dân chủ, độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước. Và có thể khẳng định
rằng, Huế là một trong những địa phương mà phong trào đô thị diễn ra sớm, sôi nổi
và quyết liệt góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam nói chung và cách
mạng Thừa Thiên Huế nói riêng.
Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu về phong trào sinh viên, học sinh
miền Nam nói chung, Huế nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (19541975) vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống. Do đó, việc nghiên
cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1963 đến 1968 có ý nghĩa hết sức thiết thực.
Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963
đến 1968 góp phần làm rõ nguyên nhân, diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa
lịch sử của phong trào sinh viên, học sinh, từ đó làm rõ vai trò của sinh viên, học
sinh Huế trong việc góp phần làm thất bại chiến lược“Chiến tranh đặc biệt” và
“Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cũng như vai trò đối với
phong trào đô thị nói chung và phong trào sinh viên, học sinh miền Nam nói riêng.
Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963
đến 1968 góp phần cung cấp thêm nguồn tư liệu về phong trào đô thị nói chung và
phong trào sinh viên, học sinh Huế nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, giúp các nhà sử học khi nghiên cứu lịch sử Huế; làm tư liệu cho việc giảng
1
dạy lịch sử địa phương ở các trường trung học trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế;
qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho sinh viên, học
sinh; giáo dục thế hệ trẻ nhận thức được vai trò của bản thân đối với sự nghiệp xây
dựng quê hương, đất nước trong giai đoạn đổi mới và hội nhập hiện nay.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề “Phong trào sinh viên, học sinh Huế trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968” làm đề tài luận văn Thạc
sĩ của mình.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Liên quan đến đề tài có một số công trình như:
- Thích Nữ Diệu Không (1966), Pháp nạn 66 do chính tác giả xuất bản tại
Huế. Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh
phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh như
chính sách xâm lược và âm mưu thiết lập chế độ độc tài quân phiệt của chính quyền
do Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu.
- Trần Văn Giàu (1970), Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập IV, Nhà xuất
bản (NXB) Khoa học Xã hội, Hà Nội, đề cập một cách khá rõ nét phong trào đô thị
miền Nam, trong đó có nhiều tư liệu liên quan đến phong trào sinh viên, học sinh
Huế từ 1963 đến 1968.
- Lê Cung (2001), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ (19541975), NXB Thuận Hóa, Huế, nghiên cứu một cách có hệ thống về nguyên nhân,
diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào đô thị Huế trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), trong đó phong trào sinh viên, học
sinh Huế cũng được đề cập đến ở một mức độ nhất định.
- Nhiều tác giả (2012), Phong trào đô thị thời quật khởi (1954 – 1975), NXB
Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, gồm các bài viết về phong trào đô thị miền Nam Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) cung cấp thêm
một số tư liệu quan trọng về phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào sinh
viên, học sinh giai đoạn (1954 – 1975).
- Nhiều tác giả (2015), Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954 - 1975, NXB Trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về
2
phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) với
nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến nội dung của luận văn.
Ở Thừa Thiên Huế, việc nghiên cứu về lịch sử địa phương cũng được quan
tâm, trong đó có một số công trình, đề tài, sách chuyên khảo liên quan đến luận văn
như Thành Đoàn Huế (1989), Những sự kiện lịch sử trong phong trào đấu tranh đô
thị của thanh niên, sinh viên, học sinh Huế (1954 - 1975), Huế. Công trình được thể
hiện dưới dạng biên niên đã liệt kê một cách cụ thể các sự kiện liên quan đến cuộc
đấu tranh của thanh niên, sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) theo diễn tiến thời gian; Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa
Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, Tập II (1954 - 1975), NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (1995), Thừa
Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975),NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội; Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Tổng kết công tác binh vận trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), NXB Thuận Hóa, Huế; Tỉnh
ủy Thừa Thiên Huế (2008), Lịch sử công tác tuyên giáo của Đảng bộ Thừa Thiên
Huế (1930 - 2005), NXB Thuận Hóa, Huế; v.v… Tuy chưa đề cập một cách cụ thể
về phong trào sinh viên, học sinh Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1963 đến 1968, nhưng những công trình trên đã khái quát được phong trào đô thị ở
Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) làm cơ sở để tác giả hoàn
thành luận văn.
Đặc biệt, liên quan đến luận văn còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các kỷ
yếu, tạp chí chuyên ngành như Lê Cung (1992), “Một trăm ngày đấu tranh chính trị
(3/1966 - 6/1966) ở các đô thị miền Nam trong thời kỳ Mỹ tiến hành “Chiến tranh
cục bộ” (1965-1968)”, Kỷ yếu Hội thảo giảng dạy lịch sử của Đại học Sư phạm
Huế; “Về nguyên nhân của phong trào Phật giáo trong những năm 1964 - 1966”,
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, 2003; “Phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam
Việt Nam năm 1966”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 6, 2006;… Lê Văn Lân (2012),
“Những dấu ấn độc đáo trong phong trào đô thị Huế”, Tạp chí Sông Hương, số 280.
Những công trình trên đã cung cấp những tư liệu quý giá cùng một số nhận định,
đánh giá về phong trào đô thị Huế nói chung và phong trào sinh viên, học sinh Huế
nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
3
Ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên
cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam của người Việt Nam và cả người nước ngoài, ít
nhiều liên quan đến đề tài như Đỗ Mậu (1993), Việt Nam máu lửa quê hương
tôi,NXB Văn nghệ Westminter, CA, USA; Robert S. McNamara (1995), Nhìn lại
quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam do NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội dịch và phát hành. Những công trình này đề cập đến những chính sách và
thủ đoạn của Nhà Trắng đối với chiến tranh Việt Nam cũng như những nguyên nhân
thất bại của Mỹ ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn Thạc sĩ như Phạm Thị Quỳnh Dao
(2004), Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1966, Trường Đại học Khoa học - Đại
học Huế, nghiên cứu về phong trào Phật giáo miền Nam năm 1966, trong đó có đề
cập đến sự tham gia của sinh viên, học sinh Huế; Trần Thị Thơm (2006), Phong
trào đấu tranh chính trị ở Thừa Thiên Huế (1954 - 1963), Trường Đại học Khoa
học - Đại học Huế và Trần Thanh Thủy (2015), Phong trào đấu tranh chính trị ở
Trị - Thiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1963 - 1965,
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, đã đề cập tương đối rõ nét về phong trào
đấu tranh chính trị ở Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 1954 - 1968; Lê Văn Dự
(2007), Phong trào đô thị Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai
đoạn 1965 – 1968, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế và Lại Thị Phương
Thảo (2014), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai
đoạn 1961 - 1965, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, nghiên cứu khá toàn
diện về âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chủ trương của Đảng,
diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào đô thị Huế giai đoạn
1961 - 1968. Các công trình trên đi sâu nghiên cứu phong trào đô thị Huế và cung
cấp thêm nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến luận văn.
Nhìn chung, tất cả những công trình trên ở những mức độ khác nhau đều đề cập
đến phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào sinh viên, học sinh trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968, cung cấp khá nhiều tư liệu cần thiết,
quan trọng và góp phần đáng kể để tác giả có thể hoàn thành luận văn.
4
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phong trào sinh viên, học sinh Huế
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Về không gian, luận văn nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn hành chính của Huế hiện nay.
Về thời gian, từ năm 1963 đến năm 1968, nhưng giới hạn từ sau ngày chính
quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1/11/1963) đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân 1968 (31/1/1968). Tuy nhiên, khi cần làm rõ một số nội dung, luận văn có
thể mở rộng thêm giai đoạn về phía trước.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn khôi phục lại bức tranh về phong trào sinh viên, học sinh Huế từ
1963 đến 1968. Từ đó, khẳng định vai trò quan trọng của sinh viên, học sinh Huế
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở thu thập tài liệu, luận văn làm rõ nguyên nhân, diễn biến và mục
tiêu đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế từ 1963 đến 1968, sự liên hệ của phong
trào sinh viên, học sinh với phong trào đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp nhân dân
khác. Từ đó, rút ra tính chất, đặc điểm và những đóng góp của phong trào sinh viên,
học sinh Huế từ 1963 đến 1968 đối với cách mạng Thừa Thiên Huế nói riêng, cách
mạng miền Nam nói chung.
5. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiếp cận và sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác
nhau, gồm các văn kiện của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thừa Thiên Huế và Đảng
bộ thành phố Huế, một số công trình nghiên cứu lịch sử địa phương ở Thừa Thiên
Huế đã được công bố, các sách, báo, kỷ yếu, tạp chí đã xuất bản trong và ngoài
nước. Đây là nguồn tư liệu quan trọng vì ít nhiều đề cập đến các sự kiện cơ bản liên
quan đến nội dung luận văn.
5
Đặc biệt, chúng tôi đã tập trung khai thác nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia II (TTLTQG II) ở thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục Văn thư –
Lưu trữ Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên
Huế, Ban Tuyên giáo thành phố Huế, v.v… Các nguồn tài liệu này bao gồm những
báo cáo, nghị quyết, biên bản, chỉ thị, kiến nghị, công điện, tuyên ngôn, phiếu trình,
v.v… Đây là nguồn tư liệu chủ yếu để tôi hoàn thành luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau, chủ yếu là
phương pháp luận sử học mác-xít kết hợp với phương pháp lô-gic, trình bày nội
dung từng vấn đề theo diễn tiến thời gian. Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phỏng vấn để rút ra những kết luận khoa học
chính xác.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Một là, luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về phong trào
sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến
1968, góp phần minh chứng cho truyền thống yêu nước và cách mạng hào hùng của
nhân dân Thừa Thiên Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng. Luận văn
trình bày, phân tích, làm rõ chính sách cai trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn từ
1963 đến 1968 đối với nhân dân Huế, trong đó có sinh viên, học sinh nhằm thực
hiện mưu đồ đẩy lùi phong trào cách mạng ở Thừa Thiên Huế nói riêng và phong
trào cách mạng miền Nam nói chung, từ đó, hiểu rõ nguyên nhân làm bùng nổ
phong trào sinh viên, học sinh Huế trong giai đoạn này.
Hai là, thông qua việc nghiên cứu nguyên nhân, diễn biến, hình thức đấu
tranh, cũng như tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào, luận văn góp phần
làm rõ vai trò của sinh viên, học sinh Huế trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính
quyền Sài Gòn từ 1963 đến 1968 vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Ba là, luận văn là tài liệu quan trọng trong việc phục vụ giảng dạy lịch sử địa
phương, có thể sử dụng ở các cấp học, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước,
cách mạng cho các thế hệ sinh viên, học sinh, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc
về vai trò và sứ mệnh của mình đối với quê hương, đất nước.
6
7. BỐ CỤC NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu (07 trang), kết luận (03 trang), mục lục (02 trang) và tài
liệu tham khảo (09 trang), nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến
trước ngày 19/6/1965 (33 trang).
Chương 2: Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ ngày 19/6/1965 đến trước
ngày 31/1/1968 (32 trang).
Chương 3: Tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào sinh viên,
học sinh Huế từ năm 1963 đến năm 1968 (10 trang).
7
CHƯƠNG 1
PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ SAU NGÀY
1/11/1963 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/6/1965
1.1. Khái quát phong trào sinh viên, học sinh Huế trước ngày 1/11/1963
1.1.1. Mảnh đất và con người Huế
Về địa lý tự nhiên, Huế ở vào khoảng 16,31 – 16,29 độ vĩ Bắc và 107,32 –
107,37 độ kinh Đông. Ngày nay, thành phố Huế có diện tích khoảng 77,99 km²:,
phía Đông giáp huyện Phú Vang và thị xã Hương Thủy, phía Tây và Bắc giáp thị xã
Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thủy, cách Hà Nội 657 km về phía Bắc và
thành phố Hồ Chí Minh 1.084 km về phía Nam.
Suốt chiều dài lịch sử, Huế luôn là vùng đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan
trọng. Huế nối liền hai miền Nam – Bắc, từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, rồi là
kinh đô của đất nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn (1802 – 1945).
Địa danh Huế thường được dùng với hai ý nghĩa, một là mang tính văn hóa,
chỉ chung toàn địa bàn châu Hóa xưa, hai là mang tính hành chính địa phương, chỉ
riêng địa bàn phủ Phú Xuân ngày xưa – thành phố Huế ngày nay. Xét về cả hai tính
chất, Huế là vùng đất lịch sử, giữ vị trí trung tâm của một địa phương, của một vùng
và hơn nữa là kinh đô của đất nước.
Vào thời Trần, năm 1301, Trần Nhân Tông vân du Cham-pa và hứa gả công
chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân, đổi lại Đại Việt được châu Ô và châu Rí (Lý).
Năm 1306, vua Trần Anh Tông cử phái đoàn đưa công chúa Huyền Trân sang làm
dâu Cham-pa, tiếp nhận đất đai và đổi châu Ô thành châu Thuận và châu Rí thành
châu Hóa cùng thuộc phủ Lâm Bình, chọn người bản thổ, đặt chức quan cai trị, cấp
ruộng đất và miễn tô thuế ba năm cho nhân dân. Huế thuộc châu Hóa, cư dân mới
cũ cùng sinh tụ, lập thành làng xã. Trong đó, địa bàn thành phố Huế ngày nay chủ
yếu là hai xã Hà Khê và Thụy Lôi thời Trần - Lê.
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, sau khi tạo dựng được một tiềm lực đủ
mạnh để có thể đối đầu với họ Trịnh, ông quyết định dời dinh vào Phúc An (làng
Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), đến thời chúa
Nguyễn Phúc Lan dời vào phủ Kim Long (nay không còn dấu tích gì). Năm 1687,
8
chúa Nguyễn Phúc Thái quyết định dời sang phủ Phú Xuân (tức là kinh thành Huế
ngày nay).
Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở núi Bân, lấy hiệu là Quang
Trung, tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh xâm lược, giải phóng Thăng Long,
Phú Xuân trở thành kinh đô của nước Đại Việt.
Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là
Gia Long, lập ra nhà Nguyễn, tiếp tục chọn Phú Xuân làm kinh đô.
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Uỷ ban Nhân dân cách
mạng chia thành phố Huế làm 8 khu phố (1+2: Nội thành; 3: nay Phú Hòa; 4: Bãi
Dâu; 5: Vĩ Dạ; 6: Phú Hội; 7: Phú Nhuận, Vĩnh Ninh, Trường An; 8: thủy diện với
cồn Hến và cồn Dã Viên); nhưng khi thực dân Pháp tái chiếm ngày 5/2/1947, chúng
chia thành phố Huế thành 3 quận, 8 khu phố (quận Nhất: Nội Thành; quận Nhì: tả
ngạn sông Hương, gồm các khu phố 3, 4; quận Ba: hữu ngạn sông Hương, gồm các
khu phố 5, 6, 7, 8).
Trong giai đoạn 1954 – 1955, chính quyền Sài Gòn vạch lại ranh giới, chia
làm các quận và thành phố. Ngày 19/6/1967, chính quyền Sài Gòn cho phép thị xã
Huế lập 3 quận (quận Nhất ở khu vực Nội Thành gồm 11 phường; quận Nhì ở tả
ngạn sông Hương gồm 7 phường và 11 vạn đò; quận Ba ở hữu ngạn sông Hương).
Sau ngày giải phóng (25/3/1975), thành phố Huế nhiều lần được sắp xếp lại để
đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội như tháng 12/1975, thành phố
Huế gồm 11 phường; năm 1977, có 11 phường và 6 xã; năm 1981 gồm 15 phường,
24 xã; năm 1989, có 18 phường, 25 xã; năm 1990, có 18 phường, 5 xã.
Cư dân Huế - người Việt, xuất phát từ cái nôi văn minh cổ đại, đồng bằng Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ, du nhập vào đây qua từng thời kỳ đã mang theo những truyền
thống nghìn đời của dân tộc Việt Nam.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Huế là nơi tụ hội biết bao nhân tài của đất nước.
Trong những thập niên đầu thế kỷ XX, Huế đã đón nhận và đào tạo hàng loạt chí sĩ,
nhà hoạt động cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất
Thành, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, v.v… Huế trở thành nơi bảo
bọc, nuôi dưỡng và là nơi hoạt động của nhiều nhà cách mạng.
9
Ở Huế, nền giáo dục cũng khá phát triển. Xứ Huế qua các thời kỳ lịch sử vẫn
nổi tiếng là “xứ học”, sản sinh ra biết bao thế hệ hay chữ, đóng góp nhân tài cho đất
nước như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Cư Trinh, Trần Văn Kỷ,
Đặng Huy Trứ, Nguyễn Văn Duy, v.v…
Dưới thời Nguyễn, Huế có trường Quốc Tử Giám, một trong hai trường đại
học lúc bấy giờ ở nước ta chuyên đào tạo nhân tài cho đất nước. Thời Pháp thuộc,
Huế có thêm một loạt trường như trường Kỹ nghệ thực hành1, trường Khải Định2,
trường Đồng Khánh3, v.v… con em miền Trung quy tụ về đây học tập.
Năm 1957, Viện Đại học Huế ra đời. Vượt khỏi âm mưu của Mỹ và chính
quyền Sài Gòn, Đại học Huế cùng đội ngũ sinh viên, học sinh và tầng lớp trí thức
đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975),
đặc biệt là trong phong trào đấu tranh đô thị.
Thừa hưởng và phát huy truyền thống của một vùng đất lịch sử, văn hóa, nhân
dân Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng luôn thể hiện tinh thần yêu
nước bất khuất, liên tục tạo ra các phong trào đấu tranh chống lại sự thống trị của
Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Nói tóm lại, Huế là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là nơi dựng nghiệp của vua
chúa, là đất hội tụ của nhân tài, nhờ đó đã tạo cho Huế một nền tảng, một kho tàng
văn hóa to lớn, quý báu và truyền thống yêu nước ngoan cường. Tất cả những yếu
tố đó đã hình thành nên một vùng đất văn hiến có bề dày về văn hóa, có chiều sâu
về lịch sử và giàu truyền thống về tinh thần yêu nước ngoan cường, bền bỉ đấu tranh
trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của học sinh Huế trước năm 1954
1.1.2.1. Giai đoạn trước năm 1930
Có thể nói, cũng như nhân dân cả nước, truyền thống yêu nước và cách mạng
của nhân dân Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng được hình thành
từ rất sớm.
. Nay là trường Cao đẳng Công nghiệp Huế.
. Nay là trường THPT Chuyên Quốc Học.
3
. Nay là trường THPT Hai Bà Trưng.
1
2
10
Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của cuộc vận động Duy Tân do Phan Châu
Trinh đề xướng, năm 1908, phong trào chống thuế diễn ra mạnh mẽ ở Trung Kỳ,
trong đó có Huế.
Ngày 11/8/1908, nông dân các huyện ngoại thành đồng loạt kéo vào Huế biểu
tình chống thuế. Học sinh trường Khải Định đã bãi khóa để cùng đồng bào kéo về
Tòa khâm sứ Trung Kỳ1 yêu cầu giảm thuế. Một số học sinh, trong đó có cậu học
trò Nguyễn Tất Thành đã tự nguyện viết đơn bằng tiếng Pháp gửi lên Tòa Khâm sứ
Trung Kỳ. Phong trào vì không có đường lối lãnh đạo đúng đắn nên nhanh chóng bị
thực dân Pháp và phong kiến tay sai đàn áp. Một số học sinh bị đuổi khỏi trường
nhưng tinh thần chống Pháp được khơi dậy trong lòng học sinh và trí thức ở Huế.
Tiếp đó, đêm mùng 3 rạng ngày mùng 4/5/1915, học sinh và nhân dân Huế
tham gia cuộc khởi nghĩa do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo nhằm khôi phục
lại nền độc lập cho đất nước. Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp quay sang
đàn áp bắt bớ nhân dân, nhiều người bị giết hại, bị bắt giam. Thái Phiên và Trần
Cao Vân bị chém ở An Hòa. Từ thực tế đó, học sinh và trí thức Huế ngày càng nhận
thức được trách nhiệm và nghĩa vụ lớn lao của mình.
Phong trào học sinh và nhân dân Huế lên mạnh khi Phan Bội Châu bị thực dân
Pháp bắt và kết án tử hình (1925) và Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn (1926). Cùng
với phong trào đấu tranh chung của nhân dân cả nước, nhân dân và học sinh Huế
nổi dậy đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh. Học sinh
các trường Khải Định, Đồng Khánh, Kỹ nghệ thực hành đã đồng loạt bãi khóa.
Trước sức mạnh đấu tranh của nhân dân, trong đó có Huế, thực dân Pháp buộc phải
bõ án tử hình cho Phan Bội Châu và đưa cụ về an trí ở Huế.
Tháng 3/1926, học sinh trường Kỹ nghệ thực hành bãi khóa để chống lại tên
hiệu trưởng người Pháp dùng roi vọt đánh đập, mắng nhiếc học sinh. Cuộc bãi khóa
nhận được sự ủng hộ của học sinh các trường trong thành phố. “Toàn thể học sinh
kéo đến Tòa khâm sứ Trung Kỳ để đưa yêu sách đòi không được đánh đập, chửi
mắng học sinh; nâng cao đời sống cho học sinh nội trú, cách chức tên hiệu trưởng
độc ác”[101, tr. 5]. Để xoa dịu phong trào, thực dân Pháp hứa sẽ giải quyết những
yêu sách của học sinh mà trước hết là cách chức tên hiệu trưởng người Pháp. Mặt
. Nay là trường Đại học Sư phạm Huế.
1
11
khác, để đối phó với phong trào đấu tranh của học sinh, thực dân Pháp cho mật
thám hoạt động trong trường để dò la các hoạt động của học sinh, bắt bớ học sinh
cầm đầu, đuổi những học sinh tham gia tích cực, chia rẻ nội bộ học sinh. Đến tháng
9/1926, thực dân Pháp đàn áp được phong trào đấu tranh của học sinh trường Kỹ
nghệ thực hành và ổn định lại tình hình.
Từ năm 1927, do ảnh hưởng của những luồng tư tưởng tiến bộ của Hội Việt
Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng, phong trào đấu tranh của
học sinh và tuổi trẻ thành phố lại lên cao. Nhiều cuộc bãi khóa và tổng bãi khóa đã
nổ ra. Tháng 4/1927, “cuộc bãi khóa của học sinh trường Khải Định đã nổ ra do
giáo sư người Pháp sĩ nhục học sinh và xúc phạm tinh thần dân tộc. Hưởng ứng
phong trào, học sinh trường Đồng Khánh, trường Kỹ nghệ thực hành, trường tiểu
học Paulbert1, trường Chaigneau2 cùng các trường khác trong nội thành tham gia
đấu tranh, phản đối chế độ giáo dục hà khắc, đòi tự do đọc sách báo, kêu gọi các
tầng lớp nhân dân ủng hộ phong trào bãi khóa” [101, tr. 9]. Thực dân Pháp tiến
hành đàn áp dã man, “bắt những người lãnh đạo phong trào, đuổi 37 nam sinh và 7
nữ sinh, cách chức hoặc điều đi nơi khác những giáo viên ủng hộ phong trào” [101,
tr. 10].
Tháng 7/1927, Tỉnh bộ lâm thời Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Huế
được thành lập do Nguyễn Đức Tịnh làm Bí thư. Hội viên của Hội trong trí thức,
học sinh ngày càng tăng, “nâng tổng số hội viên lên khoảng 20 người” [2, tr. 75].
Một số cơ sở của Tỉnh bộ Thanh niên được xây dựng ở trường Kỹ nghệ thực hành,
trường Đồng Khánh, v.v…
Tháng 3/1928, học sinh trường Đồng Khánh tiến hành bãi khóa để chống lại
tên giáo sư người Pháp đánh đập và đuổi một số học sinh có tư tưởng tiến bộ.
Phong trào đấu tranh của nữ sinh Đồng Khánh đã lôi cuốn được sự tham gia của học
sinh Khải Định và một số trường khác. Nhân dân Huế đã ủng hộ học sinh bằng cách
giúp đỡ tiền bạc cho những học sinh bị đuổi học. Mật thám Pháp hoạt động ráo riết
lùng bắt học sinh khắp nơi, một vài học sinh bị kết án tù chung thân.
. Nay là trường Tiểu học Phú Hòa.
. Nay là trường Tiểu học Lê Lợi.
1
2
12
Qua phong trào đấu tranh này, một số học sinh trung kiên được giác ngộ cách
mạng, thoát khỏi sự lùng bắt của mật thám Pháp được cử sang Quảng Châu dự lớp
huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Đây là những hạt nhân để sau này về nước
lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, thanh niên Huế.
1.1.2.2. Giai đoạn 1930-1945
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt thời kỳ khủng
hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Tháng 4/1930,
Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế thành lập do Lê Viết
Lượng làm Bí thư. Từ đây, phong trào đấu tranh của nhân dân Thừa Thiên Huế đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Ngày 26/3/1931, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương ra đời. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng và của Đoàn, phong trào đấu tranh của học sinh, thanh niên Huế
lại bùng nổ mạnh mẽ.
Năm 1931, thực dân Pháp đàn áp đẫm máu phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, học sinh các trường trong toàn thành phố tham
gia mít-tinh cùng nhân dân Huế tố cáo hành động, tội ác của thực dân Pháp đối với
đồng bào Nghệ - Tĩnh, yêu cầu chúng chấm dứt khủng bố.
Trong phong trào dân chủ 1936 – 1939, thực hiện chủ trương đấu tranh mới
của Đảng, lại được bổ sung thêm một số cán bộ, đảng viên vừa ra khỏi nhà tù như
Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn nên phong trào dân chủ ở Huế diễn ra
với những hình thức phong phú như phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào
đón Godart, phong trào vận động nghị viện dân biểu, phong trào đấu tranh của công
nhân, thanh niên, học sinh Huế.
Thanh niên, học sinh Huế đã đóng vai trò tích cực trong phong trào Đông
Dương Đại hội và đón Godart, cử đại diện vào ban tổ chức các đoàn biểu tình, bất
chấp mọi sự ngăn cấm của chính quyền thực dân. Học sinh trường Kỹ nghệ thực
hành vượt qua sự ngăn cản của giám thị và cảnh sát, hàng ngũ chỉnh tề đẩy tung
cổng trường, đẩy lùi cảnh sát để dự mít-tinh. Học sinh các trường Phú Xuân, Hồ
13
Đắc Hàm1 cùng thanh niên thành phố và các huyện tham gia chung một cuộc biểu
tình. Qua đấu tranh, nhiều thanh niên được giác ngộ, dẫn đến sự thành lập Đoàn
Thanh niên dân chủ Thừa Thiên Huế do Tố Hữu làm Bí thư (26/3/1937).
Sang năm 1938, ở Huế nổi lên phong trào đọc sách báo yêu nước, tiến bộ.
Trong các trường Khải Định, Kỹ nghệ thực hành, Đồng Khánh, v.v… học sinh
truyền cho nhau đọc các bài thơ của Tố Hữu, Xuân Thủy, v.v… và một số sách của
K. Marx, F. Engels, V. Lenin. Nhiều học sinh, đoàn viên, đảng viên có mặt trong
nhà trường đã giác ngộ học sinh về ý thức hệ của giai cấp vô sản. Một số học sinh
và giáo viên đã tự nguyện theo Đảng.
Năm 1943, Hội Văn hóa cứu quốc được thành lập. Chính sách văn hóa của
Đảng được truyền vào giới trí thức và học sinh Huế, nhiều người tự nguyện tham
gia Hội Văn hóa cứu quốc do Đảng lãnh đạo nhằm góp phần chống lại chính sách
văn hóa nô dịch phản động của Nhật – Pháp.
Ngày 13/8/1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến có lợi
cho cách mạng Việt Nam, cơ hội ngàn năm có một cho nhân dân ta nổi dậy giành
chính quyền đã tới. Theo lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc, ngày 14/8/1945,
Uỷ ban Khởi nghĩa Huế được thành lập.
Ngày 23/8/1945, học sinh, thanh niên Huế đã hòa vào dòng người của nhân
dân thành phố kéo về Sân Vận Động Huế dự cuộc mít-tinh mừng khởi nghĩa thắng
lợi trong toàn tỉnh, Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến thực dân,
thành lập Uỷ ban Cách mạng lâm thời do Tố Hữu làm Chủ tịch.
Có thể nói, Cách mạng tháng Tám thành công ở Huế có sự đóng góp không
nhỏ của thanh niên, học sinh Huế. Từ đây, nhân dân và học sinh Huế vui hưởng hòa
bình và ra sức đóng góp sức mình để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân đang
còn non trẻ.
1.1.2.3. Giai đoạn 1945-1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Huế thực sự làm chủ quê hương.
. Là trường tư thục bổ túc văn hoá cho người nghèo.
1
14
Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập phải đương đầu với vô vàn những khó
khăn, thử thách.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, nhân dân cả nước nói chung và
nhân dân Huế nói riêng tập trung vào nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói, giặc dốt và
giặc ngoại xâm, coi đó là ưu tiên hàng đầu của chính quyền cách mạng trong việc
xây dựng và bảo vệ chế độ mới.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn với dã tâm xâm lược
nước ta lần nữa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ về ủng hộ sức
người, sức của cho Nam Bộ kháng chiến, nhân dân Huế đã động viên con em mình
vào Nam Bộ chiến đấu. Nhiều học sinh tự nguyện xung phong đi “Nam tiến”.
Nhiều hoạt động ủng hộ phong trào “Nam tiến” được tổ chức như các mẹ, các chị ở
Huế thành lập các quán cơm “Nhân dân” phục vụ các đoàn quân vào Nam chiến
đấu; Đoàn thanh niên tổ chức các cuộc đón tiếp, tiễn đưa đầy cảm động. Một số học
sinh tham gia tự vệ thành phố và chính quyền cách mạng.
Đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2 giờ 30
phút sáng ngày 20/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Huế và Trị - Thiên
bùng nổ. Phối hợp với bộ đội, tự vệ thành phố trong đó có học sinh đã đồng loạt tấn
công vào các cơ quan đầu não của thực dân Pháp ở Huế như Tòa Khâm sứ, Khách
sạn Morin, trường Thiên Hữu1, v.v… Tuy nhiên, do tương quan lực lượng quá
chênh lệch nên sau 50 ngày đêm bao vây quân Pháp trong thành phố, đến đầu tháng
2/1947, lực lượng cách mạng rút ra ngoài thành phố để tiến hành kháng chiến lâu
dài.
Từ năm 1947, thành phố Huế bị thực dân Pháp chiếm đóng. Tuy nhiên, tại Hội
nghị Nam Dương (Quảng Điền) vào tháng 3/1947, đồng chí Nguyễn Chí Thanh –
Bí thư Tỉnh ủy đã khẳng định: “Mất đất chưa phải mất nước. Chúng ta phải tranh
thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở.
Chúng ta nhất định thắng lợi” [2, tr. 245].
Để thúc đẩy phong trào, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tháng 7/1948, Thị
ủy Huế được thành lập ra sức củng cố, phát triển và đưa phong trào đấu tranh của
. Nay là trường Đại học Khoa học Huế.
1
15
nhân dân Huế đi vào chiều sâu. Thị ủy Huế đã xây dựng các cơ sở nội thành trong
thanh niên, học sinh, công nhân, trí thức, v.v…
Ngày 12/7/1949, để thăm dò sự ủng hộ của nhân dân đối với mình, Bảo Đại
đến Huế, thực hiện chỉ thị của Thị ủy, nhân dân Huế thờ ơ, lãng tránh, “bọn cảnh
sát phải dùng lưỡi lê ép buộc, cuối cùng chỉ bắt được một số công chức cùng một số
học sinh tiểu học đi đón Bảo Đại mà thôi” [2, tr. 272].
Tiếp đó, từ ngày 17/1 đến ngày 23/1/1950, Ban Chấp hành học sinh kháng
chiến đã phát động thanh niên, học sinh Huế hưởng ứng cuộc đấu tranh truy điệu
Trần Văn Ơn1 của học sinh Sài Gòn. Cuộc vận động đã được đông đảo thanh niên,
học sinh Huế tham gia. Tiêu biểu là cuộc mít-tinh ngày 18/1/1950 được tổ chức tại
trường Quốc Học “đã có 500 học sinh tham gia, trong đó có 30 học sinh Pháp, học
sinh Hoa kiều” [2, tr. 285].
Đầu tháng 6/1954, Thị ủy Huế đã lãnh đạo gần 20 cuộc đấu tranh chính trị của
quần chúng nhân dân. Đặc biệt, ngày 17/6/1954, có hơn 2 vạn học sinh, tiểu thương
và cả lính ngụy tham gia biểu tình với các khẩu hiệu đòi hòa bình, đòi chồng con đi
lính trở về, ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội
nghị Genève.
Ngày 21/7/1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genève công nhận các
quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương, rút quân về nước. Cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Đây là thắng lợi
chung của nhân dân cả nước, nhân dân Huế nói chung và của học sinh, thanh niên
Huế nói riêng.
1.1.2.4. Giai đoạn từ sau năm 1954 đến trước ngày 1/11/1963
Như đã đề cập ở trên, Hiệp định Genève năm 1954 đánh dấu sự thất bại của
thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, buộc chúng phải rút quân
về nước. Tuy nhiên, ngay sau đó, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp ở miền Nam Việt
Nam nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành thuộc
địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mỹ. Huế một lần nữa lại nằm trong vòng kìm
kẹp của đế quốc và tay sai.
. Là học sinh trường Pétrus Ký (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong) đã bị chính quyền Pháp nổ
súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn vào ngày 9/1/1950.
1
16
Tháng 7/1954, hòa nhịp với các cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn – Chợ
Lớn đòi hòa bình, đòi tự do dân chủ, học sinh các trường Quốc Học, Hàm Nghi đã
cùng đồng bào thành phố Huế tổ chức mít-tinh đòi tự do đi lại, tự do báo chí, miễn
thuế đò, thuế chợ, v.v… Bốn tháng sau, thầy và trò trường Quốc Học đã đồng loạt
tiến hành bãi giảng, bãi khóa để phản đối chương trình giáo dục của chính quyền
Ngô Đình Diệm vì chương trình này đã cóp nhặt nguyên xi thời Pháp nên đã gây trở
ngại cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Họ đưa kiến nghị đòi sửa đổi lại
chương trình cho phù hợp với trình độ của học sinh.
Đầu năm 1955, học sinh các trường ở Huế hòa vào dòng người đấu tranh của
nhân dân thành phố tiến về Tòa Đại biểu Chính phủ Trung Phần1 và dinh Ngô Đình
Cẩn2 đòi cải thiện đời sống, cải thiện chế độ làm việc, chống khủng bố, bắt bớ
những người yêu nước, chống trò hề “trưng cầu dân ý”. Trước sức mạnh đấu tranh
của quần chúng và học sinh Huế, Ngô Đình Cẩn phải ra tiếp đoàn và nhận kiến nghị
của họ.
Năm 1956, phong trào đấu tranh của học sinh Huế diễn ra sôi nổi thu hút được
nhiều tầng lớp tham gia, phong trào còn liên kết với phong trào đòi hòa bình ở Gòn
– Chợ Lớn. Trước sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của phong trào, chính quyền
Ngô Đình Diệm hoảng sợ, vội huy động quân đội và cảnh sát đến uy hiếp và giải
tán các cuộc hội họp đông người để dần dần làm tan rã phong trào. Song, thủ đoạn
của chúng không thực hiện được, phong trào vẫn tiếp tục diễn ra. Trước tình hình
đó, Ngô Đình Diệm phải đích thân ra Huế để giải quyết yêu sách cho học sinh và
nhân dân Huế nhằm xoa dịu phong trào. Cũng trong năm này, Ngô Đình Diệm còn
âm mưu đổi tên trường Quốc Học thành trường mang tên mình và dựng bia ghi
công của cha là Ngô Đình Khả tại Huế. Nhưng, âm mưu này của Ngô Đình Diệm bị
thất bại trước sự đấu tranh kiên trì của học sinh và nhân dân Huế.
Đối với Huế, một thành phố có đội ngũ học sinh đông đảo lại ở gần miền Bắc
xã hội chủ nghĩa nên những yếu tố tiến bộ, lành mạnh của nền văn hóa giáo dục
miền Bắc có điều kiện thuận lợi ảnh hưởng vào đây hơn nơi nào hết. Vì thế, năm
1957, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho thành lập Viện Đại học Huế. Ngô Đình
. Nay là Nhà khách Chính phủ (số 5 – Lê Lợi – Huế).
. Gần nhà thờ Phủ Cam, thuộc phường Phước Vĩnh, Huế.
1
2
17
Diệm đã nêu ra hai lý do cơ bản về sự cần thiết phải lập ở Huế một Viện Đại học
như sau: “Thứ nhất là Huế từ trước đã có một trung tâm văn hóa của nước ta. Ở
Huế đã có những truyền thống văn hóa sâu đậm, có những cơ sở văn hóa lâu đời,
như trường Quốc Tử Giám, các cuộc thi Hán học. Dân miền Trung lại hiếu học mà
nghèo, có bao nhiêu thanh niên ưu tú muốn học lên đại học mà không thể vào Sài
Gòn học tiếp. Thứ hai là hiện nay dân chúng xôn xao đồn đại rằng chính phủ một
ngày nào đó có thể bỏ Huế, vì hiện nay Huế không quan trọng lắm về phương diện
chính trị, kinh tế. Vậy lập Viện Đại học Huế là chứng minh cụ thể với dân chúng,
với quốc tế cũng như với bên kia rằng chính phủ nhất định bảo vệ Huế. Huế chỉ
cách vĩ tuyến 17 khoảng 100 cây số, lập ở đây một đại học lớn chẳng khác nào
thách đố với bọn cộng sản” [56, tr. 278]. Như vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn
xem Viện Đại học Huế là một pháo đài chống lại chủ nghĩa Marx – Lenin, chống lại
nền văn hóa, giáo dục của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời là nơi đào tạo
những con người phục vụ đắc lực cho chính quyền Diệm – Nhu. Tuy nhiên, trái với
ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Viện Đại học Huế sau khi thành lập đã trở
thành nơi tập hợp lực lượng tuổi trẻ đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm.
Sang năm 1959, Mỹ - Diệm tăng cường chiến dịch “tố Cộng, diệt Cộng”, gây
ra không biết bao nhiêu đau thương mất mát, tang tóc cho các gia đình cách mạng,
gia đình của những người tham gia kháng chiến. Trước tình hình đó, tháng 12/1959,
học sinh Huế đã đồng loạt bãi khóa, yêu cầu Mỹ - Diệm phải trả tự do cho những
người yêu nước đang bị giam cầm, tra tấn, không được trả thù những gia đình có
con em đi tập kết, v.v…
Từ năm 1960, một số tổ chức của Đảng được thành lập trong sinh viên như
nhóm Chuyển ngữ ở trường Đại học Khoa học (1960) với mục tiêu đòi sử dụng
tiếng Việt trong giảng dạy, nhóm Văn nghệ ở trường Đại học Văn khoa (1961), hội
Cờ tướng, v.v… Bên cạnh đó, sinh viên Huế còn tổ chức các cuộc hội thảo như hội
thảo chống lệnh tổng động viên của 200 sinh viên trường Đại học Khoa học năm
1960, hội thảo của sinh viên Đại học Huế nhằm lên án chính sách phản dân tộc của
chính quyền Ngô Đình Diệm được tổ chức tại giảng đường C trường Đại học Khoa
học năm 1962.
18
Do làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của sinh viên, học sinh Huế cùng nhân dân
miền Nam đã thúc đẩy nội bộ chính quyền Ngô Đình Diệm vốn đã lục đục nay lại
càng chia rẽ. Ngày 11/11/1960, Nguyễn Chánh Thi tiến hành cuộc đảo chính lật đổ
anh em Diệm – Nhu. Cuộc đảo chính tuy thất bại nhưng đã chứng minh rằng chính
quyền Ngô Đình Diệm đang ở thế lung lay và bước vào thời kỳ suy sụp.
Để cứu vãn tình hình, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức siết chặt ách kìm
kẹp trong nhà trường, củng cố mạng lưới Cần lao, đàn áp mạnh mẽ các tôn giáo,
mua chuộc, dụ dỗ nữ sinh tham gia đội nữ binh Trần Lệ Xuân, đưa thêm công an,
mật vụ đội lốt giáo sư, giám thị vào các trường học để theo dõi sinh viên, học sinh.
Chúng tổ chức ra Thanh niên Cộng hòa, đem quốc sách “ấp chiến lược” vào làm
môn học trong nhà trường, bắt sinh viên, học sinh “đi cắm trại”, v.v… Tuy vậy,
chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn không kiểm soát và giải tán được các cuộc đấu
tranh của sinh viên, học sinh mà trái lại, phong trào ngày càng phát triển với mức độ
cao hơn.
Năm 1962, nhân việc chính quyền Sài Gòn đưa hai sinh viên Lê Hồng Tư, Lê
Quang Vịnh ra xét xử và đày đi Côn Đảo, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã xuống
đường phản đối hành động này của Mỹ - Diệm. Để ủng hộ phong trào đấu tranh của
sinh viên học sinh Sài Gòn, sinh viên học sinh Huế đã biểu tình lên án chế độ phát
xít của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời gửi thư vào cho sinh viên, học sinh
Sài Gòn tán thành và ủng hộ phong trào đấu tranh đòi trả tự do cho hai sinh viên bị
bắt.
Sang năm 1963, phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi và rầm rộ hơn mà tiêu
biểu nhất là sinh viên, học sinh Huế tham gia và giữ vai trò quan trọng trong phong
trào đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp phong trào Phật giáo với
một loạt các hoạt động như ngày 30/5/1963, sinh viên thuộc các phân khoa Đại học
Huế, Viện Hán học, trường Cán sự y tế và điều dưỡng, trường Nữ hộ sinh Quốc gia,
trường Cao đẳng mỹ thuật, trường Âm nhạc do Phan Đình Bính làm đại diện đã gửi
thư cho sinh viên toàn quốc hô hào ủng hộ Phật giáo và một bản kiến nghị gửi lên
chính quyền Ngô Đình Diệm yêu cầu nhà cầm quyền phải giải quyết các nguyện
vọng của Phật giáo; ngày 3/6/1963, 500 sinh viên Huế biểu tình trước Tòa Đại biểu
Chính phủ. Cuộc biểu tình đã bị cảnh sát đàn áp và giải tán bằng hơi cay. Tuy vậy,
19
sinh viên và quần chúng không nao núng, họ kéo về chùa Từ Đàm để tiếp tục cuộc
đấu tranh. Khi đến cầu Bến Ngự, họ bị lực lượng vũ trang của chính quyền Ngô
Đình Diệm đàn áp dã man làm cho 142 người bị thương, trong đó có 49 người bị
thương nặng, 35 người khác bị bắt; ngày 17/8/1963, 1.000 sinh viên, học sinh Huế
biểu tình phản đối chính quyền Diệm đàn áp tôn giáo, v.v…
Phong trào đấu tranh của Phật giáo và sinh viên, học sinh diễn ra mấy tháng đã
góp phần làm cho tình hình chính trị, xã hội ở Huế không khi nào ổn định, bộ mặt
phản dân hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị vạch trần. Phong trào
sinh viên, học sinh Huế cũng đã góp phần thúc đẩy chế độ độc tài Ngô Đình Diệm
đi vào chỗ khốn đốn, lục đục, nội bộ chia rẽ nhau. Mỹ buộc phải thay ngựa giữa
dòng giết chết anh em Diệm – Nhu (1/11/1963) đưa Dương Văn Minh sau đó là
Nguyễn Khánh lên thay.
Nhìn chung, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế sau năm 1954
đến trước ngày 1/11/1963 với các mục tiêu chính là đòi tự do tín ngưỡng bình đẳng
tôn giáo, đòi hòa bình, thống nhất đất nước, đấu tranh chống ách thống trị tàn bạo
của Mỹ - Diệm với nhiều hình thức đấu tranh như bãi khóa, biểu tình, đưa kiến
nghị, hội thảo, v.v… Tuy nhiên, phong trào sinh viên, học sinh Huế giai đoạn này
chưa mang tính chất của một phong trào đấu tranh độc lập mà sinh viên, học sinh
Huế chỉ mới tham gia phong trào đấu tranh chung của nhân dân thành phố và giữ
một vị trí quan trọng trong các cuộc đấu tranh nhưng không phải là lực lượng lãnh
đạo phong trào. Các cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế giai đoạn này đã
góp phần làm cho chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, góp phần làm thất bại các
âm mưu của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Và
đây cũng là phong trào đấu tranh mở màn của sinh viên, học sinh Huế chuẩn bị cho
một cuộc đấu tranh mạnh mẽ trong những năm sau.
1.2. Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến trước ngày
19/6/1965
1.2.1. Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế
1.2.1.1. Khái quát chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt
Nam
20
Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1/11/1963) và sự thất
bại của kế hoạch Staley – Taylor, Mỹ vẫn chủ trương đẩy mạnh chiến tranh xâm
lược miền Nam Việt Nam. Trong báo cáo gửi Tổng thống Johnson tháng 12/1963,
Mc. Namara đã khẳng định tình hình miền Nam Việt Nam rất rắc rối và nếu không
có gì thay đổi trong hai, ba tháng tới thì có nhiều khả năng Nam Việt Nam sẽ trở
thành một quốc gia dưới quyền kiểm soát của cộng sản.
Tiếp đó, ngày 16/3/1964, Mc. Namara tiếp tục trình lên Tổng thống Mỹ bản
báo cáo về tình hình miền Nam Việt Nam và đề ra kế hoạch để điều chỉnh chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới gồm hai
bước: Bước một, từ ngày 1/4/1964 đến ngày 31/12/1965, hành quân càn quét kết
hợp dồn dân, lập “ấp tân sinh” trên các địa bàn trọng điểm ở 4 vùng chiến thuật;
Bước hai, bắt đầu từ năm 1966, tiến công vào các vùng căn cứ, tiêu diệt các đơn vị
chủ lực Quân giải phóng, phá hủy các cơ sở quân sự của ta. Và kế hoạch này đã
được Johnson chính thức thông qua vào ngày 17/3/1964 nên có tên là “Kế hoạch
Johnson - Mc. Namara”.
Để hiện thực hóa kế hoạch, Johnson bổ nhiệm tướng W. Westmoreland giữ
chức Tư lệnh các lực lượng quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. Lực lượng cố vấn Mỹ
được tăng cường từ 22.400 người (năm 1963) lên 26.200 người (năm 1964), quân
đội Sài Gòn năm 1963 là 417.000 người tăng lên 561.000 người năm 1964, đồng
thời tăng cường thêm trang bị kĩ thuật và phương tiện chiến tranh.
Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 càng
lâm vào khủng hoảng trầm trọng hơn1. Dĩ nhiên, cuộc khủng hoảng này không chỉ
do mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn mà “chủ yếu là sự phát triển như
vũ bão của phong trào cách mạng miền Nam ở cả ba vùng chiến lược: Rừng núi,
nông thôn – đồng bằng và đô thị” [27, tr. 35].
Ngày 30/1/1964, bằng cuộc chỉnh lý, Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh
rồi lần lượt phục hồi chức vụ và quyền hành cho các phần tử thuộc dư đảng Cần lao.
Đồng thời, để phù hợp với chương trình bình định mới của Mỹ, ngày 9/3/1964,
Nguyễn Khánh ra Sắc lệnh giải tán Uỷ ban liên bộ đặc trách “ấp chiến lược” và Uỷ
. Chỉ trong vòng 18 tháng (từ 1/11/1963 đến tháng 6/1965) đã diễn ra 10 cuộc đảo chính lớn nhỏ, 8 lần thay
đổi chính phủ.
1
21
ban đặc trách “ấp chiến lược”, thay tên gọi “ấp chiến lược” bằng “ấp tân sinh”,
lập Tổng Nha Tân sinh nông thôn thay cho Ban Thường vụ “ấp chiến lược” cũ.
Đặc biệt, ngày 16/8/1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng
Tàu”, trong đó Nguyễn Khánh nắm ba chức vụ cao nhất của Việt Nam Cộng hòa là
Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa kiêm Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Hội đồng quân
lực, đánh dấu việc thiết lập chế độ độc tài quân phiệt.
Ngày 25/10/1964, để đối phó với phong trào đấu tranh chống chính quyền
Nguyễn Khánh của nhân dân miền Nam Việt Nam, Mỹ đưa Phan Khắc Sửu lên làm
Quốc trưởng. Và ngày 31/10/1964, Phan Khắc Sửu bổ nhiệm Trần Văn Hương giữ
chức vụ Thủ tướng.
Ngay khi mới lên cầm quyền, Trần Văn Hương đã đề ra đường lối chiến tranh
toàn diện trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội để chống lại
cộng sản; đồng thời, tuyên bố tách chính trị ra khỏi tôn giáo và học đường với mục
đích nhằm ngăn cấm Phật tử, sinh viên, học sinh đấu tranh chống chính quyền Sài
Gòn.
Do phong trào đấu tranh chống Trần Văn Hương lên cao ở các đô thị miền
Nam nên ngày 27/1/1965, Nguyễn Khánh tiến hành đảo chính, giải tán chính phủ
dân sự Trần Văn Hương và chỉ định nội các mới do Phan Huy Quát làm Thủ tướng
(16/2/1965). Tuy nhiên, ba ngày sau (19/2/1965), Nguyễn Khánh bị lật đổ và lưu
vong ra nước ngoài.
Tới ngày 14/6/1965, Hội đồng quân lực họp tại Sài Gòn quyết định thành lập
Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, bầu Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban (Quốc
trưởng), Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Ủy viên phụ trách hành pháp (Thủ tướng). Ngày
19/6/1965, Nguyễn Văn Thiệu thành lập Nội các chiến tranh gọi là Ủy ban Hành
pháp Trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.
1.2.1.2. Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế
Có thể khẳng định rằng, Huế luôn là điểm nóng của phong trào đô thị miền
Nam. Trong những năm 1954 – 1963, phong trào đấu tranh của nhân dân Huế
chống Mỹ và chính quyền tay sai diễn ra hết sức sôi nổi. Đặc biệt, trong năm 1963,
nhân dân Huế bao gồm sinh viên, học sinh, trí thức, người lao động đã hưởng ứng
22
mạnh mẽ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật tử. Họ đã góp phần không nhỏ cho sự
sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Chính vì lẽ đó, sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, Mỹ và chính quyền Sài
Gòn đã thi hành nhiều chính sách trên tất cả các lĩnh vực để ổn định tình hình ở
Huế, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, trong đó có phong trào đấu tranh
của sinh viên, học sinh Huế.
Về chính trị - quân sự, ngay sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ,
chính quyền Sài Gòn đã “thay thế hàng loạt các chức vụ chủ chốt như Tỉnh trưởng,
Phó Tỉnh trưởng, Chánh văn phòng, Chủ sự chính trị sự vụ, Ty trưởng Công an,
Thanh niên, Thông tin” [117, tr. 2].
Bộ máy chính quyền Sài Gòn ở Huế được phục hồi và hoạt động trở lại. Các
lực lượng như hiến binh, cảnh sát, quân cảnh, an ninh quân đội được củng cố và
tăng cường. Mặt khác, chúng còn cho tay sai hoạt động trong các tổ chức nghiệp
đoàn, hiệp hội, sinh viên, học sinh, v.v… Tình báo, gián điệp của chúng tiền hành
ráo riết các hoạt động điều tra, bắt cóc, uy hiếp, gây tâm lý chiến tranh làm quần
chúng hoang mang, dao động. Đặc biệt, quân đội Sài Gòn là “lực lượng chính trong
các cuộc đàn áp biểu tình của Phật giáo và đồng bào, tổng tấn công vào các chùa
lớn, bắt cóc, lục soát, gây nên một cuộc khủng hoảng lớn” [72, tr. 1].
Lợi dụng tình hình này, một số đảng phái chính trị phản động như Quốc dân
Đảng, Đại Việt dựa vào chính quyền Nguyễn Khánh để củng cố, phát triển lực
lượng, tranh chấp với quần chúng cách mạng, nhất là đối với sinh viên, học sinh và
trí thức. Tiêu biểu nhất là tháng 1/1964, “bọn Quốc dân đảng có cho rải truyền đơn,
khẩu hiệu kêu gọi quần chúng, tổ chức lễ truy điệu Nguyễn Trường Tam cùng nhiều
sách báo, truyện, tuyên truyền cho thế lực Quốc dân đảng được lưu hành công
khai” [72, tr. 3]. Đây thực chất là một vấn đề quan trọng trong âm mưu chính trị của
Mỹ và chính quyền tay sai, gây khó khăn và phức tạp cho ta.
Đồng thời, chính quyền Sài Gòn từ Dương Văn Minh đến Nguyễn Khánh còn
ráo riết thực hiện âm mưu mua chuộc, mị dân, đánh lừa quần chúng, đặc biệt là đối
với tầng lớp trên, sinh viên, học sinh và Phật tử. “Luận điệu bịp bợm quần chúng
của địch nhằm đổ dồn tội ác cho anh em gia đình Diệm, đề cao công lao thanh thế
của chúng dưới các danh từ “Cách mạng”, “Tự do”, v.v…” [72, tr. 2].
23