ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ LUYẾN
GIÁO DỤC MALAYA TỪ NĂM 1816
ĐẾN NĂM 1957
Chuyên ngành: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Mã số: 60 22 03 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG VĂN CHƢƠNG
Thừa Thiên Huế, năm 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một
công trình nào khác.
Tác giả
Trần Thị Luyến
ii
Lời Cảm Ơn
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Đặng Văn Chương
– người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn một cách tận tình
với những góp ý quí báu về mặt chuyên môn.
Chân thành cảm ơn các thầy cô giáo ở Khoa Lịch sử - Trường Đại học
Sư phạm Huế đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên
cứu ở đây.
Cuối cùng, xin được cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ủng
hộ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học của mình.
Huế, tháng 10 năm 2016
Tác giả
iii
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................................ 1
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................................. 4
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài. ...................................................................................................... 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. ...................................................................................... 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. .......................................................................10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ........................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu. ......................................................................................11
6. Nguồn tư liệu. .........................................................................................................12
7. Đóng góp của đề tài................................................................................................12
8. Bố cục của đề tài.....................................................................................................12
Chƣơng 1: CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC MALAYA TỪ NĂM
1816 ĐẾN NĂM 1957 ........................................................................................................ 14
1.1.Malaya trở thành thuộc địa của Anh (1786 – 1957). .........................................14
1.1.1. Anh xâm chiếm Malaya. ............................................................... 14
1.1.2. Tác động của chính sách thực dân đối với Malaya. ........................ 17
1.2. Giáo dục Malaya trước năm 1816. .....................................................................21
1.3. Các giai đoạn phát triển của giáo dục Malaya từ năm 1816 đến năm 1957. ...23
1.3.1. Giai đoạn 1816 - 1867. ................................................................. 23
1.3.2. Giai đoạn 1867 - 1900. ................................................................. 25
1.3.3. Giai đoạn 1900 - 1942. ................................................................. 30
1.3.4. Giai đoạn 1942 - 1945. ................................................................. 34
1
1.3.5. Giai đoạn 1945 - 1957. ................................................................. 36
Tiểu kết chương 1 .................................................................................. 39
Chƣơng 2: CÁC HỆ THỐNG TRƢỜNG HỌC Ở MALAYA ....................................... 41
TỪ NĂM 1816 ĐẾN NĂM 1957 ....................................................................................... 41
2.1. Trường Anh. ........................................................................................................41
2.1.1. Sự hình thành và phát triển của các trường Anh. ............................ 41
2.1.2. Vai trò của các trường truyền giáo. ............................................... 43
2.1.3. Tuyển sinh trong các trường Anh. ................................................. 44
2.2. Trường Malay của người bản địa. ......................................................................46
2.2.1. Sự chuyển đổi các lớp học tôn giáo truyền thống thành các trường thế
tục bản địa . ........................................................................................... 46
2.2.2. Thái độ của thường dân và những nỗ lực để phát triển trường Malay
của chính quyền Anh. ............................................................................ 48
2.2.3. Khả năng thăng tiến xã hội trong các trường bản địa Malay . ......... 51
2.3. Trường Trung Quốc. ...........................................................................................52
2.3.1. Sự hình thành và phát triển một cách tự phát của các trường Trung
Quốc. .................................................................................................... 52
2.3.2. Hoạt động chính trị trong các trường Trung Quốc và sự ra đời của
Sắc lệnh Đăng kí trường học năm 1920. ................................................. 56
2.4. Trường Ấn Độ. ....................................................................................................59
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................62
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ THÀNH TỰU CỦA GIÁO DỤC MALAYA TỪ NĂM
1816 ĐẾN NĂM 1957 ........................................................................................................ 63
3.1. Đặc điểm của giáo dục Malaya từ 1816 - 1957.................................................63
2
3.1.1. Giáo dục chịu sự chi phối sâu sắc của chính sách “chia để trị” của
thực dân Anh. ........................................................................................ 63
3.1.2. Nền giáo dục tồn tại những bất bình đẳng lớn. ............................... 66
3.1.3.Giáo dục phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, giữa các tộc
người, giữa nam và nữ. .......................................................................... 71
3.1.4. Nền giáo dục phát triển theo khuynh hướng thế tục và hiện đại. ..... 75
3.2. Thành tựu của giáo dục Malaya từ 1816 - 1957. ..............................................78
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................................82
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 86
PHỤ LỤC........................................................................................................................... P1
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số lượng trường học và học sinh tại các trường bản địa Malay tại
Khu định cư Eo biển cuối thế kỉ XIX ........................................... 30
Bảng 1.2: Sự mở rộng các trường bản địa Malay dành cho nam và nữ ở Khu
định cư Eo biển (1900 – 1938) .................................................... 32
Bảng 1.3: Sự mở rộng các trường Anh dành cho nam và nữ ở Khu định cư
Eo biển (1900 – 1938) ................................................................. 33
Bảng 2.1: Tổng số học sinh được tuyển sinh vào các trường Anh của FMS
từ 1919 – 1937 (theo tỉ lệ %) ....................................................... 44
Bảng 2.2: Số lượng tuyển sinh trong các trường công lập, các trường tư Ấn
Độ được hỗ trợ của chính phủ ở bậc tiểu học và trung học (1938
– 1957) ......................................................................................... 61
Bảng 2.3 : Số lượng tuyển sinh trong các trường tư Ấn Độ ở bậc tiểu học
không được nhận hỗ trợ của chính phủ (1938 – 1957) ............... 62
Bảng 3.1: Phân bố việc làm theo nhóm dân tộc năm 1947 (%) ....................... 70
Bảng 3.2: Độ lệch về trình độ học vấn ở các bang so với giá trị trung bình
cả nước ........................................................................................ 72
Bảng 3.3: Độ lệch về trình độ học vấn của các tộc người so với giá trị trung
bình cả nước ................................................................................ 73
Bảng 3.4: Tuyển sinh theo loại trường và giới tính năm 1938........................ 74
Bảng 3.5: Số lượng thư viện của trường Anh ở Khu định cư Eo biển
(1921-1932) ................................................................................. 77
Bảng 3.6: Số lượng tuyển sinh trong các trường công lập và các trường tư
được nhận hỗ trợ của chính phủ ở bậc tiểu học và trung học
(1938 – 1957)............................................................................... 79
4
Bảng 3.7: Số lượng tuyển sinh trong các trường các trường tư không được
nhận hỗ trợ ở bậc tiểu học và trung học (1938 – 1957)............. .80
Bảng 3.8: Độ lệch về trình độ học vấn theo độ tuổi so với giá trị trung bình
cả nước ........................................................................................ 81
Bảng 3.9: Tỉ lệ (%) người biết chữ ở Malaya năm 1957 ............................... 81
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trong lịch sử nhân loại thời cận đại, Malacca của Malaya được biết đến như
là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới với các nguồn thương
phẩm đặc biệt hấp dẫn. Chính sự hấp dẫn đó đã biến Malaya trở thành một “cánh
cửa quay”, là nơi đến rồi đi của nhiều thực dân như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật,
Anh trong suốt hơn 4 thế kỉ. Năm 1786, người Anh mới bắt đầu chinh phục Malaya
với việc chiếm đảo Penang. Tuy khởi đầu muộn màng nhưng với sức mạnh đang
lên, Anh đã từng bước loại bỏ Hà Lan ra khỏi vùng đất này. Hiệp ước Anh – Hà
Lan năm 1824 là cơ sở để cho thực dân Anh tiến lên chiếm toàn bộ bán đảo Malaya.
Trong hơn 130 năm sau đó, Malaya đã tồn tại dưới cái tên “Malaya thuộc Anh”–
“British Malaya”.
Trong quá trình cai trị, giáo dục luôn được coi là một vấn đề trọng tâm của
chính quyền Anh ở Malaya. Để có thể thiết lập độc quyền kinh doanh thương mại
và duy trì địa vị bá chủ về chính trị ở Malaya, người Anh coi giáo dục là một
phương cách để kiểm soát xã hội thông qua việc cung cấp một chương trình giáo
dục phương Tây và các chuẩn giá trị phương Tây nhằm biến đổi thế giới quan cũng
như lối sống của người bản địa. Do đặc thù dân tộc như đặc tính đa cộng đồng
(cộng đồng bản địa và cộng đồng nhập cư) và các đặc điểm về tôn giáo, kinh tế,
chính trị khác nên giáo dục Malaya thời thuộc Anh có những nét đặc sắc riêng biệt
không giống với những những nước thuộc địa khác. Những thành tựu bước đầu của
giáo dục thời kì này được cho là đã đặt nền tảng cho nền giáo dục hiện đại của
Malaysia ngày nay. Hiểu rõ về giáo dục Malaya để có cái nhìn so sánh với giáo dục
Việt Nam thời kì Pháp thuộc cũng là điều có ý nghĩa.
Thực tế ở Việt Nam cho đến nay vẫn có rất ít công trình nghiên cứu về
Malaysia nói chung. Những công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục lại càng
thiếu vắng hơn. Nghiên cứu giáo dục Malaya từ năm 1816 đến năm 1957, chúng tôi
mong muốn đưa đến một nhận thức toàn diện hơn về một khía cạnh quan trọng
trong thời kì thuộc địa - thời kì có ý nghĩa to lớn, chi phối trực tiếp đến đặc điểm và
6
khuynh hướng phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc ở khu vực Đông Nam Á. Bởi
giáo dục đóng vai trò hàng đầu dẫn đến những chuyển biến chính trị quan trọng
diễn ra ở Malaya những năm đầu thế kỉ XX. Sự hình thành đội ngũ trí thức bản địa
với nguồn gốc giáo dục khác nhau có liên quan mật thiết đến các quan điểm chính
trị - xã hội, nội dung và phương thức đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc ở
Malaya.
Malaysia và Việt Nam là hai quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, vốn có
nhiều điểm tương đồng về lịch sử. Cả hai nước đều trải qua thời kì thuộc địa và đều
phải gánh chịu những ảnh hưởng sâu sắc bởi chính sách cai trì hà khắc của các nước
thực dân. Trong thời kì hiện đại, Malaysia và Việt Nam là những đối tác chiến lược,
cùng chung tay xây dựng một cộng đồng ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển thì
việc nghiên cứu về lịch sử Malaysia càng trở nên cần thiết hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
*Tình hình nghiên cứu ở trong nước.
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Malaysia được thiết lập trong những
năm kháng chiến chống Mĩ và ngày càng diễn ra tốt đẹp, nhất là từ khi Việt Nam
gia nhập ASEAN. Dù vậy, việc nghiên cứu về Malaysia chỉ thực sự bắt đầu từ thập
niên 1990. Trong đó, tôn giáo, ngôn ngữ, kinh tế - xã hội là những lĩnh vực được
quan tâm nhiều nhất. Những nghiên cứu về giáo dục Malaya thời thuộc địa dường
như chưa được quan tâm nhiều như các lĩnh vực khác. Những năm gần đây, số
lượng các chuyên khảo, chuyên luận, luận văn, luận án về Malaysia có tăng lên
nhưng số lượng không đáng kể, chưa xứng tầm với mối quan hệ giữa hai nước.
Trong tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 5/2011, với bài “Chính sách giáo
dục của Anh đối với cộng đồng người Malay bản địa (từ nửa cuối thế kỉ XIX đến
đầu thế kỉ XX)”, tác giả Lí Tường Vân phân tích một cách sâu sắc sự đối lập trong
chính sách giáo dục của người Anh dành cho tầng lớp tinh hoa quý tộc và những
nông dân, ngư dân bản địa Malay.
Cuốn “Lịch sử Đông Nam Á tập IV: Đông Nam Á trong thời kì thuộc địa và
phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ XVI đến năm 1945” (NXB
7
Khoa học, Hà Nội, 2012) do Trần Khánh chủ biên tiếp tục khẳng định: thực dân
Anh đã thực hiện một “hệ thống giáo dục kép” tại Malaya.
Luận án tiến sĩ của Lí Tường Vân (2014) – “Con đường đấu tranh giành độc
lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957” cho rằng, giáo dục đã tạo
nên những chuyển biến quan trọng về chính trị, tác động to lớn đến phong trào giải
phóng dân tộc ở Malaya.
Trong tất cả các công trình trên, giáo dục Malaya chỉ chiếm một dung lượng
hết sức khiêm tốn. Dù như thế, chúng đã định hướng và mở ra cách tiếp cận mới về
đề tài hấp dẫn này.
*Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Vấn đề giáo dục Malaya thời thuộc địa nhận được sự quan tâm của đông đảo
giới nghiên cứu ở Malaya và cả ở nước ngoài. Những năm 60, 70 của thế kỉ XX là
thời kì nở rộ những nghiên cứu về Malaya thời thuộc Anh của các tác giả người bản
địa Malaysia.
Chuyên khảo của William R.Roff (1967), “The Origins of Malay
Nationalism” (Nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc ở Mã Lai) có thể được coi là
nghiên cứu chuẩn mực về sự hình thành và phát triển chủ nghĩa dân tộc của người
Malay trong những năm 1930. Trong đó, ông đã đề cập đến nguồn gốc xuất thân và
nền giáo dục mà các nhóm trí thức được hưởng.
Philip Loh F.S (1975) với chuyên luận “Seed of separatism: Educational
policy in Malaya 1874-1940” (Chính sách giáo dục ở Malaya 1874 - 1940: mầm
mống của sự chia rẽ) nghiên cứu nguồn gốc ra đời của bốn hệ thống trường học từ
năm 1874 đến năm 1920 và các chính sách giáo dục từ năm 1920 đến năm 1940.
Rex Stevenson (1975) trong tác phẩm “Cultivators and Administrators:
British educational policy towards the Malays, 1875-1906” (Chính sách giáo dục
của Anh dành cho tầng lớp quý tộc và thường dân Malay) tiếp tục nghiên cứu chính
sách giáo dục của thực dân và hệ quả xã hội của nó.
8
Các công trình của Rex Stevenson, Philip Loh F.S, William R. Roff được
đánh giá cao, trở thành những tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiên
cứu về giáo dục thực dân ở Malaya.
Hai chuyên khảo của Khasnor Johan: “The Emergence of the modern Malay
administrative elite (Tình trạng khẩn cấp của các nhà cầm quyền mới người Malay)
và “Educating the Malay elite: the Malay College Kuala Kangsar, 1905-1941”
(Trường học của giới quý tộc Malay: Đại học Kuala Kangsar, 1905 - 1941) đã bàn
đến vai trò của giáo dục theo mô hình Anh đối với sự phát triển của giới trí thức quý
tộc mới và giới viên chức người Malay trong chính quyền thực dân.
Tất cả các chuyên luận trên đều chia sẻ quan điểm: giáo dục thực dân là
“mầm mống của sự chia rẽ” ở Malaya.
Một công trình có giá trị khác thuộc về nhóm tác giả Francis H.K.Wong và
Gwee Yee Hean là “Official Reports on Education: Straits Settlements and the
Federated Malay States, 1870 – 1939” (Báo cáo chính thức về giáo dục ở Khu định
cư Eo biển và Liên bang các bang Malay, 1870 – 1939) được viết vào năm 1970.
Công trình đã tập hợp được 12 báo cáo của chính quyền thực dân về giáo dục ở Khu
định cư Eo biển và Liên bang các bang Malay. Tác phẩm có ý nghĩa như là nguồn
tư liệu gốc, rất có giá trị trong nghiên cứu sự phát triển giáo dục ở Malaya.
Tác phẩm “Islamic education in Malaysia” (Giáo dục Hồi giáo ở
Malaysia) của Ahmad Fauzi Abdul Hamid (2010) tiếp tục nghiên cứu chuyên
sâu về các trường học tôn giáo. Tác phẩm đi sâu vào mô hình các trường học
tôn giáo pondok của Đạo Hồi và sự ra đời, phát triển của các trường Hồi giáo
cách tân đầu thế kỉ XX.
Lee Ting Hui (2011) trong tác phẩm “Chinese schools in Peninsular
Malaysia - The struggle for survival” (Trường học Trung Quốc trên bán đảo
Malaysia – Những nỗ lực để tồn tại) thì cho rằng, trước Chiến tranh thế giới thứ hai,
chính quyền Anh đã thực sự “bỏ rơi” các trường học của người Trung Quốc.
Các công trình thông sử như “A history of Malaysia” (Lịch sử Malaysia) của
Andaya, Leonard Y and Barbara Watson Andaya (1982) và “A short history of
9
Malaysia: Linking East and West” (Sơ lược lịch sử Đông và Tây Malaysia) của
Virginia Matheson Hooker (2003) tuy không phải là những trang tư liệu trực tiếp,
không đề cập nhiều về giáo dục Malaya nhưng những kiến thức chuyên sâu về
thông sử Malaysia đã giúp cho đề tài mạch lạc hơn trong ý tưởng cũng như việc
luận giải cho vấn đề nghiên cứu của mình.
Qua sự khảo cứu và hệ thống hóa tư liệu liên quan đến đề tài luận văn, có thể
thấy tư liệu còn tản mạn. Vấn đề giáo dục Malaya thời thuộc Anh bị chia tách thành
nhiều khía cạnh nhỏ khác nhau hoặc chỉ đề cập đến giáo dục trong một giai đoạn
ngắn nào đó. Những tư liệu đa diện, đa chiều này cho phép đề tài kế thừa để đi đến
một cái nhìn hệ thống về cả chiều rộng và chiều sâu vấn đề giáo dục Malaya trong
một thời gian kéo dài từ năm 1816 đến năm 1957.
Những công trình nêu trên là những công trình tra cứu quan trọng nhất đối
với đề tài Luận văn. Vì vậy, danh mục đầy đủ các tài liệu tham khảo chắc chắn sẽ
dài hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đưa
đến một nhận thức toàn diện hơn về thời kì thuộc địa của Malaysia thông qua việc
làm rõ thực trạng giáo dục.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích nói trên, đề tài đã thực
hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Phân tích các giai đoạn phát triển của giáo dục Malaya từ năm 1816 đến năm
1917.
Trình bày thực trạng các hệ thống trường học ở Malaya trong giai đoạn này.
Rút ra đặc điểm và thành tựu của nền giáo dục thuộc địa Malaya dưới sự cai
trị của thực dân Anh từ năm 1816 đến năm 1957.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục ở Malaya.
10
- Về sử dụng thuật ngữ:
+ Luận văn sử dụng “Malaya” hay “Malaysia” trong phần mở đầu theo
đúng tên gọi của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử.
+ Trong phần nội dung, Luận văn sử dụng “Malaya” là tên gọi của đất nước
trong suốt thời kì thuộc Anh.
+ Thuật ngữ “người Malay” chỉ cộng đồng người Malay bản địa để phân
biệt với hai cộng đồng nhập cư là “người Hoa” và “người Ấn Độ”.
- Về không gian: Malaya giai đoạn thuộc Anh là toàn bộ phần lãnh thổ phía
Tây của Malaysia ngày nay.
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu được xác định là từ năm 1816 đến năm
1957, khi thực dân Anh bắt đầu đặt những dấu ấn đầu tiên về giáo dục trên đất nước
Malaya cho đến khi Malaya giành được độc lập, đánh dấu sự kết thúc chính sách
giáo dục của người Anh đối với đất nước này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Về mặt phương pháp luận, đề tài tuân thủ theo quan điểm chủ nghĩa duy vật
biện chứng và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Về phương pháp cụ thể, đề tài sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp logic để
tái hiện lại các giai đoạn giáo dục của Malaya từ năm 1816 đến năm 1957.
Để nghiên cứu giáo dục Malaya trong giai đoạn này, cách tiếp cận hệ thống
được vận dụng bởi phải đặt Malaya trong bối cảnh là một nước thuộc địa để nhận
diện và phân tích tác động của nó đến giáo dục và sự phát triển của giáo dục qua
từng giai đoạn. Từ đó, có thể hiểu rõ bản chất nền giáo dục thuộc địa của Malaya.
Đề tài còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ như phương pháp thống kê,
so sánh để thấy được mức độ tiếp cận giáo dục ở các khu vực địa lí, hành chính và
các nhóm dân tộc khác nhau ở Malaya.
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu liên ngành dân tộc học và ngôn ngữ
học cũng được vận dụng để phân tích về thành phần, tình trạng tộc người và
ngôn ngữ của các tộc người.
11
6. Nguồn tƣ liệu.
Đề tài được tiến hành dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
Các công trình nghiên cứu về lịch sử, đất nước, con người Malaysia gồm các
công trình thông sử, các chuyên khảo về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân vào
Malaya và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Malaya.
Các chuyên khảo, chuyên luận về giáo dục Malaya của các tác giả Malaysia
và các tác giả nước ngoài.
Các định hướng và chiến lược phát triển giáo dục của Bộ giáo dục Malaysia.
Các kỉ yếu hội thảo, luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học tiếng Anh trên các
tạp chí của Malaysia, Singapore và nhiều nước khác.
Một số thông tin, tư liệu về giáo dục của Malaya trên các trang Internet.
7. Đóng góp của đề tài.
Đề tài có những đóng góp sau đây:
- Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về giáo dục Malaya từ năm 1816
đến năm 1957.
- Phân tích sự phát triển của giáo dục Malaya qua các giai đoạn và các hệ
thống trường học gắn với các diễn biến kinh tế, chính trị - xã hội của Malaya những
năm 1816 – 1957.
- Bước đầu đánh giá đặc điểm và thành tựu của nền giáo dục Malaya từ năm
1816 đến năm 1957.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ phần nào góp thêm nguồn tư liệu về đất
nước Malaysia. Qua đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên
cứu và học tập cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
8. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề
tài gồm 3 chương:
12
Chương I: Các giai đoạn phát triển của giáo dục Malaya từ năm 1816 đến
năm 1957.
Chương II: Các hệ thống trường học ở Malaya từ năm 1816 đến năm 1957.
Chương III: Đặc điểm và thành tựu của giáo dục Malaya từ năm 1816 đến
năm 1957.
13
Chƣơng 1: CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC
MALAYA TỪ NĂM 1816 ĐẾN NĂM 1957
1.1. Malaya trở thành thuộc địa của Anh (1786 – 1957).
1.1.1. Anh xâm chiếm Malaya.
Trước khi người Anh đến, Malaya đã từng là thuộc địa của Bồ Đào Nha
trong 130 năm (1511 – 1641). Sau sự ra đi của Bồ Đào Nha, từ năm 1641, Malaya
tiếp tục chịu sự chi phối của thực dân Hà Lan. Vào cuối thế kỉ XVIII, với sức mạnh
vượt trội về công nghiệp và hàng hải, Anh bắt đầu tiến lên cạnh tranh thương mại và
thuộc địa với Hà Lan ở Đông Nam Á. Malaya từ chỗ là thuộc địa của Hà Lan từng
bước chuyển sang tay người Anh.
Năm 1786, do sự cần thiết phải bảo vệ những lợi ích thương mại của mình,
đặc biệt là trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, thông qua công ty Đông Ấn
Anh (East India Company - EIC), Anh chiếm đảo Penang. Sau đó, theo nội dung
của các thỏa ước với chính phủ Hà Lan năm 1795, EIC được phép chiếm đảo
Malacca cùng với nhiều đảo thương mại khác. Nhưng theo Hiệp định Amiens
(1802) thì Anh sẽ phải trả Malacca cho Hà Lan. Trước nguy cơ mất Malacca – cửa
ngõ then chốt ra vào vùng biển Đông Nam Á, Anh tích cực tìm kiếm một căn cứ
thương mại, hải quân khác ở phía Nam của vùng eo biển. Trong bối cảnh đó,
Singapore được xem là một địa điểm lí tưởng bởi theo Raffles, Singapore ngoài
việc có thể trở thành một thương cảng lớn của thế giới, nó cũng có thể là một pháo
đài lớn ở vùng biển Đông Nam Á. Do đó, năm 1819, Anh chiếm đảo Singapore
bằng một hiệp định với vua của Johor.
Từ những căn cứ được xác lập ở Penang và Singapore, Anh tiến lên kí với Hà
Lan Hiệp ước Anh – Hà Lan năm 1824. Theo đó, Anh sẽ nhường cho Hà Lan một số
quyền lợi khác để Hà Lan trao Malacca cho Anh.
Năm 1826, sau khi hợp pháp quyền cai trị của mình, Anh thực hiện sáp nhập
Penang, Singapore, Malacca thành một đơn vị hành chính lấy tên là Khu định cư Eo
biển (Straits Settlements – SS). Penang được chọn là trung tâm của SS. Từ năm
1832, vai trò trung tâm được chuyển sang cho Singapore. Ban đầu, Khu định cư Eo
14
biển trực thuộc sự quản lí của EIC tại Calcuta (Ấn Độ). Từ năm 1851, SS thuộc Bộ
Ấn Độ và từ năm 1867 trở đi, SS nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ Thuộc địa
Anh tại Luân Đôn. Đứng đầu SS là một viên Thống đốc Anh, sau này được đổi
thành chức Toàn quyền (1867) với quyền hành rất lớn.
Cuối thế kỉ XVIII, người Anh tiếp tục mở rộng sự ảnh hưởng đối với các
tiểu quốc Malaya khác. Năm 1871, nhân cơ hội tiểu quốc Perak thỉnh cầu sự giúp
đỡ của người Anh trong vấn đề kế vị ngai vàng, Anh kí với Perak Hiệp ước
Pangkor (1784). Theo đó, Perak chính thức chấp nhận sự bảo hộ của Anh. Hiệp ước
Pangkor đã thực sự dọn đường cho sự xâm nhập của Anh vào Malaya thông qua
thiết chế Công sứ (Resident System).
Trong những năm tiếp theo, bằng các thỏa thuận tương tự, Công sứ Anh có
mặt ở Selangor (năm 1874), ở Pahang (năm 1887), ở Negri Sembilan (năm 1895).
Về mặt hình thức, chế độ Công sứ được lập ra bởi các Quốc vương Malay thỉnh
cầu sự giúp đỡ của Anh, nhưng trên thực tế, việc này được thực dân Anh tiến hành
bằng phương thức phối hợp giữa thuyết phục, đàm phán với sử dụng vũ lực, gây
sức ép để buộc các tiểu quốc chấp nhận vai trò của Công sứ Anh. Ở cả 4 tiểu quốc,
theo thỏa thuận thì các Quốc vương Malay giữ vai trò là Chủ tịch các Hội đồng
bang, Công sứ Anh, các quan chức chủ yếu là người Malay và hai hoặc ba thương
nhân người Hoa là thành viên Hội đồng. Hội đồng bang bàn bạc mọi vấn đề quan
trọng của bang bằng tiếng Malay, thông qua tất cả các văn bản pháp luật, phê duyệt
dự trù thu chi hàng năm của bang, quyết định việc bổ nhiệm các quan người Malay.
Công sứ Anh giúp giải quyết các vấn đề duy trì luật pháp, trật tự xã hội, tổ chức hệ
thống ngành dân chính, lực lượng cảnh sát, quân đội. Nhưng thực tế, ở các tiểu
quốc Malay được bảo hộ, chính Công sứ Anh lại là người cai trị chứ không phải là
cố vấn và họ nhận lại sự cố vấn của các quan Malay trong các vấn đề tôn giáo và
phong tục tập quán.
Trên cơ sở nhất trí của cả bốn Quốc vương Malay, bốn tiểu quốc đã được
sáp nhập lại với nhau trong thể chế liên bang và được gọi là Liên bang các bang
Malay (Federation of Malay States - FMS) vào năm 1896. Sau Hiệp định Liên
bang, các tiểu quốc (Sultanate) trước kia giờ được gọi là các bang (State). Đứng
15
đầu Liên bang là Tổng Công sứ (Resident General) để chỉ đạo các bang thông qua
các Công sứ của mỗi bang. Trên thực tế, Tổng Công sứ có quyền hành rất lớn đối
với mọi vấn đề của Liên bang, thực quyền của các Sultan bị cắt giảm đáng kể, chỉ
trừ những vấn đề thuộc Đạo Hồi. Quyền lực của các Hội đồng bang cũng bị giảm
sút. Đây thực chất là chế độ cai trị nửa trực tiếp, nửa gián tiếp, trong đó, bộ máy
chính quyền và bộ máy hành chính địa phương vẫn được duy trì nhưng thực chất,
quyền hành nằm trong tay người Anh.
Sự cai trị của Anh tại Malaya tiếp tục được mở rộng đến các tiểu quốc ở
phía Bắc là Terengganu, Kelantan, Kedah và Perlis. Cho đến trước năm 1909, bốn
tiểu quốc trên vẫn chịu ảnh hưởng lớn của Xiêm. Nhưng đến tháng 7/1909, thông
qua Hiệp định Anh – Xiêm, người Anh đã thiết lập được sự kiểm soát đối với các
bang này. Tuy nhiên, sau khi thoát khỏi sự kiềm tỏa của Xiêm, các Sultan Malay
lại không đồng ý gia nhập Liên bang. Bản thân chính quyền Anh cũng thấy khó có
thể đưa bốn tiểu quốc này vào thể chế Liên bang bởi sự khác biệt khá lớn so với
FMS về cơ cấu tộc người và trình độ phát triển kinh tế. Cuối cùng thì các bang này
được quyết định là Các bang Malay ngoài Liên bang (Un-Federated Malay States UMS) và trở thành xứ bảo hộ của Anh. Anh buộc phải giới hạn quyền lực của mình
ở “quyền cố vấn” và để cho các bang có một mức độ độc lập tương đối lớn về nội
trị và tài chính. Chức năng và quyền hạn của Cố vấn (Advisor) ở UMS rất khác so
với chức năng và quyền hạn của Công sứ (Resident) ở FMS. Ở UMS, các Sultan
Malay có thể tham khảo ý kiến của các Cố vấn nhưng không bắt buộc phải nghe
theo. Năm 1914, Johor là vương quốc cuối cùng gia nhập UMS, chấp nhận chế độ
cố vấn của Anh. Sự kiện này đánh dấu việc thực dân Anh hoàn thành quá trình
bành trướng trên toàn bán đảo Malaya.
Như vậy, từ năm 1786 đến năm 1914, thực dân Anh từng bước thiết lập chế
độ cai trị của mình lên lãnh thổ Malaya với những hình thức cai trị khác nhau:
1. Khu định cư Eo biển (Straits Settlements – SS) gồm tỉnh Wellesley (trong
đó có đảo Penang, vùng duyên hải Kedah được chuyển nhượng và vùng đất
Naning), bang Malacca, đảo Singapore thuộc vùng đất cai trị trực tiếp của Anh với
chế độ Thống đốc.
16
2. Liên bang các bang Malay (Federation of Malay States - FMS) gồm
Perak, Selangor, Negri – Sembilan và Pahang được áp dụng chế độ cai trị nửa trực
tiếp, nửa gián tiếp. Đứng đầu FMS là Tổng thống sứ (năm 1909 đổi thành Tổng
thư kí). Trên danh nghĩa, bốn bang trên vẫn còn duy trì chế độ vua nhưng quyền
hành nằm trong tay Thống sứ các bang, chỉ trừ lĩnh vực văn hóa và tôn giáo.
3. Các bang Malay ngoài Liên bang (Un-Federated Malay States - UMS)
gồm năm vương quốc Kedah, Perlis, Kelantan, Terengganu, Johor là xứ bảo hộ với
chế độ cai trị gián tiếp thông qua các cố vấn Anh. So với các tiểu quốc trong FMS,
các Hồi quốc nằm trong UMS có tính độc lập hơn nhiều, trừ các vấn đề lớn của đất
nước như ngoại giao và an ninh.
Như vậy, xét về tổng thể, Malaya là một tập hợp rời rạc mang tính địa lý
gồm ba đơn vị hành chính hơn là một thực thể chính trị. Cũng cần nói thêm rằng,
thời gian cai trị của Anh tại Malaya bị gián đọan trong những năm 1942 – 1945 bởi
sự chiếm đóng của Nhật Bản rồi lại tiếp tục mãi cho đến năm 1957. Nhìn chung,
hình thức cai trị trên của Anh đã được áp dụng suốt cả một thời gian dài. Sự cai trị
của Anh đã có những tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo
dục của Malaya.
1.1.2. Tác động của chính sách thực dân đối với Malaya.
*Kinh tế.
Cho đến cuối thế kỉ XVIII, phần lớn các tiểu quốc trên bán đảo Malaya vẫn
duy trì một nền kinh tế nông nghiệp. Giữa các tiểu quốc cũng có sự trao đổi hàng
hóa, đặc biệt là các sản vật tự nhiên nhưng không đáng kể. Sự xuất hiện của người
Anh được xem như một lát cắt có ảnh hưởng phá vỡ cấu trúc kinh tế phong kiến
truyền thống của xã hội bản địa.
Ngay từ khi đặt chân đến Penang, nhất là từ khi Khu định cư Eo biển (SS)
được thiết lập vào năm 1826, người Anh đã “thi hành chính sách mở cửa, miễn
thuế, chào đón tàu buôn dưới mọi sắc cờ” [5, tr.205]. Với chính sách khuyến
khích buôn bán tự do đó, đến đầu thế kỉ XX, kinh tế SS phát triển nhanh chóng.
17
Singapore đã trở thành trung tâm buôn bán, chuyển khẩu và tái xuất khẩu mậu dịch
lớn nhất Đông Nam Á.
Với Các bang Malay ngoài Liên bang (UMS), Anh cũng áp dụng chính sách
thương mại tự do. UMS có diện tích rộng lớn, đất đai phù hợp cho việc trồng cây
công nghiệp, nhất là cao su. Đây cũng là nơi giàu có về mỏ quặng, đặc biệt là thiếc.
Vì vậy, thực dân Anh đã tăng cường đầu tư vốn vào các khu vực này. Năm 1896,
chính phủ Anh ban hành Luật về ruộng đất. Theo luật này, người Anh có quyền
quyết định việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trong toàn Malaya. Tuy nhiên, do
đất rộng người thưa nên việc thiếu đất canh tác ở Malaya diễn ra không gay gắt.
Năm 1940, phần đất trung bình của mỗi hộ người Malay là khoảng 2,5 acre (xấp xỉ
1ha), đủ cho họ trồng lúa và các loại hoa màu khác [3, tr.1134].
Công nghiệp khai thác mỏ thiếc được coi là ngành công nghiệp mũi nhọn ở
Malaya thời kì này. Ngành công nghiệp này có tầm quan trọng rất lớn không chỉ
đối với các nhà đầu tư Anh vì lợi nhuận khổng lồ mà còn rất quan trọng đối với nền
kinh tế Anh. Từ cuối thế kỉ XIX, tư bản Anh bắt đầu chi phối và tìm cách kiểm soát
ngành công nghiệp khai thác thiếc vốn do phần lớn người Hoa đang nắm giữ. Từ
năm 1898, Malaya đã trở thành nơi sản xuất thiếc lớn nhất thế giới. Năm 1929, sản
lượng thiếc của Malaya đạt 70.000 tấn, và đạt 64.627 tấn vào năm 1939, chiếm trên
50% tổng sản lượng thiếc của toàn thế giới [7, tr.52].
Ngành công nghiệp cao su là lĩnh vực kinh tế quan trọng thứ hai sau công
nghiệp thiếc. Nhu cầu cao su của thế giới bùng nổ những năm 1905 - 1908 đã khiến
cho cao su trở thành mặt hàng có tính thương mại cao nhất. Trong thời gian này,
diện tích trồng cao su tăng gấp 5 lần so với những năm cuối thế kỉ XIX do công tác
khẩn hoang được đẩy mạnh. Nếu như năm 1922, diện tích trồng lúa toàn Malaya
chỉ có 199.000 mẫu Anh thì diện tích trồng cao su lên đến 1.178.000 mẫu Anh, gấp
6 lần diện tích trồng lúa [5, tr. 205]. Tính đến năm 1920, Malaya đã xuất khẩu được
196.000 tấn mủ cao su, chiếm 53% tổng sản lượng toàn thế giới [3, tr.1143].
18
Trong công cuộc khai thác nền kinh tế thuộc địa Malaya, những yếu tố phục
vụ cho quá trình khai thác theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu cũng được đầu tư với
việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông liên lạc như đường
bộ, đường sắt, hệ thống cầu tàu, kho cảng. Nhiều đô thị mới được hình thành đi đôi
với việc cải thiện cơ sở hạ tầng.
Như vậy, với chính sách thương mại mở cửa của thực dân Anh, Khu định cư
Eo biển, đặc biệt là Singapore đã trở thành trung tâm thương mại lớn của khu vực.
Trong khi đó, tại FMS và UMS, công nghiệp khai thác thiếc và cao su tự nhiên là
hai nghành kinh tế then chốt nhất. Dưới sự cai trị của Anh, Malaya đã trở thành nơi
sản xuất chính của thế giới về cao su và thiếc. Song song với việc khai thác thương
mại và công nghiệp, Anh chủ trương không can thiệp đến nền tảng kinh tế truyền
thống của người Malay bản địa. Họ bị bó hẹp hoàn toàn với ngành kinh tế chính là
trồng lúa nước. Vì thế, bên cạnh những yếu tố kinh tế tư bản hiện đại, nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu truyền thống vẫn tiếp tục được duy trì ở Malaya trong suốt
thời kì thuộc Anh.
*Xã hội.
Vào đầu thế kỉ XIX, xã hội Malaya khá đồng nhất với cộng đồng cư dân
chủ yếu là người Malay. Năm 1800, người Malay chiếm khoảng 90% dân số.
Nhưng từ khoảng giữa thế kỉ XIX, do nhu cầu mở rộng sự kiểm soát về kinh tế
và chính trị của người Anh, nhất là nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực
cung cấp cho các mỏ thiếc và đồn điền cao su, Anh đã khuyến khích nhập cư
một cách ồ ạt từ Trung Quốc và Ấn Độ. Dòng người Hoa đổ vào các khu vực
khai mỏ bắt đầu từ khoảng năm 1830 và trở thành cơn “cơn lũ” khoảng từ năm
1850 [3, tr.1136]. Khi ngành công nghiệp cao su phát triển mạnh, lao động
người Ấn cũng được tuyển dụng làm việc trong các đại điền. Việc nhập cư người
Ấn với số lượng lớn diễn ra từ đầu thế kỉ XX. Ban đầu, những lao động nhập cư
người Hoa cũng như người Ấn chỉ dự định ở lại Malaya trong một thời gian
ngắn, khi kiếm được một số vốn nhất định, họ sẽ trở về quê hương. Nhưng nợ
nần ngày càng chồng chất khiến họ không thể trở về.
19
Kết quả của chính sách nhập cư dễ dàng của thực dân Anh là cơ cấu dân tộc
trên bán đảo Malaya liên tục thay đổi theo hướng người nhập cư ngày càng tăng
lên. Đến đầu thế kỉ XX, người nhập cư đã chiếm gần một nửa tổng số dân cả nước.
Số lượng người nhập cư tiếp tục tăng lên, vượt qua số lượng dân số người Malay
bản địa. Thậm chí vào năm 1941, chỉ tính riêng số lượng người Hoa đã vượt người
Malay (2.278.000 người Malay so với 2.379.00 người Hoa) [3, tr.1135]. Với chính
sách khuyến khích nhập cư của thực dân Anh, Malaya đã trở thành một xã hội đa
sắc tộc với ba cộng đồng chính là người Malay, người Hoa và người Ấn.
Cùng với sự hình thành xã hội đa tộc người, một khía cạnh quan trọng khác
trong xã hội Malaya thuộc Anh là vấn đề mâu thuẫn giữa các tộc người.
Mâu thuẫn này xuất hiện trước tiên do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ,
tôn giáo tín ngưỡng. Trải qua quá trình định cư lâu dài với nhiều thế hệ, người Hoa
và người Ấn vẫn bảo lưu nguyên vẹn giá trị văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của quê
hương mình. Gần như toàn bộ người Malay là người Hồi giáo và nói ngôn ngữ
Malay. Trong khi đó, người Hoa gồm những người theo Khổng giáo, Đạo giáo và
Phật giáo và nói nhiều phương ngữ khác nhau. Người Ấn nói tiếng Tamil và chủ
yếu theo Ấn Độ giáo, ngoài ra họ cũng theo Phật giáo và một số tôn giáo khác.
Những khác biệt trên thực sự là một rào cản lớn cho sự hòa nhập trong một xã hội
đa dân tộc ở Malaya.
Thứ hai là sự phân bố cư dân theo tộc người càng tạo ra sự tách biệt giữa
các dân tộc. Người Malay, phần lớn là nông dân và ngư dân sống tập trung ở các
khu vực nông thôn nghèo nàn, lạc hậu thuộc phía Bắc và Đông Bắc bán đảo. Người
Hoa chủ yếu làm nghề kinh doanh buôn bán và hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp. Họ không những là những nhà tư sản cỡ lớn và vừa, nắm giữ nhiều xí
nghiệp, hầm mỏ, ngân hàng, các đồn điền cao su, dầu cọ, hoạt động bán buôn, bán
lẻ mà còn chiếm số đông trong giai cấp vô sản công nghiệp và khai khoáng. Đa
phần người Hoa sống ở các thành phố lớn đồng thời là các trung tâm kinh tế của
đất nước. Đối với người Ấn, phần lớn họ là những lao động nông nghiệp ở các đồn
điền cao su. Họ sinh sống ở cả nông thôn và thành thị, nhưng vùng tập trung chính
là ở vùng bờ biển phía Tây bán đảo Malacca, nơi có nhiều đồn điền cao su.
20
Thứ ba, sự chuyên biệt hóa về ngành nghề kinh tế và chính sách của thực
dân Anh đã tạo ra sự chênh lệch trong mức sống của các tộc người. Trong đó,
người Hoa nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế, người Malay với tư cách
là cư dân bản địa, giới quý tộc có thế lực về chính trị nhưng tiềm lực kinh tế yếu
hơn, đa số người Malay còn lại là nông dân với cuộc sống nghèo nàn, khốn khó.
Điều này càng làm cho người Malay cảm thấy sự đe dọa to lớn từ cộng đồng người
Hoa.
Và cuối cùng, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến mâu thuẫn trong xã hội
đa sắc tộc Malaya chính là chính sách “cách ly chủng tộc” mà thực dân Anh thực
hiện trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục đã đẩy tình trạng
trên ngày càng gay gắt hơn.
Trong thời kì Malaya thuộc Anh, hầu như không có bất kỳ sự tương tác nào
giữa ba cộng đồng. Họ sống tách biệt trong những nơi cư trú cố định của mình, bảo
lưu những nét văn hóa truyền thống của tộc người. Người Malay coi người Hoa và
người Ấn là ngoại kiều. Người Hoa và người Ấn thì coi Trung Quốc và Ấn Độ mới
là quê hương thực sự của mình. Chính sách “cách ly chủng tộc” của người Anh đã
khiến các cộng đồng dân tộc tuy tồn tại cạnh nhau nhưng không bao giờ có thể hòa
nhập với nhau thể hiện qua cách gọi: “người bản địa”, “người nhập cư” hay
“người Malay”, “người Hoa”, “người Ấn”. Thuật ngữ “người Malaya” chỉ bắt
đầu xuất hiện từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong một thời gian dài, ba cộng
đồng người vẫn tồn tại với tư cách là ba thực thể văn hóa - xã hội riêng biệt và cô
lập nhau.
1.2. Giáo dục Malaya trƣớc năm 1816.
Người Bồ Đào Nha và Hà Lan đã có mặt ở Malaya trong một thời gian dài,
nhưng tác động của họ đối với giáo dục Malaya dường như rất hạn chế. Theo
Hyacinth Gaudart, có một trường công giáo La Mã đã được Bồ Đào Nha thiết lập ở
Malacca vào năm 1548 nhưng người ta hầu như không biết điều gì đã xảy ra với
ngôi trường này. Cũng có rất ít tư liệu về việc liệu người Hà Lan có thiết lập bất cứ
hình thức giáo dục nào hay không [25, tr.1].
21
Trước khi người Anh đến, giáo dục truyền thống Malaya diễn ra dưới hình
thức các lớp học Kinh Qur’an (Qur’an class) được tiến hành bởi các giáo sĩ Hồi
giáo. Các lớp học này diễn ra tại các masjid (nhà thờ), các surau (một nơi chuyên
thờ phụng và giảng dạy tôn giáo, có quy mô nhỏ hơn masjid ) hoặc tại nhà riêng của
các Imam (học giả uyên bác của Đạo Hồi), nhà của những người đặc biệt như nhà
lãnh đạo tôn giáo hay lãnh đạo cộng đồng.
Học sinh tại các lớp học tôn giáo này sẽ được học về Kinh Qur’an và các
nguyên lí cơ bản của đạo Hồi và tiếng Ả - rập. Ngoài ra, chúng cũng được học thêm
một ít về tiếng Malay sau khi đã biết đọc và viết Kinh Qur’an bằng tiếng Ả - rập
[46, tr. 2]. Trong đó, việc học thuộc lòng Kinh Qur’an được đặt lên hàng đầu. Lebai
Abdul Razak, một học giả dạy Kinh Qur’an ở Malacca nói về sự cần thiết của điều
này như sau: “Người bảo vệ trực tiếp của những đứa trẻ này là Kinh Qur’an. Và
sau này, nếu có nhu cầu, chúng có thể học thêm ngôn ngữ Malay. Đó là cách của
chúng tôi. Coi trọng việc học ngôn ngữ Malay không phải là truyền thống của đất
nước này”[36, tr. 139].
Ở một số vùng của Malaya, giáo dục được thực hiện trong các trường dòng
truyền thống được gọi là pondok. So với các lớp học Kinh Qur’an, đây là một dạng
giáo dục cao cấp hơn. Ở Malaya, mỗi làng quê đều có một tổ chức tôn giáo. Vì thế,
các bé trai từ 6 tuổi đã có thể tham gia các lớp học Kinh Qur’an ngay ở địa phương.
Những ai có tham vọng và tài năng có thể tiếp tục việc học của mình ở các pondok
nổi tiếng. Người đứng đầu pondok được gọi là Tokguru, người có toàn quyền trong
pondok riêng của mình. Thời gian học của học sinh tại các pondok không giống
nhau, tùy thuộc vào số lượng kitab (sách tôn giáo) có trong tay các Tokguru. Một số
học sinh cũng có thể chuyển từ pondok này sang pondok khác, tùy thuộc số lượng
kitab mà Tokguru có và sự nổi tiếng của một Tokguru. Vì vậy, thời gian theo học tại
pondok của một người có thể “kéo dài đến 10 năm hoặc thậm chí lâu hơn”
[13, tr.14].
Tại các pondok, học sinh sẽ học Kinh Qur’an và nghiên cứu sâu hơn về Đạo
Hồi và một số kỹ năng khác dưới sự giám hộ của một Haji (hay còn gọi là Khatib).
Hoạt động chủ yếu hàng ngày của họ tập trung vào việc học tập và thực hành. Việc
22