Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ việt nam đầu thế kỉ xxi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 103 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-------------------

THÁI THỊ HOÀI THANH

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ
VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thừa Thiên Huế, năm 2016


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
--------------

THÁI THỊ HOÀI THANH

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ
VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ HUẾ


Thừa Thiên Huế, năm 2016
i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả
cho phép và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Hương Trà, ngày 09 tháng 09 năm 2016.
Tác giả luận văn

Thái Thị Hoài Thanh

ii


ơn quý thầ y c ô g i á o
t r o n g k h o a N g ữ V ăn và Phòng Đào tạ o S a u Đạ i h ọ c
T r ườn g Đạ i h ọ c S ư phạ m H u ế đã tạ o điề u k i ệ n
t h u ậ n l ợi c h o t ô i t r o n g s u ố t k h ó a h ọ c .
Tôi

xin

chân

thành

c ảm


t r ọn g

c ảm

ơn các Giáo sư, Tiế n
s ĩ đã nhiệ t t ì n h g i ả n g d ạ y v à g ợi m ở c h o t ô i
n h i ều ý k i ến q u ý b á u t r o n g q u á t r ì n h h ọc t ập v à
t h ực h i ệ n l u ậ n v ăn.
Tôi

xin

trân

Đặ c b i ệ t t ô i x i n b à y t ỏ l ò n g b i ế t ơn sâu sắ c
đế n C ô g i á o – T S . H o à n g T h ị H u ế , n g ười đã tậ n
t ì n h h ướn g d ẫ n , g i ú p đỡ t ô i h o à n t h à n h l u ậ n v ăn
này.
X i n c ảm

ơn gia đình, đồ n g n g h i ệ p v à b ạ n b è đã
g i ú p đỡ, c h i a s ẻ c ù n g t ô i t r o n g s u ố t q u á t r ì n h
h ọ c t ậ p v à n g h i ê n c ứu h o à n t h à n h l u ậ n v ăn này.
H ương

Trà, ngày 09 tháng 09 năm 2016.
T á c g i ả l u ậ n v ăn

Thái Thị


iii

Hoài Thanh


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA ..................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... ii
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... iii
MỤC LỤC ..................................................................................................................1
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài ................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................8
5. Đóng góp của đề tài .............................................................................................8
6. Cấu trúc của đề tài ...............................................................................................8
NỘI DUNG ................................................................................................................9
Chƣơng 1. THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TỪ CẢM QUAN HẬU
HIỆN ĐẠI ..................................................................................................................9
1.1. Khái lược về chủ nghĩa hậu hiện đại .............................................................9
1.1.1. Chủ nghĩa hậu hiện đại ...........................................................................9
1.1.2. Một số thủ pháp nghệ thuật ...................................................................11
1.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại và sự tiếp nhận trong thơ Việt sau 1986................14
1.2.1. Thơ Việt sau 1986 .................................................................................14
1.2.2. Thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng – những thành
tựu và nỗ lực cách tân .....................................................................................19
1.2.2.1. Vi Thùy Linh ..................................................................................19
1.2.2.2. Ly Hoàng Ly...................................................................................21
1.2.2.3. Nguyễn Thúy Hằng ........................................................................23

Chƣơng 2. DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU
THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẢM QUAN MỚI VỀ THẾ GIỚI VÀ
CÁI TÔI TRỮ TÌNH ..............................................................................................25
2.1. Cảm quan mới về thế giới ...........................................................................25
2.1.1. Cảm quan về một thế giới hỗn độn, bất khả nhận thức ........................25
1


2.1.2. Cảm quan về một thế giới KHÁC .........................................................31
2.2. Cái tôi trữ tình trong thơ ..............................................................................34
2.2.1. Cái tôi nội cảm đào sâu bản thể ............................................................36
2.2.1.1. Cái tôi giải phóng tính dục .............................................................36
2.2.1.2. Cái tôi vô thức ................................................................................40
2.2.2. Cái tôi bị tẩy trắng.................................................................................45
CHƢƠNG 3. DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ ĐẦU THẾ KỈ XXI
NHÌN TỪ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THUẬT ......................................................50
3.1. Sự mở rộng của biên độ thể loại ..................................................................50
3.1.1. Thơ tự do ...............................................................................................50
3.1.2. Thơ văn xuôi .........................................................................................52
3.1.3. Thơ trình diễn........................................................................................55
3.2. Giọng điệu ...................................................................................................59
3.2.1. Giọng điệu vô âm sắc ............................................................................59
3.2.2. Giọng điệu hoài nghi, giễu nhại ............................................................62
3.3. Kết cấu .........................................................................................................67
3.3.1. Kết cấu “phi kết cấu” ...........................................................................67
3.3.2. Kết cấu trò chơi .....................................................................................71
3.3.2.1. Kết cấu cắt dán, lắp ghép ................................................................71
3.3.2.2. Kết cấu sắp đặt, tạo hình.................................................................73
3.4. Ngôn ngữ .....................................................................................................75
3.4.1. Ngôn ngữ trò chơi .................................................................................76

3.4.2. Ngôn ngữ tạo sinh .................................................................................83
3.4.3. Ngôn ngữ bị tẩy trắng ...........................................................................86
KẾT LUẬN ..............................................................................................................90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................93

2


MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1. Hậu hiện đại là hiện tượng mang tính toàn cầu, tinh thần của nó ảnh
hưởng mạnh mẽ đến rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, văn hóa nghệ thuật đến chính
trị, xã hội và đã để lại những thành tựu không thể phủ nhận. Trong văn học, thi pháp
hậu hiện đại có ý nghĩa trong việc mở ra những khả tín cho sự sáng tạo. Những tác
giả xuất sắc cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI là những đại biểu của chủ nghĩa hậu
hiện đại. Trong xu thế mở hiện nay, văn học Việt Nam không thể không tiếp cận với
khuynh hướng mới mẻ nhất này của văn học thế giới. Sự xuất hiện của những dấu
hiệu hậu hiện đại góp phần làm thay đổi diện mạo văn học dân tộc theo xu hướng
hội nhập với tiến trình phát triển của văn chương thế giới.
1.2. Có thể nhận thấy thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI vận động theo nhiều xu
hướng tạo nên một bức tranh đa dạng, phong phú về cảm quan đời sống cũng như các
thử nghiệm về thể loại, giọng điệu, kết cấu, ngôn ngữ,... Trong đó, những cây bút như
Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng đã tạo nên những phản ứng trái chiều
bằng cách viết khác lạ. Trong tác phẩm của họ phổ biến các kỹ thuật được “gọi tên”
trong lối viết hậu hiện đại như sự mở rộng biên độ thể loại; ngôn ngữ tạo sinh, trò chơi;
giọng điệu hoài nghi, giễu nhại, bị tẩy trắng; kết cấu trò chơi, cắt dán, lắp ghép… để
chuyển tải cảm quan và cái tôi mới trước đời sống Việt Nam đương đại. Dù chưa thể
nói đến những tác phẩm và khuynh hướng để đời nhưng hướng thể nghiệm của họ đã
mang lại những điều mới mẻ cho diện mạo thơ Việt Nam đương đại.
1.3. Việc tìm hiểu dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI

cho thấy khả năng tiếp biến năng động của thơ Việt Nam đối với một hiện tượng
khá mới mẻ và phức tạp của văn học thế giới – văn học hậu hiện đại. Bên cạnh đó,
với lối viết “đã khác trƣớc” này, tất yếu không thể sử dụng hệ thống lí luận cũ để
đánh giá, vì vậy, việc vận dụng lí thuyết hậu hiện đại – như một thước đo thẩm mĩ
mới, giúp đánh giá những thể nghiệm sáng tạo của một số tác giả đang được chú ý
hiện nay. Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu vấn đề này có thể đưa đến tên gọi cho
một hướng thử nghiệm kĩ thuật viết trong thơ nữ nói riêng và thơ Việt Nam nói
chung ở đầu thế kỉ XXI, từ đó cho thấy có sự thay đổi quan trọng trong hệ hình văn
học trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước ta.
3


2. Lịch sử vấn đề
2.1. Hậu hiện đại là vấn đề tương đối mới với thế giới nhưng hoàn toàn mới
ở Việt Nam. Xuất hiện trên thế giới khoảng từ giữa thế kỉ XX nhưng ở Việt Nam,
bài viết Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach đăng
trên Tạp chí Văn học năm 1991 là bài viết đầu tiên về hậu hiện đại được dịch và
giới thiệu. Từ đó đến nay, giới học giả, người sáng tác và người đọc Việt Nam đã
phần nào tiếp cận những nét cơ bản nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung và
văn học hậu hiện đại nói riêng qua các bài viết của các nhà lí luận phê bình trên thế
giới như J. F. Lyotard, Mary Klages, I.P.Ilin, D. Martin Fields, Hans Bertens,
Fredric Jameson… và một số nhà nghiên cứu Việt Nam như Phương Lựu, Nguyễn
Văn Dân, Lê Huy Bắc, Hoàng Ngọc Tuấn… Tuy nhiên, trong đó Nguyễn Văn Dân
không thừa nhận khái niệm hậu hiện đại dùng trong văn học. Những bài viết về hiện
tượng này đã được tập hợp tương đối đầy đủ trong cuốn Văn học hậu hiện đại thế
giới - những vấn đề lý thuyết (NXB Hội nhà văn, 2003), và Lí luận - phê bình văn
học thế giới thế kỉ XX (NXB Giáo dục, 2007, tập 2).
2.2. Xung quanh vấn đề có hay không dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt
Nam có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau (chủ yếu do cách hiểu về
hậu hiện đại khác nhau). Các quan điểm cho rằng hậu hiện đại không hiện diện ở

Việt Nam đều không nhận được sự đồng tình của đa số người quan tâm bởi không
ai ngây thơ tin rằng sẽ có một trào lưu hậu hiện đại đúng nghĩa ở Việt Nam (cũng
như với chủ nghĩa hiện đại), mặt khác, không chỉ đến khi Việt Nam bước vào xã hội
hậu hiện đại thì mới có tiền đề cho sự xuất hiện của những dấu hiệu hậu hiện đại.
Sau một thời gian bỡ ngỡ, nghi hoặc, đa số giới nghiên cứu đã thừa nhận sự
tồn tại của những dấu hiệu hậu hiện đại ở Việt Nam, thậm chí báo Văn nghệ trẻ còn
mở chuyên đề về hậu hiện đại trên Diễn đàn văn học trẻ, Tạp chí Nghiên cứu Văn học
dành riêng một số (số 12 – 2007) giới thiệu một số bài viết về văn học hậu hiện đại.
Các bài viết, ý kiến khá chừng mực khi cho rằng có thể tìm ra những dấu hiệu, yếu tố
hậu hiện đại trong văn học, tiêu biểu là bài nghiên cứu của Đào Tuấn Ảnh, Phùng Gia
Thế, Đông La, Hoàng Ngọc Tuấn, Insarasa, Nguyễn Hưng Quốc. Trong đó Đông La,
Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc chỉ khẳng định một cách khái quát tinh thần
4


hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong văn chương Việt Nam. Những bài
viết của Đào Tuấn Ảnh, Phùng Gia Thế, Inrasara thực sự đi sâu, chỉ ra được những
dấu hiệu hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.
Bài viết Hậu hiện đại và thơ hậu hiện đại Việt: Một phác họa 1 [42] và 2 [43] của
Inrasara đề cập đến những dấu hiệu hậu hiện đại trong thơ Việt Nam cả về cảm quan
hậu hiện đại lẫn những hình thức nghệ thuật đặc thù trong sáng tác Bùi Giáng, Bùi
Chát, Lí Đợi, Đỗ Kh, Khế Iêm,... Tác giả Trần Ngọc Hiếu cũng nhấn mạnh: “sự xuất
hiện của những hiện tƣợng nổi loạn trong thơ hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ sự
vận động của đời sống văn hoá xã hội. Xét đến cùng, nó là khao khát đƣợc nói lên
tiếng nói trung thực của cá nhân, nói bằng ngôn từ của mình, vƣợt thắng những áp
lực đè nén nặng nề lên ngôn từ của ngƣời nghệ sĩ. Và nhƣ thế cuộc chơi ngôn từ này
là một cuộc chơi đòi hỏi các cây bút dám mạo hiểm, và hơn hết là sự can đảm.” [32].
2.3. Ngoài ra, chúng tôi quan tâm đến các bài viết về thơ Việt Nam sau 1986
trong đó các tác giả nêu ra những đặc điểm mà ta thấy đó là những nét đặc trưng của
văn học hậu hiện đại nhưng không gọi tên hoặc gọi gộp vào văn học hiện đại. Đó là các

bài viết của các tác giả như Hoàng Hưng (Thơ Việt Nam đang chờ phiên đổi gác), Mai
Hương (Mƣời năm thơ những xu hƣớng tìm tòi), Phạm Quốc Ca (Mấy suy ngĩ về hiện
đại hóa thơ ca), Trần Mạnh Hảo (Thơ phản thơ), Mã Giang Lân (Thơ mở rộng biên
độ), Trần Hoàng Thiên Kim (Thơ nữ Việt Nam đƣơng đại: Những giá trị vĩnh cửu...),
Inrasara (Song thoại với cái mới, Tiểu luận hậu hiện đại và Thơ hậu hiện đại Việt: Một
phác họa, Thơ Việt từ hiện đại tới hậu hiện đại), Hoàng Thị Huế (Ánh xạ từ biểu tƣợng
cái tôi trong thơ của một số nhà thơ Việt đƣơng đại, Tiếp nhận thơ Việt đƣơng đại từ
hành trình cách tân thơ ca), Trần Ngọc Hiếu (Những tìm tòi cách tân hình thức trong
thơ Việt Nam thời kì đổi mới, Khúc ngoặt ngôn ngữ của lí thuyết trò chơi hậu hiện
đại)... Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra quan điểm riêng về sự thay đổi của thơ Việt sau
1986 nhưng tất cả họ gặp nhau ở ý thức khẳng định thơ Việt đương đại có sự vận động
để thoát khỏi hệ hình thơ truyền thống. Đặc biệt, Hoàng Hưng nhận xét:“Tôi đang thấy
trƣớc mắt cái mà mình chờ đợi từ rất lâu, sự chờ đợi sắp trở thành vô vọng: một giọng
điệu, một nhịp điệu, một cách cảm, và hơn thế, một thẩm mỹ mới về Thơ. Ðây là Thơ
của lớp ngƣời trẻ lớn lên trong môi trƣờng đại đô thị – có nghĩa là chủ nhân tƣơng lai
5


của một nƣớc Việt Nam hiện đại hoá.”[38]. Ngoài ra, nhận định về sự thay đổi phương
pháp sáng tác trong thơ Việt đương đại của nhà nghiên cứu Hoàng Thị Huế càng nhấn
mạnh hơn hành trình cách tân thơ Việt đương đại: “Cho đến sau 1986, xuất hiện nhiều
khuynh hƣớng cách tân thơ, không lấy nghĩa làm trọng tâm nhƣ thời Thơ mới nữa mà
lấy chữ làm cốt yếu, sáng tạo chữ, làm chữ phát nghĩa mới là đích đến của sáng tạo.”
[36]. Về mối quan hệ giữa lí thuyết trò chơi và văn chương, tác giả Trần Ngọc Hiếu
kiến giải: “Tập hợp các diễn ngôn về trò chơi này hình thành nên cái đƣợc gọi là lý
thuyết trò chơi mà bảng phả hệ của nó, theo tổng thuật của Gordon Slethaug trong
cuốn Encyclopedia of Contemporary Literary Theory (Bách khoa toàn thƣ lý thuyết
văn chƣơng đƣơng đại), đƣợc bắt đầu từ triết học cổ đại Hy Lạp, kéo dài qua nhiều
thời đại và đặc biệt phát triển trong thời ỳ hậu hiện đại” [33], còn về việc có hay
không dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong thơ Việt, nhà thơ Inrasara khẳng định:

“Có thể nói, Bùi Giáng là nhà thơ đầu tiên sáng tác theo cảm thức hậu hiện đại, hoặc
gần nhƣ thế., Thơ Việt từ hiện đại tới hậu hiện đại: Đó là thế hệ thơ có một định phận
kì lạ.” [42]. Bên cạnh đó, cả Inrasara lẫn Trần Ngọc Hiếu đều xác nhận có một hướng
thử nghiệm trong thơ Việt đương đại từ quan niệm về tính trò chơi của văn chương,
đến các đặc điểm như hiện thực thậm phồn không đáng tin cậy, con người bất khả tri
nhận: “Cảm thức thế giới là hỗn độn, nhận thức thế giới của con ngƣời luôn đầy thiếu
khuyết, các thiếu khuyết đƣợc diễn dịch một cách chủ quan bằng giải trình ngôn
ngữ discourse” [42]. Một số đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại (trong đó có
thơ) đã từng bước được xác lập, chẳng hạn: “sử dụng phổ biến bút pháp trò chơi, giễu
nhại (Tái sử dụng là sáng tạo. Phỏng nhại (pastiche), châm biếm (irony), nhại giễu
(parody), lắp ghép ngẫu nhiên (collage),… là sáng tạo. Tất tần tật cái trên trần đời này
đều có thể trở hành chất liệu cho nhà văn sử dụng.), để (Xoá bỏ mọi trung tâm và giảikhu biệt hoá (de-differentiation): cao hay thấp cấp, cũ/mới, thanh cao/dơ bẩn, đặc
tuyển/đại chúng,… chủ nghĩa hậu hiện đại đang mở ra một khả thể vô hạn cho nhà văn
trong nền văn chƣơng của sự đầy tràn” [42]. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu
trên đã chứng minh được sự vận động đổi mới của thơ Việt trong thời kì hội nhập thế
giới là một nhu cầu, một qui luật tất yếu. Ởmức độ nhất định, mỗi kiến giải riêng trong
số đó đã góp phần chỉ ra những điểm khác của thơ đương đại với thơ ca giai đoạn
6


trước, đấy chính là tiền đề đưa đến việc xác định có dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại
trong thơ Việt đương đại.Những nhận kết luận có giá trị về ảnh hưởng của chủ nghĩa
hậu hiện đại đến thơ Việt trở thành những đóng góp trực tiếp giúp đánh giá những thể
nghiệm sáng tạo của một số hiện tượng thơ đang được quan tâm hiện nay.
Số lượng các bài viết về những tìm tòi đổi mới (trong đó có thơ của ba tác
giả Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Nguyễn Thúy Hằng) và số bài sử dụng lí thuyết
hậu hiện đại để nghiên cứu về thơ Việt đương đại rất phong phú, song nhìn chung
có thể phân chia thành hai nhóm lớn: 1. Các bài viết có xu hướng bao quát diện mạo
và đặc điểm chung của xu hướng cách tân và dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt
hiện nay; 2. Các bài viết bước đầu sử dụng lí thuyết hậu hiện đại để tìm hiểu về một

tác giả, tác phẩm cụ thể. Ở những bài viết này, dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt
hiện ra ở mức độ rất khái quát (nhóm 1) hoặc thiếu chiều sâu và giá trị tổng hợp
(nhóm 2). Số công trình nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong các tác phẩm của một
nhóm tác giả để từ đó khái quát nên diện mạo và đặc điểm của thơ Việt đương đại
trong quá trình vận động cách tân thật sự ít ỏi, nếu có cũng chưa có những đóng góp
đáng kể. Vì vậy, chúng tôi xác định việc nhận diện dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện
đại trong thơ nữ đầu thế kỉ XXI qua tác phẩm của ba nhà thơ Vi Thùy Linh, Ly
Hoàng Ly và Nguyễn Thúy Hằnglà nhiệm vụ của luận văn. Với định hướng nghiên
cứu dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ bình diện cảm
quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình, cũng như từ bình diện phương thức nghệ
thuật, luận văn của chúng tôi sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống đang hiện hữu trong
bức tranh nghiên cứu thơ Việt đương đại theo lí thuyết hậu hiện đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI là một mảng đề
tài rộng và đòi hỏi nhiều công phu. Ở đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ
các bình diện: cảm quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình, phương thức nghệ thuật
như là quá trình tìm hiểu những nhân tố khỏi sự và hoàn tất của quá trình sáng tạo.
Từ đó, người viếtbước đầu đi đến những đánh giá về giá trị nghệ thuật, xác định
phong cách tác giả và làm rõ vị trí của thơ nữ Việt đầu thế kỉ XXI nhìn từ lí thuyết
hậu hiện đại. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu chủ yếu của luận văn là thơ của ba
7


tác giả: Vi Thùy Linh (qua các tập thơ: Khát, Linh, Đồng tử, Vili in love ), Ly
Hoàng Ly (với hai tập thơ: Cỏ trắng, Lô lô) và Nguyễn Thúy Hằng (từ các tập: Thời
hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý với bộ tác phẩm, gồm 3 tập: I – Cửa sổ đập,
II – Cá thể ƣớt kì lạ, III – Do đó, nó lại đến; Họ - bột hƣ ảo). Ngoài ra, chúng tôi
còn tham khảo, sưu tầm một số văn bản thơ của các nhà thơ cùng sáng tác theo
thiên hướng hậu hiện đại hay cùng là thơ nữ giới đầu thế kỉ XXI và thơ của một số
nhà thơ trẻ khá . Bên cạnh đó, các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của ba tác giả

được đăng trên các báo, tạp chí đều nằm trong phạm vi tìm hiểu của chúng tôi.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp vận
dụng lí thuyết Hậu hiện đại, lí thuyết Văn hóa học, Phân tâm học, lí thuyết Cấu trúc;
phương pháp hệ thống; phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp thống kê,
phân loại.
5. Đóng góp của đề tài
Tiếp cận thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn mới – góc nhìn của lý
thuyết hậu hiện đại, luận văn sẽ cho thấy tiềm năng của lối viết hậu hiện đại trong
nỗ lực sáng tạo của các nhà thơ Việt Nam. Đồng thời, công trình cũng góp phần
khẳng định giá trị nghệ thuật của thơ mang dấu ấn hậu hiện đại, phong cách sáng
tạo của các nhà thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng. Và hơn nữa,
sự khẳng định ấy còn hướng đến việc xác lập một vị trí, chỗ đứng tương xứng cho
thơ nữ đầu thế kỉ XXI nói riêng cũng như thơ hậu hiện đại nói chung trong hành
trình đổi mới thơ Việt.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung chia làm 3 chương:
Chương 1. Thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ cảm quan hậu hiện đại
Chương 2. Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI nhìn từ bình
diện cảm quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình
Chương 3. Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI nhìn từ
phương thức nghệ thuật

8


NỘI DUNG
Chƣơng 1
THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TỪ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI
1.1. Khái lƣợc về chủ nghĩa hậu hiện đại

1.1.1. Chủ nghĩa hậu hiện đại
Hậu hiện đại là thuật ngữ phức tạp, đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống
nhất cho khái niệm hậu hiện đại nói chung, hậu hiện đại trong văn học nói riêng.
Dựa vào những định nghĩa của các nhà lí luận phương Tây và Việt Nam, ta có thể
hiểu nội hàm khái niệm này như sau: Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học là
khuynh hướng văn học tiếp nối chủ nghĩa hiện đại (bao gồm các khuynh hướng
như tiểu thuyết mới, hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa cực hạn…), ra đời vào khoảng
sau chiến tranh thế giới thứ hai với các đặc trưng: sự từ chối tư tưởng trung tâm,
tính liên văn bản, giễu nhại, “xuyên tạc” sự thật, lối trần thuật hỗn độn, xóa nhòa
ranh giới giữa tinh tuyển và bình dân... Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại trong cái
nhìn của các nghệ sĩ và nhà phê bình là chủ nghĩa đa nguyên văn hóa. Nó là một hệ
thống mở và không ngừng vận động, nó là cái đang xảy ra.
Nửa sau thế kỉ XX, đời sống của nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước
tư bản phát triển có nhiều thay đổi mạnh mẽ, thậm chí bước sang thời kì mới. Hậu
hiện đại ra đời trên cơ sở xã hội và ý thức của thời đại mới đó.
Hậu hiện đại hình thành trước tiên như phản ứng chiều sâu của con người
hiện thời với thế giới xung quanh. Khoa học kĩ thuật phát triển vượt bậc, xã hội
bước vào thời đại hậu công nghiệp với nền văn minh máy tính, bùng nổ thông tin,
sự thống trị của văn hóa đại chúng và các phương tiện truyền thông, tình hình thế
giới hỗn tạp và nguy hiểm… khiến con người lâm vào tình trạng “chấn thƣơng hậu
hiện đại”, từ đó nảy sinh cảm quan hậu hiện đại. Cái nhìn về thế giới thay đổi. Thế
độc tôn của Trung tâm – phương Tây, của hệ thống lý thuyết có từ thời Ánh Sáng bị
lật đổ trong một thực tại hỗn độn, đứt gãy, đầy ngẫu nhiên. Con người hậu hiện đại
không còn đặt niềm tin vào quy luật to lớn bao trùm hay những “đại tự sự” về một
xã hội lí tưởng, trường cửu mà tràn đầy hoài nghi về những giá trị đã đạt được trong
quá khứ, về những giá trị văn minh, tiến bộ, về ý nghĩa tồn tại của con người mà các
cuộc cách mạng hiện đại từng cổ vũ và tưởng chừng đã đạt được. Đó là hoàn cảnh
9



dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại và cũng chính từ đó mà nhiều người
xem hậu hiện đại trước hết là một hiện tượng văn hoá tinh thần.
Về nguồn gốc danh từ “hậu hiện đại”, theo nhà nghiên cứu như Hassan, xuất
hiện lần đầu tiên trong cuốn Hợp tuyển thơ Tây Ban Nha và các nƣớc Châu Mỹ phụ
thuộc xuất bản năm 1934 của Federico de Onis để chỉ sự đoạn tuyệt các quy phạm
chủ nghĩa hiện đại của thơ ca Tây Ban Nha và Mỹ La tinh đầu thế kỉ XX. Năm
1939, Arnold Toynbee chính thức sử dụng trong bộ sách lịch sử Một công trình sử
học để xác định ranh giới chấm dứt thời kì hiện đại (và thời kì hậu hiện đại bắt đầu).
Năm 1959, nhà phê bình văn học Irving Howe là người đầu tiên đưa ra quan niệm
lý thuyết về sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa hiện đại sang chủ nghĩa hậu hiện đại trong
bài viết Xã hội đại chúng và tiểu thuyết hậu hiện đại. Từ đó thuật ngữ “hậu hiện
đại”, “chủ nghĩa hậu hiện đại” được sử dụng phổ biến suốt thập niên 60 trở đi ở
New York trong giới kiến trúc, phê bình của giới trí thức và nghệ sĩ (Jane Jakobs,
Robert Venturi, Hassan, Fielder…) và vào thập niên 1970 được các giáo sư triết học
Châu Âu như J. F. Lyotard, J. Derrida, M. Foucault, J. Baudrillard, F. Jameson…
khai triển thành một hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực
khoa học cũng như đời sống xã hội. Trong đó, cần phải nhắc đến J. F. Lyotard với
cuốn sách nổi tiếng Điều kiện hậu hiện đại (1979) - cuốn sách giáo khoa của các
nhà nghiên cứu hậu hiện đại, được xem là nhà lập thuyết của trào lưu này. Luận
điểm quan trọng nhất của Lyotard là về sự sụp đổ của các “đại tự sự” trong “thời
hậu hiện đại” trở thành phạm trù then chốt của chủ nghĩa hậu hiện đại. Từ Pháp,
Hoa Kỳ, cùng với hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận, hậu thực dân luận, chủ nghĩa
hậu hiện đại trở thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ, có sức lan toả rất lớn, từ
châu Âu, châu Úc đến châu Mỹ Latin và cả châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc,
Trung Quốc... Trên thế giới, các tên tuổi nhà văn lẫy lừng là đại biểu hậu hiện đại:
Italo Calvino, Umberto Eco, Carlos Fuentes, John Barth, John M. Coetzee, Julio
Cortázar, Gabriel Garcia Márquez…
Là khuynh hướng không có tôn chỉ, cương lĩnh, thủ lĩnh riêng mà chỉ là sự
tập hợp quan điểm của các lý thuyết gia cũng như những người sáng tác nên khó
xác định thời điểm khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại. Có nhiều quan điểm khác

nhau trong việc xác định mốc đánh dấu của chủ nghĩa hậu hiện đại tùy theo từng
10


lĩnh vực cụ thể mà các nhà nghiên cứu khảo sát. Trong kiến trúc, Hassan cho rằng
năm 1972, những khối nhà cao tầng được xây dựng từ những năm 50 ở thành phố
St. Louis, Missouri (Hoa Kỳ) bị giật sập và mốc 1972 được xem là mốc thời gian ra
đời của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong văn học, thời điểm ra đời của khuynh hướng
này được xác định sớm hơn. Barry Lewis xác định cụ thể: “Phƣơng pháp sáng tác
văn chƣơng nổi bật nhất giữa những năm 1960 và 1990 là lối viết hậu hiện đại” [4,
234], qua các sự kiện văn chương lẫn chính trị xã hội. Ngoài ra ông còn chỉ ra “dấu
mốc thích đáng khác” cho văn chương hậu hiện đại là cuốn Naked Lunch (Tạm
dịch: Bữa ăn trƣa trần trụi) (1959) của William Burroughs.
Khác Barry Lewis, Richard Ruland và Malcolm Bradbury trong công trình
Từ chủ nghĩa Thanh giáo đến chủ nghĩa hậu hiện đại, Lịch sử văn học Mỹ đưa vào
sự kiện Trân Châu Cảng 1941 để xác định thời hậu hiện đại, ngoài ra cũng từ năm
1940 trở đi nhiều thủ lĩnh kiệt xuất của chủ nghĩa hiện đại qua đời: Scott Fitzgerald
(1940), Sherwood Anderson (1941), Gertrude Stein (1946)… đánh dấu sự chấm dứt
của chủ nghĩa hiện đại (theo Lê Huy Bắc) [7]. Năm nhà tiểu thuyết người Ailen
James Joyce và người Anh Virginia Woolf qua đời đôi khi được sử dụng như đường
ranh giới đơn giản nhất cho sự khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Về sự kết thúc chủ nghĩa hậu hiện đại, như quan điểm trên của Barry Lewis
thì hậu hiện đại chấm dứt vào năm 1990 và sau năm 1990 ông đề xuất cách gọi khác
là chủ nghĩa hậu hậu hiện đại (Post-Postmodernism). Ngoài ra còn có một số ý kiến
khác cũng tuyên bố về cái chết của chủ nghĩa hậu hiện đại vào những năm 1980 từ
làn sóng mới của chủ nghĩa hiện thực với đại diện tiêu biểu như Raymond Carrver.
Tom Wolfe trong bài báoStalking the Billion – Footed Beastđã cho rằng tầm quan
trọng mới của chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết hư cấu đã thay thế chủ nghĩa
hậu hiện đại và bài báo đó như “một lời hiệu triệu kêu gọi quay về với chủ nghĩa
hiện thực” [4, tr.235]. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay lời tuyên bố về cái chết

của chủ nghĩa hậu hiện đại có lẽ là vội vàng.
1.1.2. Một số thủ pháp nghệ thuật
Khái niệm cảm quan hậu hiện đại do Lyotart đề xuất và được chủ nghĩa hậu
cấu trúc hưởng ứng và tiếp nhận; hình thức cảm nhận thế giới đặc thù và là phương
thức phản xạ suy tư lí thuyết tương ứng với nó, tiêu biểu cho tư duy khoa học của
11


các nhà nghiên cứu văn học hiện thời thuộc định hướng hậu cấu trúc – hậu hiện đại.
Sự nảy sinh khái niệm cảm quan hậu hiện đại gắn với sự kiện xem xét lại những lí
thuyết hậu hiện đại với tư cách là sự phản ánh tâm thức (mentality).
Cụm từ này thể hiện hai loại cảm thức chính:
Ở bình diện thứ nhất: Cảm quan hậu hiện đại là một kiểu cảm nhận đời sống
đặc thù phản ánh trạng thái tinh thần, tâm thức thời đại. Đó là “cảm giác về thế giới
nhƣ một sự hỗn độn (chaos), nơi không còn bất kỳ tiêu chuẩn giá trị và định hƣớng
ý nghĩa nào, thế giới này, (…) ghi đậm dấu ấn của cơn “khủng hoảng niềm tin” vào
tất cả những giá trị đã từng tồn tại trƣớc đó”[4, tr.8]. Và các nhà hậu hiện đại cho
rằng nỗ lực khôi phục lại trật tự thế giới là vô ích, không thể thực hiện được. Theo
nhà nghiên cứu Lã Nguyên, “chỉ khi nào tìm thấy tâm thức hậu hiện đại trong sáng
tác văn học, ta mới có quyền nói tới văn học hậu hiện đại” [87, tr.13].
Bình diện thứ hai bộc lộ rõ nhất trong lí thuyết phê bình, đó là một phƣơng
thức tƣ duy thể hiện qua lối viết tiểu luận nhiều ẩn dụ - lối viết đặc trưng không chỉ
cho các nhà nghiên cứu mà còn dành cho các triết gia và các nhà văn hóa học hiện
đại nhằm khôi phục lại ý nghĩa của ngôn ngữ khởi thủy nếu khai thác được những
ẩn dụ.
Lối viết ẩn dụ đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại được thể hiện qua một số
thủ pháp nghệ thuật độc đáo:
Thủ pháp mảnh vỡ (fragmentation) là thuật ngữ được trừu xuất từ khái niệm
phi lựa chọn, qua hình thức nghệ thuật cắt dán đặc biệt. Về thực chất, không có khả
năng biến những mảnh rời rạc thành thể thống nhất. Sau đó, Folkema định nghĩa lại

khái niệm này và phát triển thành một nguyên tắc tổ chức văn bản hậu hiện đại, để
mô tả hiện tượng phi lựa chọn. Đây là thủ pháp phá vỡ nguyên tắc tổ chức văn bản
trần thuật theo trình tự thời gian hay tâm lí trong văn học truyền thống. Mảnh vỡ là
một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu đã xâm nhập vào tất cả khuynh hướng sáng tác của
văn học hậu hiện đại.
Thủ pháp tƣơng phản xuyên suốt là thuật ngữ do Lodge xây dựng, phục vụ
cho nguyên tắc phi lựa chọn để thực hiện nội dung căn bản của văn học hậu hiện đại
đó là mâu thuẫn. Cơ sở của lí thuyết này bắt nguồn từ diễn ngôn của Jacobson về
cách viết. Jacobson xem ẩn dụ và hoán dụ là bản chất của quá trình ngôn ngữ, biến
12


cách viết hậu hiện đại không đi theo nguyên tắc tương đồng và kề cận mà đi theo
nguyên tắc loại suy (alternative) qua sáu mô thức trọng tâm: tính mâu thuẫn, hoán
vị, tính đứt đoạn, ngẫu nhiên, thái quá, đoản mạch. Trong đó tính mâu thuẫn là yếu
tính và người ta buộc phải chấp nhận tính mâu thuẫn đó như thực tại cuộc sống.
Thủ pháp giễu nhại (pastiche) xuất phát từ ca kịch Ý, chỉ phương thức giễu
nhại gắn liền với giả định, có tính phân thân (tự giễu nhại chính mình). Cái hài của
hậu hiện đại vượt lên trên cái hài của mĩ học để tự giễu nhại, chống lại bản chất dối
trá của ngôn ngữ và tính ảo tưởng của truyền thông đại chúng. Nhà văn hậu hiện đại
là người mô phỏng vai trò của tác giả, tức là nhà văn giễu nhại chính bản thân mình
bằng hành vi giễu nhại. Đây là thủ pháp bóc trần tính mê hoặc của truyền thông đại
chúng, văn hóa đại chúng. Thủ pháp giễu nhại đã trở thành một đặc điểm nghệ thuật
căn bản của văn học hậu hiện đại. Nó thâm nhập vào sâu văn bản cả trong cấu trúc
và tư tưởng. Thủ pháp nhại tạo nên phạm trù “cái nhại” trong mĩ học hậu hiện đại
thay cho “cái hài” trong mĩ học truyền thống.
Mặt nạ tác giả (author’s mask) là thuật ngữ tương đương khái niệm hình
tượng tác giả trong mĩ học truyền thống. Thủ pháp này đóng vai trò chỉ đạo cho
những trần thuật đặc thù của văn chương hậu hiện đại. Nó vừa là nguyên tắc chỉ đạo
trần thuật, vừa đóng vai trò như một kẻ bịp bợm liên tục nhạo báng vào những niềm

tin ngây thơ, lối tư duy văn học theo khuôn mẫu của độc giả, vừa là vật ngụy tạo
cho chính tác giả (vì tác giả đã chết).
Mã kép (double code) là thuật ngữ đặc thù của văn học hậu hiện đại. Mã ở
đây là những trường liên tưởng, đó là tổ chức siêu văn bản của những ý nghĩ có liên
quan đến những cách hiểu về một cấu trúc nhất định. Nó chủ yếu thuộc về lĩnh vực
văn hóa và có 5 loại mã cơ bản: mã văn hóa, mã giải thích, mã tượng trưng, mã kí
hiệu, mã trần thuật. Những mã này qui định lẫn nhau, mã đứng sau khu biệt phạm vi
hoạt động của mã đứng trước. Mã kép, mã hóa kép đều song hành với sự tồn tại của
văn bản. Hai mã này đều biểu hiện trong văn học hậu hiện đại như hai siêu mã lớn.
Mờ hóa (declearisation) là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng rộng rãi trong
văn học hậu hiện đại, xuất phát từ “giải nhân cách hóa”. Đối tượng được miêu tả
hiện lên không rõ ràng, xóa mờ các đương viền, các đặc điểm cá biệt của đối tượng
làm cho văn bản trở nên mơ hồ, tối nghĩa, muốn hiểu được thì độc giả phải tham gia
13


vào tiến trình nghệ thuật. Mục đích của mờ hóa là khai thác khả năng đồng sáng tạo
của độc giả.
Thủ pháp siêu hƣ cấu (metafiction) là khái niệm được các tác giả hậu hiện
đại sử dụng để bàn về kĩ thuật viết và tiến trình xây dựng tác phẩm của mình. Một
tác phẩm hư cấu là một trò chơi tự trình bày cách chơi của nó và mời gọi độc giả
chơi theo cách chơi của nó. Một tác phẩm siêu hư cấu gắn với quan niệm bất tín
nhận thức và trần thuật đa điểm nhìn. Văn chương hậu hiện đại, cũng bởi thế, là một
trò chơi ngôn ngữ mang tính dân chủ tối đa.
Hoán vị (permutation)biểu hiện ở các mặt: sự chuyển đổi các bộ phận của
văn bản (người đọc có thể sắp xếp các trang, chương, mục theo ý mình); sự hóa vị
văn bản, văn học, văn cảnh xã hội; phá vỡ trật tự thời gian của văn bản. Đây là lối
viết hậu hiện đại chống lại tính ước lệ văn chương,
Chính việc dựa vào phương pháp tư duy bằng nghệ thuật đã trở thành trọng
tâm nội dung và cấu thành hình thức của mô hình tƣ duy thi ca – cơ sở của cảm

quan hậu hiện đại.
1.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại và sự tiếp nhận trong thơ Việt sau 1986
1.2.1. Thơ Việt sau 1986
Có thể thấy chặng đường suốt hơn ba mươi năm qua (1986-2016), thơ ca
đương đại vừa có sự tiếp nối lửa văn chương từ thế hệ các nhà thơ đã hành trình
trong suốt ba mươi năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, vừa sải bước trên
con đường hiện đại hóa bằng sự bức phá ngoạn mục. Và trên hành trình thơ ấy có
sự góp mặt của nhiều thế hệ.
Điều đáng chú ý đầu tiên là thế hệ các nhà thơ đã thành danh trong chiến
tranh vẫn tiếp tục viết và tiếp tục được khẳng định: Lưu Quang Vũ (mất 1988),
Phùng Khắc Bắc, Bế Kiến Quốc, Hoàng Hưng, Thanh Thảo, Trúc Thông, Thi
Hoàng, Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo,… Đây là lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng
chiến nhưng vẫn giàu nội lực sáng tạo và luôn tìm tòi đổi mới chính thơ mình ở thời
hậu chiến. Lớp nhà thơ kháng chiến bên cạnh việc đổi mới về hình thức nghệ thuật
còn chú ý đổi mới cách phản ánh bản chất đời sống của thơ. Dù những cách tân một
phần về cảm hứng, bút pháp,… căn bản vẫn dựa trên nền mỹ học truyền thống,
nhưng một số nhà thơ chống Mỹ vẫn tạo được những dấu ấn sáng tạo và thành tựu
14


riêng. “Một Hoàng Hƣng với những thể nghiệm thơ gây khá nhiều tranh cãi. Một
Thi Hoàng với lối nói trạng nửa ỡm ờ, nhấm nhẳng; nửa uyên thâm, triết lí. Một
Thanh Thảo luôn trăn trở với những tìm tòi, thể nghiệm trên con đƣờng tìm nguồn
nƣớc thi ca.” [73, tr.6].
Điều khá lí thú là một loạt các nhà thơ đã từng xuất hiện trong phong trào
Thơ mới – cuộc cách tân lần thứ nhất của thi ca Việt – giờ đây, chính họ là những
người đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà cách tân thơ lần thứ hai. Cùng với Trần
Dần là Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường,… với tư duy thẩm mĩ
hiện đại, đầy mới mẻ, họ đã thắp lên những hình tượng mới cho thơ khi vượt thoát
được những khuôn sáo ước lệ của vần điệu vốn dĩ quá quen thuộc với người đọc

thơ. Không gian thơ được nới rộng và đào sâu ở mọi chiều kích, đặc biệt là chiều
thứ tư đi vào thế giới nội tâm phong phú nhưng cũng đầy phức tạp của con người.
“Ngƣời đọc sẽ không thể nào quên đƣợc một Trần Dần – “thi sơn thơ”, một Hoàng
Cầm – “tràng giang thơ”, một Lê Đạt – “phu chữ thơ”, một Đặng Đình Hƣng với
bến mê đầy kì bí và một Dƣơng Tƣờng với “nẻo đường nhạc lạ”. Với những cách
định danh này, có thể thấy đƣợc tâm huyết và tiềm năng sáng tạo của một thế hệ kì
tài (chữ dùng của Nguyễn Việt Chiến) trong thơ ca đƣơng đại.” [73, tr.7].
Song hành với lớp nhà thơ đi trước là cả một thế hệ người làm thơ mới từ sau
chiến tranh nối tiếp đến hôm nay. Họ đã làm nên dòng chảy đầy sức sáng tạo và
giàu màu sắc cho nền thơ ca đương đại. Trước hết phải kể đến nhóm tác giả thành
danh sau 1986. Tác giả Nguyễn Việt Chiến trong cuốn sách Thế hệ nhà văn sau
1975: Diện mạo và thành tựu cho đấylà “một Nguyễn Lƣơng Ngọc bùng cháy và
ngạo nghễ trong tìm tòi; một Nguyễn Quang Thiều đã tạo nên từ trƣờng thơ mới;
một Dƣ Thị Hoàn độc đáo trong sáng tạo thơ; một Nguyễn Khắc Thạch thích sự
nguyên khối của ý tƣởng hơn là sự gia công bằng cảm xúc; một Mai Văn Phấn đang
hành trình đến bến bờ của sự cách tân; một Trần Tiến Dũng say mê thử nghiệm các
cấu trúc thơ; một Lãng Thanh kì bí và ám ảnh; một Dƣơng Kiều Minh hƣớng về
bản ngã phƣơng Đông, một cõi thơ lạ đến đắm say của Nguyễn Bình Phƣơng; một
Nguyễn Minh Tuấn lập trình thơ bằng những suy tƣởng mới; một Đặng Huy Giang
luôn hƣớng tới tính triết luận; một Trần Anh Thái đang tìm tòi để trở lại chính
mình; một Inrasara cất cánh từ văn hóa Chăm sang chân trời mới; một Thảo
15


Phƣơng luôn khát vọng đổi mới thơ; một Tấn Phong đang soạn tiếp những giao
hƣởng thơ; một Nguyễn Linh Khiếu đang mê man trong dạo khúc phồn sinh; Một
Trần Quang Quý bức xúc vì những siêu – thị - mặt, một Phan Thị Vàng Anh đang
cố vƣợt lên bằng một bản lĩnh thơ mới…” [12].
Một thế hệ thơ táo bạo và đầy tài năng – đấy là nhận định chung nhất cho
những nhà thơ trẻ đương đại. Điểm nổi bật nhất trong những sáng tác của họ là ở sự

trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ. Những cây bút trẻ đương đại được nhắc tới
nhiều nhất có thể kể đến: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm
Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh
Tiến, Trương Quế Chi, Nhóm Mở miệng, Nhóm Ngựa trời,… Hầu hết các tác giả
này con rất trẻ, trên dưới hai mươi tuổi vào thời điểm họ xuất bản các tập thơ đầu
tay của mình. Điểm chung nhất ở họ là sự khao khát thể hiện tiếng nói của thế hệ
mình như một giá trị. Và giá trị ấy được đảm bảo bằng cái mới, cái hiện đại trong
quan miện về thơ, trong giọng điệu, bút pháp, hình thức thể hiện,… Dù có thể
những tìm tòi, cách tân chưa dễ tìm được sự đồng thuận trong đánh giá và tiếp nhận
của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được một nguồn sinh lực mới trong thơ
trẻ hôm nay.
Cuối cùng không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của các nhà thơ hải
ngoại: Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Thị Khánh Minh, Đỗ Kh., Lê Thị Thẩm Vân,
Nguyễn Thị Hoàng Bắc,… Nhờ sự hỗ trợ tích cưc của những phương tiện thông tin
hiện đại, những cây bút xa quê hương đã thể hiện được vị thế của mình trong dòng
chảy của thơ ca Việt Nam đương đại.
Sự đa dạng trong xu hướng tìm tòi là minh chứng cho nhu cầu đổi mới thơ ca
và thể hiện sự cố gắng của các nhà chức trách trong việc đem lại một bầu không khí
sôi nổi, cởi mở cho thơ Việt hôm nay. Trong các xu hướng cách tân, có thể gọi tên
một số dòng thơ tạo được sự chú ý đối với công chúng như: thơ dòng chữ, thơ dòng
nghĩa, thơ tân hình thức, thơ thị giác, thơ hậu hiện đại.... Phát súng đầu tiên mở đầu
cho công cuộc cách tân thơ là Không đề của Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, lẽ
thường những điều mới và khác lệ thường ban đầu rất ít được đón nhận, nếu không
muốn nói là bị phản đối như trường hợp của Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng,
Văn Cao,…
16


Thơ hậu hiện đại được xem là trào lưu khởi phát sớm nhất và được kì vọng
hơn cả trong thời kì hậu đổi mới thơ, mang trong mình khả tính cách mạng sau bao

nỗ lực tìm tòi, khai phá. Nó được khơi mào từ giữa thập niên cuối của thế kỉ XX và
nở rộ cùng văn chương mạng tiếng Việt. Hậu hiện đại chủ động tồn tại bên lề sinh
hoạt văn học dòng chính qua hình thức mạng internet và cả ở dạng in photocopy.
Nó đã làm nên một cuộc thay đổi lớn.
Toàn cầu hóa, vách ngăn trong ngoài không còn, thế giới đang phẳng ra, nhất
là khi văn hóa internet ra đời, các website văn chương cấp nở rộ, phương tiện ấn
hành mới mở ra không gian mênh mông cho nhà thơ thể hiện và nhanh chóng đưa
tác phẩm mình đến với người đọc khắp mọi nơi trên thế giới. “Thế hệ nhà thơ hậu
hiện đại xuất hiện làm cuộc giải trung tâm toàn triệt thơ Việt lâu nay gò mình trong
vùng chật hẹp, bó buộc.” (Inrasara) [44].
Tiếp nối Bùi Giáng – người được xem là cây bút đầu tiên sáng tác thơ theo
cảm thức hậu hiện đại, chúng ta có thể kể đến những tên tuổi khác của trào lưu thơ
hậu hiện đại: Đặng Thân, Lê Anh Hoài, Mai Văn Phấn, Bùi Giáng, Trần Wũ
Khang, Như Huy; Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Lynh Bacardi, Lê Vĩnh Tài,
Jalau Anưk, Bỉm, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly
Hoàng Ly; Đỗ Kh, Đinh Linh, Đỗ Quyên, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thúy
Hằng,… Dù ở phương trời nào, nam hay nữ, không phân biệt dân tộc, kênh in ấn và
phát hành tác phẩm,… tất cả họ đều cùng tự thức self consciousness trong chân trời
của tự do sáng tạo trong thế giới toàn cầu hóa, ở đó mỗi cá nhân được thể hiện trọn
vẹn mọi khả năng của mình.
Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện ở cảm quan và thủ pháp sáng tác. Xuất phát từ
tu duy hậu hiện đại, các nhà thơ nhìn thế giớ đang vận động, chưa hoàn kết, chấp
nhận đa giá trị, bảng giá trị truyển thống cần được xem xét lại, hoài nghi chân lí và
mọi sự tồn tại. Thơ hậu hiện đại khước từ duy cảm mà hướng đến duy lí nhiều hơn.
Cái tôi trữ tình hậu hiện đại và các thi ảnh, cấu trúc, giọng điệu, ngôn ngữ mang dâu
ấn hậu hiện đại. Có thể dẫn Bến lạ - một bài thơ văn xuôi của Đặng Đình Hưng để
hiểu hơn về những bi kịch cá nhân, tâm trạng bất an, cô đơn, hoang hoải; những
khoảng tối cấm kị được phơi bày. Cảm thức thế giới là hỗn độn, nhận thức thế giới
của con người luôn đầy thiếu khuyết, các thiếu khuyết được diễn dịch một cách chủ
17



quan bằng giải trình ngôn ngữ (discourse). Chúng hoàn toàn phụ thuộc vào kinh
nghiệm cá nhân. Bất tín nhận thức, hậu hiện đại coi đại tự sự (grand narratives) thứ được xem như huyền thoại từng thao túng cuộc sống nhân loại, khiến họ ngày
càng chìm sâu hơn trong nỗi vong thân. Hậu hiện đại thức tỉnh nhân loại nhận thức
lại giấc mơ đại tự sự, thúc đẩy con người trực diện với chính thời đại mình đang
sống, một thứ hiện thực thậm phồn. “Nhà hậu hiện đại giải-mơ mộng của nhà lãng
mạn, giải ảo tƣởng của nhà lí tƣởng, hủy trung tâm để thiết lập nhiều trung tâm nhỏ
lẻ khác, đặt đại tự sự vào thế chông chênh để nó luôn tự xét lại mình, vƣợt bỏ nhà
hiện đại để đƣa thơ ca kết nối lại với truyền thống... Do đó, có thể khẳng định rằng
chính nhà hậu hiện đại bám hiện thực hơn mọi nhà hiện thực [chủ nghĩa] nào bất
kì.” (Inrasara) [45].
Hơn mười lăm năm phát triển, nhà thơ hậu hiện đại Việt vận dụng nhiều thủ
pháp tiếp nhận trên thế giới để sáng tạo nhiều loại thơ chưa từng có mặt trong
truyền thống thơ ca Việt Nam trước đó: Phỏng nhại, siêu hư cấu sử kí, thơ phụ âm,
thơ graphic, thơ thực hiện, thơ cụ thể, thơ phân thân, thơ động tác, thơ tịnh tiến,….
Thơ văn xuôi của Đặng Đình Hưng; Trần Dần giải phóng cá tính bằng lối thơ bậc
thang, thơ không lời, sáng tạo câu thơ dòng chữ, chú trọng làm chữ phát sinh nghĩa;
Lê Đạt đi tìm Bóng chữ qua những câu thơ sống động, cựa quậy; Văn Cao biết đem
đến một vẻ thơ riêng biệt qua tập Lá đầy ẩn dụ; Bùi Giáng tìm mình trong lỗi diễn
tả cảm xúc một cách đặc biệt, vừa chân thành vừa giễu nhại; trong khi đó Mở miệng
được đánh giá là một hiện tượng xã hội hơn là một hiện tượng văn học bởi cách làm
rối ngôn từ. Lê Đạt quá xuất sắc khi sử dụng thủ pháp nhiễu kép – một phương thức
nghệ thuật làm cho người đọc không phân biệt thực – hư: Tóc trắng tầm xanh qua
cầu với gió/ Đùi bãi ngô non/ ngo ngó sông đầy/ Cây gạo già lơi tình/ lên điệu đỏ/
la lả cành/ cởi thắm/ để hoa bay/ Em về nói làm sao với mẹ (Lê Đạt - Quan họ). Rõ
ràng, Lê Đạt đâu chỉ miêu tả một khung cảnh nên thơ và người đọc cũng không
thoát được cảm nghĩ về cái đắm say của tình yêu nhục thể được diễn tả bằng bóng
chữ. Chính cảm thức và thủ pháp như vậy làm nên phong cách của các nhà thơ hậu
hiện đại.

Tóm lại, toàn cầu hóa, bao nhiêu trào lưu sáng tác tràn vào Việt Nam. Mỗi
nhóm văn chương, mỗi tác giả, mỗi thời đoạn có nhiều cách tiếp nhận và thể hiện
18


khác nhau. Nhà phê bình không thể bao quát để nghiên cứu xuyên suốt được tất cả
các dòng thơ mà chỉ có thể đi sâu vào các sáng tác của một hệ mĩ học để làm phê
bình, không thể khác. Inrasara khi nói về việc nghiên cứu thơ đương đại, đã lưu ý
rằng: “Không thể đứng từ mĩ học này để phán xét thơ thuộc hệ mĩ học khác. Càng
không thể nhấn vào một số tác giả hay tác phẩm chƣa tiêu biểu thuộc một hệ mĩ học
nào đó để phê phán chính tƣ tƣởng của hệ mĩ học đó.” (Inrasara) [45]. Chỉ khi đó,
các nhà nghiên cứu mới thật sự công tâm và chính xác trong công việc của mình và
góp phần đưa văn học Việt Nam vượt vũ môn ra biển lớn.
1.2.2. Thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng – những thành tựu
và nỗ lực cách tân
Nhìn vào đội ngũ viết văn trẻ đương đại, người đọc có thể nhận ra một thế hệ
nhà văn mới của văn chương Việt Nam và họ đã làm nên một thời đại mới, thời đại
của chính họ. Một thế hệ có trình độ học vấn, đa tài và hoạt động ở nhiều lĩnh vực
xã hội. Họ sáng tạo nghệ thuật và có nhiều điều kiện giao lưu quốc tế. Họ khẳng
định một thế hệ trẻ của một đất nước mở cửa và hội nhập hôm nay, khác với các thế
hệ đi trước trưởng thành trong chiến tranh. Mười năm cuối thế kỉ XX và mười năm
đầu thế kỉ XXI vừa qua, là khoảng thời gian xuất hiện và khẳng định tài năng của
nhiều nhà thơ nữ. Chúng tôi muốn nhắc đến những người mà ngay khi mới xuất
hiện đã tạo được những làn sóng trong làng thơ.
1.2.2.1. Vi Thùy Linh
Vi Thùy Linh sinh ngày 4 tháng 4 năm 1980, hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, hiện đang sống và viết tại Hà Nội; tốt nghiệp Đại học Báo chí.
Năm 1995, Vi Thùy Linh đăng in bài thơ đầu tay của mình trên báo Tiền
phong; năm 1999, Nxb Hội Nhà Văn in tập thơ Khát của chị, Nguyễn Trọng Tạo
khi viết lời tựa cho tập thơ đó, đã xác quyết mạnh mẽ rằng: Vi Thùy Linh đã đi vào

thơ hiện đại bằng con ngựa chữ nghĩa dậy thì; năm 2000, Nxb Thanh Niên ấn hành
tập Linh, tán thưởng tập thơ này, Nguyễn Huy Thiệp nhận xét rằng: so với các nhà
thơ nữ trên văn đàn, Linh không chỉ “đáng kể nhất”, mà còn “nguy hiểm
nhất”[105]. Hiện tƣợng Vi Thùy Linh đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi với hai
luồng ý kiến khen chê trái ngược nhau. Khoảng 5 năm sau, Vi Thùy Linh công bố
tập thơ song ngữ Việt – Pháp Đồng Tử (2005), tập này được nhà thơ Vũ Mão ưu ái
19


viết lời giới thiệu. Năm 2008, Linh cho ra mắt tập thơ Vili in love gồm 29 bài thơ
song ngữ Việt – Anh, do Dương Tường và Trịnh Lữ dịch, Lê Thiết Cương vẽ bìa và
minh họa. Về mặt nội dung, tập thơ chia làm 3 phần: Mãi mãi ngày thơ bé, Tình tự
Hà Nội, Con và Paris. Năm 2010, tập thơ Phim đôi – Tình tự chậm (Nxb Thanh
Niên) là một ấn phẩm nghệ thuật sang trọng và đắt giá (theo cả nghĩa đen), có sự
góp mặt của nhiều họa sĩ, dịch giả, nhà thơ, đạo diễn, nhà nhiếp ảnh nổi tiếng. Tập
thơ có 39 bài, gồm hai phần: Phần I chọn 10 bài của các tập Khát và Linh; phần II
gồm 29 bài được sáng tác chủ yếu trong năm 2010. Năm 2011, tập thơ thiếu nhi
Chu du cùng ông nội (NXb Kim Đồng), tuyển chọn 22 bài thơ tác giả tâm đắc viết
về những kỉ niệm thân thương của tuổi thơ. Cách đây ít năm, ngày 1 – 12 – 2012,
tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, Vi Thùy Linh đã tổ chức thành công buổi biểu diễn văn
học Bay cùng Vili, giới thiệu hai cuốn sách: Vili in Paris và Vili tùy bút. Linh đã trở
thành người tiên phong, lần đầu tiên đưa trình diễn văn học vào Nhà hát Lớn. Buổi
trình diễn thành công, đánh dấu sự trưởng thành theo hành trình của cô gái làm thơ
từ năm 16 tuổi và đã lao động miệt mài, hết mình vì nghệ thuật gần 20 năm qua.
Chúng ta vẫn còn nhớ thời điểm Vi Thùy Linh xuất hiện, người khen hết cỡ,
người chê cạn lời. Cô gái tuổi 18 dõng dạc tuyên ngôn cho thơ mình: “Tôi không
bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác”. Theo Trần Đăng Khoa thì: “Đấy là một
dấu hiệu đáng mừng. Bởi cuốn sách đã không bị quên lãng. Nó đã có đời sống và
số phận của nó. Đối với việc sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng. Một tác
phẩm ra đời, nhƣ hạt cát ném vào vũ trụ, rồi mất hút trong cõi mịt mù giá lạnh,

chẳng để lại một tiếng vọng nào” [49]. Thơ Vi Thùy Linh trình bày cái tôi không
xấu hổ trước những khuôn phép đầy dị nghị - cái khuôn phép mà Hồ Xuân Hương ở
thế kỉ 19 đã từng băng qua. Đến với thơ Linh cũng là đến với con người Linh – một
bản thể khác biệt, độc lập. Sự độc đáo ấy thể hiện trong những quan niệm lẫn tuyên
ngôn trong thơ. Chị khẳng khái “muốn đƣợc mọi ngƣời nhắc tới mình, vì thơ ca”.
Vi Thùy Linh khát khao biểu hiện cái tôi đào sâu bản thể trước cuộc đời và
trong sáng tạo, cái tôi bản thể mang tính khác biệt. Linh luôn muốn tạo sự độc đáo
riêng biệt trong lối tư duy, diễn đạt và hình ảnh: “Tôi yêu thơ bằng tình yêu say
đắm, tận trung của một ngƣời si tình, chung tình, không tiếc gì cho tình yêu ấy”. Và
đặt niềm tin sâu sắc: “Thơ không bao giờ chết! bản chất của Sáng tạo là Mới và
20


Đẹp”. Với những quan niệm tích cực ấy, Linh vẫn ngày đêm dồn hết sinh lực để
góp phần đổi mới thi ca Việt, với một tư duy mới, tạo ra sự độc đáo trong hình
tượng thơ. Một lối thơ “bạo động chữ” (Văn Giá), “tƣ duy về lời” (Trần Thiện
Khanh), “một khát vọng trẻ” (Nguyễn Thụy Kha), “thi sĩ của ái quyền” (Chu Văn
Sơn). Linh đúng là “kẻ si tình chung thân vì nghệ thuật” (Hà Linh). Chị nhìn thấy
cuộc đời này chỉ được tạo sinh trong những cuộc đi dài, không thể ngừng nghỉ, cho
nên chị đã dấn thân, thậm chí là liều lĩnh được khám phá, và được chinh phục
những đỉnh cao, mà nếu chỉ có nhiệt huyết thôi không thể nào với tới được.
Chia sẻ về quãng thời gian hơn 10 năm gắn bó với thơ ca, Linh tự tin tâm sự:
“Tôi bất chấp mọi giông bão để dấn thân bởi tôi tin vào con đƣờng mình đã chọn.
Nhân cách và tài năng là những yếu tố không thể nào thay thế ở một ngƣời cầm
bút.” [58]. Đó chính là sức sống của nghệ thuật. Đúng như Linh đã từng nói: với
nghệ thuật, không thể dùng thâm niên, nghệ thuật là sẵn sàng dấn thân và chấp nhận
trả giá.
Vi Thùy Linh là một trong những tác giả đã đạt được giải Bông hồng vàng
của đài truyền hình kĩ thuật số VTC do khán giả bình chọn năm 2006, cùng với kỉ
niệm chương của Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Nội tháng 3 năm 2008.

1.2.2.2. Ly Hoàng Ly
Ly Hoàng Ly sinh năm 1975, tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật. Cha
làm thơ, mẹ tảo tần nuôi con những ngày người cha lâm nạn chữ. Hiện sinh nhà thơ
đang sống tại Sài Gòn.
Chị là nhà thơ, hoạ sĩ, tác giả của nhiều triển lãm sắp đặt và trình diễn đã
trưng bày trong và ngoài nước. Lô lô là tập thơ thứ hai của Ly Hoàng Ly xuất bản
năm 2005. Tập thơ đầu tiên Cỏ trắng của chị ra đời năm 1999 từng đoạt giải Mai
Vàng của báo Người lao động.Năm 2000, Ly Hoàng Ly nhận được vô số lời mời đi
dự triển lãm và trình diễn quốc tế. Một số bài thơ trong tập Lô Lô và Cỏ Trắng của
chị được dịch ra tiếng Mỹ và in trong một số tuyển tập chung, và hơn thế, bài thơ
nào cũng là dòng chảy cảm xúc trong sống động ngôn từ, với sự hài hoà trong thể
nghiệm không gian thơ mới, thế nhưng Ly Hoàng Ly ít khi nhận mình là nhà thơ, và
dần dần, chị xoá trong trí nhớ người khác về một người thơ: “Tôi nghĩ tôi là ngƣời
viết và gọi cái mình viết là thơ hoặc có thể không là thơ thì gọi là gì cũng đƣợc,
21


×