Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm nội soi góp phần chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng tt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (223.24 KB, 27 trang )

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư trực tràng (UTTT) là một bệnh thường gặp trong các
bệnh ung thư. Trong những năm gần đây, mặc dù đạt được nhiều sự
tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi và tầm soát bệnh UTTT,
tuy nhiên đây vẫn là bệnh lý gây tử vong cao trên thế giới. Theo số
liệu của Globocan (2018) tỷ lệ mắc mới ung thư đại trực tràng trên
toàn thế giới là hơn 1,8 triệu trường hợp, chiếm 10,2% tổng số ca
mắc mới ung thư.
Để chỉ định phẫu thuật triệt căn UTTT một cách chính xác, giúp
tiên lượng và đem lại lợi ích cho bệnh nhân thì vấn đề đánh giá giai
đoạn, nhất là xác định mức độ xâm lấn u và di căn hạch vùng là rất
quan trọng. Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ thì
siêu âm nội soi (SANS) và chụp cộng hưởng từ (CHT) vùng tiểu
khung là những phương pháp rất có ý nghĩa. Nhiều nghiên cứu cho
thấy SANS được ghi nhận là phương pháp có giá trị tốt với độ chính
xác dao động từ 63-96%; trong xác định di căn hạch của UTTT vào
khoảng 63-85% so với cắt lớp vi tính (65 - 75%) và CHT (75 - 85%).
Ở Việt Nam, các công bố khoa học chính thức về giá trị của
SANS để chẩn đoán giai đoạn của UTTT còn rất ít. Vì vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng siêu âm nội soi
góp phần chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng” với hai mục
tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, siêu âm
nội soi và mô bệnh học của ung thư trực tràng.
2. Đánh giá kết quả chẩn đoán của siêu âm nội soi trong
xác định giai đoạn ung thư trực tràng.
2. Tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, vấn đề điều trị UTTT đã đạt được
những tiến bộ nhất định. Tuy nhiên hiệu quả của phương pháp điều
trị cũng như cách thức điều trị phụ thuộc vào giai đoạn của UTTT.


Việc đánh giá giai đoạn của UTTT thường được thực hiện bằng cách
kết hợp thăm khám lâm sàng, chụp cắt lớp vi tính (CLVT), CHT, siêu
âm nội trực tràng (SANTT), SANS. Tuy nhiên SANTT có nhược
điểm siêu âm mù, khó đánh giá hết tổn thương và đặc biệt phạm vi
đánh giá hẹp, không thể khảo sát các u trực tràng ở cao. Chụp CLVT
và CHT có nhược điểm là giá thành cao, độ nhạy và độ đặc hiệu
trong chẩn đoán giai đoạn UTTT chỉ vào khoảng 60 – 70%. Nhiều


2
nghiên cứu công bố cho thấy SANS được ghi nhận là phương pháp
có giá trị tốt với độ chính xác cao, vì vậy nghiên cứu về SANS trong
đánh giá giai đoạn UTTT là hết sức cần thiết.
3. Những đóng góp mới của luận án
Đây là luận án đầu tiên tại Việt Nam áp dụng SANS trong chẩn
đoán giai đoạn của UTTT. Luận án đã bước đầu xác định:
- Trong chẩn đoán mức độ xâm lấn u từ T 1 đến T4 với độ nhạy,
độ đặc hiệu và độ chính xác chung của siêu âm nội soi là 83,3%,
92,8% và 92% tương ứng.
- Trong chẩn đoán mức độ xâm lấn hạch: Độ nhạy, độ đặc hiệu
và độ chính xác của SANS là 73,7%; 78,6% và 77,3% tương ứng.
Nghiên cứu cũng đưa ra các dữ liệu về đặc điểm UTTT trên
SANS: Chủ yếu là khối u có tính chất giảm âm (72%). Khối u xâm
lấn đến lớp cơ (34,7%) và thanh mạc (38,7%); Có 13,3% khối u xâm
lấn đến mỡ và tổ chức xung quanh. 34,7% thấy có hạch xung quanh.
4. Bố cục của luận án
Luận án được trình bày 112 trang bao gồm: đặt vấn đề 2 trang,
tổng quan 30 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21 trang,
kết quả nghiên cứu 27 trang, bàn luận 28 trang, những hạn chế của đề
tài 1 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang.

Luận án có 37 bảng, 6 biểu đồ, gồm 130 tài liệu tham khảo
trong đó có 32 tài liệu tiếng Việt và 98 tài liệu tiếng Anh.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu trực tràng
1.2. Dịch tễ học ung thư trực tràng
1.2.1. Trên thế giới
1.3. Sinh bệnh học ung thư trực tràng
1.4. Biểu hiện lâm sàng
1.5. Các phương pháp chẩn đoán ung thư trực tràng
1.5.1. Nội soi
Nội soi đại trực tràng cho đến nay vẫn là phương pháp quan
trọng để chẩn đoán UTTT. Phương pháp có ưu điểm là rẻ tiền, kỹ
thuật đơn giản, nhưng lại cho biết chính xác u về hình dạng, kích
thước và vị trí u cách rìa hậu môn. Qua nội soi kết hợp sinh thiết tế
bào bằng kìm để chẩn đoán mô bệnh học.


3
1.5.2. Siêu âm nội trực tràng
SANTT là phương pháp sử dụng đầu dò siêu âm đưa vào trực
tràng để thăm khám siêu âm trực tràng và các cơ quan lân cận vùng
tiểu khung. Nói chung SANTT có giá trị tương đương CHT trong
đánh giá các khối u giai đoạn T3 trở lên, tuy nhiên khi đánh giá di
căn hạch thì kém hơn CHT. SANTT tốt hơn CHT để đánh giá các
khối u bề mặt, trong khi CHT cung cấp hình ảnh tốt hơn về các bệnh
UTTT tiến triển. SANTT có thể so sánh tương đương với CHT trong
việc chẩn đoán gián tiếp di căn hạch.
1.5.3. Chụp cắt lớp vi tính
Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) cho phép có thể xác định khối u,

mức xâm lấn của u, tình trạng di căn hạch vùng, di căn xa, di căn các
tạng ở trong ổ bụng, chẩn đoán xác định các biến chứng như thủng,
tắc ruột do khối u. Tuy nhiên chụp CLVT lại không đánh giá được hết
mức xâm lấn ung thư theo các lớp thành trực tràng. Với những ung
thư nhỏ, chẩn đoán CLVT sẽ rất khó khăn. Khả năng phát hiện
hạch của chụp CLVT thấp hơn siêu âm nội trực tràng.
1.5.4. Chụp cộng hưởng từ
Chụp cộng hưởng từ (CHT) là phương pháp hiện đại, cho phép
đánh giá chính xác giai đoạn của UTTT kể cả giai đoạn sớm và cả
UTTT tái phát, từ đó có thể lập kế hoạch điều trị một cách tối ưu.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng SANS và CHT có vai trò bổ sung
trong việc đánh giá giai đoạn của khối u.
1.5.5. PET/CT
1.5.6. Chụp cắt lớp niêm mạc đại tràng
1.5.7. Các xét nghiệm khác
Chụp khung đại tràng
Xét nghiệm CEA
Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (FOBT-Faecal Occult
Blood Test)
1.6. Siêu âm nội soi trong chẩn đoán ung thư trực tràng
1.6.1. Lịch sử phát triển siêu âm nội soi
1.6.2. Nguyên lý hoạt động siêu âm nội soi
Các máy SANS được sử dụng rộng rãi hiện nay được thiết kế
ba loại đầu dò siêu âm:
+ Đầu dò Radial được dùng để siêu âm chẩn đoán.


4
+ Đầu dò siêu âm Linear về cấu trúc cũng giống như đầu dò
Radial, chùm tia siêu âm phát ra từ đầu ống soi theo hình dải quạt và

cùng mặt phẳng với ống nội soi. Đầu dò ngoài chức năng được dùng
để siêu âm chẩn đoán còn có chức năng hướng dẫn chọc hút tế bào và
can thiệp điều trị.
+ Loại đầu dò thứ ba được thiết kế riêng trông nhỏ giống như
kìm sinh thiết (miniprobe) được đưa qua kênh sinh thiết để siêu âm
trong khi làm nội soi. Loại đầu dò này có cấu trúc giống như đầu dò
Radial được dùng để siêu âm chẩn đoán.
1.6.3. Hình ảnh thành trực tràng trên siêu âm nội soi
Hình ảnh thành trực tràng trên SANS giống như các phần khác
nhau của ống tiêu hóa, được chia thành 5 lớp:
+ Lớp trong cùng có cấu trúc tăng âm: đây là lớp tế bào biểu mô
bề mặt.
+ Lớp thứ hai có cấu trúc giảm âm tương ứng với lớp cơ niêm.
+ Lớp thứ ba có cấu trúc tăng âm tương ứng với lớp dưới niêm mạc.
+ Lớp thứ tư có cấu trúc giảm âm tương ứng với lớp cơ.
+ Lớp thứ năm có cấu trúc tăng âm tương ứng với lớp thanh mạc
và dưới thanh mạc.
1.6.4. Đánh giá ung thư trực tràng trên siêu âm nội soi
Đánh giá giai đoạn
Theo các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, tính chính xác
của SANS trong chẩn đoán mức độ xâm lấn (T - theo phân loại
TNM) của UTTT từ 80-95%; trong xác định di căn hạch của UTTT
là khoảng 70-75%. Thực hiện sinh thiết bằng kim nhỏ (FNA) dưới
hướng dẫn của SANS làm tăng hiệu quả chẩn đoán các trường hợp ở
giai đoạn T sớm và nghi ngờ hạch quanh chậu.
Hạch bạch huyết
Độ chính xác của SANS trong chẩn đoán hạch bạch huyết thấp
hơn đánh giá giai đoạn T vì trên SANS khó phân biệt giữa hạch bạch
huyết viêm hay di căn cũng như xác định các hạch bạch huyết nhỏ
hoặc ở xa khối u.

Đánh giá giai đoạn khối u sau xạ trị: Các nghiên cứu đều
chỉ ra rằng độ chính xác của SANS trong đánh giá giai đoạn T của
khối u sau xạ trị chỉ còn 50%.
1.6.5. Siêu âm nội soi để phát hiện ung thư trực tràng tái phát
Một số nghiên cứu đã chỉ ra SANS là rất chính xác trong việc


5
phát hiện UTTT tái phát. Các tác giả hầu như thống nhất với phương
án thực hiện SANS theo dõi trực tràng 6 tháng một lần trong 2 năm
đầu tiên sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u.
1.7. Đặc điểm mô bệnh học và phân loại ung thư trực tràng
1.7.1. Phân loại mô bệnh học
1.7.2. Tổn thương vi thể
1.7.3. Các thể ung thư khác của trực tràng
1.7.4. Độ biệt hoá
1.7.5. Phân loại giai đoạn ung thư trực tràng theo giải phẫu bệnh
1.8. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 75 bệnh nhân ung thư biểu mô (UTBM) tuyến trực
tràng được chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh sau mổ, điều trị tại Bệnh
viện E từ tháng 3/2013 - 3/2019.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân có khối u trực tràng được phát hiện bằng nội soi đại
trực tràng, sinh thiết làm tế bào chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến
trực tràng.
- Được thực hiện SANS khối u trực tràng trước mổ.
- Tất cả bệnh nhân được điều trị phẫu thuật triệt căn tại Khoa

Ngoại tổng hợp Bệnh viện E.
- Kết quả MBH sau mổ là ung thư biểu mô tuyến trực tràng.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không đáp ứng được tiêu chuẩn lựa chọn.
- Bệnh nhân có rối loạn đông chảy máu.
- Bệnh nhân có bệnh cấp và mạn tính chống chỉ định thực hiện
nội soi đại trực tràng.
- Bệnh nhân không được điều trị phẫu thuật.
- Bệnh nhân đã điều trị trước đó (phẫu thuật, tia xạ, hóa chất).
- Những bệnh nhân không thực hiện SANS trực tràng.
- Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.


6
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Cỡ mẫu: Được lấy theo cỡ mẫu thuận tiện.
2.2.2. Phương tiện nghiên cứu
- Máy SANS thế hệ mới: Nguồn sáng EVIS EXERA II CV180, đầu dò SANS Radial GF-UE160 quét 3600, nguồn siêu âm EUME1 của hãng OLYMPUS (Nhật Bản) tại Trung tâm tiêu hóa Bệnh
viện E.
- Máy CLVT 64 dãy đầu dò của hãng Siemens tại Khoa chẩn
đoán hình ảnh Bệnh viện E.
- Hóa chất, trang bị, dụng cụ phương tiện khác.
2.2.3. Các bước tiến hành
2.2.3.1. Xây dựng đề cương và phiếu thu thập số liệu
2.2.3.2. Tiếp cận bệnh nhân và thu thập thông tin chung
2.2.3.3. Nghiên cứu lâm sàng
2.2.3.4. Lấy máu xét nghiệm

2.2.3.5. Các kỹ thuật xét nghiệm
2.2.3.6. Kỹ thuật nội soi và siêu âm nội soi trực tràng
* Chuẩn bị bệnh nhân
* Kỹ thuật tiến hành
+ SANS trực tràng là một kỹ thuật đặc biệt của siêu âm. Để tia
siêu âm đến được tổ chức mô thì không giống như siêu âm thông
thường mà đầu dò siêu âm được bọc bằng quả bóng cao su trước khi
đưa vào trực tràng. Trên hình ảnh nội soi khi đầu dò siêu âm được
đưa vào tới vị trí cần siêu âm, quả bóng cao su được bơm đầy nước
và hút sạch khí tạo ra môi trường dẫn âm tiếp xúc đầu dò với mô,
đồng thời bóng cao su nước cũng tạo ra khoảng cách để vùng cần
thăm khám tập trung tia siêu âm để có hình ảnh rõ nét nhất.
+ Đưa ống nội soi siêu âm vào trực tràng, quan sát tổn thương
bằng đèn nội soi.
+ Bơm nước vào bóng cao su, hút bớt hơi trong lòng trực tràng
để áp sát bóng cao su vào thành trực tràng, từ từ di chuyển ống soi
vào ra và quan sát tổn thương trên cả 2 màn hình: nội soi và siêu âm.
* Nhận định và đánh giá kết quả với UTTT


7
+ Hình ảnh u của trực tràng được thăm dò bao gồm vị trí, kích
thước, độ sâu xâm nhập, tổ chức xung quanh trực tràng và hạch bạch
huyết xung quanh.
+ Hình ảnh chỗ bình thường:
- Bề dày của thành trực tràng < 3mm.
- Cấu trúc lớp của thành trực tràng.
- Bao bọc quanh trực tràng bởi tổ chức mỡ và các tạng lân cận
+ Đánh giá tổn thương xâm lấn trên các lớp của thành trực
tràng, mức độ xâm lấn của u với tạng lân cận.

- Cấu trúc tổn thương xuất phát từ lớp niêm mạc, mật độ giảm
âm đều hay không đều (tương ứng giai đoạn Tis).
- Cấu trúc lớp dưới niêm từ vùng rìa u đến vùng trung tâm u.
Khi u xâm lấn tới lớp dưới niêm sẽ mất cấu trúc tăng âm, thay vào đó
là lớp dưới niêm dầy lên hơn bình thường, cấu trúc giảm âm như tổ
chức u (tương ứng giai đoạn T1).
- Cấu trúc lớp cơ giảm âm đều. Khi u xâm lấn tới lớp cơ thì
thấy độ dày lớp cơ hơn bình thường, ranh giới lớp cơ với lớp dưới
niêm mạc bị xóa nhòa, lớp dưới niêm bị đứt đoạn. Ranh giới giữa lớp
cơ với tổ chức mỡ quanh trực tràng còn rõ (tương ứng giai đoạn T2).
- Khi u xâm lấn tới thanh mạc thì cấu trúc đường viền tăng âm
ranh giới giữa lớp cơ và lớp mỡ quanh trực tràng không đều (tương
ứng giai đoạn T3).
- Lớp mỡ quanh trực tràng và cấu trúc các tạng quanh trực
tràng như bàng quang, túi tinh, tiền liệt tuyến ở nam giới, tử cung,
phần phụ ở nữ giới có rang giới là các dải tăng âm mỏng, khi thấy u
xâm lấn qua lớp thanh mạc đến các ranh giới này (tương ứng giai
đoạn T4).
+ Đánh giá hạch: hạch quanh trực tràng trên SANS có cấu trúc
là khối giảm âm nằm cạnh trực tràng, hạch hình tròn hoặc oval, bờ
đều hoặc không đều, không có cấu trúc mầu mạch máu khi siêu âm
Doppler. Hạch bình thường có cấu trúc âm đều, bờ đều, rốn hạch rõ,
đường kính hạch bình thường <5mm. Hạch bất thường khi kích thước
hạch to ≥ 5mm, hình dạng hạch thay đổi không đều, cấu trúc hạch
giảm âm không đều, mất cấu trúc tăng âm vùng rốn hạch.
2.2.3.7. Chụp cắt lớp vi tính vùng tiểu khung
Tổn thương được đánh giá trên chụp CLVT:


8

- Hình dạng của khối u: trên hình ảnh chụp cắt lớp có tiêm thuốc
cản quang, tổn thương u bắt thuốc mạnh hơn tổ chức xung quanh.
- Xâm lấn tại chỗ theo phân độ TNM của AJCC-2010, quan sát
cấu trúc giữa lớp cơ và thanh mạc, không phân biệt được lớp niêm mạc
và dưới niêm mạc.
- T1, T2: khối u nằm trong lòng, lớp mỡ quanh trực tràng còn
nguyên vẹn.
- T3: khối u xâm lấn rộng vào lớp cơ, chưa có sự xâm lấn rõ
ràng của u vào trong lớp mỡ quanh trực tràng.
- T4: có sự phá vỡ trực tràng và xâm lấn các cơ quan quanh trực tràng.
+ Đánh giá hạch: hạch trên phim CLVT nghi ngờ là hạch di căn
nếu bờ hạch không đều, thường giảm tỷ trọng, không ngấm thuốc
hoặc ngấm thuốc không đồng nhất.
2.2.3.8. Xét nghiệm mô bệnh học sau phẫu thuật
Kết quả chẩn đoán giải phẫu bệnh được xếp theo phân loại của
Tổ chức Y tế Thế giới, phiên bản 2000.
2.2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
2.3. Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật toán thống kê dùng
trong y sinh học trên máy vi tính với phần mềm SPSS 20.0.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, siêu âm nội soi
và mô bệnh học của ung thư trực tràng
3.1.1. Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.1. Phân bố theo tuổi và giới
Nhóm tuổi
< 40
40 - 49
50 - 59

60 - 69
70 - 79
≥ 80
Cộng
Tuổi TB

Số bệnh nhân (n=75)
1
6
22
19
21
6
75
64,3 ± 11,1

Tỷ lệ
1,3
8,0
29,3
25,3
28,0
8,1
100,0


9
Chủ yếu bệnh nhân trong độ tuổi 50-80 tuổi chiếm 82,6%;
Tuổi trung bình 64,3 ± 11,1. Tỷ lệ nam/nữ = 1,21.
Bảng 3.2. Các triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng
Số bệnh nhân (n= 75)
Tỷ lệ %
Đại tiện phân nhầy máu
58
77,3
Đau bụng vùng hạ vị
41
54,7
Thăm trực tràng thấy u
32
42,7
Đại tiện nhiều lần
24
32,0
Gầy sút cân
22
29,3
Táo bón
5
6,7
Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là đại tiện phân nhầy máu
với 77,3%; đau bụng vùng hạ vị gặp ở 54,7%; đại tiện nhiều lần gặp
ở 32% số bệnh nhân. thăm trực tràng bằng tay phát hiện u trực tràng
ở 32 trường hợp chiếm 42,7%.
3.1.2. Một số xét nghiệm cận lâm sàng
3.1.3. Hình ảnh nội soi trực tràng
Bảng 3.4. Dạng đại thể của khối u trực tràng
Dạng đại thể của khối u Số bệnh nhân (n= 75)
Tỷ lệ %

Thể sùi
56
74,7
Thể loét
4
5,3
Thể thâm nhiễm
7
9,3
Thể loét sùi
8
10,7
Tổng
75
100,0
Hình ảnh đại thể trên nội soi cho thấy đa số khối u ở thể sùi
chiếm 74,7% và thể loét sùi chiếm 10,7%.
Bảng 3.6. Mức độ gây hẹp lòng trực tràng
Mức độ gây hẹp
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
(n= 75)
Không gây hẹp
0
0
Gây hẹp ≤ ¼ chu vi
23
30,7
¼ chu vi < mức độ hẹp ≤ ½ chu
36

48,0
vi
½ chu vi < mức độ hẹp ≤ ¾ chu
16
21,3
vi
Cộng
75
100,0


10
100% khối u gây hẹp lòng trực tràng ở các mức độ khác
nhau, trong đó 78,7% khối u gây hẹp dưới ½ chu vi trực tràng.
3.1.4. Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính
Trong số 75 bệnh nhân, có 52 bệnh nhân chiếm 69,3% được chụp
phim CLVT ổ bụng trước khi phẫu thuật.
Bảng 3.8. Đặc điểm hình ảnh khối u trên phim chụp cắt lớp vi tính
Đặc điểm hình ảnh
Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Sùi vào lòng trực tràng
36
69,2
Hình thể
Thâm nhiễm
16
30,8
khối u
Cộng
52

100,0
T1 và T2
17
32,7
23
44,2
Giai đoạn T3
T
T4
12
23,1
Cộng
52
100,0
N0
34
65,4
Giai đoạn
N1
18
34,6
N
Cộng
52
100
Chủ yếu khối u sùi vào lòng trực tràng (69,2%), ở giai đoạn
T3 và T4 (67,3%) và 34,6% có hạch xung quanh.
3.1.5. Hình ảnh siêu âm nội soi
Biểu đồ 3.5. Đặc điểm âm của khối u trên SANS
54 bệnh nhân (72%) khối u có tính chất giảm âm.



11
Bảng 3.9. Đặc điểm xâm lấn khối u trên siêu âm nội soi
Số bệnh nhân
Đặc điểm xâm lấn
Tỷ lệ %
(n= 75)
Đến lớp dưới niêm mạc
10
13,3
Đến lớp cơ
26
34,7
Đến thanh mạc và dưới thanh
29
38,7
mạc
Đến mỡ và tổ chức xung quanh
10
13,3
Cộng
75
100,0
Đa số khối u xâm lấn đến lớp cơ (34,7%) và thanh mạc
(38,7%). Có 13,3% khối u xâm lấn tổ chức mỡ xung quanh.
Bảng 3.10. Đặc điểm di căn hạch trên siêu âm nội soi
Đặc điểm xâm lấn hạch
Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Không

49
65,3
Xâm lấn hạch

26
34,7
1 hạch
5
19,2
2 hạch
7
26,9
Số lượng hạch
3 hạch
8
30,8
4- 6 hạch
6
23,1
Cộng
26
100,0
Kích thước hạch
0,97 ± 0,17 (0,58 – 1,25) cm
SANS phát hiện 26 trường hợp chiếm 34,7% có hạch.
Bảng 3.11. Phân loại giai đoạn TNM bằng siêu âm nội soi
Phân loại TNM
Số bệnh nhân (n= 75)
Tỷ lệ %
T1

10
13,3
T2
26
34,7
T3
29
38,7
T
T4
10
13,3
Cộng
75
100,0
N0
49
65,3
N1
20
26,7
N
N2
6
8,0
Cộng
75
100,0
86,7% số khối u còn khu trú ở thành trực tràng; tỷ lệ di căn
hạch cũng chiếm tới 34,7%.



12
3.1.6. Đặc điểm mô bệnh học sau phẫu thuật
3.1.6.1. Đặc điểm mô bệnh học
Biểu đồ 3.6. Chẩn đoán độ biệt hóa tế bào khối u bằng mô bệnh học
65 bệnh nhân (86,7%) có khối u ở thể biệt hóa mức độ vừa.
Bảng 3.12. Phân loại giai đoạn TNM theo mô bệnh học sau mổ
Phân loại TNM
Số bệnh nhân (n= 75)
Tỷ lệ %
T1
9
12,0
T
T2
28
37,3
T3
32
42,7
T4
6
8,0
N0
56
74,7
N
N1
18

24,0
N2
1
1,3
M0
75
100,0
M
M1
0
0,0
Tỷ lệ khối u đã xâm lấn đến thanh mạc (T1-T3) là 92,0%; chỉ
có 6 trường hợp (chiếm 8%) xâm lấn ra ngoài thành trực tràng, tỷ lệ
di căn hạch cũng chiếm tới 25,3%; 100% chưa có di căn xa.
Bảng 3.13. Chẩn đoán giai đoạn bệnh theo mô bệnh học sau mổ
Giai đoạn bệnh
Số bệnh nhân (n= 75)
Tỷ lệ %
Giai đoạn 1
32
42,7
Giai đoạn 2
24
32,0
Giai đoạn 3
19
25,3
Tổng
75
100.0

Bệnh nhân ở giai đoạn I chiếm tỷ lệ cao nhất 42,7%; số bệnh
nhân giai đoạn 2 cũng chiếm 32%.
3.1.6.2. Đối chiếu hình ảnh nội soi thường với mô bệnh học
Bảng 3.14. Hình dạng u trên nội soi với độ xâm lấn mô bệnh học
MBH
Khu trú
Xâm lấn TCXQ
Cộng
p
Nội soi
n
%
n
%
n
%
Thể sùi
52
92,9
4
7,1
56 100,0
Thể loét
4
100,0
0
0,0
4
100,0
0,2

Thể thâm
5
7
100,0
0
0,0
7
100,0
nhiễm
Thể loét sùi
6
75,0
2
25,0
8
100,0


13
Cộng
69
92,0
6
8,0
75 100,0
100% các khối u ở thể loét và thể thâm nhiễm còn khu trú.
Bảng 3.17. Đối chiếu kích thước khối u trên nội soi
với mức độ xâm lấn mô bệnh học
MBH
Khu trú

Xâm lấn TCXQ
Cộng
p
Nội soi
n
%
n
%
n
%
< 4 cm
36 92,3
3
7,7
39
100,0
4 - < 8 cm
30 96,8
1
3,2
31
100,0
0,02*
≥ 8cm
3
60,0
2
40,0
5
100,0

Cộng
69 92,0
6
8,0
75
100,0
Tỷ lệ xâm lấn tổ chức xung quanh cao nhất ở nhóm khối u có
kích thước ≥ 8cm.
3.1.6.3. Đối chiếu hình ảnh cắt lớp vi tính với mô bệnh học
Bảng 3.18. Đối chiếu hình dạng u trên cắt lớp vi tính với mức độ
xâm lấn trên mô bệnh học
Khu trú
Xâm lấn
Cộng
p
TCXQ
MBH
n
%
n
%
n
%
CLVT
Thể sùi
31 86,1 5
13,9
36
100,0
0,65*

Thể thâm nhiễm
15 93,8 1
6,2
16
100,0
Cộng
46 88,5 6
11,5
52
100,0
Không thấy sự liên quan giữa hình dạng u trên phim chụp
CLVT với mức độ xâm lấn trên MBH.


14
Bảng 3.19. Kết quả chẩn đoán xâm lấn trên căt lớp vi tính với
mô bệnh học
MBH
Khu trú
Xâm lấn TCXQ
Cộng
p
CLVT
n
%
n
%
n
%
Khu trú

39
84,8
1
16,7
40 76,9
0,002*
Xâm lấn
7
15,2
5
83,3
12 23,1
TCXQ
Cộng
46 100,0
6
100,0
52 100,0
Trong chẩn đoán xâm lấn thành của CLVT: Độ nhậy: 84,8%;
Độ đặc hiệu: 83,3%; Độ chính xác: 84,6%; Giá trị tiên đoán dương:
97,5%; Giá trị tiên đoán âm: 41,7%.
Bảng 3.20. Kết quả chẩn đoán hạch trên cắt lớp vi tính với
mô bệnh học
MBH Hạch không
Hạch
Cộng
p
ung thư
ung thư
CLVT

n
%
n
%
n
%
Không thấy
30
4
34
0,002
hạch
78,9
28,6
65,4
*
Thấy hạch
8
21,1
10
71,4
18
34,6
Cộng
100,
38
14
52
100,0
0

100,0
Trong chẩn đoán di căn hạch của chụp CLVT: Độ nhạy:
71,4%; Độ đặc hiệu: 78,9%. Độ chính xác:76,9%. Giá trị tiên đoán
dương: 55,6%. Giá trị tiên đoán âm: 88,2%.
3.2. Đánh giá kết quả chẩn đoán của siêu âm nội soi trong xác
định giai đoạn ung thư trực tràng
3.2.1. Đối chiếu hình ảnh siêu âm nội soi với một số đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.22. Di căn hạch trên siêu âm nội soi với đặc điểm lâm sàng
Không

p
Di căn hạch
Lâm sàng
n
%
n
%
Đau bụng
Không
22
44,9
12
46,2
vùng hạ vị

27
55,1
14
53,8
0,92*

Cộng
49
100,0
26
100,0
Đại tiện
Không
9
18,4
8
30,8
0,22*
phân có máu

40
81,6
18
69,2


15
Cộng
49
100,0
26
100,0
Không
35
71,4
16

61,5

14
28,6
10
38,5
0,38*
Cộng
49
100,0
26
100,0
Không
49
100,0
21
80,8
0,001
Táo bón

0
0,0
5
19,2
**
Cộng
49
100,0
26
100,0

Không
36
73,5
17
65,4
Sút cân

13
26,5
9
34,6
0,46*
Cộng
49
100,0
26
100,0
Không
27
55,1
16
61,5
Thăm trực

22
44,9
10
38,5
0,59*
tràng có u

Cộng
49
100,0
26
100,0
Bệnh nhân có táo bón xâm lấn hạch tỷ lệ cao hơn (p=0,001).

Đại tiện
nhiều lần
trong ngày

3.2.2. Đối chiếu hình ảnh siêu âm nội soi với xét nghiệm máu
3.2.3. Đối chiếu hình ảnh siêu âm nội soi với hình ảnh nội soi
Bảng 3.25. Mức độ xâm lấn u trên siêu âm nội soi với
hình ảnh nội soi
Khu trú
Xâm lấn TCXQ
Hình ảnh SANS
P
(n=65)
(n=10)
Hình ảnh nội soi
n
%
n
%
1/3 dưới
20
30,8
3

30,0
Vị trí u
1/3 giữa
23
35,4
4
40,0
0,96*
1/3 trên
22
33,8
3
30,0
Thể sùi
49
75,4
7
70,0
Thể loét
4
6,2
0
0,0
Hình dạng
0,12*
Thâm nhiễm
7
10,8
0
0,0

Loét sùi
5
7,7
3
30,0
< 4cm
37
56,9
2
20,0
Đường kính
4 – 8cm
26
40,0
5
50,0
0,003*
lớn nhất
≥ 8cm
2
3,1
3
30,0
¼ chu vi
20
30,8
3
30,0
Mức độ gây
½ chu vi

35
53,8
1
10,0
0,003*
hẹp
¾ chu vi
10
15,4
6
60,0


16
Tỷ lệ xâm lấn TCXQ trên SANS tăng dần theo mức độ gây
hẹp của khối u trên nội soi thường (p=0,003).


17
Bảng 3.26. Mức độ xâm lấn hạch trên siêu âm nội soi với
hình ảnh nội soi
Có (n=26)
p
SANS Không (n=49)
Nội soi
n
%
n
%
1/3 dưới

16
32,7
7
26,9
Vị trí u
1/3 giữa
17
34,6
10
38,5 0,87*
1/3 trên
16
32,7
9
34,6
Thể sùi
35
71,4
21
80,8
Hình
Thể loét
4
8,2
0
5,3
0,03*
dạng
Thâm nhiễm
7

14,3
0
0,0
Loét sùi
3
6,1
5
19,2
< 4cm
28
57,1
11
42,3
Đường
kính lớn
4 – 8cm
20
40,8
11
42,3 0,07*
nhất
≥ 8cm
1
2,1
4
15,4
¼ chu vi
14
28,6
9

34,6
Mức độ
½ chu vi
28
57,1
8
30,8 0,05*
gây hẹp
¾ chu vi
7
14,3
9
34,6
Tỷ lệ phát hiện hạch trên SANS thường gặp ở khối u có hình
ảnh sùi, hoặc loét sùi (p=0,03).
3.2.4. Đối chiếu hình ảnh siêu âm nội soi với cắt lớp vi tính
Bảng 3.27. Kết quả chẩn đoán mức độ xâm lấn bằng siêu âm nội soi
với cắt lớp vi tính
SA
Khu trú
Xâm lấn
p
Hệ số
NS
TCXQ
Kappa
n
%
n
%

CLVT
Khu trú
37
86,0
3
33,3
0,003*
0,47
Xâm lấn TCXQ
6
14,0
6
66,7
Cộng
43
100,0
9
100,0
Trong chẩn đoán mức độ xâm lấn thành của khối u giữa
SANS và CLVT có sự tương hợp mức độ khá giữa 2 phương pháp
với hệ số phù hợp chẩn đoán Kappa = 0,47 và p = 0,003.


18
Bảng 3.28. Kết quả chẩn đoán xâm lấn hạch bằng siêu âm nội soi với
cắt lớp vi tính
SANS
Không

p

Hệ số
Kappa
n
%
n
%
CLVT
Không
28
84,8
6
31,6
<
0,54
0,001*

5
15,2
13
68,4
Cộng
33
100,0
19
100,0
Sự tương hợp mức độ khá giữa 2 phương pháp với hệ số phù
hợp chẩn đoán Kappa = 0,54 và p < 0,001.
3.2.5. Đối chiếu hình ảnh siêu âm nội soi với kết quả mô bệnh học
Bảng 3.29. Mức độ xâm lấn u trên siêu âm nội soi
với mô bệnh học

Khu trú
Xâm lấn TCXQ
p
Xâm lấn u
MBH
n
%
n
%
Biệt hóa cao
5
7,7
2
20,0
58
89,2
7
70,0
Độ biệt Biệt hóa vừa
0,25*
hóa
Biệt hóa thấp
2
3,1
1
10,0
Cộng
65
100,0
10

100,0
Giai đoạn 1
30
46,2
2
20,0
Giai
Giai đoạn 2
22
33,8
2
20,0
đoạn
0,03*
Giai đoạn 3
13
20,0
6
60,0
bệnh
Cộng
65
100,0
10
100,0
Khối u ở giai đoạn III có xu hướng xâm lấn TCXQ trên
SANS cao hơn giai đoạn I và II (p=0,03).
Bảng 3.31. Kết quả chẩn đoán giai đoạn T bằng siêu âm nội soi
với mô bệnh học
Giai đoạn T

MBH
Ngưỡng
p
SANS

SL

T1

T2

T3

T4

T1
T2
T3
T4

10
26
29
10

8
1
0
0


2
22
2
2

0
3
26
3

0
0
1
5

Vượt
ngưỡng
0%
3,8%
6,9%
50%

Dưới
ngưỡng
20%
11,5%
3,4%
0%

<0,001*



19
Trong chẩn đoán mức độ xâm lấn u, SANS có xu hướng chẩn
đoán vượt ngưỡng cho các khối u từ T2 trở lên (p<0,001).Bảng 3.32.
Kết quả chẩn đoán xâm lấn bằng siêu âm nội soi với mô bệnh học
MBH
Khu trú
Xâm lấn
Cộng
p
TCXQ
SANS
n
%
n
%
n
%
Khu trú
64
92,8
1
16,7
65
86,7
Xâm lấn TCXQ
5
7,2
5

83,3
10
13,3
<0,001*
Cộng
69
100,0
6
100,0
75
100,0
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác chung của SANS trong
chẩn đoán mức độ xâm lấn của khối u là 83,3%, 92,8% và 92% tương
ứng.
Giá trị tiên đoán dương: 98,5%, Giá trị tiên đoán âm: 50%.
Bảng 3.33. Kết quả chẩn đoán giai đoạn T1 bằng siêu âm nội soi
MBH Không phải T1
T1
Cộng
p
SANS
n
%
n
%
n
%
Không phải T1
64
97,0

1
11,1
65
86,7
T1
2
3,0
8
88,9
10
13,3
<0,001*
Cộng
66
100,0
9
100,0 75 100,0
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn
đoán giai đoạn T1 của khối u là 88,9%, 97% và 96% tương ứng.
Bảng 3.34. Kết quả chẩn đoán giai đoạn T2 bằng siêu âm nội soi
MBH Không phải T2
T2
Cộng
p
SANS
n
%
n
%
n

%
Không phải T2
43
91,5
6
21,4
49
65,3
T2
4
8,5
22
78,6
26
34,7
0,03*
Cộng
47
100,0
28 100,0
75
100,0
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn đoán giai
đoạn T2 của khối u là 78,6%, 91,5% và 86,7% tương ứng.
Bảng 3.35. Kết quả chẩn đoán giai đoạn T3 bằng siêu âm nội soi
MBH Không phải T3
T3
Cộng
p
SANS

n
%
n
%
n
%
Không phải T3
40
93,0
6
18,8
46
61,3
T3
3
7,0
26
81,2
29
38,7
<0,001*
Cộng
43
100,0
32 100,0 75
100,0


20
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn

đoán giai đoạn T3 của khối u là 81,2%, 93,0% và 88% tương ứng.


21
Bảng 3.36. Kết quả chẩn đoán giai đoạn T4 bằng siêu âm nội soi
MBH Không phải T4
T4
Cộng
p
SANS
n
%
n
%
n
%
Không phải T4
64
92,8
1
16,7
65
86,7
T4
5
7,2
5
83,3
10
13,3

<0,001*
Cộng
69
100,0
6 100,0
75
100,0
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn
đoán giai đoạn T4 của khối u là 83,3%, 92,8% và 92% tương ứng.
Bảng 3.37. Kết quả chẩn đoán hạch trên siêu âm nội soi
so với mô bệnh học
MBH
Không ung
Hạch ung
Cộng
p
thư
thư
SANS
n
%
n
%
n
%
Không thấy hạch
44
78,6
5
26,3

49
65,3
0,002
*
Thấy hạch
12
21,4
14
73,7
26
34,7
Cộng
56
100,0
19 100,0 75
100,0
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn
đoán hạch là 73,7%; 78,6% và 77,3% tương ứng. Giá trị tiên đoán
dương: 53,8%. Giá trị tiên đoán âm: 89,8%.
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, siêu âm nội
soi và mô bệnh học của ung thư trực tràng
4.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới
Bệnh nhân >40 tuổi chiếm 98,7%, chủ yếu bệnh nhân trong
độ tuổi 50-80 tuổi chiếm 82,6%; Tuổi trung bình 64,3 ± 11,1. Tỷ lệ
nam/nữ = 1,21.
4.1.2. Các triệu chứng lâm sàng
Phần lớn bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có
triệu chứng đại tiện phân nhầy máu, chiếm 77,3%. Bên cạnh đó

chúng tôi cũng gặp một số triệu chứng khác như đau bụng vùng hạ vị
gặp ở 54,7%; đại tiện nhiều lần gặp ở 32% số bệnh nhân; sút cân gặp
29,3% và táo bón chỉ gặp với tỷ lệ thấp 6,7%. Trong 75 bệnh nhân,
thăm trực tràng bằng tay phát hiện u trực tràng ở 32 trường hợp


22
chiếm 42,7%. Nhìn chung triệu chứng lâm sàng của UTTT đa dạng, dễ
nhầm lẫn với biểu hiện của các bệnh lý khác ở đại tràng, nhưng hay gặp
là các dấu hiệu: đại tiện phân nhầy máu, đại tiện nhiều lần, biến đổi
khuôn phân...
4.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng
4.1.4. Hình ảnh nội soi
Vị trí khối u trên nội soi
Xác định vị trí của khối u trực tràng, hay chính xác hơn là khoảng
cách khối u so với rìa hậu môn là hết sức cần thiết. Để phẫu thuật viên
đưa ra phương pháp phẫu thuật phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy
bệnh nhân cho thấy khối u ở 1/3 giữa trực tràng chiếm 36%; 1/3 trên
(33,3%) và 1/3 dưới 30,7%.
Hình ảnh đại thể của khối u
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hình ảnh đại thể trên nội soi
cho thấy đa số khối u ở thể sùi chiếm 74,7% và thể loét sùi chiếm
10,7%; thể loét 5,3% và thể thâm nhiễm 9,3%. Trong đó đáng chú ý
thể thâm nhiễm rất dễ bỏ sót khi nội soi đại trực tràng (đặc biệt là khi
chuẩn bị đại tràng chưa sạch và tổn thương chưa tiến triển xa đến
mức độ gây chít hẹp lòng đại tràng và thao tác rút máy quá nhanh).
Một số ít trường hợp tổn thương dạng thâm nhiễm này đã bị bỏ sót ở
lần nội soi đại trực tràng đầu tiên, nhưng nhờ có triệu chứng lâm sàng
nghi ngờ, kết hợp thêm hình ảnh trên SANS khá rõ ràng nên được thực
hiện nội soi đại trực tràng lần 2 và phát hiện được tổn thương.

Kích thước của khối u
Trong nghiên cứu của chúng tôi, khối u có kích thước lớn
nhất < 4 cm chiếm 52%; tiếp đến là các khối u có kích thước 4 - < 8
cm chiếm 41,3%.100% khối u gây hẹp lòng trực tràng ở các mức độ
khác nhau, trong đó 78,7% khối u gây hẹp dưới ½ lòng trực tràng.
4.1.5. Hình ảnh cắt lớp vi tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 52 bệnh nhân được chụp
CLVT trước phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu cho thấy trên phim chụp
CLVT chủ yếu khối u sùi vào lòng trực tràng (69,2%), ở giai đoạn T3
và T4 (67,3%) và 34,6% có hạch xung quanh.
4.1.6. Đặc điểm mô bệnh học
Mức độ biệt hóa
Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu này khi làm MBH đều cho
kết quả là ung thư biểu mô tuyến trực tràng. Trong nghiên cứu của


23
chúng tôi, kết quả MBH cho thấy đa số bệnh nhân có khối u ở thể
biệt hóa mức độ vừa (86,7%); mức độ biệt hóa kém chiếm 4,0% và
biệt hóa cao chỉ có 9,3%.
Mức độ xâm lấn của khối u so với thành ruột
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số khối u đã xâm lấn đến lớp
cơ và lớp thanh mạc (T2 và T3) chiếm 80%; tỷ lệ di căn hạch cũng
chiếm tới 25,3%; không có trường hợp nào có di căn xa.
Phân chia giai đoạn theo TNM
Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân ở giai đoạn I
chiếm 42,7%; số bệnh nhân giai đoạn II chiếm 32%; 25,3% bệnh
nhân ở giai đoạn III. Không có trường hợp nào ở giai đoạn IV. Nhiều
nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nhận thấy bệnh nhân được
chẩn đoán sớm ở giai đoạn I, II có tiên lượng tốt hơn nhiều so với

bệnh nhân ở giai đoạn III và IV.
4.1.7. Hình ảnh siêu âm nội soi
Mật độ âm của khối u
Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu khối u có tính chất
giảm âm (72%). Trên SANS các khối u thường xuất hiện là một khối
giảm âm. Đây là cấu trúc âm thường gặp ở các loại u tân sinh. Mật độ
âm còn có thể là tăng âm hoặc hỗn hợp âm (tức là có vùng tăng âm
xen lẫn vùng giảm âm lộn sộn). Mật độ âm giảm là biểu hiện của các
vùng mô tân sinh bất thường, giầu mạch máu. Tuy nhiên nếu có xen
lẫn nhiều tổ chức xơ trong đó thì làm cấu trúc mô u sẽ tăng âm hơn.
Mức độ xâm lấn của khối u
Đánh giá mức độ xâm lấn của khối u bằng SANS là dựa vào
mức độ xâm lấn của khối u so với thành trực tràng. Dựa vào cấu trúc
này, khi tiến hành SANS cho 75 trường hợp u trực tràng chúng tôi
nhận thấy chỉ có 10 bệnh nhân chiếm 13,3% khối u xâm lấn đến lớp
dưới niêm mạc; còn phần lớn khối u xâm lấn đến lớp cơ và thanh
mạc (34,7% và 38,7% tương ứng). 13,3% số khối u xâm lấn mỡ và tổ
chức xung quanh. Như vậy không có trường hợp nào khối u còn khu
trú ở lớp niêm mạc và cơ niêm, đồng nghĩa với việc không có bệnh
nhân nào có chỉ định điều trị cắt tách niêm mạc qua nội soi mà tất cả
đều có chỉ định điều trị phẫu thuật triệt căn. Khi phân chia mức độ
xâm lấn của khối u theo giai đoạn TNM trên SANS chúng tôi nhận
thấy đa số khối u đã xâm lấn đến lớp cơ là 34,7% (giai đoạn T2), đến
lớp thanh mạc và vượt qua thanh mạc là 38,7%, chỉ có 13,3% khối u


24
ở giai đoạn T4 và 13,3% khối u ở giai đoạn T1. Trong nghiên cứu của
chúng tôi chưa phát hiện được trường hợp nào ở giai đoạn Tis.
Mức độ xâm lấn hạch

Trong nghiên cứu của chúng tôi trên SANS phát hiện 26
trường hợp chiếm 34,7% có hạch quanh trực tràng, trong đó 20/26
trường hợp số lượng hạch ≤ 3.
4.2. Kết quả chẩn đoán của siêu âm nội soi trong xác định giai
đoạn ung thư trực tràng
4.2.1. Kết quả siêu âm nội soi trong đánh giá mức độ xâm lấn
thành
Kết quả đánh giá mức độ xâm lấn của khối u ở 75 trường hợp
chúng tôi nhận thấy độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của SANS
trong chẩn đoán mức độ xâm lấn của khối u là 83,3%, 92,8% và 92%
tương ứng. Giá trị tiên đoán dương 98,5%. Giá trị tiên đoán âm 50%.
Khi phân tích riêng giá trị của SANS trong chẩn đoán từng
giai đoạn T chúng tôi nhận thấy, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác
của SANS trong chẩn đoán giai đoạn T1 của khối u là 88,9%, 97% và
96%; trong chẩn đoán giai đoạn T2 là 78,6%, 91,5% và 86,7%; trong
chẩn đoán giai đoạn T3 là 81,2%, 93,0% và 88%; trong chẩn đoán
giai đoạn T4 là 83,3%, 92,8% và 92% tương ứng. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của
SANS là cao nhất khi chẩn đoán giai đoạn khối u ở T1 và giai đoạn
khối u ở T4. Với các khối u ở T2 và T3, giá trị chẩn đoán có phần
thấp hơn. Kết quả này cho thấy SANS có lợi thế hơn CLVT khi phân
tách được độ sâu xâm lấn tới từng lớp của thành trực tràng, trong khi
trên hình ảnh của chụp CLVT không thể phân tách được giai đoạn T1
và T2. Do vậy, đối với UTTT, chụp CLVT có giá trị xác định khối u
còn khu trú hay đã xâm lấn rộng ra xung quanh và có di căn xa
không. Kết quả SANS đánh giá chung về xâm lấn tại chỗ cao hơn
khi so với chụp CLVT. Tuy vậy trong chẩn đoán mức độ xâm lấn của
UTTT giữa SANS và CLVT có sự tương hợp mức độ khá giữa 2
phương pháp với hệ số phù hợp chẩn đoán Kappa = 0,47 và p =
0,003.

Qua phân tích các dữ liệu trên, kết quả nghiên cứu cho thấy
SANS là phương pháp chẩn đoán rất hiệu quả trong đánh giá độ xâm
lấn của UTTT, góp phần chẩn đoán giai đoạn bệnh. Từ đó giúp ích
rất nhiều cho các nhà lâm sàng có chiến lược điều trị cho người bệnh.


25
4.2.2. Giá trị của siêu âm nội soi trong chẩn đoán mức độ xâm lấn
hạch
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở 75 bệnh nhân, độ nhạy, độ
đặc hiệu và độ chính xác của SANS trong chẩn đoán hạch là 73,7%;
78,6% và 77,3% tương ứng.Giá trị tiên đoán dương: 53,8%. Giá trị
tiên đoán âm: 89,8%. Kết quả này cao hơn so với CLVT. Trong chẩn
đoán mức độ xâm lấn hạch giữa SANS và CLVT có sự tương hợp
mức độ trung bình giữa 2 phương pháp với hệ số phù hợp chẩn đoán
Kappa = 0,54 và p < 0,001.
4.2.3. Các giá trị khác của siêu âm nội soi
4.2.4. Đánh giá ưu nhược điểm của siêu âm nội soi
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 75 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến trực
tràng điều trị phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện E từ 3/2013 – 3/2019,
chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, siêu âm nội soi
và mô bệnh học của ung thư trực tràng
* Đặc điểm lâm sàng
+ Bệnh nhân ≥ 40 tuổi chiếm 98,7%, tuổi trung bình 64,3 ± 11,1,
tỷ lệ nam/nữ = 1,21.
+ Triệu chứng lâm sàng hay gặp: đại tiện phân nhầy máu:
77,3%; đau bụng vùng hạ vị: 54,7%; đại tiện nhiều lần: 32%; gầy sút
cân: 29,3%.

+ Thăm trực tràng bằng tay phát hiện u: 42,7%.
* Hình ảnh nội soi
+ Chủ yếu khối u ở thể sùi: 74,7% và thể loét sùi: 10,7%.
+ Khối u ở 1/3 giữa: 36% và 1/3 dưới trực tràng: 33,3%.
+ Đa số khối u có kích thước < 4 cm chiếm: 52%.
+ 100% khối u gây hẹp trực tràng; 78,7% khối u gây hẹp dưới ½
trực tràng.


×