Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ Giúp học sinh yêu thích môn học lịch sử ở trường trung học cơ sở theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (252.01 KB, 29 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG
TRƯỜNG THCS SONG MAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ Giúp học sinh yêu thích môn học lịch sử ở trường trung học
cơ sở theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”.

Giáo viên: Lương Thị Bồng
Tổ: KHXH
Trường: THCS Song Mai
Địa chỉ: Xã Song Mai – TP Bắc Giang.

Năm học: 2017 – 2018


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

1. Đặt vấn đề.
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn phát triển
và truyền bá tri thức nhân loại. Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ
hiện nay, trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển giáo dục
và đào tạo, được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia trên
trường quốc tế và sự thành đạt của mỗi người trong cuộc sống. Chính vì vậy,
chính phủ và nhân dân đánh giá cao vai trò của giáo dục và đào tạo, coi Giáo
dục là quốc sách hàng đầu và tiến hành cải cách Giáo dục
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng, nó cung
cấp cho người học những kiến thức cơ bản về lịch sử phát triển của xã h ội
loài người và lịch sử dân tộc, Trên cơ sở đó giáo dục, khơi dậy những tình
cảm, tư tưởng, đạo đức làm chuẩn mực cho mọi hành vi trong cuộc sống, góp


phần phát triển toàn diện học sinh. Dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói
chung, lịch sử lớp 7 nói riêng học sinh phải nắm vững các sự kiện, các mốc
thời gian, phải biết so sánh các sự kiện, … từ đó có cái nhìn khái quát quá
trình lịch sử mà mình đã học. Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, việc
phát huy tính tích cực học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập
bộ môn đang là mối quan tâm hàng đầu.
Đối với môn học lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn khơi dậy
niềm tự hào dân tộc ở người học, cung cấp cho họ nền tảng văn hóa - điều rất
cần thiết trong thời kì đất nước đang hội nhập sâu rộng với quốc tế. Hiện nay,
môn học này đã được quan tâm đầu tư đúng mức hay chưa, là điều mà dư
luận đang đặt nhiều tranh cãi. Nhất là khi có không ít học sinh không còn yêu
thích, hào hứng với việc học lịch sử.
Riêng với bộ môn lịch sử, người giáo viên cũng không ngừng tìm kiếm,
vận dụng các biện pháp để phát huy vai trò chủ thể của học sinh, nâng cao
chất lượng giáo dục. Trong quá trình dạy học lịch sử lớp 7 tại Trường THCS
Song Mai tôi đã không ngừng đi sâu vào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế của các em học sinh để có biện pháp khắc phục cũng như tìm
2


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

tòi, vận dụng nhiều biện pháp khác nhau vào việc hướng dẫn học sinh khám
phá những tri thức mới. Từ đó nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn lịch sử. Trải
qua ba năm liên tục giảng dạy lịch sử lớp 7 tôi đã tích lũy được cho mình rất
nhiều kinh nghiệm dạy học về phương pháp và kĩ năng để phát huy tính tích
cực của học sinh cũng như nâng cao chất lượng bộ môn.
Từ thực tiễn trên tôi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm “Giúp học sinh

yêu thích môn lịch sử ở trường THCS theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh”. Qua đó, giúp các em hứng thú, yêu thích hơn với bộ môn lịch sử.
Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này thì đối tượng nghiên cứu của
tôi là các em học sinh lớp 7A, 7B của trường THCS Song Mai, thành phố Bắc
Giang. Phạm vi nghiên cứu là một số tiết trong chương trình lịch sử lớp 7.
2. Giải quyết vấn đề.
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề:
Theo ý kiến của các chuyên gia lịch sử, việc dạy lịch sử thiếu hấp dẫn
mới là nguyên nhân khiến giới trẻ không thích học sử. Sự động viên, khích lệ
của người lớn là rất cần thiết để cổ vũ niềm đam mê lịch sử của các em.
Hiện nay, học sinh phổ thông có quá nhiều môn học, trong đó, riêng
sách giáo khoa (SGK) lịch sử đã rất nặng, nhiều sự kiện, nhiều dữ liệu mà
trong một thời gian ngắn học sinh không thể hấp thu nổi. Như vậy thì dù
muốn đam mê với sử cũng thật khó. Việc giảm tải chương trình học, cũng như
đổi mới SGK trở thành yêu cầu tất yếu để tạo dựng niềm đam mê sử cho các
em. Đã từng nhiều năm làm công tác giảng dạy tôi thấy rằng, chương trình
học hiện nay nhồi nhét kiến thức nhiều. Việc chạy đua với nội dung kiến thức
cho đủ thời lượng đã khiến cho các tiết học lịch sử như một cực hình với các
em. Học sinh không có thời gian thẩm thấu, liên hệ, so sánh, phân tích các sự
kiện lịch sử nhiều. Đôi khi học như “Cỡi ngựa xem hoa” mà thôi. Bởi vậy, các
em không hề nhớ gì về các sự kiện, nhân vật lịch sử dẫn tới nhầm lẫn nghiêm
trọng các sự kiện, nhân vật lịch sử theo hướng “ Dâu ông nọ cắm cằm bà kia”.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
3


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.


2.2.1. Thuận lợi :
* Về phía giáo viên :
- Đại đa số giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp
dạy học như phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, phương
pháp trường hợp(phương pháp tình huống ),phương pháp vấn đáp thông qua
sự trình bày sinh động giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả,
kể chuyện, hoặc nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử....
- Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến thức
cho nhau và thông qua hoạt động này những bạn yếu kém được hoạt động
một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn học sinh khá
giỏi và học sinh nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản chất của sự kiện,
hiện tượng lịch sử......
- Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dùng dạy học,
khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiên dạy học như tranh ảnh,
bản đồ, sa bàn, mô hình, phim đèn chiếu, phim vi deo....và từng bước ứng
dụng công nghệ thông tin phù hợp trong dạy học lịch sử...
* Về phía học sinh :
- Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi
mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi
cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn.
- Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiêụ quả cao
trong quá trình lĩnh hội kiến thức .
- Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơ
bản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo
khoa...các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện,
nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình.
2.2.2. Khó khăn :
4



GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

* Về phía giáo viên :
Về đội ngũ giáo viên dạy bộ môn lịch sử ở trường THCS: Do hoàn
cảnh lịch sử để lại nhiều giáo viên dạy lịch sử không được đào tạo bài bản,
chuyên sử. Phần lớn là giáo viên kiêm nhiệm như: văn - sử, sử - địa hay sử giáo dục công dân. Điều này khiến cho việc đổi mới phương pháp gặp rất
nhiều khó khăn.
Thực tiễn giảng dạy: Nhiều giáo viên trong quá trình dạy lịch sử lại
cho rằng đây là môn phụ học sinh không học nên cũng không cần dạy nhiều.
Họ chỉ đưa ra một số nội dung trong sách giáo khoa mà không có sự đi sâu,
mở rộng, liên hệ, không xây dựng các hình ảnh nhân vật lịch sử cho các em.
Chính vì vậy các tiết học lịch sử trở nên nhàm chán, mờ nhạt, lặp đi lặp lại
với việc đọc – chép.
Vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương
pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt động của
học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức
như vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe ”, “thầy đọc,
trò chép ”. Do đó nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học
thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn
toàn ...
* Về phía học sinh :
Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn
sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy . Một số học sinh còn
đọc nguyên xi sách giáo khoa để trả lời câu hỏi mà không có sự quan sát,
phân tích trên đồ dùng trực quan. Bởi vậy đa số các em chưa có khả năng
phân tích, tổng hợp, đánh giá các sự kiện lịch sử. Thậm chí còn nhiều em ghi
nhớ sự kiện lịch sử một cách máy móc dẫn đến sự nhầm lẫn tai hại về các

mốc thời gian hay có cái nhìn sai lệch, phiến diện về sự kiện lịch sử hay các
nhân vật lịch sử...
* Điều tra cụ thể :
5


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Bản thân tôi đảm nhận việc giảng dạy môn lịch sử lớp 7A và lớp 7B
.Trong quá trình giảng dạy với ý thức vừa nghiên cứu đặc điểm tình hình học
tập bộ môn của học sinh vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy.Việc
điều tra được thực hiện thông qua hỏi đáp với những câu hỏi phát triển tư duy
học sinh ở trên lớp, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45 phút ...
Kết quả điều tra tôi nhận thấy đa số học sinh chỉ trả lời được những câu
hỏi mang tính chất trình bày, còn những câu hỏi giải thích tại sao, so sánh,
đánh giá nhận thức thì các em còn rất lúng túng khi trả lời. Do vậy kết quả
điều tra cũng không cao . Cụ thể :

Lớp SLHS
7A
7B

31
31

Giỏi
SL %
5

16.1
4
12.9

Khá
SL %
11
35.5
13
41.9

Tb
SL
14
12

Yếu
%
SL %
45.2 1
3.2
38.7 2
6.5

Kém
SL
%
0
0
0

0

2.3.Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Lí do:
Từ thực tiễn nêu trên và qua quá trình giảng dạy tôi đã tìm ra một số
giải pháp mà tôi áp dụng có hiệu quả. Tôi tổng kết lại thành một đề tài nho
nhỏ muốn trao đổi với đồng nghiệp, hy vọng đóng góp chút ít cho công tác
giảng dạy môn lịch sử ở trường THCS .
Nội dung đề tài tôi làm là : “Giúp học sinh yêu thích lịch sử ở trường
THCS theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”. Ở đề tài này tôi xin
giới thiệu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử lớp 7
tại trường THCS Song Mai. Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi xin trình
bày bốn vấn đề sau:
1. Giải thích thuật ngữ.
2. Nhận ra sự giống nhau và khác nhau
3. Lập dàn ý.
4. Dạy học theo hướng tích hợp.
2.3.2. Nội dung:
a. Giải thích thuật ngữ
6


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Hiện nay, tại nhiều trường vùng sâu, vùng xa có một đặc điểm là nhìn
chung học sinh tương đối nghèo vốn từ, dẫn đến không hiểu hoặc hiểu sai
nghĩa của từ. Bên cạnh nguyên nhân khách quan là các em học sinh lớp 7 còn
ít tuổi, kinh nghiệm đọc sách chưa nhiều, đọc sách báo ít, không chịu chủ

động làm giàu vốn từ vựng cho mình. Nghèo vốn từ, không hiểu nghĩa của từ
là một trong những nguyên nhân làm cho việc hiểu, ghi nhớ khó từ đó tiếp thu
và nghi nhận tri thức bị hạn chế (đặc biệt là trong việc học các môn xã hội).
Để giải quyết vấn đề này trong quá trình dạy học môn lịch sử giáo viên cần
cho học sinh hiểu các khái niệm trong quá trình hướng dẫn học sinh khám phá
và tiếp nhận tri thức. Khái niệm ở đây không phải là tất cả các khái niệm mà
chỉ là những khái niệm quan trọng, những khái niệm liên quan đến chương
trình lịch sử lớp 7 mà thôi. Để thực hiện điều này, chúng ta có thể tiến hành
theo các cách sau:
Cách thứ nhất: Đầu năm giáo viên sẽ phô tô cho học sinh một loạt các
khái niệm lịch sử lần lượt ở các bài theo phân phối chương trình, yêu cầu học
sinh ghim vào vở lịch sử. Sau mỗi tiết học, ngoài việc yêu cầu học sinh về nhà
học bài cũ còn phải tìm hiểu bài mới, học các thuật ngũ có liên quan đến bài
sau.
Ví dụ một số thuật ngữ trong chương trình môn lịch sử 7:
Phong kiến (phong: là phong tước, phong vị; kiến là ban phát - ruộng
đất): là quá trình phong tước, phong vị và ban phát ruộng đất cho nhau.
Lãnh địa phong kiến: là vùng đất riêng của lãnh chúa phong - kiến.
Giai cấp: là tập hợp người đông đảo có địa vị như nhau trong - hệ thống
sản xuất, có quyền lợi chung, phân biệt với tập hợp người khác.
Tầng lớp: Tập hợp người thuộc một hoặc nhiều giai cấp trong - xã hội
có địa vị xã hội và những lợi ích như nhau.
Văn hóa: Là những giá trị vật chất và tinh thần do con người - sáng tạo
trong quá trình lịch sử.
Văn hiến: Truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.
7


GV: Lương Thị Bồng


Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Ngụ binh ư nông: Cho quân lính luân phiên nhau về quê làm - ruộng ở
làng xã trong thời bình. Lúc chiến tranh tất cả đều ra trận.
Niên hiệu: Danh hiệu của vua được đặt khi lên ngôi để th ần - dân trong
nước gọi, đồng thời để tính năm trị vì.
Quân chủ (quân là vua, chủ là làm chủ): Là vua đứng đầu một - quốc
gia.
Kháng chiến: Chiến đấu tự vệ của một quốc gia hoặc một dân - tộc
chống xâm lược vũ trang, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
Khởi nghĩa: Một trong những phương thức đấu tranh cao nhất - của dân
tộc hoặc giai cấp bị áp bức nhằm lật đổ bộ máy thống trị cũ, hoặc đánh đuổi
giặc ngoại xâm.
Cải cách: Sự sửa đổi, cải thiện một số mặt của đời sống xã - hội mà
không động tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành.
Cách thứ hai: Giáo viên giúp học sinh hiểu khái niệm ở từng đơn vị
bài học.
Ví dụ 1: Dạy bài 1 – SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ
HỘI PHONG KIẾN CHÂU ÂU, ở mục 1 – Sự hình thành xã hội phong kiến
ở châu Âu, sau khi đọc xong giáo viên có thể đặt câu hỏi: Theo em thế nào là
phong kiến? Với câu hỏi này, nếu học sinh trả lời được thì tốt còn không giáo
viên giải thích cho học sinh hiểu: Phong kiến (phong là phong tước, phong vị;
kiến là ban phát ruộng đất): Là quá trình phong tước, phong vị và ban phát
ruộng đất cho nhau của giai cấp thống trị.
Ví dụ 2: Dạy bài 7 – NHỮNG NÉT CHUNG VỀ XÃ HỘI PHONG
KIẾN, mục 3 – Nhà nước phong kiến, sau khi học sinh tìm ra kiểu nhà nước
là quân chủ giáo viên có thể hỏi: Quân chủ là gì? Giáo viên hướng dẫn học
sinh tìm hiểu khái niệm: Quân chủ (quân là vua, chủ là làm chủ): Là vua đứng
đầu một quốc gia. Các khái niệm này có thể có hoặc không có trong SGK,
nhưng dù có hay không giáo viên cần cho học sinh khắc sâu, ghi nhớ các khái

niệm (nhưng cần tránh gây áp lực cho học sinh). Khái niệm cung c ấp cho học
8


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

sinh cần ngắn gọn, không dài dòng, dễ hiểu, tránh mơ hồ. Nếu không đáp ứng
được yêu cầu này rất dễ phản tác dụng: học sinh khó nhớ, tăng dung lượng
kiến thức bài học, học sinh sợ môn sử,
Để học sinh nhớ tốt, trong dạy học lịch sử, cần tìm hiểu khái niêm, giáo
viên nên đặt câu hỏi để học sinh tự tìm hiểu trước. Nếu học sinh trả lời đúng
thì cần tuyên dương và khuyến khích bằng điểm số. Làm như vậy sẽ để lại ấn
tượng sâu sắc hơn là giáo viên tự cung cấp cho học sinh.
b. Nhận ra sự giống nhau và khác nhau
Nhận ra sự giống nhau và khác nhau, trong thực tế được xem là cốt lõi
của tất cả các nhận thức. Thực chất nhận ra sự giống nhau và khác nhau là
cách gọi khác của quá trình so sánh. Chìa khóa giúp cho so sánh có hiệu quả
là nhận ra những đặc tính quan trọng của sự việc hiện tượng. Những đặc tính
quan trọng này được dùng như cơ sở cho việc nhận ra sự giống nhau và khác
nhau. Vận dụng phương pháp so sánh trong dạy học lịch sử, giáo viên phải
chỉ ra cho học sinh những đối tượng để so sánh và những tiêu chí làm cơ sở so
sánh.
Ví dụ:
- Đối tượng so sánh: văn hoá, quân đội, luật pháp, …
- Tiêu chí so sánh: nội dung của các bộ luật (luật pháp), các bộ phận
quân (trong quân đội), … Những bài tập loại này hướng học sinh vào những
kết luận mà giáo viên muốn đạt tới. Do đó loại bài tập này thường được dùng
khi mục tiêu của giáo viên là muốn học sinh đạt đến một nhận thức chung về

những sự giống nhau và khác nhau của các đối tượng được đưa gia.
Ví dụ: Có thể so sánh nội dung của các bộ luật thời Lý (Hình thư), Trần
(Quốc triều hình luật), Lê Sơ (Hồng Đức) về nội dung để thấy sự tiến bộ qua
từng triều đại – vấn đề cần đạt tới.
Để sử dụng so sánh có hiệu quả, cần kèm theo việc trao đổi và thảo
luận của học sinh. Để học sinh tập trung ghi nhớ những điểm giống nhau và
khác nhau nào đó, sau khi học sinh tìm hiểu xong, giáo viên cần kết luận và
9


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

khái quát. Nếu mục tiêu bài học là khuyến khích những ý kiến phong phú của
học sinh thì giáo viên cần để cho học sinh tự khái quát. Trong quá trình dạy
học, giáo viên cần sử dụng phương pháp so sánh sao cho phù hợp mới mang
lại hiệu quả cao
Thứ nhất: Nếu đó là một đơn vị bài học cụ thể, nội dung đơn giản thì
các tiêu chí so sánh cũng phải đơn giản (ít tiêu chí), đó có thể là một hoặc hai
tiêu chí, so sánh giữa bài này với bài khác hoặc trong một bài.
Ví dụ 1: Dạy bài 4 – TRUNG QUỐC THỜI PHONG KIẾN, mục 1 –
Sự hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Theo em xã hội phong kiến ở Trung Quốc hay ở châu Âu hình thành sớm
hơn? Cụ thể? Học sinh dễ dàng trả lời: XHPK ở Trung Quốc hình thành sớm
hơn, vào thế kỉ III TCN, còn ở châu Âu mãi đến thế kỉ V mới hình thành. Từ
đó giáo viên kết luận. Tương tự như vậy, giáo viên có thể cho học sinh so
sánh thời gian hình thành xã hội phong kiến của châu Âu, Trung Quốc, các
nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Việt Nam ở các bài tiếp theo. Theo đà đó các em
sẽ không cần cố ý ghi nhớ cũng sẽ nhớ vì thông tin được lặp lại nhiều lần. Sau

mỗi câu hỏi giáo viên phải đưa ra kết luận cuối cùng cho học sinh. Thực tế
nhiều học sinh khi học xong chương trình lịch sử lớp 7 không trả lời câu hỏi
về thời gian hình thành xã hội phong kiến như trong chương trình. Cho nên
việc cho học sinh nắm điều này là rất quan trọng. Và so sánh đã góp phần giải
quyết được vấn đề này.
Ví dụ 2: Cũng trong bài 4 nhưng ở mục 2 – Xã hội Trung Quốc thời
Tần – Hán, giáo viên cho học sinh so sánh thời gian tồn tại của nhà Tần và
nhà Hán. Từ đó đi vào tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng đó.
Thứ hai: Đơn vị bài học là những bài khái quát, ôn tập thì nội dung so
sánh cần phức tạp hơn, nhiều tiêu chí hơn. Các tiêu chí đó khái quát cho một
phần hay cả một chương. Giáo viên cần sắp xếp những điểm giống nhau và
khác nhau thành một bảng hay biểu đồ sẽ giúp học sinh hiểu tốt hơn và sử
dụng kiến thức đó tốt hơn. Trong dạng đơn vị bài học này để không mất thời
10


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

gian giáo viên nên sử dụng bảng phụ trên đó kẻ bảng và ghi các tiêu chí so
sánh. Giáo viên chỉ đặt câu hỏi để học sinh lên bảng điền thông tin, từ đó tìm
ra tri thức mới.
Ví dụ 1: Dạy bài 7 – Những nét chung về xã hội phong kiến, giáo viên
có thể đưa ra bảng sau:
Đặc điểm
Cơ sở kinh tế
Các giai cấp cơ bản
Phương thức bóc lột
Thể chế nhà nước.


XHPK Phương Đông

XHPK Phương Tây

Trên cơ sở này giáo viên đặt câu hỏi để học sinh trình bày từng tiêu chỉ
so sánh. Từ đó cho học sinh rút ra nhận xét, bổ sung. Giáo viên kết luận. Như
vậy cơ bản giải quyết được vấn đề của bài học rõ ràng, ngắn gọn. Nội dung cụ
thể của bảng:
Đặc điểm
Cơ sở kinh tế

XHPK Phương Đông
Nông nghiệp đóng kín

XHPK Phương Tây
Nông nghiệp đóng kín

Các giai cấp cơ bản

trong công xã nông thôn trong Lãnh đia
Địa chủ và Nông dân
Lãnh chúa và nông nô

Phương thức bóc lột
Thể chế nhà nước.

lĩnh canh
Tô, thuế
Quân chủ chuyên chế


Địa tô
Quân chủ chuyên chế

tập quyền

phân quyền

Ví dụ 2: Bài 17 – Ôn tập chương II và chương III , phần bài tập về nhà,
giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà lập bảng: Thành tựu Thời Lý Thời Trần
Nhận xét về : Kinh tế - Văn hóa - Giáo dục – Khoa học – Nghệ thuật - Pháp
luật. Sau khi giải quyết các vấn đề trên lớp giáo viên yêu cầu học sinh trình
bày phần bài tập về nhà. Những học sinh khác nhận xét, bổ sung. Cuối cùng
giáo viên kết luận và đưa ra bảng đáp án đúng cho bài tập này.

11


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Như vậy, “Nhận ra sự giống nhau và khác nhau” rất dễ sử dụng và
mang lại hiệu quả cao. Sử dụng nó giáo viên có thể phát huy khả năng nhận
biết, đánh giá, nhận xét vấn đề của học sinh.
c. Khái quát nội dung bằng giàn ý:
Biện pháp này chỉ vận dụng trong phần: Lịch sử Việt Nam. Trong quá
trình học sinh học phần: Tập làm văn ở môn Ngữ văn, giáo viên thường cho
học sinh nắm giàn bài ở mỗi thể loại (tự sự, nghị luận, thuyết minh, …), trên
cơ sở đó học sinh làm bài tập làm văn tốt hơn. Ngữ văn là môn học có tính

trìu tượng cao hơn lịch sử mà vẫn vận dụng dàn ý vậy tại sao ta không áp
dụng biện pháp này vào dạy học lịch sử - môn học có tính thực tế cao hơn?
Việc sử dụng giàn ý trong dạy học lịch sử lớp 7 là điều hoàn toàn mới
mẻ. Và có lẽ có người cho rằng đây là việc làm không hợp lí, thậm chí không
hiệu quả, chỉ mất thời gian, … Thực tế không phải như vậy, với cách làm này
giáo viên sẽ phát huy được nhiều phẩm chất, đặc biệt là vai trò chủ thể của
các em trong học tập. Trên cơ sở dàn ý học sinh sẽ chủ động tìm ra tri thức
không cần sự can thiệp nhiều từ giáo viên. Từ đây giáo viên có thể đi sâu vào
vấn đề giúp học sinh nắm vững tri thức hơn. Tuy nhiên trong lịch sử 7 không
phải ở nội dung nào cũng có thể khái quát được thành dàn ý mà chỉ có một số
nội dung sau có thể khái quát thành giàn ý: kinh tế, xã hội, văn hóa, một cuộc
kháng chiến (hoặc khởi nghĩa), … bởi đây là những nội dung tương đối ổn
định, không có thay đổi nhiều. Khi sử dụng biện pháp này trong những tiết
đầu giáo viên làm mẫu để học sinh có thể học theo. Những tiết tiếp theo giáo
viên chỉ việc hướng dẫn học sinh tự thực hiện theo dàn ý.
Dàn ý một số nội dung:
* Kinh tế:
+ Nông nghiệp:
- Ruộng đất thuộc sở hữu của ai? Do ai sử dụng?
- Các chính sách về nông nghiệp?
- Kết quả như thế nào?
12


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

+ Thủ công nghiệp:
- Thủ công nghiệp nhà nước như thế nào? Có những nghề nào?

- Nghề thủ công trong nhân dân ra sao? Có những nghề nào?
+ Thương nghiệp:
- Chợ búa, các trung tâm buôn bán hình thành ở đâu?
- Những trung tâm buôn bán lớn?
- Buôn bán với những nước nào?
* Trình bày một cuộc kháng chiến (hoặc cuộc khởi nghĩa)
+ Nguyên nhân:
+ Diễn biến:
- Các mốc thời gian
- Về phía quân địch :
. Lực lượng?
. Ai là người chỉ huy?
. Chúng tiến quân bằng những đường nào? –
- Về phía ta :
. Ai chỉ huy đánh địch
. Đánh chúng như thế nào (dựa trên hướng tiến quân của chúng)
c. Kết quả
d. Ý nghĩa
* Văn hóa:
- Tôn giáo nào phát triển? - Các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian?
- Kiến trúc có những công trình nổi tiếng nào?
- Điêu khắc có những công trình nào? Trình độ ra sao?
* Luật pháp
- Ban hành bộ luật nào?
- Một số nội dung của bộ luật đó?
- So sánh với bộ luật của triều đại trước? Nhận xét?

13



GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Cách cung cấp cho học sinh những giàn ý này: Đầu năm giáo viên
cung cấp cho học sinh bản đã in ra trên giấy A4, yêu cầu học sinh xem và ghi
nhớ dần. Hoặc đến nội dung nào thì ở tiết đầu tiên cung cấp cho học sinh dàn
ý đó. Từ đó học sinh sẽ sử dụng ở những tiết tiếp theo. Nếu học sinh nhớ
được thì tốt, nếu không nhớ được thì đến nội dung nào đưa giàn ý đó ra xem
và làm theo yêu cầu. Giáo viên cần lưu ý với học sinh rằng, các dàn ý không
phải là cố định tuyệt đối mà có sự thay đổi nhưng dễ nhận biết. Có thể một ý
trong giàn ý được trình bày thành một mục riêng, có những ý có thể không có
trong giàn ý, … và nếu điều đó xảy ra giáo viên phải lưu ý ngay cho học sinh
ở nội dung đó trong tiết học. Việc làm này sẽ có ý nghĩa hơn, hiệu quả giáo
dục cao hơn sau khi học sinh trình bày nội dung đó giáo viên cho học sinh
đánh giá, nhận xét vấn đề. Đặc biệt kết hợp với biện pháp so sánh đã trình bày
ở trên để cho học sinh thấy sự khác nhau ở các nội dung đó qua mỗi triều đại
cụ thể.
Ví dụ cụ thể để minh họa:
Ví dụ 1: Dạy bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê, mục 3 –
Cuộc kháng chiến chống Tống của Lê Hoàn, giáo viên yêu cầu học sinh trình
bày theo dàn ý “Trình bày một cuộc kháng chiến”(chú ý: nguyên nhân đã nói
đến trong mục 2):
Diễn biến:
- Các mốc thời gian:
Đầu năm 981
- Về phía địch: Lực lượng: (không nói) Người chỉ huy: Hầu Nhân Bảo Hướng
tiến quân: Quân bộ theo đường Lạng Sơn Quân thủy theo đường sông Bạch
Đằng
- Về phía ta ( trình bày trên cơ sở hướng tiến quân của giặc) Lê Hoàn trực

tiếp chỉ huy kháng chiến Ông cho đóng cọc trên sông Bạch Đằng để ngăn
chặn giặc, buộc chúng rút lui. Trên bộ ta cũng chặn đánh chúng quyết liệt, gây
cho chúng nhiều tổn thất. Kết quả: Quân Tống đại bại, Hầu Nhân Bảo bị giết
14


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Ý nghĩa: biểu thị ý chí chống giặc của nhân dân ta, nền độc lập dân tộc
được giữ vững. Tương tự như vậy, chúng ta có thể thực hiện ở những bài
khác.
Ví dụ 2 (trình bày theo dàn ý khinh tế): Dạy bài 9 - Nước Đại Cồ Việt
thời Đinh – Tiền Lê, mục II1 – Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ, yêu
cầu học sinh thực hiện theo giàn ý:
+ Nông nghiệp
- Ruộng đất là của làng xã chia cho nông dân cày cấy rồi nộp thuế cho nhà
vua
- Các chính sách: Vua thường tổ chức lễ tịch điền, mở rộng khai hoang, coi
trọng thuỷ lợi.
- Kết quả: Nông nghiệp ngày càng ổn định và bước đầu phát triển.
+ Thủ công nghiệp:
- Nhà nước lập các xưởng thủ công và tập trung được nhiều thợ giỏi.
- Các nghề thủ công trong nhân dân tiếp tục phát triển như dệt lụa, kéo tơ, …
+ Thương nghiệp:
- Nhiều trung tâm buôn bán và chợ làng quê được hình thành.
- Nhân dân hai nước Việt – Tống thường qua lại trao đổi buôn bán hàng hóa ở
vùng biên giới.
Ví dụ 3: Dạy bài 12 – Đời sống kinh tế, văn hóa, ở mục I – Đời sống

kinh tế (giáo viên lưu ý cho học sinh: ở phần này nội dung nông nghiệp dược
trình bày thành một mục riêng): Yêu cầu học sinh trình bày vấn đề: Sự
chuyển biến
của nền nông nghiệp theo dàn ý
Kinh tế nhưng chỉ có nông nghiệp:
- Ruộng đất là của nhà vua chia cho nông dân cày cấy rồi nộp thuế cho nhà
vua.

15


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

- Nhà nước có nhiều biện pháp quan tâm đến sản xuất nông nghiệp: lễ cày
tịch điền, khuyến khích khai hoang, đào kênh mương, đắp đê phòng lụt, cấm
giết mổ trâu bò, ...
- Nhiều năm mùa màng bội thu.
Tương tự như vậy ở mục I .2 - Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng
vậy. “Khái quát bằng giàn ý” là biện pháp có thể làm cho thời gian tìm hiểu
những nội dung này giảm đi rất nhiều. Nhờ vậy thầy và trò có nhiều thời gian
cho việc mở rộng, nâng cao nội dung bài học hay tìm hiểu về các nhân vật
lịch sử, kênh hình, các nội dung khác của lịch sử lớp 7.
d. Dạy học theo hướng tích hợp:
Dạy học theo hướng tích hợp là :
Lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn
học. Thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường , bảo vệ
sức khỏe, giáo dục tiết kiệm ... vào nội dung các môn học: địa lý, sinh học,
vật lý, hóa học, toán, ngoại ngữ, giáo dục công dân...

Xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.
Giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc các
kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ
đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu,
giảng dạy, thảo luận, dạy học theo dự án.
Ở phần này, vì nội dung quá nhiều nên tôi xin không lấy ví dụ cụ thể
với từng tiết dạy nữa mà tôi sẽ lấy vị dụ chung cho các bài, các chương trong
chương trình lớp 7 và chia ra theo từng mối quan hệ giữa môn lịch sử với các
môn học khác.
* Mối quan hệ văn học với lịch sử:
Giữa văn học và sử học có mối liên hệ khăng khít. Các trích đoạn thơ
văn có tác dụng minh hoạ, cụ thể hoá sự kiện, làm nổi bật hơn diễn biến của
sự kiện, nêu ra 1 kết luận khái quát giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời
kì, một sự kiện lịch sử cụ thể. Các tác phẩm văn học bằng những hình tượng
16


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

cụ thể, những vần điệu trong thể thơ sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình
cảm người học, góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn,
khắc sâu trí nhớ, nâng cao hứng thú học tập của học sinh.
Các tài liệu văn học thường dùng :
- Một số tác phẩm văn học là một tư liệu lịch sử : “Nam quốc sơn hà”
của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô đại
cáo” của Nguyễn Trãi, …
Ví dụ:
“…Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong,
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
…Đánh một trận, sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
…Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước…”
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
- Các tác phẩm văn học yêu nước, ca ngợi các anh hùng, phản ánh các
sự kiện lịch sử đấu tranh, khắc họa hình tượng cụ thể về các chiến sĩ yêu nước
như: “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu, “Quân trung từ mệnh tập”
của Nguyễn Trãi, “Ai tư vãn” của Lê Ngọc Hân ….
Ví dụ:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.
(Ai tư vãn - Lê Ngọc Hân)
- Các tác phẩm văn học phản ánh hiện thực xã hội : nhằm mục đích hình dung
ra bức tranh xã hội trong quá khứ, để học học sinh hiểu một cách đầy đủ và
17


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

toàn diện hơn về một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử dân tộc và của thế giới.
Ví dụ:
“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh,
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn.
…Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !”
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Yêu cầu : Giáo viên cần nghiên cứu và chắt lọc các trích đoạn thơ văn
thật ngắn, có nội dung tiến bộ, phản ánh lịch sử một cách chân thực nhất, phù
hợp với yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng của bài học, tránh ôm đồm làm loãng
nội dung bài lịch sử.
* Mối quan hệ địa lí với lịch sử: :
-Về nội dung :
Xét cụ thể môn địa lí chú ý đến tính không gian lãnh thổ của các sự vật
hiện tượng đang diễn ra hiện nay, còn Lịch sử chú ý đến quá trình hình thành
và phát triển của xã hội nhưng hai môn Địa Lí và Lịch Sử đều có những nội
dung thuộc nhóm Khoa học xã hội nhân văn, đều nghiên cứu những vấn đề
của con người, xem xét các mối quan hệ mang tính qui luật trong lĩnh vực
kinh tế, xã hội. Nên, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau bởi
các sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một khoảng không gian nhất
định với các điều kiện cụ thể, trong đó có các điều kiện địa lí. Lịch sử thế giới
và lịch sử dân tộc (kể cả phần lịch sử địa phương) đều gắn với những điều
kiện tự nhiên mà con người sinh sống, cho nên khi học tập lịch sử xã hội phải
phân tích đến các yếu tố của môi trường tự nhiên và thông qua nội dung lịch
sử để hiểu rõ hơn môi trường tự nhiên và thực hiện giáo dục môi trường.
-Về mặt kỹ năng :
18


GV: Lương Thị Bồng


Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Song song với sử dụng kiến thức là sử dụng các phương tiện trực quan như
bản đồ, Atlat, tranh ảnh…
-Về mặt phương pháp dạy học: Trong quá trình dạy học, GV lịch sử, địa lí đã
vận dụng phương pháp dạy học theo con đường qui nạp, đi từ phân tích các
hiện tượng, sự kiện cụ thể, đơn lẻ để dẫn tới những nhận xét, kết luận mang
tính khái quát. Không chỉ có môn địa lí, môn lịch sử cũng sử dụng bản đồ như
một nguồn tri thức quan trọng, một phương tiện dạy học cần thiết để thể hiện
không gian diễn biến các sự kiện lịch sử. Vì vậy, học sinh cần biết cách sử
dụng bản đồ khi học hai môn này.
- Vận dụng kiến thức địa lí trong dạy học lịch Sử : Điều kiện tự nhiên tác
động mạnh mẽ, tích cực đến sự tồn tại, hình thành và phát triển lịch sử xã hội
loài người.
- Điều kiện nhiên có sự tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển
các quốc gia :
+ Vị trí thuận lợi của bán đảo Ban-căng và I-ta-li-a đã hình thành nên các
quốc gia cổ đại phương Tây gắn liền với nền sản xuất thủ công nghiệp và
thương nghiệp nhất là ngoại thương. Lưu vực các dòng sông lớn là cơ sở để
hình thành nên các quốc gia cổ đại phương Đông gắn liền với nền sản xuất
nông nghiệp.
+ Lợi thế núi, sông, đất rộng bằng phẳng...của các vùng Hoa Lư, Thăng
Long... khi được chọn làm kinh đô đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị
thời Đinh, Lý . . .
- Điều kiện tự nhiên tác động đến sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của
từng vùng miền tạo nên các giá trị văn hóa riêng: Đất, sông, . . . -> hình thành
nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ; làng gốm, múa rối nước …
- Quá trình khai thác điều kiện tự nhiên đã giúp cho xã hội loài người ngày
càng phát triển qua các thời kì :

+ Từ miền rừng núi đã chuyển dần xuống định cư ở vùng đồng bằng châu thổ
ven sông.
19


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

+ Chính sách khẩn hoang mở rộng diện tích sản xuất, đắp đê phòng lụt, đào
sông, nạo vét kênh đảm bảo tưới tiêu là làm lãnh thổ mở rộng, kinh tế phát
triển, đời sống con người ổn định.
+ Việc khai thác các nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên thúc đẩy xã hội phát
triển để hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Châu Âu.
- Điều kiện tự nhiên có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm dựng nước và giữ nước:
+ Dựa vào những điều kiện tự nhiên để xây dựng căn cứ, bảo toàn và phát
triển lực lượng: thành Cổ Loa, phòng tuyến sông Như Nguyệt, thành nhà Hồ,
căn

cứ

địa Tây

Sơn,

phòng

tuyến


Tam

Điệp



Biện

Sơn...

+ Lợi dụng địa thế, vị trí tự nhiên để kháng chiến thắng lợi: chiến thắng Bạch
Đằng, chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, chiến thắng Chi Lăng – Xương
Giang,...
Việc khai thác và sử dụng môi trường tự nhiên của con người đã gây ảnh
hưởng tiêu cực đến môi trường ở các mức độ khác nhau trong từng giai đoạn
lịch sử :
- Thời nguyên thủy, cổ - trung đại : con người phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên -> ít tác động đến môi trường.
- Thời văn minh nông nghiệp : Rừng bắt đầu thu hẹp (tiêu cực), hệ sinh thái
nông nghiệp phát triển (tích cực).
* Mối quan hệ môn giáo dục công dân với môn lịch sử:
Với yêu cầu đặc trưng là giúp HS hiểu rõ từng thời kì phát triển của xã
hội để có những nhận thức lịch sử đúng đắn, bộ môn Lịch sử có thể tích hợp
nhiều nội dung, chủ đề giáo dục của môn GDCD.
*Ví dụ :
- Lòng biết ơn với những người có công với dân tộc (Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung...)

20



GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

- Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Bảo vệ di sản
văn hóa, di tích lịch sử, nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc -> Bổn phận và trách nhiệm
cụ thể của công dân hiện nay.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ (liên hệ giáo
dục cho HS).
- Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác (thời Lý đã ban chức tước cao
cho các tù trưởng miền núi; xây dựng tinh thần đoàn kết dân tộc trong thời
Trần), - Bảo vệ hòa bình, Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới, Hợp
tác cùng phát.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (liên hệ với tìm hiểu
tổ chức bộ máy nhà nước trung ương và địa phương các thời kì).
- Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (liên hệ với
tìm hiểu luật pháp nước ta qua các thời kì).
* Mối quan hệ môn mĩ thuật với môn lịch sử:
Một hình ảnh nghệ thuật như tác phẩm hội họa, kiến trúc, điêu khắc,
tranh ảnh (chùa Một cột, tháp Phổ Minh, thành Nhà Hồ, Văn Miếu – Quốc tử
giám…) được sử dụng hợp lí sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức sâu sắc hơn
và việc học Lịch Sử sẽ hứng thú hơn.
Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên trình chiếu
kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì học sinh được trực quan với hình ảnh rõ, kích
thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn.
Ví dụ:
- Sơ lược mĩ thuật thời Lý (1010 - 1225):
+ Kiến trúc : Hoàng thành Thăng Long, Quốc Tử Giám, chùa Một Cột,
tháp Chương Sơn ...

+ Điêu khắc : Tượng A di đà, rồng VN thời Lý, Gốm Hoa nâu thời Lý.
- Mĩ thuật thời Trần (1226 - 1400): Chùa Yên Tử (Quảng Ninh), tháp Phổ
Minh, Bình Sơn, Rồng thời Trần, cung điện Lam Kinh (Thanh Hóa).

21


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

Giáo viên cần chọn lọc tranh ảnh có tính mĩ thuật cao và nội dung phù hợp
với mục tiêu của bài Lịch Sử.
* Mối quan hệ môn âm nhạc với môn lịch sử: :
Các tác phẩm âm nhạc trong chương trình có tác dụng minh họa kiến
thức lịch sử một cách cụ thể bởi nhiều tác phẩm được sáng tác trong chính
thời kì đó. Đặc biệt thông qua ca từ và âm nhạc sẽ có sức lay động lớn đến
tâm tư, tình cảm, nhận thức của người học, giúp học sinh hình dung một cách
cụ thể, sinh động các giai đoạn lịch sử.
*Ví dụ :
+ Hội Lim (Bắc Ninh) -> quê hương Quan họ- di sản thế giới.
+ Hội Lim (13 Tháng giêng âm lịch) phản ánh nghệ thuật sân khấu,
nghệ thuật dân gian phát triển.
+ Bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương”: Liên hệ sự chia cắt đất nước
qua chiến tranh Nam – Bắc triều, chiên tranh Trịnh – Nguyễn.
* Mối quan hệ môn toán, vật lí với môn lịch sử :
Tích hợp kiến thức các môn khoa học tự nhiên cũng giúp HS hiểu rõ
thêm về lịch sử. Một số bài Lịch sử có đề cập đến việc tìm hiểu tiểu sử, cuộc
đời của các nhà bác học. Song như vậy chưa đủ, việc vận dụng kiến thức toán
học, vật lí trong môn Lịch Sử sẽ giúp HS hiểu cụ thể hơn những thành tựu của

họ, qua đó thấy được đóng góp to lớn của các nhà khoa học đối với toàn nhân
loại. Ngoài ra, việc vận dụng kiến thức toán học sẽ giúp HS hiểu rõ hơn về
việc ra đời của lịch, cách tính niên đại trong Lịch Sử, . . .
Ví dụ:
R. Đê-các-tơ (nhà toán học và triết học xuất sắc thời kì phục hưng): đã
sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số (chẳng hạn trong
biểu thức x² ).
Tích hợp kiến thức các môn khoa học tự nhiên trong dạy học lịch sử
cũng giúp HS củng cố các kiến thức đã học ở môn toán, vật lí (các phát minh,

22


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

định lí quan trọng...). Từ đó giúp HS thấy được ý nghĩa liên thông giữa các
môn học, làm cho việc học các môn nói chung và môn lịch sử nói riêng
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Mặc dù thời gian rất hạn chế nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh
nghiệm này vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả khả quan. Trước hết bản
thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình
sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học sinh có
hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết,
đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức
và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu
thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ
đạt được kết quả cao trong các kì thi .
* Kết quả cụ thể :

Lớp SLHS
7A
31
7B
31
3. Kết luận.

Giỏi
SL
%
10 32.3
11 35.5

Khá
SL
%
15 48.4
17 54.8

Tb
SL
6
3

%
19.3
9.7

Yếu
SL

%
0
0
0
0

Kém
SL
%
0
0
0
0

3.1. Bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình vận dụng những biện pháp trên vào bài giảng tôi rút ra
một số kinh nghiệm sau:
Người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa mục tiêu cần đạt, chuẩn kiến
thức với nội dung cách làm mới. Có như vậy tiết dạy mới bảo đảm nội dung.
Khi vận dụng người giáo viên phải sếp xếp thời gian hợp lí, nếu không
sẽ không đủ thời gian cho mỗi tiết dạy.
Giáo viên cần vận dụng thường xuyên để những biện pháp trên trở
thành một kĩ năng của học sinh. Được như vậy cả giáo viên và học sinh đều
rất thoải mái và có nhiều thời gian hơn cho tiết học để nâng cao, mở rộng
Giáo viên cần kết hợp các phương tiện dạy học như đồ dùng trực quan,
hình ảnh, tranh vẽ trong sách giáo khoa, máy chiếu, hệ thống thao tác sư
23


GV: Lương Thị Bồng


Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

phạm khi lên lớp... để góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Giáo viên dạy môn lịch sử phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới
trong phương pháp dạy học. Người giáo viên Lịch sử cần tự bồi dưỡng năng
khiếu vẽ bản đồ, lược đồ khoa học và chính xác. Sử dụng triệt để các phương
pháp dạy học tích cực nhằm thu hút sự chú ý của học sinh. Nên có những buổi
học ngoại khoá, tham quan du lịch các di tích bảo tàng lich sử.
3.2. Một số kiến nghị:
Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, các vấn đề thay đổi SGK,
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là vấn đề lâu dài. Bên cạnh đó, nâng
cao nhận thức về môn sử cho học sinh, thông qua việc trao tặng giải thưởng,
tạo các cơ chế khuyến khích các em học sử cũng rất cần thiết.
Đối với cá nhân, tôi mong muốn các nhà lãnh đạo các ban ngành giáo
dục từ Bộ, Sở, Phòng giáo dục cần quan tâm hơn nữa với bộ môn lịch sử, tạo
điều kiện cho bộ môn có cơ hội hiện hữu nhiều hơn trong môi trường giáo
dục. Ví dụ: Tăng cường hơn nữa các buổi học ngoại khóa, thăm quan cho
môn học lịch sử, thực hiện các cuộc thi Rung chuông vàng, ngày hội giao lưu
môn lịch sử, Hội thảo khoa học về môn lịch sử.
Ngoài ra, Bộ giáo dục cần có chương trình mở rộng các buổi học đổi
mới phương pháp dạy học cho các môn nhất là môn lịch sử để rèn luyện, nâng
cao năng lực giảng dạy cho giáo viên hơn nữa.
Quan trong nhất là người giáo viên cần phải có niềm đam mê, sự yêu
thích, ý thức cao với môn lịch sử. Có như vậy, chúng ta mới có tâm huyết với
nghề, truyền lửa cho học sinh để các em thực sự có hứng thú với môn học,
không thờ ơ, quay lưng lại với môn học.
3.3.Kết luận :
Thế kỉ XX đã kết thúc, loài người bước vào thế kỉ XXI với những

chuyển biến mới cực kì quan trọng ảnh hưởng to lớn đến tình hình các nước,
các dân tộc và cuộc sống thường nhật của con người. Trong những chuyển
24


GV: Lương Thị Bồng

Trường THCS Song Mai, TP Bắc Giang.

biến đó, nổi bật là sự hình thành một xã hội thông tin, kinh tế tri thức và sự
phát triển nhanh tróng chưa từng thấy của khoa học công nghệ, xu thế không
thể cưỡng lại được của toàn cầu hóa. Những yếu tố đó đã tác động mạnh mẽ
đến giáo dục, tạo ra một làn sóng cải cách giáo dục chung ở các nước trên thế
giới.
Ở Việt Nam vấn đề cải cách đổi mới giáo dục cũng được quan tâm đặc
biệt. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (1996 )
đã chỉ rõ: “Phải đổi mới mạnh mẽ, phát triển giáo dục và đào tạo”. Tiếp đó
trong luật giáo dục của nước cộng hòa XHCN Việt Nam (1998), Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX (4-2001) và trong một loạt
các văn bản, Chỉ thị của Quốc hội và Chính phủ, chủ trương đổi mới giáo
dục-đào tạo liên tục được đề ra. Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, là nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Trong quá trình triển khai công tác bồi dưỡng thay sách và thực hiện đại
trà sách giáo khoa lịch sử mới ở THCS tôi nhận thấy việc thay SGK là một
việc làm cần thiết. Nó đòi hỏi giáo viên và học sinh phải đổi mới cách dạy và
học.Thực trạng và giải pháp thực hiện mà tôi đưa ra hy vọng sẽ đáp ứng được
một phần nhỏ góp vào việc “giúp học sinh yêu thích môn lịch sử ở trường
trung học cơ sở ”. Từ đó định hướng cho học sinh có ý thức với bộ môn lịch
sử, không quay lưng lại với nó, coi lịch sử cũng như các bộ môn mà các em
vẫn coi trọng như: Toán, anh, văn... trước đó.

Trên đây là một số biện pháp giúp nâng cao chất lượng dạy học môn
lịch sử lớp 7 ở trường THCS Song Mai mà tôi đã thực hiện. Trong quá trình
vận dụng cũng như tổng hợp thành sáng kiến kinh nghiệm có thể còn hạn chế,
rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, Hội đồng khoa học trường
Mục lục
1. Đặt vấn đề

1

2. Giải quyết vấn đề

2

25


×