Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế tt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (394.66 KB, 29 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

Lê Nguyễn Diệu Anh

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 934.04.10

Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế

Hà Nội, Năm 2020


Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thương mại

Người hướng dẫn khoa học
1. PGS. TS Hà Văn Sự
2. PGS. TS Phạm Thuý Hồng

Phản biện 1: PGS. TS Phan Tố Uyên
Phản biện 2: PGS. TS Nguyễn Thị Nguyệt
Phản biện 3: PGS. TS Vũ Thị Kim Oanh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Thương mại
Vào hồi……. giờ …… ngày ………. tháng ………. năm ………….

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia


Thư viện Trường Đại học Thương mại


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của luận án
Toàn cầu hoá đang trở thành một xu thế khách quan của các quốc gia trên thế giới. Tham gia toàn
cầu hoá, hội nhập quốc tế mang lại nhiều lợi ích như phát triển xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường,
góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất …. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của nó đến hầu hết mọi
mặt của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia cũng không nhỏ, đặc biệt đối với các nước đang và
kém phát triển. Hội nhập quốc tế góp thúc đẩy xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu nguyên liệu thô và hàng
sơ chế, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và huỷ hoại môi trường nghiêm trọng.
Những cảnh báo về một sự phát triển không bền vững đang là thách thức đối với các quốc gia tham gia
vào hội nhập quốc tế.
Phát triển bền vững là phát triển kinh tế ổn định gắn với việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ
môi trường sinh thái, hay phát triển bền vững là quá trình thế hệ hôm nay phát triển mà không làm
phương hại đến thế hệ tương lai. Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc mở cửa thị trường, tăng cường
hội nhập cùng với mục tiêu đảm bảo phát triển thương mại theo hướng bền vững là một vấn đề bức
thiết, thu hút sự quan tâm của Nhà nước, tổ chức và mọi thành viên trong xã hội. Các quốc gia cần thiết
phải xây dựng chiến lược phát triển thương mại theo hướng bền vững phù hợp với thực lực và lợi thế
của quốc gia mình. Một chính sách thương mại thực sự bền vững cũng sẽ tránh được sự phụ thuộc quá
mức vào tài nguyên thiên nhiên, cam kết các tiêu chuẩn môi trường cao trong các hiệp định thương mại
và hạn chế ô nhiễm không khí và nước.
Liên hệ với Việt Nam, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã đem lại những bước tiến đáng kể cho
nền kinh tế Việt Nam. Từ một quốc gia nghèo đói và thiếu lương thực sau chiến tranh năm 1975, Việt
Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới như gạo, cà phê.. Tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng của Việt Nam những năm gần đây nhìn chung năm sau cao hơn năm trước, năm
2019 tăng 8,1% so với năm 2018, đạt 263,45 tỷ USD và là năm thứ tư liên tiếp xuất siêu. Tuy nhiên,
những tác động của hội nhập quốc tế và tự do hoá thương mại ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến sự bền

vững kinh tế, công bằng xã hội, gia tăng nhanh sự phân hoá giàu nghèo, môi trường sinh thái, ô nhiễm
môi trường. Hệ sinh thái biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tài nguyên khoáng sản có nguy cơ cạn kiệt,
diện tích rừng tự nhiên đang bị suy thoá và mất đi với tốc độ không bền vững. Trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, thương mại đã trở thành lĩnh vực tiên phong, quan hệ thương mại đi trước mở đường
cho quan hệ ngoại giao chính thức giữa các quốc gia. Phát triển thương mại chính là con đường để khai
thác những tiềm năng và thế mạnh của quốc gia, thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh thực hiện công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Chính vì vậy, để phát triển
bền vững kinh tế, xã hội của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần xây dựng chiến lược, giải
pháp phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Trên phương diện lý thuyết, đã có những nghiên cứu về phát triển thương mại theo hướng bền
vững nói chung và cho các khu vực nói riêng. Nhưng chưa có nghiên cứu xây dựng một khung lý
thuyết hoàn chỉnh, đặc biệt xem xét sự tác động của hội nhập quốc tế, tác động đa chiều đến thương


2
mại nói chung, tác động gây ra sự thiếu bền vững như tổn thương kinh tế, khủng hoảng tài chính, thất
nghiệp, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường… Việc nghiên cứu chuyên sâu về phát
triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế là rất cần thiết, góp phần phát
triển lý luận và giải quyết các tình huống quản lý thực tế.
Chính vì vậy, đề tài “Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế” được lựa chọn nghiên cứu, nó có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Tác giả đã tổng hợp công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án theo
các nhóm.
2.1.1 Phát triển bền vững
Thứ nhất, công trình nghiên cứu về phát triển bền vững, bao gồm: Our common future của
WCED (1987), “Beyond Economic Growth: An Introduction to Sustainable Development” của Tatyana
P. Soubbotina (2004), Peter P. Rogers, Kazi F. Jalal và John A. Boyd (2007), Đinh Văn Ân (2005) về
“Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững chất lượng cao ở Việt Nam”;
Lê Xuân Đình (2005), ‘Phát triển bền vững là một đảm bảo của định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam’, Đề tài cấp bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” của tác giả
Hà Huy Thành năm 2009, Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững. Báo cáo của Tổ chức
phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc - UNIDO năm 2012, “Hướng tới tăng trưởng xanh từ phát triển
công nghiệp xanh tại Việt Nam”.
2.1.2 Thương mại và phát triển thương mai theo hướng bền vững
Tác giả John Asafu-Adjaye năm 2004 với tác phẩm “International trade and sustainable
development in Sub-Saharan Africa”. Báo cáo của UNEP “Sustainable Trade and Poverty Reduction:
New Approaches to Intergrated Policy Making at the National Level” năm 2006. Nghiên cứu của Chen
Jiyong, Liu Wei và Hu Yi năm 2006 về “Foreign trade, environmental protection and sustaiable
economic growth in China”. Moustapha Kamal Gueye, Malena Sell, Janet Strachan năm 2009 về vấn
đề “Trade, climate change and sustainable development: key issues for small states, least development
countries and vulnerable economic”. Tác giả Paul Hawken (2013) trong cuốn sách “The Ecology of
Commerce”.
2.1.3 Phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế
a. Phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Nhóm các tác giả Grant Hewison, Veena Jha và Maree Underhill (1997) trong cuốn sách “Trade,
Environment and Sustainable Development: A South Asian Perspective”. Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đã xuất bản cuốn sách “Trade, Development and the Environment” năm 2000. Wiliam R. Cline
(2004) về vấn đề “Trade Policy and Global Poverty”. Zoltan Ban năm 2012 về “Sustainable Trade:
Changing the Environment the Market Operates in Through Standardized Global Trade Tariffs
Paperback”. Paul Ekins trong bài “Trade, Globalization and Sustainability Impact Assessment: A
Critical Look at Methods and Outcomes” năm 2012.
Một số nghiên cứu của Bộ Công Thương, Đề tài khoa học cấp bộ “Những giải pháp chủ yếu


3
nhằm phát triển thương mại theo tiếp cận phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam” của tác giả Hà Văn Sự chủ nhiệm, năm 2004. Luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp tăng
cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm phát triển thương mại của Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Đoàn Thị Thanh Hương, năm 2008, Viện nghiên cứu thương mại.

Luận án tiến sĩ kinh tế “Xuất khẩu bền vững ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”
(2009) của Hồ Trung Thanh, Trường đại học Kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội. Hà Thị Thanh Bình năm
2012 về “Bảo hộ thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và hiệu quả điều chỉnh của pháp
luật Việt Nam”.
b. Tiêu chí đánh giá phát triển thương mại theo hướng bền vững
Thomas M. Parris và Robert W. Kates (2003), United Nations (1996), năm 1995 Ủy ban Phát
triển bền vững Liên Hiệp Quốc (CSD). Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững CGSDI (1999) sách (OECD,
2011b). Ngân hàng Thế giới (WB, 2012). R. Prescott Allen (2001), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế
giới đã công bố bộ chỉ số thịnh vượng (Well Being index - WI).
Ngoài ra, Mathis Wackernagel (2003) đã xây dựng bộ chỉ tiêu Dấu chân sinh thái (Ecological
footprint). Chỉ số bền vững về môi trường của World Economic Forum (2002). Quyết định số 432/QĐTTg ngày 12/04/2012 ban hành các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai
đoạn 2011 – 2020. UNCTAD (2016) xây dựng bộ chỉ tiêu về thương mại để đánh giá hiệu quả thương
mại của quốc gia. The Economist Intelligence Unit (2016) xây dựng chỉ số Thương mại Bền vững
Châu Á
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập
Các nghiên cứu của Kris M.Y.Law (2010), Liu Ligang (2001), Liu Bangcheng và Jiang Taiping
(2000), Wu Yingyu (2003), Vittorio, Raffaella & Giuliano (1999), Yang Mei (2016), Nghiên cứu của
Jianteng Xu, Yuyu Chen và Qingguo Bai (2016), Hồ Trung Thành (2009), Dương Thị Tình (2015,
Nguyễn Thanh Hoài (2012).
Trong nội dung tổng quan này, bên cạnh việc chỉ ra các giá trị khoa học (về lý luận và thực tiễn)
được kế thừa, NCS cũng xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những cơ sở khoa học (cả lý luận và thực tiễn) để đề xuất các giải pháp
nhằm phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế đến năm
2025 và những năm tiếp theo.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích của đề tài, cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa và xây dựng những nguyên lý cơ bản về phát triển thương mại theo hướng
bền vững của các quốc gia như: bản chất và vai trò của thương mại theo hướng bền vững; Nội dung và
tiêu chí đánh giá phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặt trong mối quan hệ giữa thương mại với bảo vệ môi trường và
thương mại với các vấn đề xã hội.


4
Ba là, phân tích và đánh giá thực trạng chính sách phát triển thương mại theo hướng bền vững ở
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Bốn là, phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo hướng bền
vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Năm là, luận giải những vấn đề tồn tại trong thực hiện mục tiêu phát triển thương mại theo hướng
bền vững ở nước ta trước những thách thức do hội nhập quốc tế đem lại, chỉ ra những mặt được và bài
học kinh nghiệm, những hạn chế và nguyên nhân của phát triển thương mại Việt Nam theo hướng bền
vững.
Sáu là, đưa ra một số quan điểm, phương hướng và giải pháp phù hợp với thực tiễn tình hình
nghiên cứu trong giai đoạn 1995-2019, định hướng đến 2025 và các năm tiếp theo nhằm phát triển
thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phù hợp với định
hướng của Nhà nước.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những lý luận và thực tiễn về phát triển thương mại theo
hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu phát triển thương mại theo tiếp cận bền vững
gắn với kết quả phát triển thương mại đạt được về cả khía cạnh thương mại nội địa và thương mại xuất
nhập khẩu; chỉ nghiên cứu nội hàm phát triển thương mại theo hướng bền vững nhưng chú trọng đến
những yếu tố do tác động của hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế.
Thương mại theo nghĩa rộng của WTO bao gồm cả thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ.
Tuy nhiên, thương mại dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng (có 12 lĩnh vực, 155 tiểu ngành). Hơn nữa, luận
án thuộc chuyên ngành về quản lý kinh tế thì thương mại thường tiếp cận là thương mại hàng hoá

(gồm: thương mại nội địa và thương mại xuất nhập khẩu), và liên quan đến phương thức bán buôn, bán
lẻ, nhượng quyền thương mại và đại lý. Điều này sẽ phù hợp với Việt Nam, với quản lý thương mại
hàng hoá do Bộ công thương quản lý. Như vậy, phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là thương
mại hàng hoá của Việt Nam, tập trung vào thương mại nội địa và thương mại xuất nhập khẩu.
Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu sự phát triển thương mại gắn với bối cảnh hội nhập quốc tế,
tập trung vào thương mại hàng hoá ở cả trong nước và xuất nhập khẩu, và chỉ chú trọng những vấn đề
phát triển gắn với yêu cầu về phát triển bền vững.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại Việt Nam theo hướng bền
vững giai đoạn từ năm 1995 đến 2019 và đề xuất các quan điểm, giải pháp đến năm 2025 và những
năm tiếp theo.
6. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết: được sử dụng để phục vụ cho nghiên cứu tổng
quan tài liệu, nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài luận án. Liên kết những mặt, bộ phận,
những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra hệ thống


5
lý thuyết đầy đủ và sâu sắc về phát triển thương mại theo hướng bền vững.
b. Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: được sử dụng trong tổng quan nghiên cứu,
hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng một khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá, các quan điểm, chính
sách của Nhà nước về phát triển thương mại thương mại theo hướng bền vững.
c. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
- Nghiên cứu định tính: sử dụng trong nghiên cứu nội hàm phát triển thương mại theo hướng bền
vững, đánh giá chính sách, định hướng phát triển thương mại theo hướng bền vững của Việt Nam. Dữ
liệu thứ cấp được thu thập từ niêm giám thống kê, báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức,
doanh nghiệp, kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu định lượng: dùng trong thu thập, thống kê mô tả số liệu, kiểm định mô hình, ước
lượng biến số và đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo hướng
bền vững ở Việt Nam trong bôí cảnh hội nhập quốc tế theo mô hình ARDL, trên cơ sở nguồn dữ liệu
thứ cấp của Tổng cục thống kê, WB, Tradingeconomics,…

d. Phương pháp thống kê – so sánh: Tổng hợp các tài liệu, đối chiếu giữa các giai đoạn, các khu
vực khác nhau; Sử dụng hệ thống các bảng, hình để biểu diễn quy mô lượng, chất của phát triển thương
mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
7.1. Về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hóa và phát triển lý thuyết về phát triển thương mại theo hướng bền vững của
các quốc gia, trong đó: i) làm rõ bản chất, tiêu chí và nội dung của phát triển thương mại theo mại theo
hướng bền vững; ii) Phân tích những tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến sự phát triển
thương mại theo hướng bền vững; iii) điều kiện đảm bảo cho sự phát triển thương mại theo hướng bền
vững khi hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển thương mại theo hướng bền vững của một số quốc gia trên
thế giới;
Phân tích và xác lập mô hình nghiên cứu định lượng phù hợp để đánh giá tác động của các yếu tố
ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo hướng bền vững của một quốc gia trong bối cảnh hội nhập
quốc tế.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng đáp ứng yêu cầu phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam giai
đoạn 1995 đến 2019 theo các mục tiêu và tiêu chí phát triển thương mại theo hướng bền vững. Cụ thể:
Luận án tập trung phân tích, đánh giá về thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền vững của
Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1995 đến 2019; phân tích và chỉ ra những thời cơ, thách thức và
những vấn đề đặt ra đối với phát triển thương mại Việt Nam theo hướng bền vững trong bối cảnh hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Áp dụng mô hình đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo
hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xác định kết quả thực nghiệm mô hình.
Từ bối cảnh hội nhập quốc tế, luận án dự báo xu hướng, xác định quan điểm, định hướng phát


6
triển thương mại theo hướng bền vững của Việt Nam trong thời gian tới. Đặc biệt, luận án đã đề xuất
các giải pháp mang tính đồng bộ và có cơ sở khoa học nhằm phát triển thương mại theo hướng bền

vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế đến năm 2025 và những năm tiếp theo. Trong đó, các
giải pháp tập trung vào các nhóm sau: i) nhóm giải chung về phát triển thương mại theo hướng bền
vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế. ii) nhóm giải pháp phát triển thương mại nội địa theo hướng bền
vững iii) nhóm giải pháp phát triển thương mại xuất nhập khẩu theo hướng bền vững.
8. Kết cấu luận án
Luận án có kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển thương mại theo hướng bền vững
trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Chương 3: Những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thương mại theo hướng bền
vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2025 và những năm tiếp theo.


7

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. BẢN CHẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA HIỆN NAY
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về phát triển và phát triển bền vững
Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội và có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu tăng trưởng kinh tế chỉ tập trung đem lại lợi ích kinh tế cho một nhóm dân cư, một khu vực mà
không đem lại lợi ích kinh tế cho xã hội thì tăng trưởng kinh tế sẽ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội.
Những phương thức tăng trưởng như vậy cũng chỉ là ngắn hạn, không thúc đẩy được phát triển và sẽ bị
loại bỏ.
Định nghĩa về phát triển bền vững được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay là của WCED
(1987), phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại, nhưng không làm trở ngại
đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Mục tiêu phát triển bền vững là đạt được sự
đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận

của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên.
Mô hình ba hình tròn giao nhau được sử dụng phổ biến nhất để mô tả phát triển bền vững
(Barkemeyer, 2014). Phát triển bền vững là phần giao nhau ở giữa - nơi thống nhất 3 lĩnh vực. Mặc dù
có rất nhiều tranh luận về mô hình phát triển bền vững nhưng mô hình ba hình tròn giao nhau vẫn được
chấp nhận trên toàn thế giới, giúp khái niệm hoá khái niệm về phát triển bền vững (Peeters, 2012).
Những vòng tròn thể hiện sự khác nhau giữa phát triển bền vững với những vấn đề riêng biệt về chính
sách và chính trị, đề xuất ra một khái niệm tổng thể và bổ sung cho phát triển bền vững.
1.1.2. Bản chất của phát triển thương mại theo hướng phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển thương mại theo hướng bền vững
a. Khái niệm thương mại
Nếu nhìn dưới góc độ phân công lao động xã hội thì thương mại được coi là một ngành kinh tế
độc lập của nền kinh tế. Trong khuôn khổ luận án này, thương mại được tiếp cận là thương mại hàng
hóa và được nhìn từ góc độ là ngành kinh tế. Ngành thương mại chuyên đảm nhận chức năng tổ chức,
lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh
lời. Thương mại phát triển, lưu thông hàng hóa thông suốt biểu hiện của nền kinh tế lành mạnh, thịnh
vượng.
b.Khái niệm phát triển thương mại theo hướng bền vững
Với góc độ tiếp cận phát triển thương mại nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, khái
niệm phát triển thương mại theo hướng bền vững trong luận án này được đưa ra như sau: Phát triển
thương mại theo hướng bền vững là sự phát triển mà kết quả của phát triển thương mại đáp ứng
yêu cầu của phát triển bền vững, được biểu hiện cụ thể bằng sự phát triển nhanh, ổn định về quy


8
mô, cơ cấu hợp lý và đảm bảo chất lượng tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.
Tăng trưởng thương mại không liên tục, chứa nhiều rủi ro khi có biến động do cơ cấu không hợp
lý, gây nên bất ổn kinh tế vĩ mô; hoặc xuất khẩu tăng trưởng nhưng chủ yếu dựa vào tài nguyên, gây
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường; hoặc xuất khẩu chỉ đem lại lợi ích cho nhóm
người, gây bất bình đẳng xã hội… thì cũng không là phát triển thương mại theo hướng bền vững. Phát
triển thương mại theo hướng bền vững phải là sự phát triển xuất khẩu mà kết quả của nó đáp ứng các

yêu cầu về bền vững - ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi
trường.
c. Mục tiêu phát triển thương mại theo hướng bền vững
Thứ nhất, phát triển quy mô thương mại theo hướng bền vững. Phát triển thương mại theo hướng
bền vững phải duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định, dài hạn về quy mô, tốc độ của thương mại nội
địa và thương mại xuất nhập khẩu.
Thứ hai, phát triển cơ cấu thương mại theo hướng bền vững. Đảm bảo chất lượng tăng trưởng
thương mại trên cơ sở cơ cấu thị trường và sản phẩm bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá
trên thị trường quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước hội nhập thành công vào nền
kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ ba, đảm bảo chất lượng phát triển thương mại theo hướng bền vững. Nâng cao giá trị gia
tăng của thương mại, tăng tỷ trọng hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao, giảm tỷ trọng sản phẩm thô;
tăng cường năng lực và hiệu quả tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kết quả của phát triển thương mại
theo hướng phát triển bền vững đảm bảo tính cân đối, hài hoà giữa ba mặt lợi ích kinh tế, xã hội và môi
trường
1.1.3. Sự cần thiết của phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc
tế của các quốc gia hiện nay
Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc
tế và đời sống của từng quốc gia. Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc
gia/vùng lãnh thổ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và
tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế nhằm tạo thành sức
mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập kinh tế là nền tảng
hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập
về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát
triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
a. Sự cần thiết phải phát triển thương mại theo hướng bền vững của các quốc gia trong bối cảnh hội
nhập quốc tế
Thứ nhất, quá trình phát triển thương mại đã tạo nên sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa và thu nhập giữa các vùng miền, lý do sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin,
giao thông vận tải, về nguồn vốn đầu tư, về trình độ lao động, dẫn đến sự khác nhau về năng lực tiếp

cận thị trường cũng khác nhau.


9
Thứ hai, hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, đặt trong bối cảnh đó, quốc gia muốn tận dụng được
dòng vốn đầu tư quốc tế, dòng chảy công nghệ tiên tiến, khoa học kỹ thuật hiện đại… để phát triển
kinh tế thì phải tích cực và chủ động mở cửa nền kinh tế, tự do hoá thương mại.
Thứ ba, việc nhập khẩu những thiết bị cũ, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường sinh thái… Vì vậy, rất
cần thiết các quốc gia phải xây dựng chiến lược phát triển thương mại theo hướng bền vững phù hợp
với thực lực và lợi thế của quốc gia mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
b. Những vấn đề đặt ra cho phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc
tế của các quốc gia hiện nay
- Phải có hiểu biết đầy đủ về hội nhập quốc tế và tự do hoá thương mại.
- Phải có chiến lược phát triển và bước đi thích hợp trong từng thời kỳ hội nhập quốc tế
- Phải có một bộ máy Nhà nước đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả để ổn định tình hình chính trị và
quản lý nền kinh tế giữ vững đường hướng trên cơ sở đảm bảo tính độc lập, tự chủ, chủ quyền của dân
tộc, tập trung vào đúng chức năng vai trò, tạo điều kiện chung, đòn bẩy và động lực…
- Mục tiêu hội nhập quốc tế thành công và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, phải dựa
vào sức mạnh trong nước là chính, phải nội sinh hoá ngoại lực, nâng cao vị thế quốc gia.
1.2. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC
TẾ
1.2.1. Nội dung và các tiêu chí phản ánh sự phát triển thương mại theo hướng phát triển bền
vững của các quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế
1.2.1.1. Nội dung cơ bản phát triển thương mại theo hướng phát triển bền vững của các quốc gia trong
bối cảnh hội nhập quốc tế
a. Phát triển về quy mô thương mại theo hướng bền vững
Phát triển thương mại theo hướng bền vững phải duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định, dài
hạn về quy mô, tốc độ của thương mại nội địa và thương mại quốc tế.
Mở rộng thị trường nội địa, phát triển mạnh thương mại trong nước, phát triển hàng hoá có lợi

thế cạnh tranh, xây dựng thương hiệu hàng hoá trong nước. Đảm bảo số lượng và cơ cấu hàng hoá lưu
thông thông suốt trong cả nước, đặc biệt là các vùng nông thô, vùng sâu vùng xa.
Phát triển các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, nâng cao giá trị gia tăng từ thương mại và năng
lực hàng hóa xuất khẩu vào chuỗi giá trị toàn cầu; đa dạng hoá thị trường xuất nhập khẩu, đa phương
hoá mối quan hệ, mở rộng quan hệ giao thương với các quốc gia trên thế giới.
b. Phát triển cơ cấu thương mại theo hướng bền vững
Tích cực chuyển dịch cơ cấu thương mại hướng về xuất khẩu, góp phần tạo ra một nền kinh tế có
cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, phù hợp với thị trường và phân công
lao động quốc tế.


10
Chuyển dịch tăng trưởng thương mại chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, sử
dụng hiệu quả thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Xây dựng chiến lược dài hạn về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Thay đổi mô hình lưu thông hàng hóa theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa
trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo, giảm tối đa chất thải độc hại và khó
phân hủy.
c. Đảm bảo chất lượng phát triển thương mại theo hướng bền vững
Nâng cao giá trị gia tăng của thương mại, tăng tỷ trọng hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao,
giảm tỷ trọng sản phẩm thô; tăng cường năng lực và hiệu quả tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kết
quả của phát triển thương mại theo hướng phát triển bền vững đóng góp tích cực vào phát triển bền
vững nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, gắn liền với sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, và gắn với mục tiêu xoá đói giảm nghèo và đảm bảo công bằng
xã hội thông qua việc giải quyết việc làm cho người lao động, tạo mở việc làm có giá trị gia tăng cao.
1.2.1.2 Tiêu chí phản ánh sự phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc
tế
a. Quy mô phát triển thương mại theo hướng bền vững
 Tăng trưởng tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ

Tổng mức LCHH năm tn - Tổng mức LCHH năm tn-1
Tốc độ tăng tổng
=
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá năm tn-1
mức LCHH
x 100% (2.1)
Chỉ tiêu này duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng tổng mức hàng hoá lưu thông trong kỳ nghiên cứu
là đảm bảo theo sự phát triển bền vững.
 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
Tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu
hàng hoá

KN Xuất khẩu năm tn – KN Xuất khẩu năm tn-1
=

KN Xuất khẩu năm tn-1

Tốc độ tăng kim
KN Nhập khẩu năm tn – KN Nhập khẩu năm tn-1
ngạch nhập khẩu
=
KN Nhập khẩu năm tn-1
hàng hoá
b. Cơ cấu thương mại theo hướng bền vững
Cơ cấu XK(NK)nhóm

Giá trị XK(NK) nhóm hàng/ SITC/ thị trường
Tổng giá trị XK (NK)
hàng/SITC/thị trường

c. Chất lượng thương mại theo hướng bền vững
 Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
=

x 100 (2.2)

x 100 (2.3)

x 100 (2.4)

Đối với mục tiêu phát triển thương mại theo hướng bền vững, xu hướng tham gia chuỗi giá trị
toàn cầu là sự chuyển dịch từ việc tham gia vào quá trình sản xuất giản đơn, có giá trị gia tăng thấp
sang những mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn như R&D, thiết kế, marketing, phân phối…


11
 Đóng góp của thương mại trong GDP
Tỷ trọng đóng thương

Giá trị thương mại
x 100 (2.7)
∑ Giá trị GDP kinh tế
mại trong GDP
Tốc độ tăng của thương mại trong GDP tăng ổn định, liên tục trong quãng thời gian dài thì phản
ánh sự phát triển thương mại theo hướng tích cực, nền kinh tế tốt và định hướng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa.
 Phát triển thương mại gắn với mục tiêu xã hội
=

- Số lao động thương mại trong tổng lực lượng lao động của quốc gia

Tỷ trọng lao động thương

Số lao động thương mại
x 100 (2.8)
Tổng số lao động quốc gia
mại trong tổng lao động
- Thu nhập lao động thương mại trên thu nhập lao động bình quân cả nước
Thu nhập bình quân của lao động trong ngành thương mại là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật
của lao động trong ngành thương mại thu được, tính bình quân trong một kỳ nhất định, phản ánh mức
sống của người lao động, thực trạng về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, là cơ sở để hoạch
định chính sách thương mại.
=

 Phát triển thương mại gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường
Tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên

=

Giá trị xuất khẩu tài nguyên không tái tạo

x 100% (2.9)
không tái tạo/GDP
∑ Giá trị GDP kinh tế
Ngoài ra, chính sách thúc đẩy phát triển thương mại và bảo vệ môi trường cũng phản ánh sự phát
triển thương mại theo hướng bền vững như khả năng kiểm soát về môi trường của Nhà nước đối với
các hoạt động thương mại, ý thức về môi trường của doanh nghiệp…
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo hướng phát
1.2.2.1 Nhóm nhân tố thuộc về mô hình phát triển kinh tế
Mô hình tăng trưởng kinh tế có vai trò định hướng cho các chiến lược phát triển kinh tế nói
chung và phát triển thương mại nói riêng tại từng giai đoạn khác nhau. Luật pháp, chính sách, thể chế

thương mại đều ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại theo hướng bền vững, yêu cầu mỗi quốc
gia phải xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển thương mại hợp lý, phù hợp với nền kinh tế trong bối
cảnh tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế.
1.2.2.2 Nhóm nhân tố thuộc về toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại
Urs Zollinger và cộng sự (2007), Dương Thị Tình (2015) và Hồ Trung Thành (2009) cho rằng
toàn cầu hoá ảnh hưởng tích cực đến phát triển thương mại theo hướng bền vững. Toàn cầu hoá đẩy
mạnh tự do hóa các hoạt động tài chính và đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng mang lại nhiều
thách thức như sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, sự cạnh tranh khốc liệt, sự phụ thuộc và chịu
chi phối của các nước giàu, gia tăng những vấn đề bất bình đẳng và tệ nạn xã hội…
1.2.2.3 Nhóm nhân tố thuộc về trình độ phát triển nền kinh tế
a. Lao động: UNCED (1992) đã nêu con người là trung tâm của mọi sự phát triển, mọi sự phát


12
triển đều hướng vào con người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cạnh tranh quyết liệt,
phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có lao động chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi
cho đầu tư, có môi trường chính trị - xã hội ổn định.
b. Khoa học công nghệ. Sharon Beder (1994) cho rằng khoa học công nghệ giúp tăng trưởng kinh
tế liên tục trong một thế giới hữu hạn thông qua việc tìm các nguồn mới hoặc cung cấp các giải pháp
thay thế, tái sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất.
c. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Liu Ligang (2001) cho rằng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại theo hướng bền vững.
Theo United Nations (2015), cạnh tranh giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, thúc đổi sự đổi mới,
nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Từ kinh nghiệm của các nước về việc kết hợp chính sách thương mại và chính sách môi trường
có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
Một là, kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế dựa vào
tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo trên cơ sở phát huy lợi

thế so sánh “tĩnh” và “động” của đất nước.
Hai là, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng “rút ngắn”, chuyển từ cơ cấu phát triển các
ngành có hàm lượng lao động cao sang các ngành có hàm lượng vốn, công nghệ cao, có khả năng tiếp
ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Ba là, xác định đúng đắn vị trí đặc biệt quan trọng của ngành nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm
điểm tựa khởi đầu để phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Bốn là, chủ động thực hiện các cam kết quốc tế về thuế quan, giảm hàng rào kỹ thuật, các hạn
chế, cấm và cấp phép đối với hàng hoá nhập khẩu để thực hiện một chính sách tự do hoá thương mại
kết hợp với bảo hộ hợp lý.
Năm là, cần hoạch định chính sách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng khai thác có hiệu
quả nguồn lực bên trong và bên ngoài, phù hợp với tiến trình hội nhập, thích ứng với chuyển đổi kinh
tế khu vực và thế giới.
Sáu là, thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô, cung cấp các kết cấu hạ tầng tốt, tạo môi trường pháp lý
rõ ràng, nhất quán, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh.


13

Chương 2. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
2.1. MỘT SỐ KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1.1. Khái quát về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ, là trọng tâm xuyên suốt của
công cuộc đổi mới đất nước. Tính đến tháng 02 năm 2020, Việt Nam tham gia 16 FTA song phương và
đa phương (12 FTA đang có hiệu lực, 1 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực, 3 FTA đang trong quá trình
đàm phán). Tổng số đối tác đang có FTA với Việt Nam là 21 quốc gia, nếu 16 FTA có hiệu lực thì tổng
số đối tác tăng lên là 57 quốc gia. Việt Nam tham gia vào WTO và FTA thế hệ mới đã đánh dấu hai làn
sóng hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Kết quả của các bước hội nhập là nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế mở, với mức

tự do hóa tương đối mạnh mẽ, môi trường kinh doanh, thể chế kinh tế của Việt Nam phù hợp hơn với
thông lệ thế giới và các chuẩn mực kinh tế thị trường cơ bản. Kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng
trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới. Năm 2019, GDP Việt Nam tăng 7,02%. Quá trình hội nhập
quốc tế đã tạo sức ép để Việt Nam hoàn thiện khung khổ chính sách, pháp luật nội địa về kinh tế, các
thiết chế kinh tế cũng như phương thức vận hành nền kinh tế theo tiêu chuẩn thế giới.
2.1.2. Thực trạng phát triển thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam
2.1.2.1 Thực trạng phát triển thương mại nội địa của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Thương mại nội địa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt là
trong bối cảnh Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tham gia
ngày càng sâu vào hội nhập quốc tế. Việt Nam hình thành thị trường nội địa thống nhất, ổn định và
thông suốt trên cả nước và ngày càng tham gia tích cực vào xu hướng hội nhập quốc tế. Ngoài ra, hội
nhập quốc tế góp phần xuất hiện nhiều phương thức kinh doanh tiên tiến, hiện đại như sự xuất hiện và
phát triển nhanh chóng của các loại hình thương mại hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, trung
tâm mua sắm..). Việc toàn cầu hoá thuế nhập khẩu dẫn đến sự gia tăng nhanh nguồn hàng nhập khẩu từ
các nước vào Việt Nam với giá thành rẻ, chất lượng và mẫu mã phong phú. Điều này sẽ gây sức ép
cạnh tranh đến sản xuất trong nước, doanh nghiệp và nông dân Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm nông


14
sản sẽ dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập quốc tế.
2.1.2.2 Thực trạng phát triển thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc
tế
Hai làn sóng hội nhập quốc tế là bước ngoặt đánh dấu sự tích cực, chủ động của Việt Nam tham
gia thương mại toàn cầu. Thương mại xuất nhập khẩu không những đóng góp tích cực vào tăng trưởng
kinh tế mà còn tạo ra những thay đổi quan trọng đối với sản xuất trong nước, góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chất lượng tăng trưởng lại chưa thể hiện sự bền
vững, chưa thể hiện rõ xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xuất khẩu chủ yếu là các ngành công
nghiệp trình độ thấp, sử dụng nhiều lao động và giá trị gia tăng thấp và ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị
toàn cầu.
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
2.2.1 Thực trạng phát triển quy mô phát triển thương mại theo hướng bền vững
2.2.1.1 Tăng trưởng tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ Việt Nam liên tục tăng qua các năm từ 1995 đến nay, góp
phần tích cực đối với hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hoá trên thị trường nội địa, đáp ứng ngày càng
tốt nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ năm 2019 đạt
3.751.335 tỷ đồng.
2.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
300,000
250,000

Triệu US D

200,000
150,000
100,000
50,000
0
-50,000

98 99 00 01 02 03 04 05 06 07
08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19
95 96 97
19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Cán cân thương mại


Nguồn: Tổng cục thống kê (2020)
Hình 2.5: Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1995 - 2019
Năm 2019 là năm thứ 4 liên tiếp Việt Nam đạt thặng dư thương mại, điều đó tạo đà cho mục tiêu
cải thiện cán cân thương mại theo hướng tích cực. Xuất khẩu Việt Nam tăng 8,1% năm 2019, chủ yếu
xuất khẩu điện tử tăng mạnh. Điều đó phản ánh vị thế của Việt Nam với thế giới cũng như hiệu quả
trong chiến lược điều hướng thương mại của Nhà nước.
2.2.2 Thực trạng phát triển cơ cấu thương mại theo hướng bền vững
2.2.2.1 Cơ cấu xuất khẩu, nhập khẩu theo nhóm hàng


15
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng giảm dần tỷ trọng
hàng nguyên liệu thô và sơ chế, tăng dần tỷ trọng hàng chế biến, chế tạo. Giai đoạn 2011 đến nay, cơ
cấu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản lại chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng hàng hoá xuất khẩu, do
xu hướng gia tăng đột biến của mặt hàng điện thoại, linh kiện và phần lớn các mặt hàng này đều từ khu
vực FDI; tiềm ẩn sự phát triển thiếu bền vững vì xuất khẩu sản phẩm có giá trị gia tăng ít. Cơ cấu hàng
hóa nhập khẩu hàng hoá chuyển dịch theo hướng tích cực dù không đáng kể. Cơ cấu hàng hoá nhập
khẩu của Việt Nam chưa hướng vào phần cốt lõi của phát triển bền vững.
2.2.2.1 Cơ cấu xuất khẩu, nhập khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương quốc tế (SITC)
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã có xu hướng giảm dần tỷ trọng các mặt hàng thô
hoặc mới sơ chế. Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam xét theo tiêu chuẩn ngoại thương cũng
không biến động mạnh. Giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục vụ hoạt động gia công lắp ráp chiếm tỷ
trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu hàng hoá….. Nói cách khác, gia tăng xuất khẩu đồng nghĩa với
gia tăng nhập khẩu.
2.2.2.3 Cơ cấu xuất khẩu, nhập khẩu theo thị trường
Thực hiện đường lối hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa của Việt Nam ngày càng được mở rộng và đa dạng hóa. Cơ cấu của các đối tác xuất khẩu của Việt
Nam khá đồng đều và ổn định, trừ Nhật Bản có xu hướng ngày càng giảm. Cơ cấu thị trường nhập
khẩu hàng hóa của Việt Nam có sự dịch chuyển theo hướng tích cực nhưng còn chậm. Năm 2019, sáu

quốc gia và khu vực trên chiếm 80,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam
2.2.3 Thực trạng chất lượng phát triển thương mại theo hướng bền vững
2.2.3.1 Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Thương mại Việt Nam mới chỉ tham gia vào chuỗi giá trị dựa trên giá cả mà chưa có sự đầu tư về
nguồn nhân lực, trình độ công nghệ để tham gia vào những chuỗi giá trị dựa trên chất lượng và năng
suất. Do đó, để thu được giá trị lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần vượt qua khỏi khâu
sản xuất, lắp ráp và đầu tư nhiều hơn vào những khâu tiền sản xuất như nghiên cứu và phát triển, thiết
kế.. hoặc những khâu hậu sản xuất như marketing, phân phối…
2.2.3.2 Đóng góp của thương mại trong GDP
Trong giai đoạn 1995-2019, giá trị thương mại Việt Nam có xu hướng tăng đều vào các năm cuối
kỳ nghiên cứu. Thương mại đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam. Tuy nhiên,
nhìn sâu hơn có thể thấy tăng trưởng GDP và xuất khẩu cơ bản dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Khu vực kinh tế trong nước liên tục nhập siêu ở quy mô lớn trong khi khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài liên tục có thặng dư. Điều này cho thấy sự chưa bền vững trong phát triển thương
mại ở Việt Nam hiện nay, nguy cơ nền kinh tế bị lệ thuộc vào FDI và sự hạn chế trong việc tận dụng
các cơ hội từ hội nhập.


16
2.2.3.3. Đóng góp của thương mại vào mục tiêu bảo vệ môi trường
Trong kỳ nghiên cứu, phát triển thương mại đã có những đóng góp vào việc duy trì, phát triển
sinh học và bảo vệ môi trường, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, phát triển thương
mại kéo theo các vấn đề về ô nhiễm môi trường, điển hình là ô nhiễm không khí. Đặc biệt là hoạt động
khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ đang diễn ra khá phổ biến ở Việt Nam. Việc đẩy mạnh xuất
khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ đã làm diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, chất lượng rừng chưa được
cải thiện. Khai thác gỗ trái phép là nguyên nhân làm giảm diện tích rừng.
2.2.3.4 Đóng góp của thương mại vào mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Quy mô thương mại ngày càng mở rộng sẽ tạo ra nhiều công việc cho xã hội. Nhờ thương mại
tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 1995-2019, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 37,4% năm 1998 xuống
dưới 4% năm 2019. Thương mại và xuất khẩu hàng hoá tăng nhanh đã góp phần làm tăng GDP, do đó

làm tăng thu nhập bình quân đầu người. Nhìn chung, thu nhập của lao động thương mại tăng tạo ra
nguồn động viên, khích kệ lớn cho lao động thương mại cải thiện cuộc sống.
2.2.4 Thực trạng chính sách phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập
quốc tế của Việt Nam
- Chính sách mặt hàng: Chính sách quản lý mặt hàng thiết yếu, chính sách quản lý chất lượng hàng
hoá, chính sách xây dựng thương hiệu quốc gia, chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Chính sách thương nhân
- Chính sách thị trường:
+ Chính sách phát triển thương mại nội địa,
+Chính sách phát triển thương mại xuất nhập khẩu,
+ Chính sách thuế quan,
+ Các biện pháp hạn chế định lượng,
+ Hạn ngạch thuế quan,
+ Chính sách phòng vệ thương mại
- Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại
2.2.5 Phân tích kết quả tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại theo
hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2.2.5.1 Mô hình nghiên cứu
Các kí hiệu: là kí hiệu cho các biến dừng; t-i, t-j, t-k lần lượt là các độ trễ của biến nghiên cứu
2.2.5.2. Kết quả phân tích hồi quy
 Kết quả phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên trong GDP (XKTN)
Với hai kiểm định về tự tương quan và phương sai sai số thay đổi đều thỏa mã (p-value của cả hai
kiểm định đều lớn hơn 0.05) nên mô hình đạt tin cậy để phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố
lên xuất khẩu tài nguyên


17
Kết quả phân tích hồi quy qua mô hình ARDL chỉ ra GDP, ICOR, FTA có ảnh hưởng ngược chiều
lên xuất khẩu tài nguyên trong ngắn hạn (hệ số beta âm và p-value đều nhỏ hơn 0.05). Kết quả này chỉ
ra nếu một trong các yếu tố GDP, ICRO hay FTA tăng sẽ làm cho tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên giảm đi và

ngược lại. Trong dài hạn, các yếu tố Openess, FTA và GCI có ảnh hưởng ngược chiều lên tỷ lệ xuất
khẩu tài nguyên. Kết quả này cho thấy chiến lược dài hạn cho việc thay đổi tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên
cần tập trung vào OPENESS, FTA và GCI do các yếu tố GDP hay ICOR chỉ có ảnh hưởng trong ngắn
hạn
Các yếu tố tăng trưởng kinh tế tư nhân GE_PRIVATE, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp
(LB_AGRI)có tác động cùng chiều lên tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên trong ngắn hạn (hệ số beta dương và
p-value đều nhỏ hơn 0.05). Tuy nhiên trong dài hạn chỉ có tỷ lệ lao động trong nông nghiệp có ảnh
hưởng cùng chiều lên tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên.
 Kết quả phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là LB
Kết quả phân tích cho biến phụ thuộc LB chỉ ra trong cả ngắn hạn và dài hạn thì ICOR, OPeness có ảnh
hưởng cùng chiều lên tỷ lệ lao động LB (hệ số beta dương và p-value nhỏ hơn 0.05). Trong ngắn hạn
việc tăng ICRO hay Openess giúp tỷ lệ lao động LB tăng lên và ngược lại
Các yếu tố tă trưởng trong lĩnh vực tư nhân GE_PRIVATE, FDI có ảnh hưởng ngược chiều lên tỷ lệ lao
động LB trong ngắn hạn (hệ số beta âm và p-value nhỏ hơn 0.05). Tuy nhiên, trong dài hạn chỉ có FTA
là ảnh hưởng ngược chiều lên tỷ lệ lao động LB (hệ số trong dài hạn dương và p-value nhỏ hơn 0.05).
 Kết quả phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là TM
Theo kết quả định lượng của các hệ số biến (GDP, ICOR, GE_PRIVATE, OPENESS, FDI, LB_AGRI),
các yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến sự đóng góp của thương mại trong GDP, phản ảnh sự tác
động tích cực đến nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phù hợp với thực trạng phát triển
thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam. Kết quả mô hình định lượng, hệ số biến GCI (chỉ số
năng lực cạnh tranh toàn cầu) không giải thích cho sự phát triển thương mại theo hướng bền vững ở
Việt Nam trong mẫu nghiên cứu như kỳ vọng.
Kết quả định lượng của các hệ số phù hợp với thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền
vững ở Việt Nam.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
2.3.1. Những thành công và hạn chế về thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền vững
trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam thời gian vừa qua
2.3.1.1 Những thành công
Thứ nhất, sự phát triển của thương mại đã nâng cao quy mô nền kinh tế.

Thứ hai, xuất nhập khẩu hàng hoá được mở rộng và duy trì tăng trưởng cao trong nhiều năm.
Thứ ba, cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng được mở rộng và đa dạng, cơ cấu thị
trường xuất khẩu dần chuyển dịch theo hướng tích cực.
Thứ tư, thương mại đã góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng


18
cao thu nhập cho người lao động và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, giúp đảm bảo hài hoà hơn các
mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển thương mại theo hướng bền vững.
Thứ năm, hệ thống chính sách khuyến khích và mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa
phương đã và đang cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, đảm
bảo nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị và công nghệ.
2.3.1.2 Những hạn chế
Thứ nhất, thị trường thương mại nội địa đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức.
Thứ hai, cơ cấu mặt hàng theo mức độ chế biến thiếu tính bền vững, chủ yếu phát triển theo chiều
rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu.
Thứ ba, cán cân xuất khẩu, nhập khẩu theo thị trường diễn biến ngày càng tiêu cực, điển hình ở
cán cân thương mại với các đối tác thương mại lớn.
Thứ tư, cơ cấu thành phần kinh tế trong xuất khẩu hàng hoá vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khu vực
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ năm, hệ thống chính sách thương mại còn một số hạn chế.
Thứ sáu, nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường từ bên ngoài hay ô nhiễm môi trường xuyên quốc
gia từ quá trình tự do hoá thương mại, hội nhập quốc tế.
Thứ bảy, trong quá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa thương mại, gia tăng bất bình đẳng,
khoảng cách giàu nghèo, đồng thời tác động đến sự dịch chuyển lao động và áp lực già hóa dân số đối
với hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia là rất lớn.
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế về thực trạng phát triển thương mại theo hướng bền vững
trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam thời gian vừa quan
Thứ nhất, phát triển thương mại theo hướng bền vững là một chủ trương đòi hỏi sự đồng bộ,
thống nhất từ Trung ương đến địa phương, các ngành và doanh nghiệp.

Thứ hai, thể chế, chính sách thương mại còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng thực tiễn hội nhập
quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam tham gia các cam kết quốc tế, đặc biệt FTA thế hệ mới mang tính bị động, chưa
có chiến lược rõ ràng, đặc biệt sự sẵn sàng và sự chuẩn bị chưa tốt.
Thứ tư, yếu kém về kết cấu hạ tầng và công nghiệp hỗ trợ dẫn đến hệ quả là không ít ngành hàng
phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu, bị động trong sản xuất, giá trị gia tăng thấp…
Thứ năm, đội ngũ và trình độ lao động thương mại phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Thứ sáu, nguồn lực đầu tư cho phát triển thương mại còn gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển.
Thứ bảy, hạn chế về năng lực thực thi các quy định về môi trường, đặc biệt là tại các khu công
nghiệp, khai thác khoáng sản, vùng nuôi trồng thuỷ sản.


19

Chương 3. NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM ĐẾN NĂM 2025 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
3.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 VÀ NHỮNG
NĂM TIẾP THEO
3.1.1. Một số dự báo về phát triển thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam đến
năm 2025 và những năm tiếp theo
3.1.1.1 Dự báo về thương mại nội địa
Dự báo thương mại nội địa năm 2025 đạt trên 700 nghìn tỷ đồng, đóng góp khoảng 15,5% vào
GDP.
a. Dự báo về thị trường bán lẻ
Về quy mô dân số: dân số 96.462.106 triệu người năm 2019, tỷ lệ tăng dân số dự báo khoảng
1%/năm và đạt 100 triệu người vào năm 2025, trong đó nhóm dân chi tiêu cho tiêu dùng lớn nhất là 2255 tuổi, chiếm hơn 70% dân số.
Về thu nhập và sức mua: Thu nhập ròng trên mỗi hộ gia đình được dự báo tăng hơn 42% vào năm

2025. Tổng chi tiêu hộ gia đình được dự báo sẽ tăng 50% vào năm 2025, theo Fitch Solutions.
b. Về phương thức mua hàng
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thương mại điện tử được dự
đoán phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Thương mại điện tử với những đặc tính vượt trội như tiết
kiệm thời gian, chi phí thương mại, mở rộng cơ hội gia nhập thị trường, kích thích tiêu dùng… tạo điều
kiện cho phát triển thương mại toàn cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá sâu rộng hiện
nay.
c. Xu hướng tham gia vào chuỗi cung ứng hàng hoá, gắn lưu thông với sản xuất, chế biến và hình
thành nên các chuỗi cung ứng hàng hóa.


20
3.1.1.2. Dự báo thương mại xuất nhập khẩu
Xuất khẩu dự báo tiếp tục tăng trưởng trong năm 2020, kéo theo nhập khẩu tăng đặc biệt ở những
ngành Việt Nam phụ thuộc nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc từ nước ngoài. Một số xu hướng
thương mại xuất nhập khẩu được dự báo như sau:
a. Cơ hội phát triển thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam từ các hiệp định thương mại tự do
Toàn cầu hoá và khu vực hoá tiếp tục tác động sâu sắc đến phát triển thương mại và tự do hoá
thương mại. Quá trình hội nhập quốc tế và và sự bùng nổ các hiệp định thương mại tự do khu vực, song
phương, đa phương, đặc biệt là sự ra đời của các FTA thế hệ mới tiếp tục gắn kết quá trình hợp tác, liên
kết sản xuất, thúc đẩy các quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Dự báo trong thời gian tới, việc
thực thi các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA sẽ tạo ra làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam.
b. Cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã mở ra cho Việt Nam cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu.
Các mặt hàng do Trung Quốc sản xuất bị đánh thuế cao sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng hoạt động
xuất khẩu các mặt hàng tương tự sang Mỹ. Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mua được nguyên vật
liệu, linh kiện, phụ tùng với giá rẻ, từ đó tăng sức cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Mỹ,
thay thế phần nào hàng hóa Trung Quốc.
c. Xu hướng ứng dụng khoa học công nghệ trong thời đại 4.0
Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã làm thay đổi phương thức giao dịch qua biên giới. Việc ứng

dụng các phần mềm quản lý sẽ giúp các doanh nghiệp có đầy đủ thông tin về các giao dịch ngoại
thương, quy định pháp luật hiện hành đối với từng thị trường. Xu hướng này sẽ làm giảm thời gian và
chi phí thương mại, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đồng thời, điều này cũng đặt ra yêu cầu đối
với cơ quan nhà nước có các chế tài, quy định để kiểm soát các hoạt động ại tận dụng các kẽ hở của
thương mại điện tử.
3.1.1.3. Xu hướng phát triển thương mại theo hướng phát triển bền vững.
Xu hướng phát triển thương mại theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng
xã hội. Do vậy, phát triển sản xuất, tiêu thụ, nguồn cung ứng.. gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi
trường..
3.1.1.4 Dự báo một số rủi ro đối với phát triển thương mại theo hướng bền vững
a. Rủi ro từ những căng thẳng chính trị: Những xung đột chính trị và căng thẳng thương mại sẽ
ảnh hưởng đến niềm tin nhà đầu tư, sự suy giảm thương mại, công nghiệp và sản xuất toàn cầu, cung
sản phẩm và tiêu dùng.
b. Rủi ro từ dịch bệnh: Dịch bệnh bùng phát làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự tăng trưởng và
phát triển thương mại. Dịch bệnh làm giảm đầu tư của nền kinh tế trong ngắn và dài hạn, ảnh hưởng rõ
nét tới nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp
3.1.2. Những quan điểm và mục tiêu chủ yếu phát triển thương mại theo hướng bền vững trong
bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2025 và những năm tiếp theo
3.1.2.1 Quan điểm phát triển thương mại mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế


21
của Việt Nam đến năm 2025 và những năm tiếp theo
Thứ nhất, phát triển thương mại theo hướng bền vững phải đảm bảo tính cân đối và hài hoà giữa
lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường, giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai.
Thứ hai, phát triển thương mại theo hướng bền vững hướng tới xây dựng một nền kinh tế độc lập,
tự chủ, khai thác tối đa lợi thế so sánh quốc gia và tận dụng thời cơ từng bước hội nhập quốc tế sâu,
rộng.
Thứ ba, phát triển thương mại theo hướng bền vững dựa trên cơ sở thu hút mọi sự tham gia, đóng
góp của mọi cấp, mọi ngành và mọi thành phần trong xã hội.

3.1.2.2 Mục tiêu chủ yếu phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế
của Việt Nam đến năm 2025 và những năm tiếp theo
Mục tiêu tổng quát đến năm 2025 thương mại luôn là ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
thương mại dịch vụ có trình độ, chất lượng cao.
Thứ nhất, tạo môi trường cạnh tranh, phát triển thị trường xã hội với nhiều thành phần kinh tế,
tham gia trong khuôn khổ pháp luật; Giữ vững ổn định giá, đặc biệt là những mặt hàng thiết yếu ảnh
hưởng đến sản xuất và tiêu dùng; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá – hiện đại hoá.
Thứ hai, đẩy mạnh khai thác và phát triển thị trường thương mại nội địa; thực hiện có hiệu quả
các giải pháp bảo đảm cân đối cung - cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối hàng hóa, tăng cường
liên kết trong chuỗi giá trị, chú trọng đến các mặt hàng nông sản. Đến năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng
hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng hơn 11 triệu tỷ đồng; đến năm 2035 khoảng gần 2,3
triệu tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng đạt bình quân 14,5%/năm đến 2035.
Thứ ba, nâng cao tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu. Mục tiêu năm 2025
kim ngạch xuất khẩu đạt 340 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 330 tỷ USD. Chuyển dịch cơ
cấu xuất khẩu theo hướng gia nâng cao giá trị gia tăng; đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, phát triển
hướng tới các thị trường FTA thế hệ mới; tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm
lượng công nghệ và kỹ thuật cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ.
Thứ tư, phát triển thương mại theo hướng bền vững góp phần tích cực theo hướng hài hoà, cân
đối giữa sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
3.1.3. Những định hướng căn bản nhằm phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối
cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2025 và những năm tiếp theo
Một là, tăng cường mối quan hệ giữa phát triển thương mại trong nước với phát triển thương mại
quốc tế.
Hai là, phát triển thương mại trong nước theo hướng xây dựng cấu trúc ngành bán buôn, bán lẻ
hiện đại, nâng cao tính cạnh tranh, đảm bảo công bằng và bình đẳng trong điều kiện mở cửa thị trường



22
dịch vụ phân phối.
Ba là, phát triển thương mại quốc tế theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu để đảm bảo cân bằng cán
cân thương mại, chuyển dịch mạnh cơ cấu xuất khẩu cả về mặt hàng và thị trường, tăng cường năng lực
quản lý nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, bảo vệ thị trường trong nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Bốn là, chú trọng nâng cao năng lực hỗ trợ, cung cấp dịch vụ hậu cần trong hoạt động thương
mại.
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 VÀ NHỮNG
NĂM TIẾP THEO
3.2.1 Nhóm giải pháp chung về phát triển thương mại theo hướng bền vững trong bối cảnh hội
nhập quốc tế
3.2.1.1 Phát triển thương mại theo hướng bền vững với các lợi ích kinh tế
- Khai thác tốt nhất lợi thế so sánh của đất nước ta trên thị trường khu vực và thế giới để đẩy
mạnh xuất khẩu.
- Tận dụng được các nguồn lực hiện có của đất nước, đặc biệt là lao động.
- Tránh được ô nhiễm môi trường và khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên do đẩy mạnh xuất
nhập khẩu.
- Đảm bảo sự đóng góp tích cực của các hoạt động thương mại với mục tiêu tạo công ăn việc làm,
xoá đói nghèo.
- Hạn chế tối đa sự rủi ro và lệ thuộc vào bên ngoài trước những biến động của các nền kinh tế và
thị trường thế giới.
3.2.1.2 Phát triển thương mại theo hướng bền vững với các lợi ích môi trường
Một là hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý Nhà nước về thương mại môi trường.
Hai là xây dựng và hoàn thiện hệ thống các công cụ quản lý để điều chỉnh các hoạt động thương mại nhằm
hạn chế và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường.
Ba là nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn của những người làm công tác thương mại và
công tác môi trường, giáo dục ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và chấp hành các quy định về
bảo vệ môi trường.

3.2.1.3 Phát triển thương mại theo hướng bền vững với các lợi ích xã hội
Một là khống chế tăng trưởng nhân khẩu, giảm áp lực già hóa dân số.
Hai là, phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ, cân
bằng với phát triển và hoàn thiện hệ thống chăm sóc xã hội đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ ngày
càng tăng của người dân
Ba là, cơ cấu lại nguồn lực bảo đảm an sinh xã hội
Bốn là, đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý lĩnh vực an sinh xã hội.
3.2.1.4 Phát triển thương mại theo hướng bền vững với lồng ghép hài hoà ba lợi ích kinh tế - xã hội –
môi trường


23
Ưu tiên nhất định với một số ngành, một số lĩnh vực sản xuất phục vụ xuất khẩu có vai trò tích
cực trong giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, như: Dệt may, công nghiệp chế
biến, nông - lâm - thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần kiểm soát chặt chẽ
xuất khẩu đáp ứng đòi hỏi phát triển bền vững, như: Bảo vệ tài nguyên, động vật quí hiếm, các di sản
văn hóa dân tộc, tài nguyên rừng...
Hiện tại, một bộ phận dân cư còn đang sống dưới ngưỡng nghèo, chưa đáp ứng được đủ những
nhu cầu cơ bản của mình về ăn mặc, ở, học hành, những hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu.
Nghèo đói cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí và không hợp lý
tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu
đối với chính sách thương mại cần tăng cường hỗ trợ để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
người có thu nhập thấp tại các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển.
3.2.2. Nhóm giải pháp phát triển thương mại nội địa theo hướng bền vững
3.2.2.1 Đảm bảo ổn định cung cầu hàng hoá, đặc biệt hàng hoá thiết yếu nhằm đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia
3.2.2.2. Đảm bảo phát triển thương mại hàng hoá khu vực nông thôn, miền núi, biên giới.. để thúc đẩy
kinh tế hàng hoá, xoá đói giảm nghèo…
3.2.2.3 Thúc đẩy tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước, người Việt Nam dùng hàng Việt Nam… chất
lượng, tiêu chuẩn hoá

- Gắn kết lưu thông với sản xuất, đẩy mạnh liên kết chuỗi sản phẩm.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thương mại.
- Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
- Một số định hướng chính sách khác như tiếp tục cải cách hành chính; công khai minh bạch và
tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong quá trình kê khai nộp thuế;
3.2.2.4 Hoàn thiện chính sách đối phát triển thương mại nội địa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước đối với thị trường và thương mại thông qua
việc tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và đồng bộ hoá hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế, đổi
mới tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành của hệ thống quản lý Nhà nước về thương mại theo hướng:
Thứ hai, xây dựng chính sách tiêu dùng hợp lý, phù hợp với thu nhập, cân đối giữa tích luỹ và
tiêu dùng, mang tính khoa học, văn minh, lạnh mạnh, đồng thời thân thiện với môi trường.
Thứ ba, định hình và cấu trúc hợp lý mô hình các kênh lưu thông và hệ thống thương nhân trên
phạm vi cả nước và trong từng địa phương.
3.2.3. Nhóm giải pháp phát triển thương mại xuất nhập khẩu theo hướng bền vững
3.2.3.1 Đảm bảo cân bằng cán cân thương mại, đa dạng hoá thị trường, hạn chế sự phụ thuộc vào một
số thị trường lớn, khai thác tốt các cam kết đã ký để tăng kim ngạch xuất khẩu
Thứ nhất, Nhà nước nên có chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực sản xuất - cung ứng
nguyên phụ liệu trong nước nhằm thay thế cho nguồn nhập khẩu.


×