Tải bản đầy đủ (.doc) (115 trang)

Cụng tỏc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 2007

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (405.73 KB, 115 trang )

Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh

Phạm nhất linh

công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
của Đảng bộ tỉnh cà mau từ 1997 - 2007
Chuyên ngành

: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số

: 60 22 56

luận văn thạc sĩ lịch sử

Người hướng dẫn khoa học: TS nguyễn đình cả

Hà nội - 2009


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trỡnh nghiờn cứu
của riờng tụi. Cỏc số liệu nờu trong luận văn là trung
thực. Kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất cứ công trỡnh khoa học nào khỏc.

Tác giả luận văn

Phạm Nhất Linh




MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI
LẬP ( 1997 – 2001 )

7

1.1. Tỡnh hỡnh kinh tế xó hội và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó
ở tỉnh Cà Mau trước những yêu cầu đặt ra khi tái lập
1.2. Chủ trương, biện pháp và quá trỡnh xõy dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

7

cấp xó của Đảng bộ Cà Mau trong những năm đầu tái lập (1997 – 2001)

25

Chương 2: CễNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
( 2002 – 2007 )

37


2.1. Yờu cầu đặt ra đối với đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở Cà Mau
trong tỡnh hỡnh mới
2.2. Quỏ trỡnh lónh đạo, tổ chức, thực hiện, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xó của Đảng bộ Cà Mau ( 2002 - 2007)

37
49

Chương 3: THÀNH CÔNG VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ Ở TỈNH CÀ MAU ( 1997 - 2007)

66

3.1. Những thành công bước đầu trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau
3.2. Một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

66

cấp xó ở tỉnh Cà Mau (1997 - 2007)

89

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CễNG TRèNH CỦA TÁC GIẢ

98
10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
10

PHỤ LỤC

2
10
8


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc; muụn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Trong cách
mạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta đã có được đội
ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực
tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ các cấp đã đưa chủ
trương, đường lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ chức, lãnh đạo quần
chúng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng, làm nên thắng lợi
lịch sử của cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hơn hai mươi năm qua, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế; mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị; xây
dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; củng cố quốc

phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, v.v…Để nâng cao sự lãnh đạo của
Đảng lên ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, chủ động nắm thời cơ, vượt qua
thách thức và nguy cơ, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược và đường lối của
Đảng đề ra trong giai đoạn hiện nay, công tác cán bộ của Đảng trở thành "khâu
then chốt của vấn đề then chốt".
Nhận thức được việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đóng
vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương năm khoá IX đã ra Nghị quyết :Về đổi mới và nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Nghị quyết đã chỉ ra nhiệm vụ xây


2
dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay là: Xây dựng đội ngũ cán
bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát
huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân.
Trong thụứi gian vừa qua, ở nước ta đội ngũ cán bộ ở cơ sở nói chung và
đội ngũ cỏn bộ chủ chốt ở cơ sở nói riêng đó được Đảng, Nhà nước và các cấp
uỷ đảng, chính quyền quan tâm xây dựng và củng cố. Từ đó chất lượng đội ngũ
cán bộ từng bước được nâng lên. Tuy nhiên so với yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới đất nước hiện nay đặt ra một đũi hỏi cấp bỏch là phải đổi mới, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó.
Cà Mau là tỉnh mới được tái lập (năm 1997), có nhiều tiềm năng, nhưng
trước mắt điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Tuy vậy, với sự quan
tâm của các cấp uỷ đảng, đội ngũ chủ chốt của các xã trong tỉnh đã có bước
trưởng thành đáng kể, là nhân tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội,
giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh ở địa phương trong những
năm qua. Song, so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay và thời gian tới, đội ngũ cán
bộ này còn bất cập về nhiều mặt: trình độ, năng lực tổ chức thực tiễn, phẩm chất
đạo đức... Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay là vấn đề vừa
cần thiết, cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; thực hiện đồng
bộ cải cách hành chính nhà nước; xây dựng nhà nước pháp quyền xó hội chủ
nghĩa, nhà nước của dân, do dõn, vỡ dõn, thỡ đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở
tỉnh Cà Mau cũn nhiều hạn chế, bất cập như: trỡnh độ trí tuệ, phẩm chất, đạo đức,
năng lực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Để thực hiện thắng
lợi mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh đề ra, Đảng bộ tỉnh Cà Mau phải xây
dựng hệ thống chớnh trị các cấp, trong đó coự hệ thống chớnh trị ở cơ sở vững
mạnh. Muốn đạt được mục tiêu đó, Đảng bộ tỉnh Cà Mau phải chú trọng giải


3
quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó phải xây dựng được đội ngũ cỏn bộ chủ chốt
cấp xó cú bản lĩnh và trỡnh độ trí tuệ, có phẩm chất đạo đức, có năng lực tổ chức
hoạt động thực tiễn.
Từ thực tế đó, tơi chọn đề tài: "Cụng tỏc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007" làm luận văn thạc
sỹ. Đây cũng là vấn đề cấp bách, là phù hợp với u cầu cải cách nền hành
chính nước ta hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Vấn đề cán bộ và cơng tác cán bộ, trong đó cơng tác xây dựng đội ngũ cán
bộ cơ sụỷ laứ noọi dung được các nhaứ laừnh ủáo, caực cấp ủy đảng và được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khỏc nhau. Trong
những cụng trỡnh, ủề taứi nghiẽn cửựu đó, đó cú những đóng góp nhất định
trong vieọc vạch ra chủ trương và tỡm ra những giải phỏp nâng cao chất lượng
đội ngũ cỏn bộ chủ chốt của hệ thống chớnh trị ở cơ sở. Cú thể tập hợp theo từng
nhóm đề tài sau:
- Nhoựm ủề taứi về nhửừng yẽu cầu ủoỏi vụựi caựn boọ cụ sụỷ: Hóc
vieọn Nguyn Aựi Quoỏc: “Mẫu hỡnh vaứ con ủửụứng hỡnh thaứnh ngửụứi

caựn boọ laừnh ủáo chớnh trũ chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ”, 1992; Tieỏn sú
Nguyn Vaờn Tớch (chuỷ biẽn): “Xaực ủũnh cụ caỏu vaứ tiẽu chuaồn caựn
boọ laừnh ủáo chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ (xaừ, phửụng, thũ traỏn)”, Nhaựnh ủề
taứi KT-XH. 05-11-06, 1993; Trần Vaờn Phoứng “Tiẽu chuaồn ủáo ủửực
cuỷa ngửụứi caựn boọ laừnh ủáo chớnh trũ hieọn nay”…
- Nhoựm ủề taứi về noọi dung, phửụng phaựp, caựch thửực xãy
dửùng ủoọi nguừ cỏn bộ chủ chốt caỏp cụ sụỷ: Hồ Baự Thãm: “Nãng cao
naờng lửùc tử duy cuỷa caựn boọ laừnh ủáo chuỷ choỏt caỏp xaừ hieọn
nay”, Luaọn aựn Tieỏn sú Trieỏt hóc, 1994; Phoự Giaựo sử, Tieỏn sú Trần
Xuãn Sầm chuỷ biẽn: “ Xaực ủũnh cụ caỏu vaứ tiẽu chuaồn caựn boọ
laừnh ủáo chuỷ choỏt trong heọ thoỏng chớnh trũ thụứi kyứ ủoồi mụựi”,
Nhaứ xuaỏt baỷn Chớnh trũ quoỏc gia, Haứ Noọi, 1998; Phám Cõng
Khãm: “ Xãy dửùng ủoọi nguừ caựn boọ chuỷ choỏt caỏp xaừ vuứng


4
ủồng baống sõng Cửỷu Long hieọn nay”, Luaọn vaờn Thác sú, 1998;
Phan Thũ Ngóc Dung: “ẹaỷng boọ Saẹeực (ẹồng Thaựp) chổ ủáo xãy
dửùng ủoọi nguừ caựn boọ cụ sụỷ (1975 – 1996) Luaọn aựn Tieỏn sú, 2000;
Trần Trung Trửùc: “ Xãy dửng ủoọi nguừ caựn boọ chuỷ choỏt heọ thoỏng
chớnh trũ caỏp xaừ ụỷ huyeọn Bỡnh Chaựnh, thaứnh phoỏ Hồ Chớ Minh
trong giai ủoán hieọn nay”, Luaọn vaờn Thác sú , 2000; Trần Duừng
Khanh: “ẹaỷng boọ Thanh Hoaự laừnh ủáo xãy dửùng ủoọi nguừ caựn boọ
chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ (1986 – 1999), Luaọn vaờn Thác sú, 2008; ẹ
Hoaứi Thanh : “ẹaỷng boọ caực tổnh tãy nam boọ laừnh ủáo cõng taực
ủaứo táo, bồi dửụừng caựn boọ chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ tửứ naờm 1997
ủeỏn 2005”. Luaọn vaờn Thác sú , 2006; Nguyn Thũ Vãn Haống:
“ẹaỷng boọ Tổnh Laứo Cai laừnh ủáo cõng taực ủaứo táo, bồi dửụừng
caựn boọ chuỷ choỏt cuỷa heọ thoỏng chớnh trũ caỏp cụ sụỷ (1991 – 2005).
Nhỡn chung cỏc cụng trỡnh nờu trờn cú đề cập đến đội ngũ cán bộ cấp cơ

sở, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên chưa có cơng trỡnh nào nghiờn
cứu về đề tài: “Cụng tỏc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của
Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007” một cỏch cú hệ thống, tồn diện tại Cà
Mau cho đến nay. Từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm, giải phỏp cú tớnh
khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt xó ở tỉnh Cà Mau
trong giai đoạn mới. Từ yẽu cầu ủoự, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề này trên
cơ sở kế thừa có chọn lọc các cơng trỡnh nghiờn cứu nờu trờn và căn cứ vào
thực trạng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh, nhằm góp phần nâng cao
kiến thức đó học và góp phần xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà
Mau ngang tầm nhiệm vụ mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan thực trạng của cơng tác xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau từ khi tỏi lập cho đến năm 2007,
luận văn làm rừ vai trũ quan trọng của cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cán bộ chủ


5
chốt cấp xó ở một địa phương cực nam của tổ quốc có vị trí quan trọng về kinh
tế, chính trị của đất nước “ mónh đất đứng mũi chịu sào”. Từ đó góp phần tổng
kết thực tiễn về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở địa phương, đúc rút những
kinh nghiệm chủ yếu làm cơ sở lịch sử cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xó trong thời gian tới đáp ứng với yêu cầu mới của đất nước.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rừ vai trũ, đặc điểm của đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó của Đảng bộ
tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 1997 – 2007. Hệ thống hóa các quan điểm, chủ
trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Cà Mau về công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xó.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó và cụng tỏc xõy dựng
đội ngũ cán bộ này của Đảng bộ tỉnh Cà Mau, nờu rừ ưu điểm, hạn chế, nguyên

nhân của thực trạng và những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn.
- Đỳc rỳt một số kinh nghiệm chủ yếu về xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt
cấp xó ở tỉnh Cà Mau gúp phần làm rừ cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng đội
ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác xây dựng đội ngũ cỏn bộ
chủ chốt cấp xó. Bao gồm một số chức danh chủ yếu như: Bí thư Đảng ủy, phó
bí thư trực Đảng ủy, Chủ tịch Uỷ Ban Nhõn Dõn, phú chủ tịch Uỷ Ban Nhõn
Dõn, chủ tịch Mặt Trận tổ quốc, Bí thư đoàn thanh niên, Hội trưởng hội phụ nữ,
Chủ tịch hội cựu chiến binh…
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Luận văn nghiên cứu thực trạng đội
ngũ cỏn bộ và công tác xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó từ năm 1997 2007. Đồng thời, nêu ra kinh nghiệm, bài học, để định hướng xây dựng đội ngũ
cán bộ này trong thời kỳ mới.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận


6
Luận văn được thửùc hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mỏc - Lẽnin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và
cơng tác cán bộ.
5.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh Cà Mau ở tất cả cỏc
xó trờn địa bàn tỉnh từ 1997 - 2007.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp với
khảo sỏt thực tế, thống kờ, đặc biệt coi trọng phương pháp khảo sỏt thực tế.
6. Đóng góp khoa hóc vaứ yự nghúa thửùc tiễn của luận văn
- Gúp phần làm rừ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ

chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau giai đoạn 1997 - 2007.
- Ruựt ra keỏt quaỷ vaứ nẽu lẽn moọt soỏ kinh nghieọm trong quaự trỡnh
xãy dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xaừ ở tỉnh Cà Mau, goựp phần nghiẽn
cửựu vieọc taờng cửụứng vaứ ủoồi mụựi cõng taực caựn boọ ụỷ cụ sụỷ.
- Keỏt quaỷ nghiẽn cửựu cuỷa luaọn vaờn coự theồ laứm taứi lieọu tham
khaỷo boồ ớch cho caực ủaỷng boọ huyeọn, thaứnh phoỏ vaứ xaừ trong cõng
taực xãy dửùng ủoọi nguừ caựn boọ cụ sụỷ.
7. Kết cấu của luận vaờn
Ngồi các phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.


7

Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP
(1997 - 2001)

1.1. TèNH HèNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP XÃ Ở TỈNH CÀ MAU TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA KHI TÁI LẬP

1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và những đặc điểm về kinh tế, văn
hoá, xó hội
Cà Mau là tỉnh cực Nam của nước Việt Nam, được tách ra từ tỉnh Minh
Hải từ ngày 01 tháng 01 năm 1997. Hỡnh dạng tỉnh Cà Mau giống chữ V, cú 3
mặt tiếp giỏp với biển. Phớa Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh
Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp với biển đông, phía Tây giáp với Vịnh
Thái Lan. Tỉnh Cà Mau nằm trong vùng kinh tế động lực của đồng bằng sông
Cửu Long. Trong mối quan hệ của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tỉnh Cà

Mau là điểm đến của một số tuyến quốc lộ và đường thủy quan trọng. Trong mối
quan hệ của khu vực, Cà Mau nằm trong hành lang phỏt triển phớa nam của tiểu
vựng Mờ kụng mở rộng.
Diện tích phần đất liền 5.329,5 km 2 (bằng 13,13% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long) bằng 1,58 % diện tích cả nước). Ngoài phần đất liền, Cà Mau
có các đảo Hũn Khoai, Hũn Chuối và Hũn Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5
Km2. Địa hỡnh toàn tỉnh thuần nhất là đồng bằng, có nhiều sông, rạch, độ cao
bỡnh quõn 0,5 m so với mặt nước biển. Hàng năm ở vùng Mũi Cà Mau bồi ra
biển 50 m; bờ biển phía đông từ của sông Gành Hào đến vùng của sông Rạch
Gốc bị xói lở, có nơi mỗi năm 20m.


8
Chiều dài bờ biển Cà Mau 254 km. Vựng biển Cà Mau rộng trờn 71.000
km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Biển
Cà Mau có vị trí nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông - Nam Á nên có
nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển, phỏt triển kinh tế
biển, khai thỏc dầu khớ và tài nguyờn khỏc trong lũng biển.
Khí hậu Cà Mau là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt
cao, rất thuận lợi cho việc phát triển đa dạng cây, con trong sản xuất nông nghiệp
và nuôi thủy, hải sản. Nhiệt độ trung bỡnh 26,5 0c. Nhiệt độ trung bỡnh cao nhất
trong năm vào tháng 4 khoảng 27,60c; nhiệt độ trung bỡnh thấp nhất vào thỏng
01 khoảng 250c. Biên độ trung bỡnh trong một năm là 2,7 0c. Trong năm có hai
mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Lượng mưa trung bỡnh hàng năm khoảng 2.300mm. Số giờ nắng trong năm
2.500 giờ. Độ ẩm tương đối 82%.
Toàn bộ diện tích đất đai Cà Mau chịu ảnh hưởng của hai chế độ nhật triều.
Nhật triều không đều ở biển Tây và bán nhật triều ở biển Đông. Do ảnh hưởng
chế độ thủy triều, dẫn đến việc xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền vào mùa
khô, gây úng lụt một số vùng vào mùa mưa. Cà Mau là vùng đất thấp, thường

xuyên bị ngập nước, đặc biệt là vào mùa mưa. Trong đó, có khoảng 90% diện
tích đất ngập mặn có chứa phèn. Những đặc trưng này đó hỡnh thành nờn những
vựng đất và môi sinh rất đặc trưng của Cà Mau, quyết định đến nhiều hệ thống
canh tác nông nghiệp của tỉnh. Cà Mau là vùng đất trẻ của đồng bằng sông
Cửu Long có sự lắng bồi từ Rạch Mũi đến Tiểu Dừa (biển Tây) và xói lở từ
Rạch gốc đến Gành Hào (Biển đông). Đất canh tác gồm 4 loại chính: Đất
nhiễm phèn khoảng 60% diện tích đất tự nhiên, đất nhiễm mặn khoảng 37%,
đất bói bồi khoảng 1,5%, đất than bùn 1,5%. Do đặc trưng thổ nhưỡng và chế
độ thủy văn như trên nên việc sử dụng đất ở Cà Mau đó hỡnh thành cỏc vựng.
Vựng trồng cõy lương thực, thực phẩm, vùng trồng cây lâu năm, vùng trồng
tràm và trồng cây công nghiệp, vùng nuôi trồng thủy sản. Trong đó, diện tích đất


9
và mặt nước nuôi trồng thủy sản 229.190 ha, đất nông nghiệp 142.428 ha, đất
lâm nghiệp 106.085 ha. Nguồn nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp chủ yếu là
nước mưa. Nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp là nước ngầm. Nước
mặn ở Cà Mau là tài nguyờn quý giỏ, rất thớch hợp cho việc phỏt triển lõm, ngư
nghiệp, nuôi tôm cá.
Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 97 đơn vị xó, phường, thị
trấn. Dân số 1.234.896 người bao gồm ba dân tộc, kinh 96%, Hoa 1,5% , Khmer
2,5% . Tỷ lệ tăng dân số trung bỡnh hàng năm 1,55%. Mật độ 232 người/ 1 km 2.
Dõn số nụng thụn 975.641 chiếm 79%. Toàn tỉnh cú 211.820 hộ dân (thời điểm
năm 2007).
Mặt bằng văn hóa của nhân dân cũn thấp, nguồn nhõn lực cũn nhiều hạn
chế, cỏn bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh theo thống kờ cuối năm 2007 cho thấy,
trỡnh độ cao đẳng trở lên có khoảng 4.921 người/1.234.896 triệu dân, trong đó
số cú 02 tiến sĩ, 95 thạc sỹ. Lao động ở Cà Mau dồi dào nhưng đa số có học vấn
thấp, trỡnh độ, kỹ năng lao động hầu như không cao, chủ yếu lao động giản đơn.
Khu vực đô thị dân cư khá tập trung, số cũn lại rất phõn tỏn và rải rỏc, nơi tập

trung chủ yếu các vùng trung tâm xó, đầu mối giao thông và dọc theo các trục
kênh chính, các dũng sụng, con rạch.
Cà Mau là tỉnh cú nhiều tụn giỏo và giỏo phỏi. Hai tụn giỏo ra đời sớm
nhất, có tín đồ đông nhất là Đạo phật và Thiờn chỳa. Cỏc Tụn giỏo khác ra đời
chậm hơn như Cao đài, Tin lành. Các giáo phái gồm có Cao Đài Minh Chơn
đạo, Tiên thiên, Tây Ninh, thiên lâm, tịnh độ cư sĩ, khất sĩ, ni giới Việt Nam.
Về mặt lịch sử, Cà Mau là vựng đất trẻ được hỡnh thành trờn 300 năm.
Dân cư Cà Mau không hỡnh thành từ cỏc lũy tre làng như các tỉnh phía Bắc, mà
dân cư Cà Mau là dân khắp nơi trong cả nước về cùng chung sống. Đặc điểm nổi
bậc của cư dân nông thôn Cà Mau là họ định cư rải rác trên các bờ sông, kênh
rạch, nhà gắn với vườn, vườn gắn với ruộng. Người Hoa, Kinh, Khmer sống đan


10
xen nhau, luôn tương trợ đoàn kết khi hoạn nạn, chân thành cởi mở, phong cách
ứng xử của người dân Cà Mau mang tính nông dân chất phát, tính bộc trực,
thẳng thắn, phản kháng mạnh mẽ trước bất công của xó hội.
Sau khi được tái lập, bên cạnh những thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân Cà
Mau gặp không ít khó khăn. Thuận lợi cơ bản là Cà Mau tiếp tục kế thừa và phát
huy những kinh nghiệm, thành quả của quá trỡnh xõy dựng, phỏt triển kinh tế,
xó hội của tỉnh Minh Hải để lại; nhân dân Cà Mau có truyền thống cách mạng
kiên cường, cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, công tác học
tập. Đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong
đấu tranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với bao công
việc kiến thiết xây dựng quê hương.
Khó khăn nổi rừ nhất là Cà Mau vẫn cũn là tỉnh nghốo, mặt bằng phỏt triển
kinh tế - xó hội cũn thấp so với cỏc tỉnh trong khu vực, kết cấu hạ tầng phục vụ
cho sản xuất, đời sống cũn nhiều yếu kộm. Cũn 38 xó chưa có đường ô tô đến
trung tâm. Hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất ở các vùng, tiểu vùng không
bảo đảm. Nền sản xuất của tỉnh phổ biến vẫn cũn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mỳn,

năng suất, sản lượng, hiệu quả cũn thấp, tớnh cạnh tranh yếu. Đời sống nhân
dân, nhất là nông dân ở những vùng nông thôn xa xôi cũn rất nhiều khú khăn.
Hầu hết các cơ sở đào tạo nằm ở tỉnh Bạc Liêu; đội ngũ cán bộ lónh đạo ở cấp
tỉnh bị biến động, thiếu nghiêm trọng, chỗ nơi phương tiện làm việc khụng thuận
lợi. Cú lỳc nội bộ lónh đạo ở tỉnh có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết, việc tập
trung lo cho công việc chung hạn chế.
Đánh giá đúng những thuận lợi và những khó khăn đó, được sự chỉ đạo
của Trung ương, sự nổ lực khắc phục những khó khăn, yếu kém, Đảng bộ
tỉnh tăng cường đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống cách mạng vẻ
vang, tính năng động sáng tạo, khai thác phát huy nguồn lực tại chỗ, đẩy
mạnh khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, tập trung lónh đạo, chỉ
đạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp; sớm ổn định, kiện toàn


11
bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ lónh đạo. Từ những việc làm thiết thực đó,
sau hơn 10 năm được tái lập, Đảng bộ Cà Mau đó giành được những thành
quả rất quan trọng và khá toàn diện. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng
hướng, những vùng chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm, tôm lúa phát huy hiệu quả rất rừ, năng lực, quy mô chế biến xuất khẩu hàng hóa
thủy sản tăng vọt, Cà Mau góp phần ¼ giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng
thủy sản của cả nước; tăng trưởng GDP của tỉnh đạt khá, tăng dần qua hàng
năm (bỡnh quõn từ năm 1997 - 2007 đạt trên 10%); thu nhập bỡnh quân đầu
người từ khoảng 150 USD/năm 1997 lên trên 785 USD/năm 2005. Kết cấu
hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống phát triển khá nhanh, nhất là hệ
thống giao thông bộ. Đến nay, đó cú đường ô tô đến 7 huyện (năm 1997 là
không có), 43 xó (năm 1997 có 3 xó). Thu hút đầu tư ngoài tỉnh có nhiều
triển vọng, khu công nghiệp khí - điện - đạm đó tạo động lực mạnh mẽ thúc
đẩy quá trỡnh phỏt triển của Cà Mau trong thời gian tới.
Những năm đầu taựi laọp tỉnh, tỡnh hỡnh kinh tế, xó hội ở tỉnh Cà Mau cú
bước phát triển khá, kinh tế tăng khá cao (12,35 %/năm), tỡnh hỡnh chớnh trị xó hội ổn định, đời sống nhân dân được nâng lên; việc xây dựng, chỉnh trang đô

thị được quan tâm đầu tư, v.v…Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được,
tỉnh Cà Mau vẫn cũn một số lĩnh vực phỏt triển chậm, thiếu bền vững, chậm
triển khai quy hoạch tổng thể cỏc đơn vị hành chính một cách lâu dài. So với khi
mới tái lập tỉnh, số lượng cấp huyện, xó cú tăng nhưng không đồng bộ với sự
phát triển đô thị. Tỉnh Cà Mau có 8 phường chủ yếu ở thành phố Cà Mau và 8
thị trấn ở 7 huyện (huyện Ngọc Hiển được thành lập và đi vào hoạt động 01-012004 đến nay, nhưng chưa có thị trấn trung tâm huyện lỵ).
Từ thực trạng nêu trên tỉnh Cà Mau có những đặc điểm sau:
Một là, trong số các đơn vị hành chính cấp cơ sở (xó, phường, thị trấn) ở
tỉnh Cà Mau, thỡ đơn vị xó chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn tỉnh, được bố trí đều
khắp cỏc huyện và thành phố Cà Mau, chiếm 83,5% (81/97 xó, phường, thị


12
trấn). Tỉnh xác định cơ cấu kinh tế của địa phương là Ngư - nông - lâm nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ và du lịch; coi sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế trọng
yếu, sản xuất thủy sản là thế mạnh và mũi nhọn trong phát triển nền kinh tế của
địa phương. Vỡ vậy, lĩnh vực nụng nghiệp - nụng thụn ở Cà Mau giữ vai trũ
trọng yếu trong phỏt triển nền kinh tế - xó hội cuỷa tỉnh.
Đồng thời, để phát triển kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả, tỉnh
quy hoạch vùng kinh tế của tỉnh thành vùng kinh tế nội địa, vùng kinh tế ven
biển và vùng kinh tế biển. Nông thôn ở Cà Mau nằm trong vùng kinh tế nội địa
của tỉnh, chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi cá
nước lợ, nuôi tôm, trồng cây ăn trái,.v.v…Trong vùng sản xuất này, tỉnh phân ra
thành hai tiểu vùng rừ rệt là: Tiểu vựng chuyờn sản xuất nuụi trồng thủy sản,
gồm cỏc huyện: Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển và 3 xó
của huyện Trần Văn Thời. Tiểu vùng sản xuất nông nghiệp kết hợp nuụi trồng
thủy sản, nuụi caự nước lợ và trồng cây ăn trái, rau, quả, gồm thành phố Cà
Mau, các huyện U Minh, Thới Bỡnh và một phần huyện Trần Văn Thời. Mặc
khác, ở nông thôn Cà Mau nụng dõn chiếm 79 % dân cư trong toàn tỉnh và trên
70% lao động xó hội, là nguồn nhõn lực dồi dào cho phỏt triển cỏc ngành, nghề

sản xuất khỏc nhau của tỉnh.
Hai là, tỉnh Cà Mau là phần lónh thổ được bồi tụ và nâng lên trong thời
gian gần đây, là vùng đất trẻ duy nhất có 3 mặt tiếp giáp biển ở khu vực đồng
bằng Sông Cửu Long (phía Tây giáp biển Tây, phía Đông Nam và Nam giáp
biển Đông, Vũnh Thaựi lan). Là tỉnh, cú nhiều sụng ngũi chằng chịt, cú tổng
chiều dài hệ thống sụng rạch trờn 7.000 km, với tổng diện tích mặt nước 15.756
ha, chiếm 3,02 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Về giao thông đường bộ, do điều kiện địa lý tự nhiờn, tuy được trung
ương quan tâm đầu tư phát triển, nhưng vẫn gặp không ít khó khăn. Hiện nay,
toàn tỉnh có hai tuyến quốc lộ do trung ương quản lý (quốc lộ 1A và quốc lộ 63)


13
với chiều dài 108 km; tỉnh quản lý 74 tuyeỏn với tổng chiều dài 525 km, bằng
7,53 % chiều dài sụng rạch trong tỉnh (525 km/7.000 km).
Caực xó cuỷa tỉnh Cà Mau giao thông đi lại chủ yếu bằng đường thủy,
phương tiện đi lại đa phần bằng phương tiện thủy gia dụng, kết hợp cỏc phương
tiện dịch vụ. Toàn tỉnh có 99.379 phương tiện thủy nội địa (bỡnh quõn 0,55
phương tiện/hộ dân), có 263 tàu khách và các phương tiện dịch vụ khác. Đây là
đặc điểm nổi bật ở vùng sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long núi chung và ở
tỉnh Cà Mau núi riờng.
Ba là, tỉnh Cà Mau có 3 mặt tiếp giáp biển, do đó có 24 xó, thị trấn nằm
tiếp giỏp bờ biển đông, biển tây và các sông cửa biển lớn thông ra biển. Vỡ vậy,
những đơn vị này trong phát triển kinh tế - xó hội vửứa phải khai thác có hiệu
quả kinh tế nội địa (tức đầu tư cho nuôi trồng thủy sản nội địa); Vừa tập trung
đầu tư cho khai thác hải sản ven biển và biển. Có thể nói đây là một vị thế, một
thế mạnh để phát triển kinh tế của các xó vựng phớa Bắc tỉnh Cà Mau.
Bốn là, về sản xuất, kinh doanh nội địa, Cà Mau là vùng đất được thiên
nhiên ưu đói; kinh tế phỏt triển khỏ nhanh, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng
bỡnh quõn 4,48% thời kỳ 1986 - 1990, đến năm 2007 GDP tăng 12,35 % , tăng

so thời kỳ 1986 - 1990 là 275,67%. Từ đó, lượng dân di cư tự do đến đất Cà Mau
sinh sống, lập nghiệp ngày càng đông. Đến nay có thể nói, dân di cư từ 63 tỉnh,
thành trong cả nước về đây sinh sống, lập nghiệp trải trên tất cả các huyện, thành
phố Cà Mau, trong đó có huyện có dân di cư từ 37 tỉnh, thành trong cả nước như
cỏc huyện Năm Căn, Ngọc Hiển.
Vấn đề dân di cư tự do đến Cà Mau, một mặt góp phần tích cực vào quá
trỡnh phỏt triển kinh tế, văn hoá, xó hội trờn địa bàn tỉnh. Nhưng mặt khác, có
những ảnh hưởng, tiêu cực đến quá trỡnh phỏt triển nền kinh tế, an ninh trật tự,
cỏc hoạt động khỏc ở vựng nụng thụn trong tỉnh, do nạn phỏ rừng, hủy hoại môi
trường và các tệ nạn xó hội khỏc.


14
Năm là, về lĩnh vực văn hóa, xó hội: tỉnh Cà Mau cỏch xa cỏc thành phố
lớn trong cả nước; cách thủ đô Hà Nội 2.085 km, cách thành phố Hồ Chí Minh
350 km và thành phố Cần Thơ 180 km. Từ đó, sự giao lưu, học hỏi và chịu sự
tác động tích cực của các Trung tâm đô thị lớn gập nhiều khó khăn - nhất là lĩnh
vực văn hóa và các vấn đề về xó hội. Nhưng về văn hóa bản địa, Cà Mau nằm
trong quần thể văn hóa của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đó lưu giữ một
nền văn hóa phong phú, đặc sắc, với nhiều di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc,
nghệ thuật…như: di tích đảo Hũn Khoai, chứng tớch tội ỏc Mỹ - Ngụy “Biệt khu
Hải Yờn - Bỡnh Hưng”, di tích đỡnh Tõn Hưng, di tớch Sắc tứ Quan õm cổ tự
Cà Mau…Tuy nhiờn, việc bảo tồn, gỡn giữ, hưởng thụ và phát triển neàn văn
hóa Cà Mau, nhất là ở cơ sở cũn nhiều bất cập, lỳng tỳng.
Về lĩnh vực xó hội: Bờn cạnh mặt tớch cực là ổn định xó hội, nhưng an
ninh trật tự đang nổi lên một số vấn đề như: Các băng cướp trên sông có tổ
chức, trộm cắp, ma tuý, mại dõm, an ninh trờn biển và trật tự an toàn giao
thụng (nhất là giao thụng đường thủy),... diễn ra phức tạp và diện rộng trên
phạm vi toàn tỉnh. An ninh nông thôn và các vụ thưa kiện trong nội bộ nông
dân, tranh chấp đất đai ngày càng tăng, làm cho tỡnh hỡnh diễn biến phức tạp

hơn.
Sỏu là, cỏc xó ở tỉnh Cà Mau là đơn vị chính trị, kinh tế, văn hóa, thương
mại, dịch vụ ở cơ sở. Là nơi tập trung nhiều thành phần kinh tế, thương gia trong
và ngoài tỉnh về đây tham gia sản xuất, kinh doanh. Đây là điều kiện rất thuận
lợi để thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tỉnh, huyện đóng trên địa bàn trong
quá trỡnh thực hiện nhiệm vụ phỏt triển kinh tế - xó hội ở cơ sở và tạo điều kiện
cho cỏc xó ở Cà Mau gần gũi với các thành phần kinh tế, thương gia; giúp đở,
tạo điều kieọn thuận lợi cho họ trong qỳa trỡnh sản xuất, kinh doanh, gúp phần
cựng cơ sở phát triển, hoạt động đạt kết quả cao hơn.
Bảy là, hệ thống chớnh trị cỏc xó ở Cà Mau ủửụùc toồ chửực moọt caựch
chaởt cheừ, ủeàu khaộp. Caực toồ chửực cuỷa hệ thống chớnh trị bao gồm:


15
ẹaỷng boọ cụ sụỷ, Hoọi ủồng nhãn dãn, Ủy ban nhõn dõn, Maởt traọn toồ
quoỏc, ẹoaứn thanh niẽn Coọng saỷn Hồ Chớ Minh, Hoọi Liờn Hiệp Phụ Nữ,
Hoọi Nụng Dõn vaứ Hoọi Cửùu chieỏn binh. Trong ủoự coự 81 ẹaỷng boọ, vụựi
903 chi boọ trửùc thuoọc (coứn 49 aỏp coự tửứ 1-2 ủaỷng viẽn) vaứ coự 15.268
ủaỷng viẽn, chieỏm 61,72% ủaỷng viẽn trong toaứn tổnh; coự 81 Hội đồng
nhân dân caỏp xaừ, mỗi aỏp, khoựm ủều coự toồ ủái bieồu Hội đồng nhân
dân; coự 75 ủụn vũ, Ủy ban nhõn dõn caỏp xaừ ủửụùc boỏ trớ 5 thaứnh viẽn
vaứ 6 ủụn vũ ủửụùc boỏ trớ 3 thaứnh viẽn; mỗi xaừ trong tổnh ủều ủửụùc
thaứnh laọp Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc vaứ caực toồ chửực ủoaứn theồ chớnh
trũ. ễÛ mỗi aỏp, khoựm coự Ban cõng taực Maởt traọn, Chi ủoaứn Thanh
niẽn, chi hoọi: Phú nữ, Nõng dãn, Cửùu chieỏn binh; ủồng thụứi haứng
naờm, Ủy ban nhõn dõn caỏp xaừ toồ chửực cho ủái dieọn nhãn dãn bầu
trửùc tieỏp trửụỷng aỏp, khoựm ủeồ quaỷn lyự, ủiều haứnh coọng ủồng dãn
cử.
Cỏc xaừ ở tỉnh Cà Mau cú vai trũ hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổ
chức triển khai thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp

luật của Nhà nước trong thực tiễn; là cầu nối liền giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nơi kiểm nghiệm
tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
đóng góp những kinh nghiệm q báu giúp cho Đảng sửa đổi, bổ sung và đề ra
đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn. Ngồi ra, cỏc xó cú
những đặc điểm gắn liền với điều kiện tự nhiên, phân bổ dân cư, phát triển kinh
tế - xó hội cuỷa tỉnh. Nắm và xác định được vai trũ, đặc điểm của cơ sở nêu trên
là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm phỏt triển kinh tế - xó hội ở địa
phương ổn định, bền vững, có bước đi thích hợp. ẹoự cuừng laứ, góp phần phát
triển đơ thị ở tỉnh Cà Mau nhanh hơn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, đảm bảo vệ sinh mơi trường, ổn định an ninh chính trị, trật tự an tồn xó
hội v.v…Để đảm bảo hồn thành nhiệm vụ nêu trên, Cà Mau phải tập trung xây
dựng đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và đặc biệt là xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ
chốt cấp xó núi riờng một cỏch chủ động, đồng bộ, đủ số lượng, có chất lượng, có


16
cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài ở cơ sở và bổ sung lực lượng
cán bộ có đầy đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực cho các cấp trong tỉnh.
1.1.2. Vị trớ, vai trũ của đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở Cà Mau
Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong suốt
quỏ trỡnh lónh đạo đấu tranh cách mạng, người luôn coi trọng đến vai trũ to lớn
của cỏn bộ, cụng tỏc cỏn bộ và xõy dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng
lực và trỡnh độ. Xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” đủ sức đáp
ứng yờu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
đưa cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xó hội. Người luôn xác định: “Cán bộ
luôn là cái gốc của mọi công việc” [48, tr.269 ]. Người cũng lý giải một cỏch cặn
kẽ, dễ hiểu vai trũ “cỏi gốc” của cán bộ thông qua những bài nói, bài viết và việc
làm của Người. Vai trũ đó, theo Người được thể hiện trong các mối quan hệ chủ
yếu: cán bộ với đường lối, chính sách; cán bộ với tổ chức bộ máy; cán bộ với

công việc và cán bộ với quần chúng. Như vậy, theo quan niệm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà cũn cú vai trũ quyết
định trong việc tổ chức thực hiện đường lối đó. Người nói: “Cán bộ là người
đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, neỏu cỏn
bộ dở thỡ chớnh sỏch hay cũng khụng thể thực hiện được”, “cán bộ là dây
chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thỡ động cơ dù tốt,
dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” [48, tr.54]. Điều đó, khẳng định chất lượng
cán bộ là nhân tố quyeỏt định việc thực hiện cụ thể hóa đường lối, chính sách
của Đảng vào đời sống xó hội. Chủ tịch Hồ Chớ Minh cho rằng, cỏn bộ khụng
phải là người tuyên truyền, giải thích và tổ chức cho quần chúng thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà phải sâu sát quần
chúng, nắm bắt và phản ánh kịp thời tỡnh hỡnh đời sống, tâm tư, nguyện vọng
của nhân dân với Đảng và Nhà nước để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp
thực tiễn khách quan, hợp lũng dõn. Người viết: “Cán bộ là những người đem
chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rừ và thi


17
hành. Đồng thời đem tỡnh hỡnh của dõn chỳng bỏo cỏo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rừ, để đặt chính sách cho đúng” [48, tr.269]. Đối với cán bộ ở cơ sở, nhất là đội
ngũ cỏn bộ chủ chốt, vai trũ này là rất quan trọng, là cấp gần gũi nhõn dõn, hàng
ngày tiếp xỳc với dõn, thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân. Do đó,
người luôn nhắc nhở cán bộ “sự lónh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt
phải từ trong quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng” [48, tr.290] và Người kết
luận: “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém” [48,
tr.273].
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người từ phong trào
cách mạng của quần chúng, là người lónh đạo, dẫn dắt quần chỳng nhằm thực
hiện mục tiờu, lý tưởng của Đảng, người hết lũng, tận tụy phục vụ nhõn dõn,
luụn chăm lo cho lợi ích của nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh

phúc cho nhân dân. Trong di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta rằng: “Phải giữ
gỡn Đảng ta, phải xứng đáng là người lónh đạo, là người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân” [47, tr.131] .
Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ gắn liền với công tác tổ chức,
bộ máy. Cán bộ tốt sẽ làm cho tổ chức mạnh, chất lượng cán bộ phụ thuộc vào
kết quả của công tác tổ chức cán bộ. Có tổ chức mạnh, công tác cán bộ làm tốt sẽ
hạn chế và sửa chữa những khuyết điểm, giúp đở phát huy những ưu điểm của
cán bộ, ngược lại nếu công tác cán bộ trỡ trệ, làm cho cỏn bộ khụng phỏt huy tỏc
dụng. Người khẳng định: “Lónh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to, lónh đạo
không khéo, tài to cũng hoá thành tài nhỏ” [48, tr.280 ].
Quỏn triệt và thấm nhuần chủ nghĩa Mỏc - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng kiểu mới nói chung và vấn đề cán bộ nói riêng. Tửứ khi
thành lập đến nay, Đảng ta luôn xác định coi vấn đề cán bộ có tầm quan trọng
chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Từ đó, Đảng ta đặc biệt quan tâm xây
dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đũi hỏi của từng thời kỳ cỏch mạng, đó là
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Xác định được tầm


18
quan trọng đó, trong mỗi giai đoạn cách mạng, qua mỗi lần ẹại hội và Hội nghị
Trung ương, Đảng ta đều có chủ trương, nghị quyết xây dựng đội ngũ cán bộ
phù hợp với tỡnh hỡnh và nhiệm vụ mới. Đảng ta khẳng định: “Vấn đề cán bộ là
vấn đề rất quan trọng trong công tác tổ chức của Đảng, bởi vỡ cỏn bộ là người
có nhiệm vụ đem đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng tuyên truyền, giáo
dục quần chúng và tổ chức quần chúng thực hiện” [16, tr.160] và Đảng ta xác
định phải: “có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lối
chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử
của lónh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [23, tr.127]. Bước vào thời kỳ
đẩy mạnh cụng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta caứng nhấn mạnh đến
vai trũ của cỏn bộ. Nghị quyết Trung ương ba khóa VIII xác định: “Cán bộ là nhân

tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất
nước và chế độ, là khâu then chốt trong xây dựng Đảng” [23, tr.166]. Từ quan điểm
trên, Đảng ta quan taõm laừnh ủaùo xây dựng cho được đội ngũ cán bộ một cách
đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Trong đó, đặc biệt chú
trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, trước hết là ở cấp chiến lược và cấp cơ
sở.
Trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó, có những vị trí hết sức quan
trọng. Họ thực sự là người thay mặt Đảng, nhà nước giải quyết công việc thường
ngày cho nhân dân và cũng là những người có quyết định trực tiếp đưa chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước vào địa bàn công tác. Họ là
những người được bầu cử, tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt hay phân công giữ chức
vụ trọng trách trong hệ thống cơ sở; được hưởng lương hoặc chính sách đói ngộ
của Đảng và Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống cơ sở. Đó chính là
những cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Cán bộ chủ chốt cấp xó là người: có quyền ra
những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể,
một đơn vị, một tổ chức để thực hiện nhiệm vụ của tập thể và tổ chức ấy, thậm
chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định. Trên cơ


19
sở ấy hiểu rằng: đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó là những người đứng đầu quan
trọng nhất trong hệ thống của tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và
đoàn thể chính trị - xó hội ở xó là bộ phận quan trọng quyết định phương hướng
phát triển ở cơ sở, chịu trách nhiệm chính trong việc quán triệt các chủ trương,
nghị quyết của Đảng, chớnh sách, pháp luật của nhà nước và tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn họ phụ trách. Từ chức năng và
nhiệm vụ trên, cán bộ chủ chốt cấp xó gồm cỏc chức danh sau:
- Bí thư, phó bí thư Đảng ủy xó
- Chủ tịch, phú chủ tịch Hội Đồng Nhõn Dõn xó
- Chủ tịch, phú chủ tịch Uỷ Ban Nhõn Dõn xó

- Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam xó
- Chủ tịch Hội Nụng Dõn xó
- Chủ tịch Hội Phụ nữ xó
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xó
- Bớ thư Đoàn thanh niên xó
Do đó, có được đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó vững mạnh là nhân tố
đảm bảo và tăng cường vai trũ lónh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhà
nước, đồng thời phỏt huy vài trũ năng động, sáng tạo của cỏc tổ chức chớnh
trị - xó hội cũng như đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn cấp
xó.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước yêu cầu phát triển của tỉnh, vai
trũ của đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh Cà Mau cú vị trớ quan trọng,
thể hiện trên các phương diện sau:
- Đội ngũ cỏn bộ chủ chốt xó giữ vai trũ quyết định trong việc triển
khai tổ chức thực hiện và đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước vào đời sống xó hội tại cơ sở. Là những người giữ vai trũ “trung
tõm”, “trụ cột” tại cơ sở, họ không những có trách nhiệm nắm vững đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vaứ ủem chuỷ


20
trửụng, chớnh saựch tuyờn truyền, phổ biến, tổ chức cho quần chỳng thực
hiện mà cũn phải cú khả năng nắm bắt, am hiểu đặc điểm tỡnh hỡnh của cơ sở
để đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính
sách đó cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng cụ sở vaứ đi vào cuộc sống,
việc tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao.
Hiện nay, tỡnh hỡnh kinh tế - xó hội và cỏc lĩnh vực khỏc ở nụng thụn
Cà Mau phỏt triển khỏ nhanh, việc đô thị hóa trên cơ sở quy hoạch phát triển
mạnh. ẹũi hỏi đội ngũ cán bộ ở cơ sở có bản lĩnh chớnh trũ vửừng vaứng,
phẩm chất, đạo đức toỏt và tư duy năng động, sáng tạo để cụ thể hóa chủ

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với cơ sở và
thực tiễn cuộc sống. Nhưng vấn đề này, đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Cà Mau
cũn nhiều hẫng hụt, bất cập, chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ mới, dẫn đến
một số cơ sở lónh đạo phát triển kinh tế - xó hội khụng hiệu quả, chưa khai
thác hết tiềm năng kinh tế ở địa phương v.v…
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt xó là những người trực tiếp, gắn bó với nhân
dân, có mối quan hệ chặc chẽ với nhân dân. Họ là người thường xuyên, trực
tiếp triển khai, hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trong quá trỡnh đó, họ
đó tạo ra “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhõn dõn và ý ẹảng lũng dõn tạo
thành một khối thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước ăn sâu bám rễ trong
quần chúng, tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, trực tiếp
củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mặc khác,
qua phong traứo cách mạng của quần chúng, giúp cho cán bộ cơ sở rút kinh
nghiệm, tổng kết thực tiễn góp phần vào xây dựng và hoàn thiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Như vậy, đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đi vào đời
sống xó hội và trở thành hiện thực trên địa bàn tỉnh Cà Mau hay khụng là tựy
thuộc vào sự vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện của đội ngũ cán bộ


21
cơ sở trong tỉnh, nhất là đội ngũ cỏn bộ chủ chốt. Vỡ vậy, xõy dựng đội ngũ cỏn
bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau là một mắc xích góp phần thúc đẩy quá trỡnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nụng nghiệp - nụng thụn cuỷa tỉnh Cà Mau.
- Đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó noựi rieõng cú vai trũ quan trọng
trong việc xõy dựng, củng cố tổ chức, bộ mỏy của hệ thống chớnh trị ở cơ sở.
Thực tiễn chứng minh, có lúc, có nơi hệ thống chớnh trị ở cơ sở mạnh, yếu và
phong trào cách mạng của quần chúng có phát triển hay không đều gắn với
vai trũ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Về tổ chức bộ máy, họ là trụ cột, là trung

tâm đoàn kết nội bộ, là lực lượng huy tụ lực lượng tổ chức, sắp xếp, kiện toàn
cỏc tổ chức trong hệ thống chớnh trị ụỷ cụ sụỷ. Mặc khác, cán bộ cơ sở ở Cà
Mau có vai trũ quyeỏt định đến năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
ủảng; năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền và mọi hoạt động
của đoàn thể quần chúng của cơ sở. Xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó
ở tỉnh Cà Mau có đầy đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ mới là
nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường vai trũ lónh đạo của Đảng; điều hành,
hoạt động của Nhà nước, đoàn thể quần chúng ở cơ sở và phát huy mạnh mẽ
quyền làm chủ xó hội của quần chỳng nhõn dõn, gúp phần thỳc đẩy phát triển
kinh tế, xó hội của tỉnh Cà Mau.
- Xuất phaựt từ vai trũ của cơ sở và cán bộ ở cơ sở, việc xây dựng đội
ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó vững mạnh, có đầy đủ phẩm chất, năng lực, nhất
là năng lực trong thực tiễn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp cán
bộ cho các cấp trong tổnh. Bởi vỡ, thụng qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở, đội
ngũ cán bộ này đó tớch lũy được nhiều kinh nghiệm, sự năng động và sáng
tạo của hoù khoõng ngừng được bổ sung và nâng cao. Trong thực tế, một số
cán bộ chưa được rèn luyện từ thực tiễn ở cơ sở, nên khi được phân công đảm
nhận các vị trí lónh đạo ở cấp cao hơn thường không thích ứng với nhiệm vụ
và sẽ gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, cán bộ được thông qua công tác ở cơ sở,
thỡ khi luõn chuyển hay điều động về huyện, thành phố Cà Mau với vị trí cao


22
hơn, thỡ sẽ vững vàng, cú bản lĩnh trong quyết đoán, xử lý công việc, thích ứng
nhanh với nhiệm vụ mới, đúng như Lênin khẳng định: “Cần đề bạt một cách có
hệ thống những người đó được thử thách qua thực tiễn” [41, tr.178]. Thực tiễn
nước ta, khi đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ
công chức cơ sở không những là cái khâu liên hệ mà cũn là cỏi kho dồi dào cho
ẹảng lấy thêm lực lượng mới. Nếu đội ngũ này phát triển và củng cố thỡ ẹảng
sẽ phỏt triển và củng cố, bằng khụng ẹảng sẽ khụ hộo” [52, tr.237].

Xây dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau vững mạnh là
một mắt xích quan trọng đặc biệt trên các lĩnh vực và là cơ sở thực hiện chiến
lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Cà Mau
hiện nay, góp phần thúc đẩy tỉnh Cà Mau hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phỏt
triển kinh tế, xó hội, an ninh, quốc phũng một cỏch bền vững và ổn định.
Cấp xó là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thiết lập và hoạt động của
hệ thống chớnh trị cơ sở và các tổ chức kinh tế, xó hội khỏc nhau, đặt dưới sự
lónh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở ủảng. Xó phỏt triển toàn diện và vững
mạnh thỡ huyện mạnh; huyện mạnh thỡ tỉnh mạnh và tỉnh mạnh gúp phần
cựng cả nước phát triển mạnh, bền vững sánh vai cùng các nước trong khu
vực và trên thế giới. Ngược lại, cấp cơ sở yếu kém, không ổn định, phỏt triển
thiếu bền vững, tỡnh hỡnh an ninh chớnh trị diễn biến phức tạp, thỡ sẽ ảnh
hưởng rất lớn và trực tiếp đến huyện, thành phố và tỉnh. Điều đó khẳng định
chủ trương của Đảng ta hướng mạnh về cơ sở; khắc phục tỡnh trạng hành
chớnh húa, xa dõn, phụ trương, hỡnh thức laứ ủuựng ủaộn.
1.1.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở Cà Mau trong
những năm đầu tái lập tỉnh
Cà Mau là tỉnh tuyến đầu cực Nam tổ quốc, địa bàn rộng và phức tạp,
giao thụng chủ yếu là đường thủy, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém, bị thiên tai
gây hậu quả nặng nề về người và của vào cuối năm 1997 đến nay tạm thời
khắc phục được một phần, đời sống nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ,


×