ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Lời cảm ơn
ĐẠI HỌC
THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG CAO
ĐẲNG
KINH
TẾ-KỸ THUẬT
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ-KỸ THUẬT
Thực tập là quãng thời gian quý báu của mỗi sinh viên, là hành trang đầu tiên
ra xã hội. Để có được thành quả ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ của quý thầy cô giáo. Cô và thầy chính là những người lái đò luôn dìu dắt, chỉ
bảo em giúp em khôn lớn thành người.
Em xin chân thành cảm ơn ……………………………………. đã tạo điều
kiện giúp em hoàn thành đợt thực tập cuối khóa. Sự giúp đỡ của quý vị góp phần
giúp em hoàn thành xuất sắc khóa thực tập và hoàn thiện mình hơn. Mặc dù thời
gian không dài, nhưng được tiếp cận nhiều khía cạnh, kỹ năng giúp em hoàn thiện
mình và vững bước
lậpCÁO
nghiệp.
BÁO
KẾT QUẢ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Để có ngày hôm nay, em xin gửi tới gia đình, bạn bè và người thân luôn sát
cánh, đồng hành và hỗ trợ em, giúp em hoàn thành khóa học như ý.
Em xin cam kết, bài báo cáoNGUYỄN
thực tập là
công
VĂN
A sức, là thành quả của cá nhân em
Tên chuyên đề:
trong quá trình học tập, thực hành để có được.
....................................................................................................
....................................................................
Sinh(Chữ
viên in hoa, đứng, đậm)
……………………
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện:
Tên chuyên đề:
đậm)
Ngành:
....................................................................................................
Hệ đào tạo:
..................................................................... (Chữ in hoa đứng,
Khóa:
Khoa:
Giáo viên hướng dẫn:
Thái Nguyên, năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................1
a.
Đặt vấn đề:...........................................................................................................................1
b.
Lý do chọn chuyên đề..........................................................................................................1
c.
Phạm vi chuyên đề...............................................................................................................1
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN....................................................................................3
Chương I: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................3
1.
Những nội dung nghiên cứu của chuyên đề..........................................................................3
2.
Phương pháp nghiêm cứu, hướng giải quyết vấn đề.........................................................3
Chương II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.............................................................5
1.
Khái quát vị trí địa lý..........................................................................................................5
2.
Tìm hiểu sự khởi đầu lịch sử Hàn Quốc...........................................................................6
3.
2.1
Nguồn gốc người bản địa............................................................................................6
2.2
Thời tiền sử và sự hình thành vùng đất cổ Choson.................................................6
2.3
Sự hình thành cục điện tam quốc..............................................................................8
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Koryo (Goryeo - Cao Ly)............................9
3.1
Các quốc gia tiền Koryo và sự ra đời của nhà nước thống nhất toàn diện..........9
3.1.1
Các quốc gia tiền Koryo.....................................................................................9
3.1.2
Sự ra đời của Koryo và khởi đầu của quốc gia thống nhất..........................11
3.2
Sự phát triển và suy tàn của Koryo.........................................................................12
3.2.1
Chính trị.............................................................................................................12
3.2.2
Xã hội..................................................................................................................15
3.2.3
Văn hóa, tư tưởng..............................................................................................18
3.2.4
Kinh tế thời Koryo............................................................................................20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................................23
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt
Nội dung
TCN
Trước công nguyên
NXB
Nhà xuất bản
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
STT
Tên bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ
Trang
1
Sơ đồ 01: Tổ chức bộ máy trung ương thời Koryo
13
2
Sơ đồ 02: Tổ chức bộ máy trung ương sau thời Koryo
16
3
Sơ đồ 03: Hệ thống “Đẳng cấp thế tập cốt phẩm” (Kol’pum)
17
TÓM TẮT (ABSTRACT) VÀ TỪ KHÓA
TÓM TẮT
Hàn Quốc là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Bắc Á, với vị trí địa chiến lược,
nơi đây được coi là vùng đất của những cuộc chiến, tranh chấp lãnh thổ. Suốt chiều
dài lịch sử đến ngày nay, bán đảo này vẫn còn bị chia cắt.
Koryo là quốc gia được hình thành vào khoảng thế kỉ thứ X và tồn tại đến hết
thế kỉ XIV. Qua năm thế kỉ tồn tại, Koryo đánh dấu cột mốc quan trọng là thời kỳ
thống nhất toàn diện nhất. Cùng với đó, đây là vương triều có những cách tân mang
tính độc đáo trên phương diện chính trị, và mong muốn xây dựng một xã hội bình
đẳng. Tuy thất bại, song đây vẫn là vương triều thể hiện tầm nhìn và tham vọng phát
triển, là nền tảng của sự phát triển đối với các vương triều sau này, đặc biệt là
Choson.
ABSTRACT:
Korea is a country located on the North East Asia, with its geostrategic
location, which is considered a land of wars and territorial disputes. During the
whole period of history to this day, the peninsula is still divided. Koryo is a nation
formed around the 10th century and existed the fourteenth century. Through five
centuries of existence, Koryo marked an important milestone as the most
comprehensive reunification period. Along with that, this is the dynasty with unique
political innovations, and the desire to build an equal society. Although it failed, it
was still the dynasty that showed the vision and ambition to develop.
TỪ KHÓA CHUYÊN ĐỀ
Hàn Quốc; Koryo; Đẳng cấp
MỞ ĐẦU
a. Đặt vấn đề:
Hàn Quốc, một quốc gia nằm ở Đông Bắc Á với nền kinh tế phát triển và một
nền văn hóa đặc sắc. Tuy nhiên, văn hóa, lịch sử của Hàn Quốc ở Việt Nam vẫn còn
hạn chế.
Hiện nay, xu hướng chính của văn hóa Hàn Quốc du nhập vào Việt Nam là
“làn sóng Hallyu” thông qua phim ảnh và ca nhạc... Tuy vậy, lịch sử Hàn Quốc do
những chia cắt về đất nước, bản thân mỗi chúng ta chưa dễ nhìn thấy toàn cảnh về
một quốc gia Koryo (Goryoe) một thời như thế nào.
Sự chia cắt hiện nay của Hàn Quốc và Triều Tiên tuy không may mắn, nó cho
thấy tính chất liên tục của bán đảo này chìm trong khổ đau. Qua các thế kỷ, bán đảo
này luôn phải đối mặt với những chia cắt, sự hình thành, cát cứ của các quốc gia.
Song, nhìn tổng quan, có những giai đoạn lịch sử Hàn Quốc đã được hình
thành và phát triển hùng mạnh theo con đường riêng. Một trong số đó chính là giai
đoạn khởi đầu lịch sử Hàn Quốc và đỉnh cao là giai đoạn hình thành và phát triển
của Koryo từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV.
b. Lý do chọn chuyên đề
Là sinh viên khoa …….., đặc biệt trước các làn sóng văn hóa Hàn Quốc đang
du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, việc tìm hiểu sâu hơn về lịch sủ Hàn Quốc sẽ giúp
không chỉ bản thân có kiến thức sâu về Hàn Quốc, có góc nhìn riêng về vùng đất và
con người nơi đây.
Đối với lịch sử Hàn Quốc, giai đoạn khởi đầu lịch sử và giai đoạn thống nhất
thời Koryo là giai đoạn quan trọng. Đây được xem là nền tảng của một quốc gia
thống nhất về địa lý, văn hóa, tư tưởng. Chính bởi vậy, tìm hiểu về lịch sử giai đoạn
này chính là ngược dòng lịch sử và nắm bắt cái gốc rễ của lịch sử Hàn Quốc, góp
phần hiểu hơn và nhận thức rõ hơn về Hàn Quốc.
c. Phạm vi chuyên đề
Với chuyên đề “Tìm hiểu về sự khởi đầu lịch sử Hàn Quốc, sự hình thành và phát
triển của Koryo (Goryeo - Cao Ly)” tác giả muốn giải quyết:
1
Phạm vi đề tài: Tác giả sẽ đi vào tìm hiểu từng vấn đề của giai đoạn nhà nước
Koryo như: chính trị, văn hóa, xã hội nhằm khái quát rõ nét lịch sử Hàn Quốc, góp
phần bổ sung tư liệu cơ bản cho người muốn tìm hiểu Hàn Quốc.
Phạm vi thời gian: Với chuyên đề này, tác giả đi tìm hiểu giai đoạn khởi đầu
lịch sử Hàn Quốc, đặc biệt là giai đoạn hình thành và phát triển của Koryo
(Goryeo). Tức từ khởi nguyên đến hết thế kỷ 14.
2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương I: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Những nội dung nghiên cứu của chuyên đề.
Vấn đề thứ nhất: Khái quát vị trí địa lý, dân cư Hàn Quốc
Một quốc gia được xác định về phần lãnh thổ và vị trí địa lí. Bởi vậy, xác định
vị trí địa lí cùng với phân tích lịch sử theo dòng chảy thời gian chúng ta sẽ nắm bắt
được những biến động, phân chia, hợp nhất và sự lớn mạnh của từng quốc gia. Hàn
Quốc, một quốc gia nằm ở Đông Bắc Á với vị trí địa chiến lược quan trọng là vùng
đất màu mỡ ra biển của cả Mông Cổ, Trung Quốc…Cùng với đó là sự thèm khát lục
địa của người Nhật. Vì vậy, người Hàn Quốc trong suốt chiều dài lịch sử luôn phải
đối mặt với những cuộc chiến khốc liệt và đường lối ngoại giao linh hoạt.
Vấn đề thứ hai: Tìm hiểu sự khởi đầu lịch sử Hàn Quốc
Đối với vấn đề thứ hai, tác giả tìm hiểu về sự khởi đầu lịch sử Hàn Quốc đến
giai đoạn nhà nước Cổ Choson và giai đoạn bị các phương triều nhà Tần, Hán
Đường cai trị. Đây là giai đoạn tác giả sẽ mô tả cơ tầng văn hóa, địa lịch sử của Hàn
Quốc trước khi có sự hình thành của nhà nước mang tính chuyên chế, quân chủ rõ
ràng. Chính vì vậy, tìm hiểu giai đoạn khởi đầu của lịch sử Hàn Quốc chính là nền
tảng để phân tích, nắm bắt sự hình thành và phát triển của Koryo.
Vấn đề thứ ba: Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Koryo (Goryeo)
Vấn đề thứ ba là sự hình thành và phát triển của Koryo, tác giả sẽ phân tích từ
giai đoạn tiền Koryo cho đến sự hình thành và phát triển của vương triều này. Dựa
trên những cứ liệu và so sánh…tác giả phân tích những thay đổi thể chế, con người
và phân tích quyền lực trong triều đình phong kiến Hàn Quốc. Cùng với đó, dưới sự
thay đổi về chính trị, những đặc điểm về văn hóa, đẳng cấp trong xã hội, tín
ngưỡng, tư tưởng có thay đổi ảnh hưởng đến sự tồn vong của mỗi quốc gia.
Với sự lớn mạnh nhưng cũng nhiều biến cố, Koryo chính là quốc gia đầu tiên
thống nhất của Hàn Quốc, có những chính sách, tư tưởng và cải cách mới. Tuy
nhiên, sự thay đổi vẫn còn nhiều bất ổn, mà hệ lụy là sự tiếm quyền, đảo chính của
giới quân sự và sự ra đời của nhà nước Choson.
2. Phương pháp nghiêm cứu, hướng giải quyết vấn đề
3
Là đề tài mang tính chất nghiên cứu, bởi vậy, trong bài tác giả sẽ sử dụng
phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng hợp:
Với tính chất của chuyên đề tìm hiểu lịch sử, hơn nữa là lịch sử Hàn Quốc, với
nguồn thông tin hạn hẹp, tác giả thông qua phương pháp tổng hợp thông tin tư liệu
thông qua các tài liệu sách, báo, tạp chí là chính. Ngoài ra, với sự phát triển của
internet, tác giải tận dụng các web và các diễn đàn mạng xã hội nhằm thu thập
thông tin góp phần làng sáng tỏ nội dung, những khía cạnh lịch sử của hai giai đoạn.
Sau khi có nguồn thông tin tư liệu, tác giả tiến hành tổng hợp và có phương hướng
triển khai bố cục từng vấn đề và phát triển vấn đề.
Phương pháp so sánh:
Như chúng ta biết, Hàn Quốc là quốc gia nằm ở khu vực Đông Bắc Á, nhưng
cũng là quốc gia nằm cạnh Trung Quốc, một nền văn minh lâu đời với bề dày lịch
sử 5000 năm. Hiện nay, các học giả vẫn coi Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và
Việt Nam là bốn nước đồng văn (có liên quan đến văn hóa, ngôn ngữ). Chính bởi
vậy, thông qua phương pháp so sánh góp phần có cái nhìn khách quan, không phiến
diện và có đánh giá đúng nhất về các triều đại trong một góc nhìn tổng quan có so
sánh.
Phương pháp phân tích:
Sau khi đã tổng hợp và có góc nhìn so sánh, tác giả tiến hành triển khai các
vấn đề như khía cạnh chính trị, văn hóa, xã hội của cả hai giai đoạn. Mỗi giai đoạn
có những thay đổi về vương triều, thể chế, sức mạnh và sự lệ thuộc. Do vậy tác giả
sẽ mổ sẻ những vấn đề chính, cụ thể nhằm có cái nhìn tổng quan về lịch sử Hàn
Quốc giai đoạn khởi đầu lịch sử Hàn Quốc và sự hình thành và phát triển giai đoạn
Koryo (Cao Ly)
Phương pháp liên ngành:
Dưới góc độ lịch sử trong nghiên cứu các chuyên đề, hiện nay phương pháp
nghiên cứu liên ngành đóng một vai trò tối quan trọng. Trước đây nếu như phương
pháp nghiên cứu cá biệt riêng lẻ của các ngành, nghề chỉ đem đến cái nhìn sâu,
nhưng không khách quan. Với phương pháp liên ngành, các tác giả, học giả sẽ
4
nghiên cứu dựa trên sự liên kết giữa các phương pháp của lịch sử, văn hóa, địa lí …
ngôn ngữ học, tôn giáo học nhằm có cái nhìn tổng quan, sâu sắc góp phần đánh giá
đúng một vấn đề, một nền văn hóa dưới góc nhìn đa chiều.
Chính bởi vậy, với chuyên đề này, thông qua phương pháp liên ngành, tác giả
có cái nhìn sâu hơn trên nhiều bình diện, khía cạnh góp phần đánh giá và tìm hiểu
đúng chủ đề triển khai.
Chương II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Khái quát vị trí địa lý.
Koryo (Triều Tiên và Hàn Quốc hiện nay) nằm ở phía Đông Bắc Á. Koryo tiếp
giáp toàn bộ phía bắc với Trung Quốc và một phần nhỏ của nước Nga. Phía Đông,
Nam và phía Tây tiếp giáp với biển Thái Bình Dương.
Vùng đất Koryo là một bán đảo nối liền với đại lục Châu Á. Đây là vùng đất
có địa hình khá đa dạng, phần lớn đất đai của Koryo được bao phủ bởi đồi núi,
trong đó dãy Taebaek là dãy núi lớn nhất và ngọn núi cao nhất là núi
Peaktusan(2744m) nằm ở biên giới phía Bắc.
Với địa hình phức tạp, Koryo cũng là vùng đất với nhiều hệ thống sông, suối
dày đặc như Liao, Taedong, Amnokkang, Tuman-gang, Naktong, Han…. Trong đó
sông Amnokkang dài nhất với 790km, sông Tuman-gang có chiều dài lớn thứ hai
với 521km. Đây là hai con sông bắt nguồn từ núi Paektusan và chảy về hai hướng
Tây và Đông tạo ra cùng đồng bằng miền trung bán đảo Koryo màu mỡ.
Với vị trí là bán đảo và được bao quanh bởi biển tạo lợi thế phát triển và vai
trò quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử của người Koryo.
Đối với khí hâu, do nằm trong vành đai gió mùa Đông Á nên vùng đất Koryo
có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trong đó mùa Hạ và mùa Đông kéo dài hơn.
Những lợi thế rõ nét về vị trí địa lý cùng điều kiện thổ nhưỡng đặc thù, người
dân Koryo cổ và người Hàn Quốc hiện nay có lợi thế phát triển mạnh mẽ, dẫu phải
đối mặt với nhiều thách thức từ vị trí địa lí đặc biệt. Suốt chiều dài lịch sử của người
Hàn Quốc ngày nay (người Koryo xưa) đã chứng minh cho điều đó, đến ngày nay,
5
dường như những yếu tố lịch sử ấy vẫn còn in dấu và thể hiện qua sự chia cắt của
hai miền Triều Tiên.
2. Tìm hiểu sự khởi đầu lịch sử Hàn Quốc
2.1 Nguồn gốc người bản địa
Ngay từ 30.000 đến 50.000 năm trước tại bán đảo Triều Tiên đã có sự xuất
hiện của các cư dân. Các học giả Hàn Quốc cho rằng, tổ tiên của họ ngày nay không
phải là các cư dân thời đá cũ, mà là cư dân thời đá mới. Những người di cư đến bán
đảo trong khoảng 6000 năm đến 2000 năm TCN, sau đó kết hợp với các cư dân thời
đồ đồng tạo nên vùng đất ngày nay.
Theo những nghiên cứu về ngôn ngữ, nhân chủng cũng như các truyền thuyết,
thần thoại còn tồn tại đến ngày nay, các học giả cho rằng các cư dân nơi đây khác
biệt so với các nước Trung Quốc, Nhật Bản. Họ cho rằng, những cư dân bản địa nơi
đây là con cháu của một vài bộ lạc Mongol từ vùng Trung Á di cư đến.
Đặc biệt, dựa trên những nghiên cứu về ngôn ngữ, người Hàn Quốc chứng
minh rằng, ngôn ngữ của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Ural-Altaic của vùng Trung Á,
bao gồm cả tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan, Mông Cổ, Tây Tạng, Nhật Bản… Tuy
vậy, hiện nay về cấu trúc ngữ pháp và vốn từ của người Hàn cũng giống như người
Nhật và Việt Nam, có sự vay mượn rất nhiều từ Trung Quốc. Cho đến nay, các học
giả vẫn cho rằng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (Triều Tiên) và Việt Nam là bốn
nước đồng văn (có sự giống nhau về văn tự, chữ viết, tiếng… và ảnh hưởng tương
đối lớn về văn hóa, chính trị). Tuy có sự giống nhau, nhưng với những con người
mới, vùng đất mới họ vẫn có sự khác biệt. Những yếu tố ấy được thể hiện mạnh mẽ
qua suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là thời kỳ dựng nước và giữ nước của người Hàn
Quốc.
2.2 Thời tiền sử và sự hình thành vùng đất cổ Choson.
Là vùng đất với những con sông chằng chịt, cuộc sống người dân gắn với
những dòng sông…người Hàn Quốc cổ đại đã biết dựa vào những dòng sông để
sống. Không chỉ Hàn Quốc, tất cả các nền văn minh phương Đông, đều hình thành
các quốc gia sơ khai đều gắn với chúng. Nền văn minh Trung Quốc gắn với sông
Trường Giang và Hoàng Hà, nền văn minh Ấn Độ gắn với Sông Hằng và sông Ấn,
6
nền văn minh Ai Cập gắn với sông Lin, nền văn minh Việt Nam gắn với sông
Hồng...
Chính bởi vậy, tại Hàn Quốc, với những dòng sông lớn như: Liao, Taedong,
Amnokkang, Tuman-gang, Naktong, Han… người bản địa đã dần xác lập thành
từng nhóm người, cư trú dọc theo các con sông với các phương thức săn bắn, hái
lượm và dần hoàn thiện sản xuất nông nghiệp. Những cư dân bản địa nơi đây cũng
giống với những nền văn hóa khác cư trú theo hang động và từ từ bước ra ánh sáng
với những thị tộc, bộ lạc…
Bước vào thời kỳ đồ đá, đồ đồng… các cư dân bản địa nơi đây ngày một phát
triển về mật độ dân cư, phương thức sản xuất, cơ cấu bộ tộc. Đặc biệt vào giai đoạn
đồ đồng, nền văn minh phát triển cao nhất cũng là lúc những vũ khí thô sơ được làm
từ kim loại được hình thành, đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thành lập của
những vùng đât, thành bang và tranh chấp lãnh thổ. Những cuộc chiến bắt đầu xảy
ra và sự ra đời của nhà nước sơ khai cũng dần được xác lập.
Cổ Choson, một quốc gia cổ đại của người Hàn Quốc được thành lập tại lưu
vực sông Liao và Teadong được xác định muộn nhất vào khoảng 400 năm TCN.
Đây là quốc gia thành lập dựa trên sự kết hợp của các thành bang khác nhau để tập
hợp thành một quốc gia, nhưng quyền lực vẫn thuộc về các thành bang. Theo ghi
chép của nước Yên (Trung Quốc), Cổ Choson là quốc gia hiếu chiến, hung bạo…
đáng quan tâm.
Bởi vậy, vào khoảng thế kỉ thứ IV TCN, Cổ Choson đã phải đối mặt với những
sức ép mạnh mẽ của nước Yên, Tần và Hán và dần đi đến suy yếu, lệ thuộc.
Quốc gia Cổ Choson sau khoảng một thế kỉ dưới sự cai trị của ba triều đại đã
tạo ra nhiều thành tựu. Tuy nhiên, trước sự cai trị của người Trung Quốc, những cư
dân Cổ Choson đã di dân đi nhiều nơi chạy trốn và thành lập những đội quân để
chống lại nhà Hán.
Vào năm 194 đến 180 TCN, Wimam người từng tham gia vào cơ cấu chính
quyền do nhà vương triều Trung Quốc cai trị đã đứng dậy lật đổ vua Cổ Choson là
Chun và chiếm lấy vương quyền, lập ra thời kỳ Wimam Choson. Sau khi tiến
7
quyền, tuy phát triển theo thời kì Cổ Choson, song Wiman có dã tâm hơn khi theo
đuổi chính sách bành trướng và mở rộng lãnh thổ về phía Bắc và phía Đông.
Trước sự phát triển của Cổ Choson dưới thời kỳ Wiman, nhà Hán (Trung
Quốc) đã tấn công và làm sụp đổ vương triều Cổ Choson cuối cùng vào năm 108
TCN và bắt đầu đặt chế độ cai trị tại vùng đất này với bốn quận; Lo-lang, Chen-fan,
Lan-t’un và Hsuan-t’u.
2.3 Sự hình thành cục điện tam quốc.
Trong giai đoạn sơ khai của các quốc gia, mỗi vùng đất đều có những dấu ấn
lịch sử khác nhau. Nếu như người Trung Quốc luôn nhắc đến giai đoạn tam quốc
với ba vương triều (Ngụy, Thục, Ngô), thì người Hàn Quốc cũng có thời kỳ với sự
hình thành, phát triển, ganh đua và cả tranh chấp lãnh thổ (Koguryo; Shilla và
Paekche). Về mặt địa lý, Koguryo kiểm soát ở phía Bắc, Shilla kiểm soát phía đông
nam, Paekche kiểm soát khu vực tây nam. Mỗi triều đại đều theo đuổi chính sách
phát triển và cát cứ lâu bền, tuy nhiên chỉ có Koguryo có con đường khác biệt là
chiến tranh chống nhà Hán và giành lại đất đai của quốc gia Cổ Choson.
Koguryo được thành lập vào năm 37 TCN tách ra từ một nhóm thành viên của
Puyo, Koguryo lấy vùng đất giữa lưu vực sông Yalu và T’ung-chia để lập quốc.
Koguryo phát triển và hùng mạnh dựa trên quan điểm chống lại nhà Hán. Đến năm
53, Koguryo đã trở thành một cường quốc của khu vực, ganh đua với các triều đại
của Trung Quốc kiểm soát Mãn Châu.
Paekche được hình thành vào khoảng năm 246.
Shilla được hình thành muộn nhất vào khoảng 342 dưới sạng một vương triều
liên minh ở phía đông sông Naktong.
Sự hình thành của ba vương quốc trong khoảng gần 400 năm đã đánh dấu một
cột mốc mới trong lịch sử của người Hàn Quốc xưa. Cùng với đó, trước sự lớn
mạnh và tăng cường phát triển kinh tế, quân sự đã tác động và ảnh hưởng trực tiếp
đến các khía cạnh hành chính, quân sự, văn hóa, xã hội, tư tưởng.
8
Trong suốt những năm tồn tại song hành cùng nhau, ba quốc gia này không chỉ
nạn nhân của sự gây hấn đến từ Trung Quốc, mà bản thân mỗi quốc gia đều có
những chính sách, kế hoạch rõ ràng.
Tới những năm 342 cả ba nước đã có những mối quan hệ liên minh chồng
chéo lẫu nhau trong việc chiếm đóng, kiểm soát nhau trong khoảng 250 năm. Trong
đó Koguryo và Peakche và hai nước có mối quan hệ với nhau từ sớm nhằm kìm
hãm sự lớn mạnh và phát triển của Shilla. Tuy vậy giai đoạn sau lại là sự củng cố và
phát triển của Shilla và Koguryo đã dần đẩy Peakche đến diệt vong.
Tuy có sự liên kết cùng nhau, song Koguryo vẫn theo đuổi chính sách chống
lại nhà Hán và các vương triều phương bắc. Sự phát triển và lớn mạnh của Koguryo
đã khiến các vùng đất của người Khitan (Khiết Đan), người Malgal và Hán, Đường
chú ý, kìm hãm và đánh chiếm.
Sau thắng lợi, nhà Đường đã kiểm soát hoàn toàn vùng đất Koguryo, Peakche
và đối đãi với Shilla như một nước chư hầu. Đến năm 671 Shilla đã thành công
trong việc đánh đuổi nhà Đường ở nước Peakche cũ và thành lập ở đó một nhà nước
lấy biên giới phía bắc cắt ngang sông Teadong.
Sau nhiều năm chiến đấu và tranh giành lãnh thổ cả ba quốc gia đều đi đến kết
quả khác nhau. Từ ba quốc gia chỉ còn hai quốc gia, vùng đất của vương triều
Koguryo không thể đòi lại. Năm 698 vương triều Parhae gồm quý tộc cũ của
Koguryo và bộ lạc Malgal đã ra đời ở biên giới phía bắc gọi là Chin, năm 713 đổi
tên thành Perhae.
3. Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Koryo (Goryeo - Cao Ly)
3.1 Các quốc gia tiền Koryo và sự ra đời của nhà nước thống nhất toàn
diện
3.1.1 Các quốc gia tiền Koryo
Sau sự tan rã của cuộc nội chiến giữa ba nước (Koguryo, Shilla và Paekche),
đến năm 698, cục diện tại bán đảo Triều Tiên chỉ còn hai lực lượng giữa Parhea và
Shilla.
Parhea (698 – 926), đây là vùng đất mà người Trung Quốc gọi là “Miền đất
phồn thịnh ở Phương Đông”. Trong giai đoạn thống trị của mình, vương triều
9
phương bắc này có lãnh thổ khá rộng lớn. Phía bắc tới sông Amur, phía đông tới
vùng duyên hải của Nga, phía nam tới vùn Hamgyong và phía tây đến vùng
K’aiyuan.
Với sự bành trướng của mình cùng với chiến lược ngoại giao thông minh cùng
người Nhật, người Turk và sau này là nhà Đường (Trung Quốc), đã góp phần thúc
đẩy, kích thích vùng đất này phát triển phồn thịnh.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của giai cấp thống trị là những người thuộc tầng
lớp tinh hoa Koguryo cũ dẫn đến sự phân biệt và đối xử. Trong giai đoạn này nổi
lên chính là bộ lạc Malgal. Sự xung đột đã làm cho Parhae trở nên hỗn loạn. Lợi
dụng tình thế trên, người Khitan (Khiết Đan) đã đánh bại Parhae, sau này vùng đất
phía bắc của người Cổ Choson các triều đại sau không lấy lại được.
Shilla (668-891), sau thời kỳ tam quốc, xã hội Shilla có nhiều thay đổi quan
trọng:
Trong giai đoạn này, những xung đột với nhà Đường đã hạn chế và hai nước
tiến tới hợp tác, mối quan hệ hữu hảo tạo điều kiện cho xây dựng và phát triển đất
nước. Yếu tố thứ hai thay đổi trong giai đoạn ban đầu là sự thay đổi về tình hình
chính trị khi quyền lực của nhà vua được tăng lên, quyền hạn của các gia tộc thế lực
dần bị hạn chế.
Hệ thống quan văn và võ cũng thay đổi với sự thành lập phòng Đại pháp quan
năm 651 nhằm thực thi hành pháp do vua quản lý chứ không phải quý tộc. Về võ
quan và quân sự quyền lực của nhà vua được tăng lên. Khác với cơ cấu cũ là sáu
đơn vị lính đồn trú và dưới sự quản lý của quý tộc địa phương. Thay vào đó là 9 đội
lính trung thành đóng ở kinh đô và mười đơn vị lính đồn trú đóng tại các địa
phương dưới sự quản lý của triều đình.
Về mặt xã hội, giai đoạn này xã hội vẫn theo hình thức như giai đoạn tam
quốc khi giai cấp quý tộc tiếp tục tích lũy tài sản khổng lồ. Chế độ lương làng xã
vẫn tiếp tục, tuy đã có giai đoạn chính quyền trung ướng thay “trả lương làng xã”
thành quyền được chỉ huy lao động và thu thuế từ thóc lúa của dân, nhưng chỉ tồn
tại trong thời gian ngắn.
10
Giai đoạn này, nền văn hóa Phật giáo phát triển mạnh, các nhà sư được sang
Trung Quốc học và mang những cuốn kinh sách về do có mối quan hệ tốt với chính
quyền nhà Đường. Cùng với đó, các trường phái như thiền (Son - Thiền) bắt đầu
được du nhập, nhưng chỉ được một bộ phận nhỏ các quý tộc nhỏ địa phương.
Sau thời gian hạn chế quyền của các quý tộc chính thống, có mối quan hệ với
những quan hàm lục phẩm đã tạo ra mâu thuẫn. Nhằm bảo vệ quyền lợi, các quý tộc
chân cốt đã nổi dậy, đến triều đại vua Kyongdok biến thành cuộc nổi loạn trong
một thời gian dài.
Sau những cuộc nổi loạn, giới quý tộc lấy lại được quyền lực và thực thi chính
sách kinh tế hà khắc, khiến chính quyền không thu được thuế, nền kinh tế dần đi
xuống. Tuy chính quyền đã nỗ lực đưa người về các vùng nông thôn thu thuế xong
không hiệu quả. Dưới sự bất lực của chính quyền và đói khổ của nhân dân, một thế
hệ mới mong muốn thống nhất đất nước đứng lên lãnh đạo và đã đạt được kết quả
với sự ra đời của nhà nước Koryo.
3.1.2 Sự ra đời của Koryo và khởi đầu của quốc gia thống nhất
Giai đoạn cuối của thời kỳ hậu tam quốc, trước sự cai trị và sự phân hóa xã hội
đạt đến cực đại, dẫn đến chia rẽ đất nước. Những cuộc khởi nghĩa đã diễn ra thực
chất đại diện cho Hậu Paekche và Hậu Koguryo.
Năm 901, Kungye một hoàng tử của Shilla từng bị đuổi khỏi kinh đô tuyên bố
thành lập nhà nước Hậu Koguryo, nhưng do đường lối cai trị bạo ngược, vô đạo,
hoang tưởng, giết người… Kungye nhanh chóng bị các tướng lĩnh giết khi chạy
trốn. Năm 918, Wang Kon một người thuộc gia đình quý tộc nhỏ ở vùng Kaesong
ngày nay lên ngôi và đổi quốc hiệu là Koryo hay (Goryeo), rời đô đến Kaesong.
Năm 927 Kyonhwon tấn công Shilla, giết vua Kyongae. Dưới danh nghĩa là
người bảo vệ Shilla, Wang Kon đã đưa quân tiến đánh vào các năm 930 và 943, đã
giành nhiều lợi thế. Sau cuộc chiến, nhà nước Hậu Paekche của Kyonhwon xảy ra
lục đục về người kế vị khi ông đưa người con thứ hai lên ngôi. Chính điều đó dẫn
đến người con cả làm phản, bỏ tù Kyonhwon, ông may mắn trốn thoát và lánh nạn
tại Koryo. Sau này là một tướng của Koryo và đưa quân đánh lại nhà nước Hậu
Paekche của người con cả.
11
Vào năm 935, vua Kyongsun của Shilla chính thức xin đầu hàng Koryo và sự
thất bại của Hậu Paekche đưa đến sự thống nhất hoàn toàn của Koryo, sự thống nhất
này lớn hơn, có giá trị hơn khoảng 2 thế kỉ trước của nhà nước Shilla.
3.2 Sự phát triển và suy tàn của Koryo
3.2.1 Chính trị
Sau khi thống nhất, về danh nghĩa Koryo là quốc gia thống nhất, tuy nhiên đất
nước vẫn trong tình trạng hỗn loạn. Các lãnh chúa với cơ sở quyền lực riêng vẫn
thống trị nông thôn, chính quyền trung ương không thể phái quan chức về các nơi
để thiết lập sự kiểm soát.
Hội đồng cơ mật
(Trước năm 1170)
Quan văn (munban)
(trước 1170)
Cơ quan nhân sự
(từ 1209 - 1368)
Hội đồng quân sự tối cao (Chungbang)(1170 - 1270)
Vua
Quan võ (muban)
Quan tòa (namban)
Binh lính (kunban)
Lãnh chúa tại địa phương
Sơ đồ 01: Tổ chức bộ máy trung ương thời Koryo
Nhằm đảm bảo một nhà nước không có nội chiến và các cuộc chiến tranh cát
cứ, vua Wang Kon đã tiến hành thắt chặt mối quan hệ thông qua hôn nhân với hơn
20 gia đình thuộc các lãnh chúa địa phương. Riêng đối với người chống đối khác,
ông tiến hành ban tặng cho “Họ của hoàng tộc”.
Trong cơ cấu bộ máy chính quyền trung ương, “Hội đồng cơ mật” đóng vai trò
tối quan trọng trong tư vấn và giúp vua giải quyết các vấn đề đối nội, ngoại giao.
12
Dưới hội đồng cơ mật và vua là bốn nhóm tổ chức được phân chia cụ thể gồm quan
văn (munban), quan võ (muban), quan tòa (namban) và binh lính (kunban).
Trong đó quan văn (munban) được coi trọng hơn quan võ (muban), một tiền lệ
đi ngược lại với truyền thống từ khi dựng nước của các quốc gia trên bán đảo này.
Từ kinh nghiệm các triều đại trước, vua Wang Kon mong muốn một quốc gia
hùng mạnh và bình đẳng. Vì vậy, ông dựa trên nền học thuật khổng giáo để tuyển
chọn quan lại. Đỉnh điểm của chính sách này được diễn ra vào thời vua Kwangjong
(949 - 975), ông bổ nhiệm những quan chức không theo lối truyền thống (phân biệt
dòng dõi, đẳng cấp), thay vào đó mong muốn một xã hội dân chúng không phân
biệt, kể cả người Trung Quốc sẽ được nhận các chức vị nếu thi đỗ trong các kỳ thi.
Song song với các chính sách trên nhằm củng cố vương triều và hạn chế
quyền lực của các võ tướng, triều đình Koryo dưới triều vua Kyongjong (Cảnh tông
975 – 981) đã đưa ra phương án sơ thảo của “Luật đất trả lương” cho các quan lại.
Đến năm 998 vua Mokchong (Mục tông), “Luật đất trả lương” được chia thành 16
bậc theo hệ thống phân cấp bậc do vua Songjong (Thành tông).
Với cơ chế thi cử cùng với việc thi hành luật trả lương mới, các vua Koryo
mong muốn tạo ra sự công bằng và giải quyết triệt để vấn đề kế thừa (thế tập) theo
dòng dõi đã có từ lâu.
Dưới triều vua Songjong (981 - 997), dựa vào thành tựu trên của chính sách
cải cách… Các quan đã được cử từ kinh đô về đứng đầu đơn vị hành chính các tỉnh
cùng với các lãnh chúa đã bị hạn chế quyền lực của địa phương.
Tuy triều đình Koryo đã cố gắng thiết lập trật tự xã hội bằng các quan hệ hôn
nhân, hệ thống thi cử và Luật đất trả lương, mặc dù đã có những bước đột phá, song
vẫn bị các tầng lớp quý tộc lợi dụng và tăng quyền lực của mình.
Đối với các quan hệ hôn nhân với hoàng gia, các gia tộc lớn đã lợi dụng và gả
con gái của mình cho các hoàng thân, hoàng gia của Koryo dẫn đến sự chuyên
quyền, bá quyền. Tiêu biểu là gia đình Ansan Kim trong 50 năm (1009 – 1060) và
gia tộc Inji Yi trong 80 năm (1046 – 1227), cùng với đó là các cuộc đảo chính tiếm
quyền và thay đến 10 vị vua.
13
Riêng với hình thức thi tuyển, trên lý thuyết rất có lợi xây dựng đất nước, tuy
nhiên hiệu quả mang lại chưa thực rõ nét. Khi đi vào hoạt động, thực chất hệ thống
thi cử giới quý tộc vẫn quan tâm bảo vệ và tăng cường lợi ích bản thân thông qua
các cơ chế mở trường tư và mời thầy giỏi về đào tạo nhằm tạo ra lớp kế thừa tài
giỏi. Việc tổ chức thi cử đòi hỏi nhiều thời gian và tiền của…những yếu tố mà
người nông dân nghèo đói khó có được cơ hội tiếp cận và chuẩn bị.
Trước những bất cập của chế độ, thể chế và chính sách đi ngược với quyền lợi
của các quý tộc địa phương…mà đặc biệt là sự lộng quyền của các “quan văn” đã
gây ức chế cho các “võ quan”, những người nắm sức mạnh quân sự.
Đỉnh điểm của sự lộng hành diễn ra vào năm 1170 khi Han Noe đánh vào mặt
tướng Yi-So-Ung. Như giọt nước vỡ bờ, các võ quan đã kêu gọi “Giết chết tất cả kẻ
đội mũ quan văn” và hình thành nên 100 năm dưới sự chuyên quyền của các Võ
quan, mà đứng đầu là gia tộc võ quan Ch’oe (họ Thôi).
Khi họ Ch’oe cầm quyền đã lập ra “Hội đồng quân sự tối cao” (Chungbang)
thay cho “Hội đồng cơ mật” tồn tại trước đó, chính quyền họ Ch’oe đã thay tất cả vị
trí cấp cao của văn quan thành vị trí cho võ quan. Với 3000 binh lính và sau đó tăng
lên 30.000 binh lính chính quyền do họ Ch’oe dựng lên vẫn tồn tại và không vướng
phải sự phản kháng đáng kể nào của các phe phái và nông dân.
Nhằm không tạo ra sự ổn định hơn của chính quyền trung ương và địa
phương, chính quyền họ Ch’oe từ năm 1209 đã tuyển những người là quan văn vào
làm nhưng bị kiểm soát chặt chẽ đến 1368 kết thúc giai đoạn cai trị của quân Mông
Cổ.
Với gần 100 năm tiếm quyền của các vua Koryo, gia tộc họ Ch’oe đã phải đầu
hàng trước sức mạnh của quân Mông Cổ giai đoạn (1215 -1368). Giai đoạn người
Mông Cổ cai trị, các vị vua của Koryo phải học phong tục, bị lưu đày (làm con tim)
tại nhà Nguyên và lấy các công chúa của triều Nguyên. Giai đoạn này Koryo được
coi là “Con rể của nhà Nguyên”.
Khi nhà Nguyên suy yếu và nhà Minh (Trung Quốc) được thành lập, triều đình
Koryo đã lợi dụng và giành lại quyền kiểm soát đất nước, đồng thời chấp nhận lập
trường thân Minh dưới thời vua Kongmin năm 1368.
14
Năm 1388, nhà Minh đòi các vùng đất phía bắc cùng quận Yuan Ssangsong
nhưng nhà vua cùng phe phái chống Minh đã đứng ra phản đối. Vua Kongmin sau
khi nắm quyền, đã cử Sin Ton một nhà sư ít người biết đến và không có tham vọng
chính trị đứng ra cải cách. Tuy nhiên chiến dịch chống lại sự đồi bại của xã hội
đụng chạm đến các gia đình quý tộc, quyền thế và nhanh chóng nhận hậu quả từ
những cuộc nổi dậy của các gia tộc thế lực bằng cái chết của Sin Ton và Kongmin.
Trước sự lớn mạnh của các tướng lĩnh quân đội, đặc biệt là Yi Song-gye đã
buộc vua Kyongyang (1389 – 1392) phải thoái vị, nhường ngôi. Tướng Yi Song-gye
lên ngôi và lập ra nhà Choson, rời đô về Hansong (Seoul) ngày nay và chấm sứt giai
đoạn trị vì của triều đại Koryo với gần 5 thế kỉ.
Những cải cách về chính trị và chế độ dưới thời Koryo đã được Choson sau
này học tập và tiếp cận những thành tựu tổ chức nhà nước của Trung Quốc để hoàn
chỉnh hơn bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng một quốc gia độc lập, phát triển
bền vững.
Cố vấn đặc biệt
Tổng Thanh tra
Tổng Giám thị
Hội đồng Nhà nước
Bộ Hộ
Bộ Lại
Vua
Bộ Hình
Bộ Binh
Bộ Công
Bộ Lễ
Tỉnh (Tỉnh trưởng)
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy trung ương sau thời Koryo (Choson)
3.2.2 Xã hội
Khi Thái tổ Wang Kon lên ngôi, ông phải đối mặt với sự suy thoái nghiêm
trọng của xã hội, đặc biệt là sự phân tầng giàu nghèo và đẳng cấp.
15
Sau thống nhất lãnh thổ và lập ra nhà nước Koryo, về cơ bản cơ cấu xã hội của
các vùng, các khu vực vẫn giữ nguyên. Các gia tộc cát cứ tại địa phương vẫn ăn sâu,
bám chắc vào gốc rế…gia tộc lấy thuế từ làng và người nông dân theo hình thức
“đẳng cấp thế tập cốt phẩm”(kolp’um).
Đẳng cấp thế tập cốt phẩm (kol’pum)
Thế tập thánh cốt
(songgol)
Thế tập chân cốt
(chin’gol)
Đẳng cấp 6,5,4
Đẳng cấp 3, 2, 1
Tiện dân (ch’onmin)
và nô lệ
Sơ đồ3: Hệ thống “Đẳng cấp thế tập cốt phẩm” (kol’pum)
Qua sơ đồ trên, hệ thống đẳng cấp của các quốc gia phong kiến trước và trong
thời kỳ Koryo được phân chia rất rõ nét. Ở trên cùng là hai tầng lớp “Thế tập thánh
cốt” và “Thế tập chân cốt”. Đây là hai đẳng cấp đại diện cho hoàng gia và gia đình
của các bà bà hoàng, chỉ những người trong đẳng cấp này mới có quyền kế vị ngai
vàng của hoàng đế. Đến giai đoạn Koryo, Đẳng cấp thế tập thánh cốt không còn tồn
tại và nhập vào với tên gọi chung là Thế tập chân cốt.
Tầng lớp thứ hai chính là những người thuộc đẳng cấp 6, 5, 4. Đây là đẳng cấp
đại diện cho giới quý tộc nói chung. Đẳng cấp quý tộc là những người có quyền, có
đất đai, binh lính và cả nô lệ. Tầng lớp này rất mạnh, ngày càng ăn sâu bám rễ đối
với sự tồn vong của một dân tộc.
Tầng lớp thứ ba của hệ thống đẳng cấp là những người thuộc nhóm 3, 2, 1.
Đây là lớp đại diện cho những người dân tự do, những người có cuộc sống ổn định.
16
Tầng lớp cuối cùng và theo quan niệm của các triều đại xưa không có trong cơ
cấu xã hội phong kiến là tầng lớp “tiện dân”(ch’onmin) và các nô lệ.
Điểm cốt lõi trong hệ thống đẳng cấp của chúng là mang tính thế tập, kế thừa
từ đời này sang đời khác mang tính huyết thống.
Việc phân chia đẳng cấp không chỉ là sự phân chia địa vị, mà còn là còn là
cách để phân chia cách sống và nghề nghiệp nào được chấp nhận. Về đời sống mỗi
đẳng cấp sẽ có quy mô ngôi nhà, chỗ ở, chỗ đứng, màu sắc của trang phục chính
thức, các loại xe, đồ trang trí và các đồ dùng khác... Cùng với đó, đối với các tầng
lớp trên, đẳng cấp còn là cách để chỉ vị trí mà họ có thể đạt được nếu làm quan. Ví
như, chức Lệnh (yong) chỉ những người đứng đầu một Bộ, một Cục chỉ có thể dành
cho những người có hạng ngũ phẩm trở lên.
Đặc biệt, thời Koguryo những người khác đẳng cấp không được kết hôn với
nhau. Hiện tại, nhà nước Koryo có một phần các quý tộc từ thời Koguryo, vì vậy sự
ảnh hưởng là vẫn còn rất lớn.
Vua Kwangjong (Quang Tông, 9949-975) với mong muốn dân chúng không
còn bị phân biệt dòng dõi, kể cả người Trung Quốc vào cũng có thể làm quan, thay
đổi số phận nếu thi đậu vào các kỳ thi của Koryo. Đây là một trong những nỗ lực
của chính quyền Koryo tạo ra sự bình đẳng cho quốc gia. Tuy vậy, đây lại là vấn đề
quan trọng của bao đời các gia tộc địa phương. Các kỳ thi diễn ra nhưng hiệu quả
như mong muốn không đạt được. Ngược lại, các gia tộc địa phương ngày một lớn
mạnh khi lập ra các trường tư và cho con em người giàu vào học, thành tài. Như
người Việt Nam vẫn có câu “Con vua thì vẫn làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá
đa”.
Chính sự phát triển của gia tộc địa phương, làm gia tăng phân hóa giàu nghèo,
đẳng cấp. Do đó kéo theo sự phân hóa đối với người nông dân, và đẩy người dân
vào cảnh không ruộng, không đất đai và chấp nhận thân phận nô lệ.
Trong đời sống, người đàn ông Koryo là nhân vật nổi bật trong cộng đồng.
Những người phụ nữ hoàn toàn chịu trách nhiệm trong gia đình, kể cả tài chính của
gia đình. Trong giai cấp thượng lưu, người đàn ông và đàn bà đều có quyền thừa kế
như nhau. Tuy vậy, người phụ nữ ít có cơ hội tham gia vào các quan hệ xã hội. Hôn
17
nhân chính là phương tiện tiến thân trong xã hội vào thời quân Mông Cổ xâm lược,
tuổi kết hôn vào khoảng 13 tuổi.
Đặc biệt, trong xã hội phong kiến dưới thời Koryo có lệ người cầm quyền và
những người đàn ông thuộc tầng lớp thượng lưu lấy nhiều vợ, nhưng vai trò của vợ
cả (chính thất) và vợ thứ (vợ lẽ) có vai trò khác nhau. Những người vợ có thể bị gạt
bỏ tùy ý, nhưng việc ly dị rất khó khăn.
Tuy nhiên, đối với các tầng lớp nông dân, người làm tự do, vai trò của người
đàn ông và phụ nữ hoàn toàn khác nhau. Trong giai cấp dưới, người phụ nữ có
nhiều tự do hơn đối với gia đình cấp thượng lưu. Bởi trách nhiệm của người phụ nữ
giai cấp dưới có vai trò quan trọng, là người làm ra của cải, vật chất trong lúc người
chồng không có nhà hay đi lính.
3.2.3 Văn hóa, tư tưởng
Từ khi hình thành nhà nước, Phật Giáo và Khổng Giáo đóng vai trò quan trọng
trong sự hình thành, phát triển và diệt vong của mỗi quốc gia.
Phật giáo do nhà sư Sondon từ nước Tấn, một quốc gia hùng mạnh đã thống
nhất trong một thời gian ngắn vùng đông bắc Trung Quốc du nhập vào Koguryo
năm 272. Đến năm 384, một nhà sư Ấn Độ Malananta đến Peakche truyền vào và
nhanh chóng được người dân nơi đây đón nhận. Cũng vào thời gian này, một nhà sư
từ Koguryo là Ado truyền bá, nhưng không hiệu quả. Đến năm 527, một nhà sư từ
nước Lương (Trung Quốc) đến truyền bá, nơi đây mới chính thức tiếp nhận và dần
coi là một tôn giáo quan trọng.
Phật giáo với tư tưởng từ bi, hỷ sả thường hướng đến những người nghèo, bởi
vậy trong một xã hội, những người nông dân nghèo, nô lệ tại bán đảo có cuộc sống
khổ cực chiếm đa số nhanh chóng tiếp nhận và coi là một sức mạnh tinh thần, nuôi
dưỡng niềm tin, hy vọng.
Cùng với đó, nhằm quản lý đất nước, các vương triều phong kiến cũng coi
Phật giáo là tôn giáo quan trọng, dựa vào nó phục vụ mục đích chính trị hiệu quả.
Với vai trò quan trọng của mình, các nhà sư trở thành những cố vấn chính trị trong
các triều đại phong kiến, là người đưa ra, tham mưa trong sự hình thành, phát triển
cũng như diệt vong của cả vương triều.
18
Song song với sự tồn tại của Phật giáo, Khổng giáo vào bán đảo Korye thông
qua các cuộc chiến tranh và cai trị của người Trung Quốc. Khởi đầu cho sự phát
triển của nó chính là quốc gia Goguryo khi xây dựng Quốc tử giám năm 372.
Những nguyên lý của Khổng giáo nhằm vào các giá trị đạo đức, tầm quan
trọng của các mối quan hệ gia đình và quan điểm với các vua chúa đã nhanh chóng
chiếm được thiện cảm của cả triều đình trung ương và các tầng lớp nông dân. Thông
qua các kinh sách kinh điển như Tứ thư, Ngũ kinh đã góp phần tác động đến chính
trị, văn hóa, xã hội qua các triều đại.
Sự du nhập của cả Phật Giáo và Khổng giáo được sự đón nhận rộng rãi trong
nhân dân cũng như các tầng lớp thống trị tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển các
quốc gia. Phật giáo tiếp tục không ngừng phát triển khi các triều đại đưa các vị sư
học tập và truyền bá những cuốn sách, kinh điển của phật giáo góp phần củng cố
vững chắc giá trị và vai trò của nó đối với đời sống xã hội cũng như chính trị.
Trong thời kỳ Koryo, Phật giáo đã bớt đi nhiệm vụ của mình. Nếu như các
vương triều trước, Hội đồng nhà nước là những cố vấn do các vị sư, trụ trì đảm
nhận. Tuy nhiên đến giai đoạn thời Koryo, “Hội đồng cố vấn” là những quan văn
xuất thân từ nền giáo dục Khổng giáo. Đặc biệt trong giai đoạn đảo chính, các thế
lực lên nắm quyền, vai trò đó thuộc về các võ quan.
Tuy nhiên, trong xã hội Phật giáo vẫn thể hiện sự phát triển, phình to đi ngoài
khuôn khổ tôn giáo. Phật giáo dưới cơ chế mới từ ruộng đất và một xã hội phân
tầng đã có sự lớn mạnh không ngừng. Các ngôi chùa được xây nhiều khắp nơi nhằm
đáp ứng cho nhu cầu lễ cúng của các tầng lớp giai cấp. Nguyên nhân dân đến sự
phát triển của Phật giáo đến từ ruộng đất và lòng tin của người dân. Đối với giai cấp
thống trị, ruộng đất như một phần lễ vật đưa vào chùa để cầu an, cầu may mắn.
Ngoài ra, đất chùa không phải đóng thuế… do vậy chùa không ngừng lớn mạnh. Sự
phát triển quá mức của nhà chùa đã tạo ra thế hệ các nhà tu kém chất. Nhà sư bắt
đầu đi ngược lại với những giá trị sân si, dung tục và gái gú…
Đối với Khổng giáo, Quốc tử giám ngày càng được coi trọng, nơi đây chính là
mầm mống của tương lai, là nơi phát triển nhân tài. Dưới vương triều Koryo việc thi
19
cử đã được mở rộng nhằm đưa những người nông dân vào và các tầng lớp thấp
được làm quan và tạo ra sự bình đẳng.
Không chỉ phát triển ở các trường của triều đình, những trường tư do các gia
tộc địa phương mở ra cho con em những nhà giàu và con em họ học tập cũng mọc
lên nhằm đào tạo những người thành đạt và duy trì chế độ ruộng đất.
Sự phát triển của Khổng giáo đã kéo theo sự thay đổi vai trò của những người
quan văn. Trước giai đoạn Koryo, quan văn đóng vai trò nhỏ, dưới những quan võ.
Bước sang giai đoạn Koryo những quan văn có vai trò quan trọng hơn và là người
cố vấn trong việc xây dựng và phát triển quốc gia.
Tuy nhiên, đến năm 1170, các võ quan không chịu được sự đè nén đã nổi dậy
giết hết quan văn và ít quan tâm tới thi cử, khổng giao. Thay vào đó, vai trò và vị trí
của các võ quan được khôi phục.
Vào thời kỳ cuối khi nhà nước Koryo suy yếu và dần bộc lộ những khuyết
điểm của cả Khổng giáo và Phật giáo với những hủ tục, phá sắc giới khiến làn sóng
bài trừ Phật giáo diễn ra mạnh mẽ. Sự xuất hiện của Tân Khổng giáo được hình
thành tại Trung Quốc với sự kết hợp của Khổng Giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã
được truyền bá và nhanh chóng chiếm được thiện cảm.
Tân Khổng giáo với tính chất đề cập đến các vấn đề chính trị và đạo lý, nhấn
mạnh vào các mối quan hệ vua tôi, thần dân, cha con, anh em… và sự tích hợp cả
giáo lý hay của Phật giáo và Đạo giáo đã tạo ra làn sóng mới và sự ảnh hưởng mới
đến xã hội Hàn Quốc, có ảnh hưởng đến tận ngày nay.
3.2.4 Kinh tế thời Koryo
Ở Koryo, nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng, là nền tảng của kinh tế. Vì
vậy, tài nguyên đất đai chính là mấu chốt của nền kinh tế và các cuộc chiến trong
suốt chiều dài lịch sử.
Đất dưới thời Koryo có hai loại, đất công thuộc sở hữu nhà nước, đất tư thuộc
sở hữa của các gia tộc địa phương. Với vai trò quan trọng của đất, trong suốt nhiều
thế kỉ, các gia tộc địa phương tại Koryo đã ra sức chiếm giữ và cho những người
nông dân thuê hoặc để những người lô lệ làm. Hằng năm thông qua các vụ mùa, các
20
quý tộc tiến hành thu tô, thuế và coi đó là thuế từ làng xã. Chính những yếu tố trên
góp phần làm giàu cho giai cấp quý tộc.
Chính bởi yếu tố quan trọng của đất, triều đình Koryo trong mong muốn hạn
chế quyền lực của các quý tộc địa phương đã tiến hành triển khai “Luật trả lương
bằng đất”. Những gia tộc sau khi chết, đất đai sẽ bị thu giữ cho người khác.
Tuy nhiên, những thay đổi về Luật trả lương đất hay thi cử và hôn nhân không
mang lại những tín hiệu tích cực. Ngược lại đưa đến những mầm họa cho những
xung đột của Koryo với những cuộc đảo chính, khởi nghĩa nông dân…ảnh hưởng
đến sự phát triển, tồn tại của Koryo.
Những khó khăn trên khiến nhiều người nông dân bỏ trốn và chấp nhận cuộc
sống lang thang hay hạ mình làm nô lệ.
Trong giao thương, với vị trí là bán đảo, ngay từ những thời gian đầu, đặc biệt
là giai đoạn nhà nước Paekche những thương nhân, thương đoàn lớn đã được tổ
chức trên các tuyến đường biển hay bằng những con đường bộ đến Trung Quốc,
Nhật Bản…rất phát triển, đến thời Koryo vẫn còn, song đã yếu kém hơn.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Koryo (Goryeo) một triều đại xuất hiện từ thế kỉ thứ X đến hết thế kỉ XIV đã
đánh đấu nhà nước thống nhất toàn diện nhất của bán đảo. Đặc biệt, dựa trên các
thành tựu về chính trị, xã hội, văn hóa, và kinh tế tạo tiền đề cho sự phát triển hoàn
thiện hơn của Choson thế kỉ XV.
Trên khía cạnh chính trị, cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương sơ khai dưới
triều Koryo tuy vẫn còn thể hiện sự non yếu, tuy vậy đây là bước đột phát trong
việc xây dựng một quốc gia bình đẳng, phát triển toàn diện.
Trong khi đó, nền văn hóa, xã hội dưới sự tác động mạnh mẽ của các học
thuyết chính trị và sự phân hóa đẳng cấp, giàu nghèo ngày càng cao đã tạo ra những
giá trị sai lệch và chuẩn mực xã hội…đặc biệt là các nhà sư và hệ thống quan văn.
Có thể nói, Koryo hình thành, phát triển và suy vong đã thể hiện tính liên tục
của lịch sử. Không chỉ vậy, sự suy vong ấy thể hiện yếu tố giai cấp và sự thống trị
21