Tải bản đầy đủ (.docx) (79 trang)

ĐẨY MẠNH xây DỰNG NÔNG THÔN mới TRÊN địa bàn HUYỆN yên KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (400.66 KB, 79 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
=====&=====

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ

ĐỀ TÀI: ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

Học viên: Bùi Thanh Tùng
GVHD: PGS.TS Ngô Thế Bính

HÀ NỘI 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn
toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình
nào khác và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Ninh Bình, ngày

tháng

Tác giả

Bùi Thanh Tùng

năm 2020



LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực
cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân
và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các
thầy, cô giáo Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh; Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Mỏ - Địa chất; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của
PGS. TS. Ngô Thế Bính đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các phòng, ban của huyện Kim Sơn đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tác giả

Bùi Thanh Tùng


Đánh số trang từ mở đầu:giữa đỉnh trang
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nông nghiệp,
nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ
mang tính chiến lược đặc biệt. Sau 25 năm đổi mới, đến nay sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống nông
dân đã có phần được cải thiện. Tuy nhiên, sự phát triển nông nghiệp, nông thôn
hiện nay còn thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn còn yếu
kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; đời sống vật chất, tinh thần của người dân
nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn
và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.

Trước tình trạng đó, vào năm 2006 Đảng và Chính phủ đã chủ trương xây
dựng nông thôn mới, trước hết là thí điểm tại một số làng xã theo Quyết định
2614/QĐ-BNN-HTX của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Vào năm 2009, trên cơ sở Nghị quyết số 26-NQ/TƯ "Về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn”, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban
hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; và Quyết định số 800/QĐ-TTg
ngày 04/6/2010 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020.
Thực hiện chủ trương này, năm 2009 cả nước đã triển khai thí điểm mô
hình nông thôn mới trên 11 xã thuộc các vùng miền khác nhau trên cả nước, với
19 tiêu chí thuộc 5 nhóm tiêu chí khác nhau.
Đến nay, sau gần 10 năm triển khai, phong trào xây dựng NTM tại huyện
Yên Khánh đã mang lại những thành công bước đầu. Tuy nhiên, để phong trào
này trở thành hiện thực trên địa bàn, cán bộ và nông dân trong tỉnh còn gặp phải
nhiều khó khăn, vướng mắc cả về chính sách và biện pháp triển khai. Cho tới
nay vẫn còn thiếu những nghiên cứu thấu đáo cả về lý thuyết và thực tiễn để
giải quyết vấn đề mang tính quản lý kinh tế nêu trên cho địa phương cấp huyện


như Yên Khánh. Xuất phát từ những điều trình bày trên tôi chọn đề tài luận văn
thạc sĩ quản lý kinh tế của mình là “ Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở
huyện Yên Khánh”.
Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng căn
cứ khoa học và khả thi cho những giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình nhằm bảo đảm tiến trình nhanh hơn và hiệu
quả hơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn sẽ giải
quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình
nông thôn mới.

- Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng mô hình nông thôn mới tại Yên
Khánh từ năm 2015 đến 2019.
- Đưa ra giải pháp thúc đẩy tiến trình xây dựng mô hình nông thôn mới tại
Yên Khánh đến năm 2025.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những giải
pháp quản lý nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, thuộc chức năng quyền
hạn của hệ thống chính trị huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Các vấn đề lý luận và thực tiễn có quan hệ mật thiết đến cơ
sở của những nhận xét, phân tích thực trạng, kết luận và đặc biệt là những đề
xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình.
Về số liệu: Số liệu dùng cho phân tích thực trạng xây dựng nông thôn
mới được thu thập trong giai đoạn 2011- 2019 của huyện Yên Khánh. Số liệu
liên quan đến các giải pháp được tham khảo trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã


hội, chương trình mục tiêu quốc gia, dự án… đã và đang triển khai huyện Yên
Khánh giai đoạn 2020-2024.
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn
Phương pháp phân tích số liệu thống kê chủ yếu áp dụng tại chương 2
nhưng trong LV chưa được thực hiện !
Để giải quyết những nhiệm vụ đã đặt ra, trong luận văn đã sử dụng những
phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: được sử dụng để phân tích và lựa chọn
những cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp với nhiệm vụ của luận văn, tạo quan
hệ logic giữa các nội dung được trình bày ở các chương.
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê: được sử dụng để lượng hoá những
phân tích đánh giá về thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Khánh,

tỉnh Ninh Bình, bổ sung cho những đánh giá định tính. Phương pháp phân tích
số liệu thống kê được tiến hành theo mô hình ‘dẫy số thời gian’ nhằm đánh giá
mức độ và xu hướng biến động chung của từng chỉ tiêu, phản ánh từng mặt của
hiện tượng nghiên cứu trong cả giai đoạn từ 2011-2019. Số liệu thống kê là số
liệu thứ cấp, được thu thập từ các báo cáo của UBND huyện Yên Khánh, tỉnh
Ninh Bình.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Làm rõ thêm nội hàm của khái niệm mô hình nông thôn mới và sự cần
thiết xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá khách quan thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên
Khánh từ năm 2011-2019, phát hiện những hạn chế và tìm ra nguyên nhân của
hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp cả trong ngắn hạn và dài hạn nhằm tiếp tục tiến
trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Khánh.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho chính quyền các cấp và người dân địa
phương trong việc triển khai xây dựng nông thôn mới.
Kết cấu của luận văn


Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
- Chương 2: Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia Khánh tỉnh
Ninh Bình giai đoạn 2015-2019.
- Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên
Khánh, tỉnh Ninh Bình

Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI

1.1. Tổng quan lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới
- Nông thôn (truyền thống)


Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là vùng lãnh thổ của một
nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự
nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư
chủ yếu làm nông nghiệp”. Khái niệm nông thôn ở đây được xây dựng dựa trên
cơ sở khái niệm về thành thị. Nếu thành thị là một khu vực có mật độ gia tăng
các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh
nó, hay trung tâm dân cư đông đúc…” [8], hoặc là khu công nghiệp, thương
mại-dịch vụ, [8;158] thì nông thôn lại là khu vực có dân cư ít hơn, là khu vực
mà sản xuất nông nghiệp chiếm ưu thê, môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh
tế… còn mang nặng tính truyền thống.
Theo Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21- 08- 2009 của Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc
nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính
cơ sở là ủy ban nhân dân xã”. Theo Thông tư này, khái niệm nông thôn cũng
được đưa ra dựa trên khái niệm thành thị. Tuy nhiên trong khái niệm này thì yếu
tố dân cư lại không được đưa ra.
Từ những khái niệm về nông thôn trên, có thể định nghĩa: Nông thôn là
vùng lãnh thổ trong đó đa số dân sinh sống bằng nghề nông. Tập hợp dân cư
này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong
một thể chế chính trị nhất định và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy
ban nhân dân xã.
Nông thôn mới
Nông thôn mới trước hết nó vấn là nông thôn, song so với nông thôn
truyền thống nó có những điểm khác biệt. Theo Đề án xây dựng NTM quốc
gia, để một vùng nông thôn được gọi là NTM thì phải được xây dựng theo 5 nội

dung sau:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
tăng nhanh;
- Hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại;


- Môi trường xanh, sạch, đẹp;
- Bản sắc dân tộc được bảo tồn và phát huy;
- Trình độ người dân được nâng cao, hệ thống chính trị được củng cố.
Để xây dựng nông thôn với 5 nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã
ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
bao gồm 19 tiêu chí ( xem phần Phụ lục).
Có thể nói, xây dựng nông thôn đã có từ lâu tại Việt Nam. Có thời điểm
chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây
dựng cấp xã. Nhưng nông thôn mới chúng ta đang xây dựng có một số điểm
khác biệt so với nông thôn truyền thống. Đó là:
Khác biệt trước hết là chúng xây dựng theo tiêu chí chung cả nước được
định trước.
Khác biệt thứ hai là xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi
cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm.
Khác biệt thứ ba là cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn
mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng.
Khác biệt thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương
trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại
nông thôn.
Như vậy nông thôn mới vẫn là nông thôn, nhưng có những đặc điểm khác
với nông thôn truyền thống, với năm đặc trưng cơ bản như trên. Nói cách khác,
nông thôn mới là nông thôn văn minh, hiện đại, có sự phát triển cao cả về kinh
tế, văn hóa và xã hội.
1.1.2. Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới

Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở
nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển
kinh tế của đất nước


Xây dựng mô hình nông thôn mới một tất yếu khách quan trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này là xuất phát từ những lý do
chủ yếu sau:
Thứ nhất, do yêu cầu nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân
nông thôn
Thu nhập của người dân nông thôn trong những năm gần đây đã tăng
nhưng vẫn còn ở mức thấp. Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá
thực tế tại nông thôn năm 2006 là 506 nghìn đồng; năm 2008 là 762 nghìn đồng.
Mức thu nhập này còn tương đối thấp so với mức chung của cả nước là 995
nghìn đồng/người/tháng [4].
Xây dựng nông thôn mới sẽ giúp người dân nông thôn phát triển kinh tế
gia đình, nâng cao thu nhập. Và xây dựng nông thôn mới còn để phát huy, nâng
cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân nông thôn. Vì vậy cần phải xây
dựng nông thôn mới để tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo cuộc sống của họ
được nâng cao cả về lượng và chất.
Thứ hai, do yêu cầu hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
tại các vùng nông thôn
Xây dựng cơ sở hạ tầng là một yếu tố quan trọng trong phát triển nông
thôn. Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn không những tạo điều kiện thuận lợi để
nâng cao đời sống, phát triển con người nông thôn mà còn góp phần giúp phát
triển kinh tế. Hiện nay, tại phần lớn các vùng nông thôn trên cả nước việc đầu tư
cho phát triển cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế. Xây dựng nông thôn mới đảm
bảo xây dựng và phát triển hệ thống điện, đường, trường, trạm của nông thôn.
Vì vậy phải xây dựng nông thôn mới để làng xã được sạch đẹp, cơ sở hạ tầng
được khang trang.

Thứ ba, do yêu cầu đưa người nông dân sản xuất nhỏ, manh mún trở
thành người nông dân sản xuất hàng hóa lớn
Hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, sản xuất của người dân
nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên sản xuất ở vùng nông


thôn nước ta vẫn còn là sản xuất riêng lẻ và quy mô sản xuất nhỏ. Nhìn chung,
nông thôn Việt Nam còn chưa tạo được những khu sản xuất tập trung để nâng
cao sản lượng, tiết kiệm sức lao động. Vì thế, phải xây dựng nông thôn mới để
đưa người nông dân sản xuất nhỏ, manh mún trở thành người nông dân sản xuất
hàng hóa lớn. Người nông dân sản xuất hàng hóa lớn không chỉ là người nông
dân biết liên kết với người nông dân khác để mở rộng quy mô sản xuất mà còn
là người nông dân sản xuất có chuyên môn kỹ thuật. Người nông dân sẽ được
hướng dẫn, nâng cao trình độ, tay nghề của mình, hướng tới sản xuất có kỹ
thuật cho hiệu quả và năng suất cao, thay đổi cách sản xuất, trồng cấy theo kinh
nghiệm, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như trước. Phải xây dựng nông thôn
mới để có thể cơ giới hóa nông nghiệp, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, tạo giá trị kinh tế cao cho sản xuất nông nghiệp.
Thứ tư, do yêu cầu rút ngắn khoảng cách phát triển của nông thôn so với
thành thị
Ở nước ta hiện nay, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị về thu nhập,
mức sống cũng như các điều kiện khác còn khá xa. Nếu thành thị là khu vực có
kinh tế phát triển, lao động trong khu vực này có nhiều việc làm và có thu nhập
cao thì nông thôn lại là khu vực chủ yếu sản xuất nông nghiệp, thu nhập thấp.
Khoảng cách thu nhập cũng như các điều kiện khác giữa thành thị và nông thôn
quá xa không chỉ thể hiện sự phát triển không đồng đều mà còn thể hiện sự bất
bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo giữa hai khu vực này. Ở nước ta hiện nay,
thu nhập của người dân thành thị cao hơn nhiều, thậm chí gấp hơn hai lần thu
nhập của người dân nông thôn.
Năm 2004, tỷ lệ hộ nghèo của nông thôn cao gấp 2,5 lần thành thị, các

năm từ 2006 – 2008, khoảng cách này đã giảm, tuy nhiên đến năm 2009, do tình
hình khủng hoảng kinh tế, lạm phát cao nên tỷ lệ này vẫn là 2,5 lần.[ 4 ]
Xây dựng nông thôn mới sẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát
triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Các điều kiện sinh
hoạt, dịch vụ y tế, văn hóa, xã hội... của nông thôn cũng được phát triển hơn. Vì


thế phải xây dựng nông thôn mới cũng như đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông
thôn mới để rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, tạo sự phát triển
đồng đều hơn giữa hai khu vực này.
Thứ năm, do yêu cầu bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc
Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong lĩnh vực kinh tế. Nhiều làng
quê ở nông thôn Việt Nam không còn duy trì nghề truyền thống do việc sản xuất
nhỏ lẻ, không tập trung. Xây dựng nông thôn mới khôi phục và phát triển các
làng nghề truyền thống vừa để phát triển kinh tế nông thôn, vừa để bảo tổn văn
hóa của địa phương.
Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong lĩnh vực văn hóa – xã hội.
Xây dựng nông thôn mới giúp người dân có điều kiện để hình thành nếp sống
văn minh, văn hóa, phát triển văn hóa địa phương. Mặt khác, nhiều khu di tích
lịch sử, nhiều công trình có giá trị lịch sử còn chưa được người dân nông thôn
bảo tồn và phát triển.
Vì thế phải xây dựng nông thôn mới để phát triển nếp sống văn hóa, văn
minh cho người dân nông thôn cũng như bảo tồn và phát triển văn hóa của dân
tộc.
1.1.3. Các nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc
gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng
Chính phủ.
Xây dựng nông thôn mới phải tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ

thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định
hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ
và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã
bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
Thứ hai, được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình
mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án


khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực
cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành
phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.
Thứ ba, Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng
cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công
trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của
người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá.
Thứ tư, được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có
quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch ( trên cơ sở các tiêu
chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).
Thứ năm, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ
Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy
hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây
dựng nông thôn mới“ do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây
dựng nông thôn mới.
1.1.4. Nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới
1.1.4.1. Tạo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Mục tiêu đầu tiên của xây dựng mô hình nông thôn mới là nhằm phát
triển kinh tế-xã hội nông thôn. Bởi vậy kinh tế nông thôn mới khác với kinh tế
nông thôn truyền thống ở các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nông thôn mới cao hơn nông

thôn truyền thống. Đó là do, trong nông thôn truyền thống nền kinh tế phụ
thuộc chủ yếu vào nông nghiệp- khu vực lạc hậu nhất của mọi nền kinh tế; còn
với nông thôn mới do việc áp dụng KHKT mới đi đôi với sự phát triển đa dạng
ngành nghề, nên kinh tế tăng trưởng cao, và bền vững hơn. Việc khôi phục các
ngành nghề truyền thống và phát triển những ngành nghề mới tạo nhiều việc


làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn. Mặt khác nông thôn mới mở
rộng quy mô sản xuất, hướng tới sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm có
giá trị kinh tế cao tạo đà cho phát triển kinh tế nông thôn
Thứ hai, trong cơ cấu GDP của kinh tế nông thôn mới giá trị các ngành
công nghiệp và dịch vụ tăng và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP, còn tỷ
trọng ngành nông nghiệp lại ngày càng giảm. Việc đào tạo lao động và thành lập
các làng nghề thủ công nghiệp, các khu công nghiệp mới làm chuyển dịch
nhanh cơ cấu lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp.
Qua đó không những làm tăng thu nhập cho người lao động mà còn góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Thứ ba, thu nhập bình quân đầu người cao. Sự phát triển với tốc độ cao
trong nông thôn mới đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải gắn liền
với việc đảm bảo thu nhập, nâng cao đời sống của người dân. Đây cũng chính là
một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn mới.
Không chỉ có những lao động được đào tạo nghề và sản xuất trong công nghiệp
mới nâng cao thu nhập, những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và
dịch vụ được tham gia các dự án sản xuất trên quy mô lớn hoặc được hỗ trợ
kinh phí để phát triển kinh tế gia đình. Bởi vậy, phát triển kinh tế nông thôn mới
sẽ tạo được sự đồng đều trong gia tăng thu nhập của các nhóm lao động trong
những lĩnh vực khác nhau. Thu nhập bình quân đầu người cao do các ngành
nghề sản xuất đều phát triển, không phải do một bộ phận lao động trong một
lĩnh vực có thu nhập cao hơn hẳn những lao động khác.
Thứ tư, thị trường trong nông thôn mới mở rộng. Nếu kinh tế nông thôn

truyền thống là sự sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm hàng hóa sản xuất chỉ
giới hạn bởi thị trường làng, xã thì kinh tế nông thôn mới sẽ có nền sản xuất
hàng hóa mở, hướng đến thị trường cả nước và hơn thế là thị trường khu vực và
thế giới. Theo đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn cũng đồng bộ và hiện đại, tạo
điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.
1.1.4.2. Xây dựng con người mới ở nông thôn


Việc xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng mà còn chú trọng xây dựng con người mới, hướng người dân đến cuộc
sống ngày càng lành mạnh và văn minh. Nông thôn mới cũng gắn liền với người
nông dân mới.
Con người của nông thôn mới có trình độ văn hóa và có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. Trình độ văn hóa cao chính là nhận thức và ý thức thực hiện
của người dân về nếp sống có văn hóa được thể hiện qua việc người dân ở nông
thôn mới nhận thức đầy đủ về quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình trong
xây dựng nông thôn mới.
Nhân tố con người là nhân tố quan trọng trong xây dựng nông thôn mới.
Bởi chính những người dân là những chủ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội. Chỉ
khi nào hình thành cho người dân tư duy về làm kinh tế, về văn minh, về văn
hóa… thì khi đó mới có thể phát triển nông thôn. Người nông dân biết làm
giàu, có cuộc sống văn minh là thể hiện tiêu biểu nhất cho diện mạo của một
nông thôn phát triển.
1.1.4.3. Phát triển môi trường bền vững
Môi trường không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khỏe của
người dân mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, canh tác của họ. Vì vậy môi trường
là tiền đề quan trọng để xây dựng nông thôn mới. Nếu môi trường trong nông
thôn truyền thống ô nhiễm nặng nề, thì trong mô hình nông thôn mới, yếu tố
môi trường được xây dựng đảm bảo cho phát triển bền vững môi trường sinh
thái.

Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế xây dựng nông thôn mới, việc phát
triển, xây dựng các nhà máy công nghiệp đảm bảo vừa phát triển kinh tế nông
thôn, vừa đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường. Mặt khác, trong xây dựng nông
thôn mới, công tác bảo vệ rừng đầu nguồn cũng như tái sinh rừng cũng được
chú trọng, vừa đảm bảo phát triển môi trường sinh thái, vừa chống được thiên
tai.
1.1.4.4. Giữ vững sự ổn định chính trị


Trong nông thôn mới, người nông dân được phát huy tối đa quyền tự do
dân chủ, sống và làm việc theo pháp luật. Họ được tham gia thảo luận, bàn bạc
xây dựng nông thôn mới trong tất cả các hoạt động. Khi đã thống nhất giữa cán
bộ xã và người dân về triển khai thực hiện các nội dung thì người dân tham gia
đóng góp, xây dựng trong các công trình của xã và chủ động trong việc phát
triển kinh tế gia đình, hình thành nếp sống văn minh, hiện đại. Thay vì khẩu
hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra như trước đây, nông thôn mới
được xây dựng dựa vào phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân hưởng thụ
nhằm phát huy quyền làm chủ của người dân. Điều này tạo nên sự gắn bó, liên
kết chặt chẽ giữa người dân và tổ chức Đảng, Chính quyền.
Trong nông thôn mới, yếu tố chính trị được đảm bảo trong sạch, vững
mạnh, có sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ từ các cấp Đảng, Chính quyền, các
đoàn thể đến người dân.
1.1.4.5. Xây dựng nền văn hóa – xã hội phát triển cao
Nếu trong nông thôn truyền thống người dân còn sinh hoạt và sản xuất
theo thói quen lạc hậu thì người dân trong nông thôn mới là những người có ý
thức, thái độ tích cực cũng như trách nhiệm phát triển văn hóa cộng đồng. Xây
dựng nông thôn mới sẽ tạo điều kiện cho người dân hình thành nếp sống mới –
văn minh, hiện đại như việc có ý thức bảo vệ môi trường, có ý thức xây dựng
làng văn hóa, khu dân cư tiến bộ… Người dân trong nông thôn mới là những
người đề cao tính cộng đồng, có sự tương trợ lẫn nhau trong sản xuất cũng như

trong đời sống hàng ngày.
Văn hóa xã hội là một nhân tố quan trọng, là đặc trưng để phân biệt giữa
nông thôn với thành thị và giữa các vùng nông thôn với nhau. Yếu tố khác nhau
giữa văn hóa thành thị và nông thôn đó chính là văn hóa truyền thống của nông
thôn, những phong tục, tập quán tốt đẹp. Trong nông thôn mới, văn hóa truyền
thống được khôi phục và phát triển. Điều này thể hiện qua việc khôi phục những
làng nghề truyền thống, tu bổ những di tích lịch sử hoặc những công trình có giá
trị lịch sử. Bên cạnh việc gìn giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống, văn hóa xã hội


trong nông thôn mới cũng được phát triển qua việc tiếp thu những văn hóa mới,
tiến bộ.
1.1.5. Hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá kết quả xây dựng nông
thôn mới
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg,
ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu chí, được
chia thành 5 nhóm. Dưới đây xin đề cập một số tiêu chí cơ bản nhất.
* Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển
Tiêu chí này thể hiện tính hợp lý trong sắp xếp, quy hoạch các khu vực
trong nông thôn. Một quy họach hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai và
tài nguyên khác, đảm bảo sự phát triển nông thôn theo hướng bền vững.
Tiêu chí này được thể hiện trên 3 mặt:
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường.
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư
hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
* Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội là điều kiện quan trọng, làm nền
tảng cho sự phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.

Các chỉ tiêu chính về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của nông thôn mới là:
- 100% đường trục xã đến ngõ xóm được bê tông hóa hoặc cứng hóa
- 85% chiều dài kênh mương được kiên cố hóa
- 99% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn
- 100% số trường học các cấp (từ Mầm non đến THCS) có cơ sở vật chất
đạt chuẩn quốc gia
- 100% số thôn có nhà văn hóa và khu thể thao
- 90% số hộ có nhà ở kiên cố
- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông và có mạng internet.


* Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất
- Thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn 1,4 lần so với mức bình
quân chung của tỉnh
- Tỷ lệ hộ nghèo dưới 6%
- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp nhỏ hơn 30%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: lớn hơn 35%
- Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
* Phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường
- Đạt Phổ cập giáo dục trung học
- 85% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ
thông, bổ túc, học nghề)
- 30% số người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
- Trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn làng văn hóa
- 85% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc
gia
- Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường
* Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh và
các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
- An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Ngày 20/2/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 342/QĐTTg sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại
Quyết định số 491/QĐ-TTg. Theo đó, 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới, gồm: tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập,
tiêu chí số 12 về về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15
về y tế. Cụ thể:


(i) Tiêu chí số 07 về chợ nông thôn được sửa đổi như sau: “Chợ theo quy
hoạch, đạt chuẩn theo quy định”;
(ii) Tiêu chí số 10 về thu nhập được sửa đổi như sau: Nội dung tiêu chí:
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn (triệu đồng/người); Chỉ tiêu
chung cho cả nước là năm 2012 phải đạt 18 triệu đồng/người, đến năm 2015 đạt
26 triệu đồng/người, và năm 2020 đạt 44 triệu đồng/người; Chỉ tiêu cụ thể cho
các vùng (theo phụ lục đính kèm). Chỉ tiêu cụ thể đạt chuẩn theo từng năm giữa
các giai đoạn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng với Bộ
Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn chi tiết; Các xã thuộc Nghị quyết 30a/2008/NQCP được áp dụng mức của vùng Trung du miền núi phía Bắc; Các xã đạt chuẩn
phải có tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người của xã không thấp hơn tốc độ
tăng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu khu vực nông thôn của vùng do Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hướng dẫn chi tiết và công bố;
(iii) Tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động được sửa đổi như sau: Tên tiêu chí:
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; Nội dung tiêu chí: Tỷ lệ người làm
việc trên dân số trong độ tuổi lao động; Chỉ tiêu chung và từng vùng: đạt từ
90% trở lên;
(iv) Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau: Phổ cập giáo dục
trung học cơ sở;
(v) Tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi như sau: Nội dung: Tỷ lệ người

dân tham gia Bảo hiểm y tế; Chỉ tiêu chung cho cả nước: đạt từ 70% trở lên;
Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng: Đạt
1.1.6. Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện xây dựng nông thôn mới.


Điều kiện tự nhiên
Tiềm lực kinh tế của địa phương
Nhân tố
khách quan

Kết cấu hạ tầng kinh tế
Tốc độ phát triển của các khu CN,
đô thị
Chính sách hỗ trợ của TW, Tỉnh

Nhân tố
ảnh
hưởng

Chất lượng nguồn nhân lực

Cơ chế, chính sách của địa phương
Nhân tố
chủ quan

Năng lực đội ngũ cán bộ của chính
quyền, địa phương
Phối hợp các nguồn lực cho xây
dựng NTM
Sự tham gia của người dân


Hình 1.3 Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh xây dựng NTM
1.1.4.1. Các nhân tố khách quan
-Điều kiện tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến xây dựng nông thôn mới.
Nhóm những yếu tố của điều kiện tự nhiên bao gồm: Điều kiện đất đai, thời tiết,
khí hậu, nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác...
Các nhân tố của điều kiện tự nhiên khác nhau tác động đến việc thực hiện
thành công chương trình xây dựng nông thôn mới cũng khác nhau. Trong xây
dựng nông thôn bao gồm các bộ phận cấu thành (cơ cấu ngành, vùng lãnh thổ,


theo thành phần kinh tế), nhất là bộ phận kinh tế đa ngành và kinh tế vùng lãnh
thổ chịu tác động của yếu tố tự nhiên nhiều hơn. Trong xây dựng nông thôn
mới, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và có ảnh hưởng tới các ngành kinh
tế khác, trong khi đó nông nghiệp lại chịu ảnh hưởng rất lớn điều kiện tự nhiên:
Thời tiết, khí hậu, nguồn nước, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,…có thể nói
là những yếu tố được xem xét đầu tiên khi nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư.
Vị trí địa lý thuận lợi tạo điều kiện để giao lưu kinh tế với các địa phương trong
và ngoài nước, từ đó mở ra những cơ hội to lớn để phát triển các ngành công
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp phục vụ xuất khẩu, phát triển ngành dịch vụ, du
lịch, đẩy mạnh hợp tác phát triển và hội nhập. Tài nguyên thiên nhiên (đất,
nước, rừng, biển, tài nguyên khoáng sản..) tạo lợi thế quan trọng cho phát triển
một số ngành như: nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch…
-Tiềm lực kinh tế của địa phương
Xây dựng nông thôn mới cần nguồn vốn lớn và yếu tố nội lực của từng địa
phương là điều cốt lõi để thành công. Một địa phương nghèo nàn, kinh tế kém
phát triển rất khó có thể huy động được nguồn vốn cho chương trình và các
khoản huy động khác. Ngược lại một địa phương giàu tiềm năng về kinh tế về
văn hóa họ sẽ sẵn sàng đóng góp giúp quê hương đất nước mình. Do đó việc

xây dựng nông thôn mới tiến hành nhanh hay chậm cũng phụ thuộc không nhỏ
vào nhân tố này, nếu địa phương có tiềm lực kinh tế lớn việc thực hiện mục tiêu
của chương trình tiến hành cũng nhanh hơn và đạt kết quả cao hơn các địa
phương có tiềm lực kinh tế yếu kém.
-Kết cấu hạ tầng kinh tế
Lịch sử phát triển nền kinh tế đã chứng minh rằng hạ tầng kinh tế - xã hội
đóng vai trò đặc biệt quan trọng (nếu không nói là quyết định) đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nó đóng vai trò to lớn trong việc tạo sự liên
kết giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng xa xôi với các trung tâm, tạo cơ


hội cho phát triển các vùng khó khăn và điều kiện để khai thác được nguồn lực
từ các vùng sâu, vùng xa, nó tác động đến sự phát triển đồng đều trong cả nước
và làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn. Vì vậy, tốc độ phát triển
kết cấu hạ tầng được coi là tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Đường giao thông, hệ thống cung cấp điện,
nước…
- Cơ sở hạ tầng xã hội: Các công trình phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, ăn
uống, đi lại…
Cơ sở hạ tầng là nền móng vững chắc cho mọi hoạt động đầu tư, vì muốn
sản xuất kinh doanh phải có điện nước đảm bảo, giao thông thuận tiện, các dịch
vụ công cộng phát triển. Nó không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
mà còn đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng sống của người dân,
từ đó gián tiếp làm tăng nhu cầu cho nền kinh tế. Song trong xu hướng hiện nay,
hầu hết khu vực nông thôn đã quan tâm đầu tư hệ thống cơ sở vật chất.
-Tốc độ phát triển của các khu công nghiêp, đô thị:
Ảnh hưởng lớn đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Việc hình
thành các khu đô thị, các khu công nghiệp sẽ góp phần cung cấp về vốn, khoa
học công nghệ tiến bộ... góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn. Mặt khác, việc phát triển mạnh các khu đô thị, các

khu công nghiệp sẽ cạnh tranh với ngành nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu ở
nông thôn về: Đất đai, nguồn nước, lực lượng lao động trẻ.... điều đó đòi hỏi
nhà nước cần có các chính sách phân bổ nguồn lực, phát triển hợp lý các khu đô
thị, khu công nghiệp, tạo sự liên doanh, liên kết giữa thành thị và nông thôn,
giữa công nghiệp và nông nghiệp, tạo sự phát triển cân đối, hài hòa các ngành,
các vùng.
-Chính sách hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh


Về phía Trung ương các chủ chương chính sách phát triển nông thôn, xây
dựng NTM sẽ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nông thôn, phát triển hạ
tầng kinh tế - xã hội để thúc đẩy sản xuất làm thay đổi diện mạo nông thôn. Cụ
thể một số chính sách có ý nghĩa tích cực từ phía Nhà nước có ảnh hưởng trực
tiếp đến phát triển nông thôn như: Chính sách quy hoạch phát triển hạ tầng;
quản lý và sử dụng đất đai; chính sách hỗ trợ vốn, tạo vốn, huy động vốn, các cơ
chế về về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư. Trong đó, chính sách hỗ trợ về vốn của Nhà
nước đối với các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng khó khăn về kinh tế, xã hội là
vô cùng cần thiết và thường được thực hiện thông qua các chương trình mục
tiêu như: các chương trình kiên cố hóa kênh mương, kiên cố hóa đường giao
thông, cung cấp nguồn nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn… Chính
sách mở rộng và phân cấp cho các chính quyền địa phương trong phê duyệt và
thực hiện các dự án góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương,
đồng thời cũng góp phần làm giảm các khoản cấp phát từ ngân sách nhà nước.
Các chủ chương chính sách của tỉnh: Cần quán triệt, triển khai nghiêm túc
các chủ chương, chính sách của Nhà nước về xây dựng NTM vào cuộc sống.
Tuy nhiên, để đưa các chủ chương chính sách vào cuộc sống, áp dụng có hiệu
quả phải điều chỉnh linh hoạt phù hợp với điều kiện cụ thể. Các chính sách phát
triển nông nghiệp của tỉnh, chính sách về hỗ trợ các nguồn vốn đầu tư cho giao
thông nông thôn và các chính sách khuyến công cho các danh mục nghề được

hưởng kinh phí về vốn để phát triển sản xuất.
-Chất lượng nguồn nhân lực
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'',
một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát
triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát
triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn


nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là
đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Trong bất kỳ nền sản xuất nào, thời đại nào, lao động cũng là một yếu tố quan
trọng quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn lao động chính là
bộ phận dân cư của đất nước. Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số
và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động. Một nguồn lao động có số lượng lớn sẽ
đáp ứng được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của nền kinh tế. Tuy nhiên
ngày nay với đội ngũ lao động “đông mà không mạnh” không còn là lợi thế
mang ý nghĩa quyết định. Bởi trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như
hiện nay chất lượng nguồn lao động mới là yếu tố được quan tâm. Chất lượng
lao động quyết định khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng thích ứng
với mọi môi trường làm việc từ đó giúp giảm chi phí đào tạo cho nhà đầu tư.
Như vậy, có thể nói chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng tới
việc thu hút được những dự án có trình độ công nghệ cao, đầu tư có chiều sâu,
sản xuất những sản phẩm có giá trị tăng cao. Do đó, yếu tố lao động giá rẻ với
chất lượng thấp không còn là lợi thế thu hút vốn đầu tư mà nó có thể là nguyên
nhân gây trở ngại cho các nhà đầu tư. Bởi vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong khu vực nông thôn cần được xem xét và tiến hành.
1.4.1.2. Các nhân tố chủ quan
-Cơ chế chính sách của địa phương
Đây là một nhân tố tác động để đạt được mục đích hoàn thành các tiêu chí
của chương trình Nông thôn mới. Một môi trường đầu tư thông thoáng, thuận

tiện góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, là nơi mà các nhà đầu tư
tìm đến. Vì vậy mỗi địa phương không ngừng xây dựng và hoàn thiện cơ sở
pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư. Trên cơ sở khung
pháp lý, các địa phương đưa ra cơ chế áp dụng của riêng mình nhằm cạnh tranh
trong việc thu hút vốn với các địa phương khác. Vì vậy, các xã đang thực hiện


chương trình NTM cần có những chính sách ưu đãi riêng dành cho từng đối
tượng khác nhau để thu hút được các nhà đầu tư vào địa bàn
-Năng lực đội ngũ cán bộ của chính quyền địa phương
Năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương là một trong những
điều kiện cần có để điều hành, chỉ đạo thực hiện tốt các chủ chương, chính sách
của Đảng và Nhà nước. Để xây dựng NTM thì cần phải có đội ngũ cán bộ lãnh
đạo tốt thì mới có thể chỉ đạo hoàn thành tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra, có
những phương hướng giải quyết để huy động vốn từ các nguồn khác nhau.
Năng lực này được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu: Trình độ của cán bộ; khả
năng dự báo, phán đoán xử lý tình huống; tính minh bạch và trách nhiệm; có
tầm nhìn xa, hướng về tương lai; tính năng động, sáng tạo. Trong xây dựng
NTM năng lực đội ngũ cán bộ sẽ quyết định sự phối hợp các nguồn lực có giới
hạn một cách hiệu quả (hình 1.4).

Hình 1.4: Phối hợp nguồn lực cho xây dựng NTM
Trong phối hợp huy động các nguồn lực có những vấn đề cần được chú ý:
Cơ chế huy động: Huy động tối đa nguồn lực của địa phương từ nguồn
ngân sách hàng năm, trong đó ưu tiên bố trí vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng giao
thông, thủy lợi, tăng cường cho công tác khuyến nông, đào tạo nguồn nhân lực.
Ưu tiên nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất: Ít nhất 70% nguồn thu từ
đấu giá quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, nhưng không vượt quá tổng mức



×