Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

tiểu luận tổ chức ngành báo cáo thị trường ngành viễn thông việt nam năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (439.21 KB, 37 trang )

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU


3

LỜI MỞ ĐẦU
Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, đóng vai trò là dịch
vụ liên lạc và là một phương tiện, nền tảng để chuyển tải nhiều loại hình dịch vụ
khác về thông tin truyền thông. Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế, có
liên quan đến tất cả các ngành trong quá trình sản xuất, thương mại và đầu tư…
Để có cái nhìn tổng quát, đồng thời đưa ra những hướng đi thích hợp thì trước
hết chúng ta cần phải biết rõ về chung, các chỉ số về thị phần, mức độ tập trung của
thị trường và chỉ số liên quan đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành
Viễn thông Việt Nam. Từ đó mới có thể đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của ngành Viễn thông
Việt Nam.
Để có thể phân tích rõ hơn về ngành viễn thông Việt Nam, đồng thời nhận
định được những hiệu quả cũng như hạn chế mà ngành mang lại và đưa ra những
kiến nghị cho ngành, nhóm nghiên cứu chúng em đã quyết định thực hiện đề tài
“BÁO CÁO THỊ TRƯỜNG NGÀNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM NĂM 2010”
Báo cáo gồm có 4 phần:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về ngành viễn thông
Chương 2: Xử lý số liệu và tính toán các chỉ số
Chương 3: Phân tích hành vi của các doanh nghiệp trong ngành viễn thông
Việt Nam
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
. Với những kinh nghiệm thực tế và hiểu biết còn nhiều hạn chế, việc có
những sai sót trong bài báo cáo là khó tránh khỏi. Nhóm nghiên cứu rất mong nhận


được những lời nhận xét và đóng góp quý báu của cô để bài làm được hoàn thiện
hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!


4

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ
NGÀNH VIỄN THÔNG
1.1. Lý thuyết chung về đo lường tập trung thị trường
Đo lường tập trung thị trường là đo lường vị trí tương đối của các doanh
nghiệp lớn trong ngành. Tập trung thị trường chỉ mức độ mà sự tập trung sản xuất
vào một thị trường đặc biệt hay là sự tập trung sản xuất của ngành nằm trong tay
một vài hãng lớn trong ngành. Mức độ tập trung thị trường biểu thị sức mạnh thị
trường của những hãng lớn, nghĩa là ngành càng tập trung thì các hãng lớn càng có
sức mạnh thị trường cao và ngược lại.
Trong phần lớn các thị trường, mức độ cạnh tranh nằm giữa 2 mức là cạnh
tranh hoàn hảo (mức độ tập trung thấp nhất) và độc quyền (mức độ tập trung cao
nhất). Phương pháp đo mức độ tập trung cung cấp một cách thức đơn giản để đo
mức độ cạnh tranh của một thị trường.
Khi nghiên cứu tổ chức ngành thì tập trung thị trường là loại tập trung quan
trọng nhất vì khi đánh giá được mức độ tập trung thị trường sẽ mô tả được cấu trúc
cạnh tranh thị trường ngành và biểu thị được mức độ quyền lực thị trường của các
hãng lớn trong ngành.
Như vậy thị phần và mức độ tập trung của thị trường đóng một vai trò quan
trọng trong quá trình phân tích các ngành kinh tế. Nó không chỉ giúp ta so sánh
những thị trường khác nhau (trong và ngoài nước), mà còn giúp tạo ra những quy
định cho thị trường: các nhà tạo lập các quy định cần biết mức độ tập trung của thị
trường để bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng.
Do vậy, việc lượng hóa các thước đo này thành những chỉ số dễ dàng tính
toán, độc lập với kích cỡ thị trường là rất quan trọng cho quá trình diễn giải thực tế

thị trường của bản thân các doanh nghiệp tham gia cũng như các nhà hoạch định
chính sách. Đặc biệt là trong hoàn cảnh đã qua rồi thời kì chủ nghĩa tư bản tự do
cạnh tranh, hiện nay nhiều ngành đã phải đối mặt với tình trạng thị phần của chúng
được sẻ chia không đều giữa một số ít doanh nghiệp lớn, sức mạnh thao túng thông


5
qua thông đồng là hiển nhiên, dần dần làm mất đi tính cạnh tranh vốn có của nền
kinh tế thị trường.
Chỉ số này đầu tiên được sử dụng bởi Hirschman và sau này là Herfindahl,
tính đến tất cả các điểm của đường cong tập trung, bằng cách tổng bình phương thị
phần của tất cả các doanh nghiệp trong ngành:
Công thức:

Trong đó:
-

Si: các mức thị phần, tỉ lệ về sản lượng sản xuất hay sản lượng bán hoặc là
chỉ số khác đo lường hoạt động kinh doanh như doanh thu, công suất… mà
mỗi doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị trường

-

n: tổng số doanh nghiệp tham gia thị trường.

-

Quy ước:

HHI < 1000: Thị trường không mang tính tập trung

1000 ≤ HHI ≤ 1800: Thị trường tập trung ở mức độ vừa phải
HHI > 1800: Thị trường tập trung ở mức độ cao
Khi HHI càng lớn thì mức độ tập trung càng cao và ngược lại, HHI nhỏ thể
hiện không có một doanh nghiệp nào có quyền lực nổi trội hơn trên thị trường.
Ưu điểm và nhược điểm của chỉ số HHI:
Ưu điểm:
- Phản ánh nhạy bén sự tham gia hay thoát ra của doanh nghiệp khỏi
ngành tính đến.


6
- Dễ dàng tính toán và tính đến tất cả các điểm trên đường cong tập trung
thị trường.
Nhược điểm:
- Không làm rõ được khi so sánh các ngành có mức độ tập trung bằng
nhau vì giữa cách ngành chưa chắc quy mô doanh nghiệp đã bằng nhau.
1.1.1. Tỷ lệ tập trung hóa (CRm)
Đây là chỉ số được sử dụng nhiều khi đo lường tập trung hóa của ngành, được
xác định bằng tỉ lệ sản lượng của m doanh nghiệp lớn trong ngành với m là một số
tùy ý. Đôi khi tỉ lệ tập trung còn đo lường bằng doanh thu, số nhân công…Xu
hướng hiện nay người ta thường đo lường bằng doanh thu của các DN có quy mô
lớn.
Công thức:

CRm =
Trong đó:


CRm: tỷ lệ tập trung




Si: thị phần của doanh nghiệp thứ i.



Khi m khác nhau thì các kết luận về mức độ tập trung của thị trường cũng
khác nhau.

1.1.2. Chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS)
Dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty. Thông qua chỉ
số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh
thu được tạo ra.
Công thức:


7
TTS=
Chỉ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản
của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.Tuy nhiên muốn
có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty
chúng ta cần so sánh chỉ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay
tài sản bình quân của ngành
1.1.3. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, Suất sinh lời
của doanh thu, Hệ số lãi ròng) là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh
lợi của công ty cổ phần. Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho cổ
đông và doanh thu của công ty. Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất
định được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia
cho doanh thu trong kỳ. Đơn vị tính là %. Cả lợi nhuận ròng lẫn doanh thu đều có

thể lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty.
Công thức:
ROS = 100% x
Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ
số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ số càng lớn nghĩa
là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tuy
nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi
theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ
số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và số
vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người
phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.


8
1.1.4. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng
của tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) là một tỷ số tài chính dùng để đo
lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này được
tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp
trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình
quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ. Số liệu về lợi nhuận ròng
hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. Còn giá trị tài
sản được lấy từ bảng cân đối kế toán. Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần
tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp.
Công thức:
ROA = 100% x
Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh
thu chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản,
nên còn cách tính tỷ số lợi nhuận trên tài sản nữa:
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài

sản
Tỷ số này lớn hơn 0 thì doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy
doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản
của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu
nhập của doanh nghiệp.
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành
nghề kinh doanh. Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số
này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp
khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ.


9
1.2. Tổng quan về ngành viễn thông
Thuật ngữ Viễn Thông (télécommunication) được ghép từ từ communication
(liên lạc) với prefix tele (có nghĩa là xa). Thuật ngữ viễn thông được dùng để chỉ tập
hợp các thiết bị, giao thức để truyền thông tin từ nơi này đến nơi khác. Ngành này
gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông và các dịch vụ liên quan như truyền
giọng nói, âm thanh, hình ảnh, dữ liệu, ký tự. Hệ thống truyền dẫn thực hiện các
hoạt động trên có thể sử dụng công nghệ đơn hoặc kết hợp nhiều công nghệ.
Việt Nam là một trong những thị trường viễn thông có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới trong suốt 10 năm qua. Viễn thông, hạ
tầng mạng lưới viễn thông, Internet của Việt Nam được đánh giá là phát triển hiện
đại, bao trùm rộng khắp, băng rộng tốc độ cao, hoạt động ổn định.
Thị trường viễn thông Việt Nam đang bước vào giai đoạn bùng nổ nhu cầu,
nhất là về các dịch vụ thông tin di động và Internet băng rộng. Sự bùng nổ này kéo
theo một xu thế tất yếu về sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Viễn thông với các
hình thái như hoạt động có dây, không dây internet và gần đây nhất là hệ thống vệ
tinh VINASAT của VNPT. Tuy nhiên, bởi vì hoạt động viễn thông vệ tinh ở Việt
Nam vẫn còn khá mới và chưa được hoàn thiện nên nguồn thông tin và hiểu biết của

chúng em còn hạn chế. Vì vậy, để đảm bảo tính chính xác của bài tiểu luận, nhóm
em xin phép không đi sâu vào hoạt động viến thông vệ tinh ở Việt Nam
1.2.1. Hoạt động viễn thông có dây (61100)
Nhóm này gồm:
Hoạt động vận hành, duy trì hoặc cung cấp việc tiếp cận các phương tiện
truyền giọng nói, dữ liệu, ký tự, âm thanh, hình ảnh, sử dụng hạ tầng viễn thông có
dây. Hệ thống truyền dẫn thực hiện các hoạt động trên có thể sử dụng công nghệ
đơn hoặc kết hợp nhiều công nghệ.


10
Điều hành, duy trì thiết bị chuyển mạch và truyền dẫn để cung cấp liên lạc
giữa điểm này với điểm khác theo đường dây dẫn mặt đất, vi ba hoặc kết hợp giữa
dây dẫn mặt đất và kết nối vệ tinh.
Điều hành hệ thống phát bằng cáp (ví dụ phát dữ liệu và tín hiệu truyền hình).
Cung cấp liên lạc điện báo và vô thanh khác bằng thiết bị thuộc sở hữu của họ.
Hoạt động mua quyền truy cập hạ tầng viễn thông của đơn vị khác và điều
hành hệ thống đó để cung cấp dịch vụ viễn thông cho các tổ chức, cá nhân và doanh
nghiệp.
Hoạt động cung cấp dịch vụ truy cập Internet bằng mạng viễn thông có dây.
1.2.2. Hoạt động viễn thông không dây (61200)
Nhóm này gồm:
Hoạt động vận hành, duy trì hoặc cung cấp việc tiếp cận các phương tiện
truyền giọng nói, dữ liệu, ký tự, âm thanh, hình ảnh, sử dụng hạ tầng viễn thông
không dây. Hệ thống truyền dẫn cung cấp truyền dẫn đa hướng theo sóng truyền
phát trên không trung, có thể sử dụng công nghệ đơn hoặc kết hợp nhiều công nghệ.
Hoạt động duy trì và điều hành nhắn tin di động và mạng viễn thông không
dây khác.
Hoạt động mua quyền truy cập hạ tầng viễn thông của đơn vị khác và điều
hành hệ thống đó để cung cấp dịch vụ viễn thông không dây (trừ vệ tinh) cho các tổ

chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Hoạt động cung cấp dịch vụ truy cập Internet bằng mạng viễn thông không
dây.
1.2.3. Hoạt động viễn thông khác (6190)
Nhóm này gồm:


11
- Cung cấp các ứng dụng viễn thông chuyên dụng như theo dõi hoạt động vệ tinh, đo
xa và các trạm rada.
- Điều hành các trạm đầu cuối vệ tinh và các trạm liên hợp nối với một hoặc nhiều hệ
thống thông tin mặt đất và khả năng truyền/nhận viễn thông từ hệ thống vệ tinh.
- Cung cấp truy cập Internet thông qua các mạng kết nối giữa khách hàng và ISP
nhưng không do ISP sở hữu và vận hành, như truy cập Internet quay số (dial-up).
- Cung cấp dịch vụ viễn thông qua các kết nối viễn thông hiện có như VOIP (điện
thoại Internet).
- Bán lại hạ tầng viễn thông, mạng cung cấp (mà không thực hiện cung cấp dịch vụ).
a.

Hoạt động của các điểm truy cập internet (61901)
Nhóm này gồm: hoạt động của các đại lý Internet cung cấp dịch vụ truy cập

Internet cho khách hàng.
Loại trừ: Hoạt động của các quán dịch vụ Internet trong đó hoạt động cung cấp
dịch vụ truy cập Internet cho khách hàng chỉ có tính chất phụ thêm.
b.

Hoạt động viễn thông khác chưa được phân vào đâu (61909)
Nhóm này gồm:


-

Cung cấp các ứng dụng viễn thông chuyên dụng như theo dõi hoạt động vệ tinh, đo
xa và các trạm rada.

-

Điều hành các trạm đầu cuối vệ tinh và các trạm liên hợp nối với một hoặc nhiều hệ
thống thông tin mặt đất và khả năng truyền/nhận viễn thông từ hệ thống vệ tinh.

-

Cung cấp dịch vụ viễn thông qua các kết nối viễn thông hiện có như VOIP (điện
thoại Internet).

-

Bán lại hạ tầng viễn thông, mạng cung cấp (mà không thực hiện cung cấp dịch vụ).


12
-

Loại trừ: Cung cấp dịch vụ truy cập Internet của người điều hành hạ tầng viễn thông
được phân vào nhóm 61100 (Hoạt động viễn thông có dây), nhóm 61200 (Hoạt
động viễn thông không dây), nhóm 61300 ( Hoạt động viễn thông vệ tinh).

-

Hoạt động của các điểm truy cập Internet được phân vào nhóm 61901 (Hoạt động

của các điểm truy cập Internet)


13

CHƯƠNG 2. XỬ LÍ SỐ LIỆU VÀ TÍNH TOÁN CÁC CHỈ SỐ
1.3. Cách xử lí các chỉ số
Đế xử lý bộ số liệu năm 2010 và tính toán các chỉ số đo lường
mức dộ tập trung của ngành bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và
các sản phẩm liên quan ta làm các bước sau:
Bước 1: Tạo 1 file excel bao gồm 4 sheet nhỏ đề tên “61100”,
“61200”, “61901”, “61909” để tính toán các chỉ số
từng nhóm.
Bước 2: Sử dụng Stata mở bộ số liệu năm 2010 – chọn file
so_lieu_thuc_hanh.dta
Bước 3: Sử dụng lệnh “keep madn ma_thue ma_thue2
tennganhkd nganh_kd kqkd1 kqkd9 kqkd14 kqkd19
kqkd4 ts11 ts12 cpnc11 ld11 ld13” để lọc ra một số
biến cần thiết tương ứng như sau:
Tên biến

Kí hiệu biến

Mã doanh nghiệp

madn

Mã thuế

ma_thue


Mã thuế 2

ma_thue2

Tên ngành kinh doanh

tennganhkd

Ngành kinh doanh

nganh_kd

Doanh thu bán hàng bán hàng và cung cấp dịch vụ

kqkd1

Doanh thu hoạt động tài chính

kqkd9

Thu nhập khác

kqkd14

Lợi nhuận ròng

kqkd19

Doanh thu thuần


kqkd4

Tổng tài sản bình quân thời điểm 1/1/2010

ts11

Tổng tài sản bình quân thời điểm 31/12/2010

ts12

Chi phí nghiên cứu cho khoa học công nghệ trong năm

cpnc11

Tổng số lao động trong ngành ở thời điểm 1/1/2010

ld11

Tổng số lao động trong ngành ở thời điểm 31/12/2010

ld13

Bước 4: Sử dụng lệnh “keep if” để lọc mã ngành của ngành
định tính.
• Với mã ngành 61100 - ngành hoạt động viễn thông có dây; sử
dụng lệnh “keep if nganh_kd == 61100”
• Với mã ngành 61200 - ngành hoạt động viễn thông có dây; sử
dụng lệnh “keep if nganh_kd == 61200”



14
Với mã ngành 61901 - ngành hoạt động của các điểm truy cập
internet; sử dụng lệnh “keep if nganh_kd == 61901”
• Với mã ngành 46624- ngành hoạt động viễn thông khác chưa được
phân vào đâu; sử dụng lệnh “keep if nganh_kd == 61909”


Bước 5: Lần lượt copy các dữ liệu đã lọc ra excel vào các sheet
tương ứng “61100”, “61200”, “61901” và “61909”
1.4. Các chỉ số đo lường mức độ tập trung và ý nghĩa.
1.4.1. Cách tính các chỉ số HHI và CR3
Bước 1: Tại sheet “61100”, tạo cột kết quả kinh doanh (kqkd) bằng tổng của
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (kqkd1), doanh thu hoạt động tài chính
(kqkd9) và thu nhập khác (kqkd14).
Kqkd = kqkd1 + kqkd9 + kqkd14
Bước 2: Dùng lệnh SUM để tính tổng của cột “kqkd” được cột “tổng kqkd”
Bước 3: Tính Si bằng cách lấy tỷ lệ “kqkd” chia “tổng kqkd”
Si = kqkd/ tổng kqkd
Bước 4: Dùng lệnh “sort by -> si -> largest to smallest -> ok” để sắp xếp si
theo thứ tự nhỏ dần
Bước 5: Tính toán các chỉ số HHI và CR3 vào hai cột mới dựa vào phần cơ sở
lý thuyết
1.4.2. Kết quả tính toán và ý nghĩa các chỉ số đo mức độ tập trung của ngành
viễn thông.
Từ bộ số liệu được cung cấp và những kiến thức đã học, ta tính toán được các
chỉ số HHI và CR3 cho từng mã ngành 61100, 61200, 61901 và 61909 như bảng
dưới:



15

Mã ngành

Số lượng DN

HHI

CR3

61100

4

4799.26

0.9874

61200

13

8309.49

0.967

61901

37


4709.94

0.9734

61909

4

2599.45

0.8323

Toàn ngành
58
6579.76
0.8826
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp, chỉ só HHI, CR3 ngành Viễn Thông Việt Nam
2010.
Nguồn: Tự tổng hợp
Nhận xét chung toàn ngành:
Qua bảng số liệu các chỉ số mức độ tập trung có thể thấy rằng ngành viễn
thông ở Việt Nam là ngành có mức độ tập trung rất cao. Các mã ngành đều có chỉ số
HHI > 1800 và chỉ số CR3 toàn ngành là 0.8826. Thêm vào đó, số lượng công ty
trong ngành không nhiều và chênh lệch giữa các mã ngành. Cụ thể, mã 61909 có số
lượng doanh nghiệp nhiều nhất, chiếm 63.8% toàn ngành, trong khi đó hai mã
61100 và 61090 chỉ có 4 doanh nghiệp hoạt động, chiếm 6.9% toàn ngành. Điểm
đặc biệt là ở các mã ngành khác nhau, quan hệ giữa số lượng doanh nghiệp, HHI và
CR3 là không tuân theo xu hướng thuận chiều hay ngược chiều nào mà rất đa dạng.
Sau đây, chúng ta sẽ đi phân tích các chỉ số HHI và CR3 cho từng mã ngành
61100, 61200, 61901 và 61909.

a. Mã ngành viễn thông có dây 61100

Số lượng DN
4

HHI
4799.26

CR3
0.9874

Năm 2010, chỉ số HHI của ngành là 4799.26 > 1800, thể hiện thị trường có
mức độ tập trung cao, có xu hướng độc quyền và mức phân tán ít. Chỉ số CR3 đạt
đến 0.9874 xấp xỉ 1, có nghĩa rằng 3 doanh nghiệp lớn nhất trong ngành gần như
chiếm trọn thị phần ngành.
Nguyên nhân dẫn đến mức độ tập trung lớn ở ngành này đó là số lượng công
ty ít (chỉ có 4 doanh nghiệp) bởi chỉ từ ngày 29/4/2003, thị trường viễn thông Việt


16
Nam mới xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp và chuyển sang cạnh tranh trên tất cả các
loại hình dịch vụ.
Hình 2.1 Thị phần thuê bao dịch vụ điện thoại cố định
Nguồn: Sách trắng Việt Nam 2010
Theo Sách trắng Công nghệ thông tin Việt Nam năm 2010, 3 công ty lớn trong
mã ngành 62100 là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, Tổng Công ty
viễn thông Viettel và Công ty Thông tin viễn thông Điện lực EVN Telecom. Tuy
không còn tình trạng độc quyền nhưng cả 3 công ty này đều là doanh nghiệp nhà
nước, cho thấy năm 2010 ngành này vẫn là sân chơi riêng của khu vực công.
b. Mã ngành viễn thông không dây 61200

Số lượng DN
13

HHI
8309.49

CR3
0.967

Năm 2010, ngành Viễn thông không dây có số lượng doanh nghiệp là 13,
nhiều hơn so với số doanh nghiệp trong ngành viễn thông có dây 9 doanh nghiệp.
Có điều này là bởi vì khi ngành viễn thông còn trong tình trạng độc quyền, chủ yếu
hạ tầng mạng là có dây, do đó khi đa dạng hóa ngành viễn thông, các đơn vị khác có
điều kiện phát triển viễn thông không dây. Tuy nhiên chỉ số HHI ở mã ngành này là
cao nhất (HHI=8309.49), cao hơn 73% và chỉ số CR3 chỉ nhỏ hơn 2% so với mã
ngành viễn thông có dây. Tỉ lệ doanh thu được tạo ra bởi 3 doanh nghiệp đầu ngành
là rất lớn, lên tới 96.7%.
Hình 2.2 Thị phần thuê bao dịch vụ điện thoại di động
Nguồn: Sách trắng Việt Nam 2010
Theo số liệu của trang Viet Nam Report (VNR) Top 500 Company cung cấp,
top 3 doanh nghiệp của ngành Viễn thông không dây vào năm 2010 bao gồm: Tập
đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel, VinaPhone - đơn vị thành viên của
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT và Tổng công ty Viễn Thông


17
MobiFone (Trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông). Trong đó, doanh thu của
Viettel chiếm 91.03% tổng doanh thu của ngành, gần như thống lĩnh thị trường.
c. Mã ngành hoạt động của các điểm truy cập Internet 61901


Số lượng DN
37

HHI
4709.94

CR3
0.9734

Năm 2010, mã ngành 61901 là mã ngành có số lượng doanh nghiệp nhiều nhất
trong toàn ngành. Tuy nhiên, một lần nữa chỉ số HHI và CR3 của mã ngành này
cũng ở mức cao, cho thấy mức độ tập trung của ngành và sự chiếm lĩnh thị trường
của 3 doanh nghiệp đứng đầu ngành.
Theo thống kê, các nhà cung cấp dịch vụ Internet Việt Nam có thể liệt kê:

- Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT
- Tổng Công ty Viễn thông Quân đội – Viettel
- Công ty FPT thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
- NetNam thuộc Viện Công nghệ thông tin – Viện Khoa học và công nghệ Việt
Nam

- Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn – SPT
- Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội
- Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện VTC
- Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu (G-Tel)
- Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVNTelecom)
- Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam (Vishiped)
- Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC
- Công ty Cổ phần Hạ tầng viễn thông CMC (CMC TI)
Với thị phần thuê bao dịch vụ truy cập Internet của các doanh nghiệp (tính đến

tháng 12/2010) như biểu đồ dưới đây:

Hình 2.3 Thị phần các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet


18
Nguồn: Sách trắng Việt Nam 2010
Qua biểu đồ, ta thấy rằng các mã ngành càng mới thì số lượng công ty càng
lớn, tuy nhiên điểm chung là chỉ số HHI và CR3 cao. Bởi Viễn thông là một ngành
xương sống, liên quan mật thiết đến an ninh quốc gia, cộng với lợi thế quy mô của
ngành này là rất lớn, ngành phát triển khi khu vực công còn được ưu ái lớn, do đó
các doanh nghiệp nhà nước luôn chiếm vị trí áp đảo.
d. Mã ngành các hoạt động viễn thông khác chưa được phân vào đâu 61909
Số lượng DN
4

HHI
2599.45

CR3
0.8323

Với số lượng các doanh nghiệp tương đối ít, chỉ có 4 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực này. Mã ngành 61909 có chỉ số HHI và CR3 thấp nhất so với nội bộ
ngành (HHI=2599.45 và CR3= 0.8323). Tuy nhiên, so với các ngành khác, hai chỉ
số này ở mã ngành 61909 vẫn ở mức rất cao, biểu thị cho mức độ tập trung của
ngành cao đồng thời doanh thu của ba hãng đầu ngành chiếm phần lớn tỷ trọng
trong tổng doanh thu.
1.5. Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Để xác định hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp hay một ngành,

người ta thường thông qua việc tính toán 4 nhóm chỉ số:
-

Nhóm chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng gặp rủi ro
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời

Trong tiểu luận này, ta sẽ chỉ phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
dựa vào nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động và nhóm chỉ số khả năng thể
hiện khả năng sinh lời. Cụ thể là các hệ số:
Chỉ số vòng quay tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
1.5.1. Cách tính toán
Bước 1: Dùng lệnh SUM tính tổng các cột “kqkd19”, “kqkd4”, “ts11”,
“ts12” trong từng mã ngành 61100, 61200, 61901 vsf 61909.


19
Bước 2: Tạo các cột có tên “chỉ số vòng quay TTS”, “ROS”, “ROA” trong
từng sheet 61100, 61200, 61901 và 61909
Bước 3: Tính các chỉ số vòng quay tổng tài sản, ROS, ROA như lý thuyết đã
học.
1.5.2. Kết quả tính toán và ý nghĩa của các chỉ số vòng quay tổng tài sản, ROS,
ROA
Sau khi thực hiện các bước tính toán trên, ta thu được kết quả như bảng sau:
Mã ngành
61100
61200

61901
61909
Bảng 2.2 Chỉ số quay vòng tổng tài sản, ROS, ROA
Nguồn: Tự tổng hợp
Nhận xét cho toàn ngành:
Từ kết quả trên, ta có thể thấy các chỉ số phản ánh khả năng hoạt động và thể
hiện khả năng sinh lời của các mã ngành trong ngành Viễn thông ở Việt Nam năm
2010 rất đa dạng. Chỉ số quay vòng tổng tài sản dao động từ 0.0122 đến 5.5213, tỷ
suất lợi nhuận doanh thu dao động từ -0.0263 đến 0.1184 và tỷ suất lợi nhuận trên
tổng tài sản nằm trong khoảng -0.145 đến 0.2467. Điều này cho thấy sự phân hóa và
chuyển biến mạnh mẽ trong nội ngành Viễn thông trong những năm 2010.

Hình 2.4 Tổng doanh thu toàn ngành viễn thông, doanh thu các dịch vụ di
động, dịch vụ cố định và dịch vụ Internet năm 2010.
Nguồn: Sách trắng 2011
Nhìn vào các biểu đồ trên, ta có thể thấy tổng doanh thu viễn thông năm 2010
tăng mạnh, nhưng đi sâu vào từng lĩnh vực, có sự khác nhau lớn. Trong khi doanh
thu các dịch vụ di động, dịch vụ Internet và toàn ngành có xu hướng tăng dần thì
doanh thu dịch vụ cố định lại có xu hướng giảm trong giai đoạn 2006-2010.


20
a. Mã ngành hoạt động viễn thông có dây (61100)
Mã ngành Chỉ số quay vòng tổng tài sản
61100

0.0122

ROS


ROA

0.022

0.0003

Cả ba chỉ số của mã ngành đều có giá trị dương nhưng rất nhỏ: Chỉ số quay
vòng tổng tài sản là 0.0122, cho biết cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thì thu
về 0.0122 đồng doanh thu; chỉ số ROS = 0,022 cho biết 1 đồng doanh thu công ty
kiếm được 0.022 đồng lợi nhuận; chỉ số ROA = 0.0003 là siêu thấp.
Lý giải cho những chỉ số trên, nhìn vào biểu đồ doanh thu dịch vụ cố định
những năm gần đây, ta thấy doanh thu từ năm 2008 đã bắt đầu giảm, năm 2009
giảm rất mạnh, tới 49% và năm 2010 tiếp tục xu hướng giảm với mức giảm hơn
27%. Đồng thời, số hộ gia đình sử dụng điện thoại cố định cũng ngày càng giảm
dần. Thực tế, những năm 2010, viễn thông có dây mà nổi bật là điện thoại cố định
đã dần bị lép vế trước sự hữu ích, tiện dụng và ngày càng dễ tiếp cận của điện thoại
di động và dịch vụ Internet. Mã ngành này vẫn có các chỉ số dương là do đã được
đầu tư từ lâu hơn các mã ngành khác và vẫn còn những khách hàng “trung thành”.
Xu hướng không tránh khỏi của ngành này sẽ là ngày càng thu hẹp.
b. Mã ngành hoạt động viễn thông không dây (61200)

tài sản

Mã ngành này có chỉ số quay vòng tổng tài sản là 5.5213 cho biết cứ 1 đồng
vốn đầu tư vào tổng tài sản thì thu về 5.5213 đồng doanh thu, cao hơn nhiều các mã
ngành khác trong ngành. Nhưng điều đặc biệt là với chỉ số quay vòng tổng tài sản
cao như vậy, chỉ số ROS và ROA lại có giá trị âm, lần lượt là -0.0263 và -0.145 cho
biết cứ 1 đồng doanh thu thì lỗ 0.0263 đồng và cứ với 1 đồng tài sản đầu tư thì lỗ
0.145 đồng.
Có điểm đặc biệt này trong các chỉ số là do doanh thu các dịch vụ di động rất

lớn, năm 2010 là 5741.97 triệu USD, chiếm 61% tổng doanh thu toàn ngành viễn
thông. Dịch vụ di động đang lên ngôi, phát triển mạnh mẽ nên chỉ số quay vòng tài
sản lớn. Tuy nhiên vì dịch vụ di động còn tương đối mới, các công ty phải đầu tư


21
lớn, đặc biệt là để thay đổi thói quen người tiêu dùng từ điện thoại cố định sang điện
thoại di động nên chi phí lớn. Do vậy, các chỉ số ROS và ROA đều âm.
c. Mã ngành hoạt động của các điểm truy cập Internet (61901)

tài sản

Cả ba chỉ số của mã ngành đều dương và nhỏ: chỉ số quay vòng tổng tài sản
0.3736 cho biết cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thì thu về 0.3736 đồng doanh
thu; chỉ số ROS = 0.0785 cho biết cứ 1 đồng doanh thu công ty kiếm được 0.0785
đồng lợi nhuận; chỉ số ROA = 0.0293, cứ 1 đồng tài sản đầu tư ta thu được 0.0293
đồng lợi nhuận.
Doanh thu dịch vụ Internet năm 2010 là 390.82 triệu USD, chiếm 4.15% tổng
doanh thu ngành Viễn thông.
12/2009

12/2010

Số lượng người sử dụng Internet

22779887

26784035

Số người sử dụng Internet/100 dân


26.55

30.65

Số thuê bao Internet băng rộng/100 dân

3.71

4.20

Bảng 2.3 Thống kê về sử dụng Internet năm 2010
Nguồn: Sách trắng năm 2011
Như vậy, ta có thể thấy tuy có sự phát triển tốt, nhưng số người sử dụng
Internet còn khiêm tốn, đặc biệt là chưa nhiều người sử dụng dịch vụ băng rộng
đồng nghĩa là người dân chưa sử dụng nhiều Internet. Do đó doanh thu của mã
ngành còn khiêm tốn vì thể mà các chỉ số đều dương nhưng còn thấp.


22
d. Mã ngành các hoạt động viễn thông khác chưa được phân loại (61909)
Mã ngành

Chỉ số quay vòng tổng tài sản

ROS

ROA

61909


2.0837

0.1184

0.2467

Mã ngành 61909 có 3 chỉ số đều dương và tương tối lớn: chỉ số quay vòng tài
sản bằng 2.0837 cho biết cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản thì thu về 2.0837
đồng doanh thu; chỉ số ROS = 0.1184, cứ 1 đồng doanh thu công ty kiếm được
0.1184 đồng lợi nhuận; chỉ số ROA = 0.2467, cho biết cứ 1 đồng tài sản đầu tư thu
được 0.2467 đồng lợi nhuận.
Năm 2010, các hoạt động viễn thông khác chưa được phân loại có doanh thu
3066.58 triệu USD, chiếm hơn 32% tổng doanh thu toàn ngành Viễn thông. Đây là
một con số lớn nếu so sánh với dịch vụ cố định và dịch vụ Internet, lần lượt là
2.25% và 4.15%.


23

CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP TRONG NGÀNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
2.1. Hành vi định giá
Việc nền kinh tế Việt Nam liên tục duy trì mức tăng trưởng cao trong nhiều
năm đã góp phần tăng nhanh mức sống và nhu cầu thông tin của toàn xã hội, các
tầng lớp dân cư. Điều này cùng với chính sách cạnh tranh đúng hướng, các dịch vụ
thông tin phong phú, các mức giá cước đa dạng đã tạo ra sự đột biến về nhu cầu
thông tin. Thị trường viễn thông Việt Nam bước vào giai đoạn bùng nổ nhu cầu,
nhất là về các dịch vụ thông tin di động và Internet băng rộng. Sự bùng nổ này kéo
theo một xu thế tất yếu về sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Viễn thông.


Vinaphone và Mobifone
Block 6s + 1
chung Nội và
Ngoại mạng
2006
Giảm nội
mạng
Giảm nội
mạng
2007

Trả trước
Trả sau
Trả trước

2009
Trả sau
Trả trước
2010
Trả sau

Thuê bao
Trả sau
Trả trước
Trả trước
Trả sau
SMS Nội VNPT
Trả trước
Trả sau

Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Thuê bao
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Thuê bao
Nội mạng
Ngoại mạng

Viettel
60000
1336
2272
2160
1300
350
2000
1227
1750
1990
1080
1200
1380
1580

49000
1080
980
1180
1380
49000
880
980

Trả
trước

Trả sau
Trả
trước
Trả sau

Trả
trước
Trả sau
Trả
trước
Trả sau

Nội mạng

1990

Ngoại mạng
Thuê bao

Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng

2190
59000
1390
1290
300
350
1690
1890
1090
1190

Nội mạng
Ngoại mạng
Thuê bao
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Nội mạng
Ngoại mạng
Nội mạng
Ngoại mạng


1390
1590
50000
1090
990
1190
1390
50000
890
990

Bảng 3.1 Thay đổi giá cước của các nhà mạng trong giai đoạn 2006 – 2010


24
Nguồn: Thị trường điện thoại di động ở Việt Nam, Vũ Thành Tự Anh, Đỗ Hoàng
Phương
Năm 2006, cạnh tranh của các công ty dịch vụ mạng ngày càng gay gắt:
Vinaphone, Mobifone, Viettel cùng giảm cước hòa mạng trả trước, tặng từ 10% 30% cho từ ba đến năm thẻ nạp tiếp theo tùy công ty. Thời gian này, việc mua một
sim và lấy tài khoản sử dụng đã rẻ hơn nhiều so với mua một thẻ cào trả trước và
nạp tiền. Đến tháng cuối năm, Viettel lại mở rộng khuyến mãi hòa mạng. Đối với
thuê bao trả trước là nhân đôi giá trị bộ hòa mạng trả trước (một bộ hòa mạng trị giá
69.000 VND sẽ có tài khoản 119.000), tặng 30.000 vào tài khoản cho 5 tháng tiếp
theo, nhân đôi ba thẻ nạp tiền tiếp theo. Đối với thuê bao trả sau, miễn cước hòa
mạng và cước thuê bao 6 tháng. Đặc biệt trong năm 2006, tính tổng thời gian
khuyến mãi dưới các hình thức khác nhau thì Viettel đã có hơn 6 tháng khuyến mãi
trên tổng số 12 tháng của một năm.
Năm 2007, hình thức khuyến mãi được tất các nhà mạng áp dụng khi thu hút
thuê bao trả trước hòa mạng: tất cả đều đồng bộ giảm giá KIT hòa mạng với tài

khoản lớn hơn số tiền bỏ ra để mua, nhân đôi/tặng 50% tài khoản đối thẻ 1,2,3 hoặc
2,3,4 tiếp theo và cộng thêm tiền trong 3-6 tháng tiếp theo. Cuộc đua khuyến mãi
hòa mạng đã dẫn đến tình trạng thuê bao ảo mở rộng trên các mạng GSM, thậm chí
có thời điểm 50% số thuê bao mới phát sinh là thuê bao ảo. Các hình thức khuyến
mãi cũng được điều chỉnh theo khi tăng thời gian tặng tiền lên 6 – 12 tháng nhằm
giữ khách hàng ở lại với mạng lâu hơn, tăng cường các đợt tặng 100% thẻ nạp cho
các thuê bao trả trước (thường kéo dài 3 ngày, định kì 1 tháng 1-2 lần) để họ không
chuyển sang dùng sim thay thẻ nạp. Ngoài cuộc cạnh tranh khuyến mãi, cuộc canh
tranh giảm giá cước và dịch vụ gia tăng diễn ra cũng khá quyết liệt, tạo nên một mặt
bằng chung khá tương đồng nhau giữa ba nhà mạng lớn. Đầu tiên là về giá cước,
trong gần 5 năm bị dẫn dắt về giá cước, vào năm 2009 mặc dù Viettel đã trình
phương án với Bộ Thông tin - Truyền thông được phê duyệt, nhưng cả Mobifone và
Vinaphone đã giảm giá cước nhiều hơn Viettel 10 đồng trên mỗi phút cho tất cả các
gói cước tương đương chỉ sau đó 3 ngày. Trong năm 2010, Viettel cũng một lần nữa
giảm giá trước và vài ngày sau cả hai nhà cung cấp mạng còn lại của VNPT cũng
nhanh chóng giảm theo với mức thấp hơn 10đ/ phút. Từ năm 2010 đến nay các nhà


25
mạng đã dừng không giảm giá nữa do mức doanh thu bình quân trên một thuê bao
(ARPU) đã giảm xuống mức ngang với khu vực và số lượng thuê bao cũng dần bão
hòa, không tăng nữa. Việc giảm giá cước không những không thu hút được nhiều
khách hơn mà còn có thể làm giảm doanh thu của các nhà mạng. Hoặc dịch vụ mới
nhất được nhiều người sử dụng hiện nay và được các nhà mạng đầu tư khá nhiều là
dịch vụ dữ liệu Internet 3G thì gói cước về lượng dữ liệu miễn phí tải về cũng đã
tương đương nhau. Xét các dịch vụ gia tăng như tin nhắn, GPRS/EDGE 2.5G, nhạc
chuông chờ, chuyển vùng quốc tế… giá cũng tương đương nhau. Một mặt bằng giá
dịch vụ điện thoại di động đã được tạo ra và duy trì ổn định.
2.2. Hoạt động nghiên cứu và phát triển
Tại Việt Nam, hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực viễn thông nói

riêng còn rất hạn chế. Các công trình nghiên cứu ít, chất lượng kém và tỷ lệ ứng
dụng thấp. Đến nay, các tập đoàn công nghệ, viễn thông lớn trong nước đều đã
thành lập Trung tâm R&D như FPT, Viettel, CMC. Đáng chú ý, Tập đoàn Viettel coi
việc đầu tư cho R&D là một trong 3 trụ cột cùng với viễn thông và đầu tư nước
ngoài. Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel (Viettel R&D) là một trong những nơi
nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghệ phục vụ cho cả mục đích dân sự
và mục đích quốc phòng. Đáng chú ý, Viện đã nghiên cứu, thiết kế thành công
nhiều sản phẩm phục vụ cho quốc phòng được đánh giá cao, giúp thay thế việc phải
nhập khẩu và tiết kiệm tiền cho Nhà nước. Viettel cũng sản xuất các sản phẩm, thiết
bị cảnh báo sóng thần, cảnh báo hồ chứa, thiết bị giám sát nhà trạm, tủ nguồn, USB
3G, điện thoại 3G…
Ngoài ra, Tập đoàn Viettel còn thành lập 2 viện nghiên cứu khác và 2 công ty
phần mềm, ước tính tổng nhân lực đang làm việc ở bộ phận nghiên cứu, sáng tạo
khoảng 4.500 nhân sự (trong đó có 3.000 tiến sĩ, kỹ sư, lập trình viên). Được biết,
doanh thu bước đầu trong lĩnh vực này năm 2014 đạt 5.500 tỷ đồng; hằng năm
Viettel dành chi đến 400 triệu USD cho R&D… Việc đầu tư vào R&D, Viettel đặt
mục tiêu trở thành tập đoàn không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn sản xuất thiết bị
công nghệ cao. Cụ thể, Viettel xác định đến năm 2020 trở thành tổ hợp nghiên cứu
sản xuất với các mục tiêu cụ thể về thiết bị quân sự, công nghiệp quốc phòng và
thiết bị hạ tầng viễn thông để bảo đảm an ninh mạng viễn thông trong nước.


×