Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành may mặc ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.79 KB, 22 trang )

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi chuyển đổi thành công từ nền kinh tế bao cấp bảo hộ sang nền kinh tế thị
trường mở cửa và nhất là đang trên đà tăng trưởng phát triển kinh tế, Việt Nam ta đã và
đang gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt động thương mại quốc tế. Cùng với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành may mặc đang chứng tỏ là một
ngành mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Điều này được thể hiện qua kim ngạch xuất
khẩu liên tục gia tăng trong những năm gần đây, đóng góp vào nguồn thu ngân sách và tạo
nguồn thu ngoại tệ đáng kể.
Ngành may mặc là một ngành công nghiệp nhẹ có vị trí quan trọng trong cơ cấu sản
xuất của nền kinh tế. Ngành đảm bảo hàng hóa tiêu dùng trong nước, thu hút nhiều lao
động đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu không lớn, ít rủi ro tạo điều kiện cho hoạt động mở rộng
thương mại quốc tế nên phù hợp với bước đi ban đầu của các nước đang phát triển như
chúng ta hiện nay.
Trên cơ sở những kiến thức đã được học ở bộ môn “Tổ chức ngành” cũng như qua
phân tích bộ số liệu về các doanh nghiệp ngành may mặc, chúng em xin chọn “ Phân tích
thị trường ngành may mặc ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu và tiểu luận.
Kết cấu bài tiểu luận gồm có 5 phần:
1. Tổng quan ngành may mặc
2. Cấu trúc thị trường ngành may mặc
3. Hành vi các doanh nghiệp ngành may mặc
4. Phân tích hiệu quả ngành may mặc
5. Rủi ro, triển vọng và kiến nghị phát triển ngành dệt may
Vì thời gian hạn chế và kiến thức có hạn cho nên bài tiểu luận có thể còn nhiều thiếu
sót kính mong sự đóng góp ý kiến xây dựng của quý thầy cô để nhóm có thể hoàn thiện hơn
các sản phẩm của mình trong thời gian tới.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!


NỘI DUNG



1.

TỔNG QUAN NGÀNH MAY MẶC

1.1

Khái niệm ngành

Theo Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam 2007, ngành may mặc bao gồm: hoạt
động may bằng tất cả các nguyên liệu (da, dệt, vải đan hoặc móc), tất cá các loại quần áo
( quần áo trẻ em, đi làm, ở nhà, quần áo lót của nam, nữ,…) và các đồ phụ kiện. Sản xuất
trang phục ở ngành này không có sự phân biệt giữa quần áo cho người lớn và quần áo cho
trẻ em hay quần áo truyền thống hoặc hiện đại.
Mã ngành 14100: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)
- Sản xuất trang phục, nguyên liệu sử dụng có thể là bất kỳ loại nào có thể được
tráng, phủ hoặc cao su hoá
- Sản xuất trang phục bằng da hoặc da tổng hợp bao gồm các phụ kiện bằng da
dùng trong các ngành công nghiệp như tạp dề da
-

Sản xuất quần áo bảo hộ lao động

Sản xuất quần áo khoác ngoài từ vải len, vải đan móc hoặc không phải đan
móc... cho phụ nữ, nam giới, trẻ em như: áo khoác ngoài, áo jac ket, bộ trang phục, quần,
váy...
- Sản xuất quần áo lót hoặc quần áo đi ngủ làm từ vải len, vải đan móc, cho nam
giới, phụ nữ hoặc trẻ em như: Áo sơ mi, áo chui đầu, quần đùi, quần ngắn bó, bộ pyjama,
váy ngủ, áo blu, áo lót, coóc xê...
-


Sản xuất quần áo cho trẻ em, quần áo bơi, quần áo trượt tuyết;

- Sản xuất các đồ phụ kiện trang phục khác: Tất tay, thắt lưng, caravat, lưới tóc,
khăn choàng, mũ, giày dép từ nguyên liệu dệt...
Mã ngành 14200: Sản xuất sản phẩm từ da lông thú
Sản xuất các sản phẩm làm từ da lông thú như:

- Trang phục lông thú và phụ trang
- Các phụ kiện làm từ lông da như tấm, miếng lót, mảnh dài…


- Các sản phẩm phụ khác từ da long thú như thảm, đệm, mảnh đánh bóng công
nghiệp
Mã ngành 14300: Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc
Nhóm này bao gồm:

- Sản xuất trang phục đan móc và các sản phẩm may sẵn khác, đan móc trực tiếp
-

thành phẩm như: áo chui đầu, áo len, áo gile và các đồ tương tự
Sản xuất hàng dệt kim như áo nịt, tất, sooc.

1.1 Lịch sử phát triển ngành
Ở Việt Nam, quá trình phát triển của may mặc bắt đầu phát triển từ năm 1954. Đến
nay, ngành công nghiệp này đã phát triển qua 4 giai đoạn:
- 1954 -1975: Đây là giai đoạn đầu tiên, được coi là tiền đề của ngành may mặc.
Các sản phẩm may sẵn chủ yếu phục vụ cho công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc:
quần áo, balo, cờ… đều gửi ra tiền tuyến, còn nhu cầu trong dân chúng chưa nhiều, chủ yếu
là tự may vá.

- 1967 -1990: Thời kì xây dựng hòa bình và hợp tác toàn diện với các nước xã hội
chủ nghĩa. Ngành dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất. Các
doanh nghiệp may mặc nhà nước được thành lập. Các sản phẩm may sẵn phục vụ nhu cầu
trong nước và cung cấp cho các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu theo các chỉ tiêu đã định
sẵn. Nhìn chung, thời kì này chỉ là một bước đệm để may sẵn xâm nhập hẳn vào đời sống.
- 1991-1999: Thời kì Việt Nam bắt đầu mở cửa kinh tế, sản xuất kinh doanh theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngành may sẵn bắt đầu hội nhập nhanh
chóng, các sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà đã bắt đầu xuất khẩu sang
các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật, Canada. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp dệt
may Việt Nam Vinatex được thành lập (4/1995). Doanh nghiệp may mặc lớn nhất lúc bấy
giờ, bao gồm 60 doanh nghiệp thành viên. Quyết định thành lập Vinatex nằm trong chiến
lược phát triển dệt may Việt Nam trong đó có may mặc. các sản phẩm may mặc bắt đầu
khẳng định vị thế trên các thi trường lớn.
- 1999 đến nay: Quá trình hội nhập sâu rộng Việt Nam vào thị trường quốc tế,
chúng ta tham gia khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN, các diễn đàn hợp tác kinh tế
khu vực và thế giới. Đặc biệt 11/2016, Việt Nam gia nhập WTO, thị trường thế giới hoàn
toàn mở rộng với Việt Nam. Đồng thời thị trường nước ta cũng hợp tác để thu hút các
doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư. Ngành may mặc đã có những bước phát triển đột phá.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được nhiều khách hàng
trong nước và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, Sài Gòn,…

1.2 Đặc trưng ngành may mặc
Hiện nay may mặc không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người
mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. May mặc là ngành có
năng lực cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế, là ngành xuất khẩu
chủ lực của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm qua. Kim ngạch xuất khẩu may
mặc tăng lên qua hàng năm. Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh và hội nhập của ngành may


mặc Việt Nam đã phát triển mạnh, hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của các thị trường lớn

như Mỹ, EU, Nhật… và hướng tới một số thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga…
Đây cũng là ngành có nhu cầu lao động cao, do đó ngành dễ dàng giải quyết và thu
hút việc làm cho người lao động kể cả lao động xuất phát từ nông thôn, từ đó góp phần ổn
định và thúc đẩy tiến bộ xã hội, cải thiện quan hệ sản xuất, bảo đảm và tiến tới phân phối
công bằng hơn về thu nhập, đồng thời bảo đảm ngày càng nhiều công ăn việc làm cho xã
hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tăng thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn.

1.3 Thực trạng ngành may mặc ở Việt Nam
Về chủng loại sản phẩm của ngành may mặc Việt Nam, các loại sản phẩm may mặc
khá đa đạng bao gồm: hàng may mặc cho trẻ sơ sinh, quần áo nam nữ trẻ em, áo sơ mi các
loại, váy, túi cặp sách, hàng may chất liệu bông… Trong đó có những mặt hàng cao cấp đã
có chỗ đứng trên thị trường trong trong và ngoài nước như: áo sơ mi cao cấp, áo Jacket…
Những sản phẩm này đã được khẳng định trên thị trường các nước khó tính như: Anh, Nhật
Bản, Mỹ…
Tuy vậy, các doanh nghiệp Việt nam chưa đáp ứng được yêu cầu của hàng may mặc
như: mốt, mẫu mã, đường nét… của thị trường xuất khẩu. Công tác thiết kế đã được đầu tư
nhưng ngành vẫn chủ yếu sử dụng mẫu mã thiết kế của đối tác nước ngoài. Điều đó làm
quá trình sản xuất của các doanh nghiệp may mặc nước ta phụ thuộc vào các đối tác đặt
hàng.
Về vấn đề bán sản phẩm may mặc, các doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ, chưa
xây dựng cho mình hệ thống bán hàng có hiệu quả. Đầu tư cho quảng cáo phát triển còn
thấp. Nên sản lượng tiêu thụ còn thấp. Vì bộ phận thiết kế chưa nhanh nhạy, nếu có tính
sáng tạo thì đó cũng chỉ là ngẫu hứng chứ chưa tập trung vào nhu cầu của thị trường. Vì
vậy sản phẩm của các doanh nghiệp hay bị lạc mốt, không hợp thời trang. Các doanh
nghiệp chỉ quan tâm đến doanh số mà không hề quan tâm đến việc đưa ra những xu hướng
thời trang để thu hút khách hàng. Công ty lớn như Việt Tiến cũng chỉ có một số mặt hàng
chính như: quần âu, vest, áo sơ mi các loạiTheo các chủ sạp bán hàng: nếu lấy mặt hàng
Trung Quốc giá rẻ đem bán thì thu lợi được khoảng 40%, còn nếu lấy mặt hàng cao cấp thì
lợi nhuận thu được khoảng 60%. Vì vậy một số công ty thời trang mở các cửa hàng trên cả

nước không còn chú trọng đến sản xuất mà sang tận Trung Quốc để đặt hàng hoặc đặt hàng
tại các doanh nghiệp ở đây sau đó về gắn nhãn hiệu của công ty mình rồi đem bán thu lãi
(Nguồn VIB forum, cập nhật ngày 31/8/2008)
Về việc xuất khẩu hàng may mặc, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang thực
hiện hình hai hình thức xuất khẩu: gia công ủy thác CMT (cắt (cut) - may (make) - hoàn
thiện (trim)) và hình thức xuất khẩu FOB (free on board). Trong đó hình thức gia công ủy
thác chiếm 70% còn lại là hình thức FOB. Các doanh nghiệp sản xuất CMT nhận đơn đặt
hàng và nguyên vật liệu, các vật liệu phụ trợ sau đó lại xuất khẩu trở lại cho các doanh
nghiệp đó. Vì vậy lợi nhuận các doanh nghiệp thu được là thấp. Còn hình thức xuất khẩu
FOB thì các doanh nghiệp tự tìm nguồn nguyên vật liệu và tự thiết kế sản phẩm, sản xuất
sau đó cũng cấp cho các doanh nghiệp cần nguồn hàng. Nó làm các doanh nghiệp chủ động
và tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất và đương nhiên các doanh nghiệp
này sẽ thu lợi nhuận lớn hơn.


Năm 2017 không có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn tăng trưởng trên 10% so với năm
2016. Dự báo, năm 2018 tăng trưởng 10 – 12% so với năm 2017, đạt 34,4 – 35 tỷ USD;
ngành dệt may có thể tiếp tục là ngành thu ngoại tệ nhiều thứ hai về cho Việt Nam. Đây là
nỗ lực đáng ghi nhận của ngành dệt may trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới vẫn bất ổn
và tình hình dệt may thế giới không khả quan. Bởi, các quốc gia nhập khẩu dệt may chính
là Mỹ, EU, Nhật Bản đều có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dệt may thấp hoặc suy giảm
trong 6 tháng đầu năm 2017.
Xuất khẩu hàng may mặc sang các nước ASEAN đang rất thuận lợi, nhờ sức cạnh
tranh cao và tận dụng hiệu quả những lợi ích từ việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN
mang lại. Xuất khẩu sang thị trường này năm 2017 ước đạt 860 triệu USD, tăng 26% so với
năm 2016. Dự báo, năm 2018 tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Năm 2018, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 33,5 tỷ USD; tập trung đầu tư
tái cơ cấu nội bộ ngành, áp dụng công nghệ tiên tiến để tự cân đối dần các khâu, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm; chuyển dịch sản xuất theo vùng lãnh thổ; tăng cường hợp
tác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp dệt may trong nước với nhau, doanh nghiệp

trong nước với đầu tư nước ngoài; khai thác thị trường truyền thống song song khai thác thị
trường mới; đẩy mạnh hàng FOB, ODM….

2. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG
Cấu trúc thị trường là một thuật ngữ miêu tả hành vi của người bán và người mua
trên thị trường. Các nhà kinh tế căn cứ vào mức độ cạnh tranh hay mức độ độc quyền để
phân chia thành nhiều loại thị trường khác nhau.
Cấu trúc thị trường được xác định bằng các loại chủ thể tham gia, mua và bán trên
thị trường, thị phần của các doanh nghiệp tham gia thị trường. Số lượng các doanh nghiệp
tham gia sẽ là cơ sở để xác định mức độ cạnh tranh, tiềm năng cũng như xu hướng phát
triển trên thị trường. Thị phần của các doanh nghiệp cho phép đánh giá sơ bộ sức mạnh,
mức độ chiếm lĩnh của doanh nghiệp đó trên các lĩnh vực liên quan.

2.1 Quy mô doanh nghiệp
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp dưới cả hình thức tư
nhân, nhà nước, hoặc nhà nước kết hợp với tư nhân sản xuất sản phẩm may mặc, nhưng
một số công ty may mặc lớn đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam đó là: Vinatex, Việt Tiến, May 10, nhà Bè, Phong Phú, May Đức Giang. Và một
số doanh nghiệp may tư nhân nhỏ lẻ: May mặc An Thắng, Mỹ Anh, May Huy Trinh,…
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) vẫn là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực
may mặc hiện nay. Hiện tại Vinatex đang dẫn đầu với giá trị vốn hóa lên đến 5500 tỷ đồng,
đồng thời cũng đứng đầu về quy mô vốn chủ sở hữu, đạt 7,594 tỷ đồng tính đến ngày
31/12/2016 và tổng tài sản đạt 19,794 tỷ đồng. Các nhóm doanh nghiệp thuộc Vinatex
(công ty mẹ) như May 10, Việt Tiến, Phong phú có quy mô vốn hóa và tổng tài sản rất lớn.
Vinatex sở hữu hệ thống phân phối rộng lớn với hơn 50 siêu thị Vinatex trên 26 tỉnh thành,
hệ thống siêu thị có quy mô rộng lớn và tập đoàn Dệt may Việt Nam đang đặt mục tiêu
chiếm lĩnh thị trường nội địa.


Biểu đồ 1: Thị phần hàng may mặc tại thị trường Việt Nam


Nguồn: Theo Vinatex

Nhìn vào thị phần ngành may mặc của Việt Nam, sản phẩm sản xuất trong nước chỉ
chiếm 70% tổng mức tiêu dùng tại thị trường nội địa, 30% còn lại là của nước ngoài, trong
đó phần lớn là hàng may mặc nhập khẩu từ Trung Quốc.

2.2 Mức độ tập trung
Ngành may mặc Việt Nam có mức độ tập trung thấp. Điều này được thể hiện qua số
lượng doanh nghiệp trên thị trường (có hơn 8000 doanh nghiệp). Mức độ cạnh tranh trong
ngành rất cao, tổng các doanh nghiệp may lớn trong nước mới chỉ chiếm 40% thị trường
nội địa. Bên cạnh đó rào cản về ngành lại thấp, không yêu cầu cao về vốn và trình độ công
nghệ, chi phí đào tạo lao động lại thấp. Nên việc gia nhập ngành khá là dễ dàng.

 Tỷ lệ tập trung hóa CRm
Công thức:
CRm==
Đây là chỉ số được sử dụng nhiều khi đo mức độ tập trung hóa của ngành. Trong đó
CRm là tỷ lệ tập trung, Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i.
Bảng 1: Tỷ lệ tập trung hóa của 5 doanh nghiệp may mặc lớn của Việt Nam (Vinatex, May 10, Việt
Tiến, Phong Phú, Hòa Thọ)

Năm

2014

2015

2016


2017

CR5

0.25

0.23

0.19

0.21

Dù là những doanh nghiệp lớn nhưng tỷ lệ tập trung hóa vẫn còn thấp. Thị phần 5
doanh nghiệp cộng vào còn chưa được ở mức 1/3 thị trường. Quy mô thị trường may mặc
Việt Nam theo Vinatex ước tính vào khoảng 4,5 tỷ USD mỗi năm. Doanh thu hàng năm của
năm doanh nghiệp kể trên tương đối cao, ví dụ như Vinatex doanh thu dao động từ 40 đến
50 nghìn tỷ Việt Nam đồng, nhưng trong đó thu được từ xuất khẩu khoảng hơn 60%. Qua
đó cho thấy doanh nghiệp trong nước đang phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa được
nhập khẩu và đang dần bị mất thị phần vào tay những thương hiệu thời trang nước ngoài
nổi tiếng điển hình như Zara, H&M, Mango,…


 Chỉ số HHI
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng đề nhận biết mức độ cạnh tranh
của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao. HHI xác định bằng tổng bình phương thị
phần của mỗi doanh nghiệp trong toàn hệ thống.
Công thức:

HHI=


Trong đó: + Si: Thị phần doanh nghiệp thứ i
+ n: Số lương doanh nghiệp tham gia thị trường
Bảng 2: Kết quả tính chỉ số HHI qua các năm

Năm

2014

2015

2016

2017

HHI

457.9973

324.562

202.44

236.36

Nhìn vào HHI của 5 doanh nghiệp may mặc lớn tại Việt Nam ta thấy chỉ số này
luôn nhỏ hơn 1000, thể hiện mức độ tập trung ngành thấp và thị trường có tính tập trung
cao. Kết quả này không có gì ngạc nhiên đối với một thị trường có hơn 8000 doanh nghiệp,
còn chưa kể các mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Hơn nữa chỉ số HHI ngày càng giảm,
các doanh nghiệp lớn đang dần bị mất dần thị phần vào tay các nhà may nhỏ lẻ và thương
hiệu nước ngoài.


 Dự báo mức độ cạnh tranh trong ngành
Mức độ cạnh tranh sẽ tương đối cao do phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu
nhận gia công từ đơn đặt hàng của nước ngoài, sản xuất cắt may và hoàn thiện đơn giản,
các doanh nghiệp đều có thể làm được công việc tương tự như nhau, đặc trưng của sản
phẩm tương đối giống nhau. Do rào cản gia nhập ngành không cao, quá nhiều doanh nghiệp
trong ngành khiến cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Các công ty có quy mô nhỏ sẽ
phải chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn. Ngoài ra các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn
chịu cạnh tranh từ các công ty đang phát triển khác không chỉ trên thị trường may mặc xuất
khẩu mà cả tại thị trường trong nước do dần dần Việt Nam không có lợi thế về chi phí nhân
công nữa.

2.3 Rào cản gia nhập ngành
Bảng 3: Bảng phân tích các rào cản gia nhaaph ngành may mặc

Yếu tố
Yêu cầu vốn

Thấp

Trung
bình
x

Cao

Nhận định
Ngành may là ngành thâm dụng lao động so
với các ngành công nghiệp khác và không
yêu cầu đầu tư lớn về công nghệ hiện đại, vì

vậy mà rào cản về công nghệ và vốn không
quá cao. Việc mở một nhà máy sản xuất hàng


may mặc ở Việt Nam không quá khó. Về cơ
bản đầu tư cho máy may, thùa, khuyết,… và
đào tạo công nhân ở mức trung bình thấp
không mất nhiều chi phí.

Chi phí chuyển đổi x
từ nhà cung cấp này
sang nhà cung cấp
khác
Sự tiếp cận đến các
kênh phân phối

Do sản xuất hàng may mặc chỉ ở công đoạn
với yêu cầu không phức tạp, các sản phẩm
không có sự cá biệt hóa cao, các doanh
nghiệp trong ngành không có sự khác biệt
vượt trội.
x

Đối với thị trường trong nước: dễ dàng để
mở cửa hàng kinh doanh cũng như tiếp cận
các nhà bán lẻ phân phối sản phẩm.
Đối với thị trường nước ngoài: cần phải phân
phối qua các nhà bán lẻ hoặc qua các nhãn
hàng nổi tiếng khác ở nước ngoài. Doanh
nghiệp mới vào ngành chưa có kinh nghiệm

và mối quan hệ lâu năm với đôi tác nước
ngoài nên việc xuất khẩu là hạn chế.

Lợi thế theo quy mô

x

Lợi thế theo quy mô thể hiện việc giảm chi
phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm khi
sản lượng đầu ra tăng. Bởi vì đầu tư tài sản
cố định không quá lớn cho một nhà máy may
mặc, lợi thế kinh tế theo quy mô không cao.

Đánh giá chung

x

Nhìn chung, rào cản gia nhập ngành được
đánh giá ở mức độ thấp. Yếu cầu về vốn
không cao, khả năng tạo sản phẩm khác biệt
là tương đối thấp. Tuy nhiên các doanh
nghiệp hoạt động trong ngành đang nắm giữ
lợi thế nhất định của riêng mình và phải cạnh
tranh khốc liệt vì quá nhiều doanh nghiệp
trong ngành.

2.4 Cầu và điều kiện thị trường
2.4.1 Cầu và điều kiện thị trường trong nước
Thị phần may mặc sản xuất trong nước chiếm khoảng 70% tổng mức tiêu thụ tại thị
trường nội địa, 30% còn lại là của nước ngoài. Thực tế sản phẩm may bình dân của Việt

Nam sản xuất chất lượng tốt nhưng còn hạn chế trong chiếm lĩnh thị trường nội địa do từ


trước đến nay chủ yếu tập trung cho xuất khẩu. Bên cạnh đó triển vọng phát triển thị trường
may mặc ở nông thôn là rất lớn nhưng việc triển khai tại khu vực này còn nhiều khó khăn
do nhu cầu tiêu dùng chưa cao, các kênh phân phối giao hàng thường nợ đọng vốn, nên
lượng vốn lưu động cần rất lớn.
Thị trường bán lẻ trong nước rất phân tán. Các nhà bán lẻ quy mô nhỏ chiếm 86%
tổng thị phần bán lẻ vào năm 2010. Các sản phẩm được bán ra khá đa dạng từ các sản phẩm
giá thành rất rẻ được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu từ Trung Quốc đến những
cửa hàng và nhà thiết kế đắt tiền. Ngoài ra các cửa hàng kinh doanh hàng xách tay từ Châu
Âu, Mỹ, Thái Lan ngày càng phổ biến. Theo nghiên cứu mới đây của Niesel cho biết có
đến 90% người tiêu dùng được hỏi ở thành phố Hồ Chí Minh, và 83% người tiêu dùng ở Hà
Nội cho biết họ chắc chắn sẽ mua hàng Việt Nam nhiều hơn. Vì vậy mà xu hướng người
Việt Nam tiêu dùng hàng Việt Nam đang tăng lên. Lý do khiến hàng Việt Nam ngày càng
được sử dụng rộng rãi là vì giá cả hợp lý, tính đa dạng, dịch vụ khuyến mại, bảo hành tốt và
quan trọng đó là giảm mối lo ngại về an toàn sức khỏe của sản phẩm may mặc đang tràn lan
trên thị trường hiện nay.

2.4.2 Cầu và điều kiện thị trường nước ngoài
Sản lượng mà các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc lớn của Việt Nam phần lớn
là đem đi xuất khẩu. Các thị trường EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ là 3 thị trường xuất khẩu chính
của Việt Nam.
ASEAN là thị trường vừa gần, vừa lớn của Việt Nam, cùng trong một cộng đồng kinh tế
AEC với rất nhiều cơ hội hợp tác về thương mại. Xuất khẩu sang ASEAN sẽ tiếp tục tăng
trưởng ổn định nhờ được hưởng ưu đãi thuế quan với tổng số trên 99% dòng thuế của
ASEAN 6 là 0% theo Hiệp định ATIGA. Đây là thời điểm để các doanh nghiệp linh hoạt,
nhạy bén, sớm nhận diện và nắm bắt những lợi ích tiềm năng từ AEC để thúc đẩy khả năng
tăng quy mô kinh tế không chỉ khối thị trường này mà còn với các thị trường khác; trong đó
có các thị trường ASEAN đã ký các Hiệp định Thương mại Tự do như Trung Quốc, Hàn

Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand.
Nếu so sánh tương quan với các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam như Trung
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất. Cụ
thể, theo Bản đồ thông tin thương mại (Trade Map) trong 6 tháng đầu năm 2017, so với
cùng kỳ, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc giảm hơn 5%, Bangladesh giảm 3,5%,
Indonesia giảm 5%, riêng Ấn Độ tăng 5%.
Với thị trường Mỹ, trong 11 tháng năm 2017, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang
Mỹ đạt 11,15 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Dự báo, xuất khẩu năm 2018
tăng 10%, ước đạt 12,5 tỷ USD.
Hàng may mặc của Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh tại thị trường Mỹ, dù Mỹ không
tham gia TPP, do có ưu điểm về chất lượng, giá cả và cam kết giao hàng. Tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu hàng dệt may từ Việt Nam sang Mỹ tiếp tục vượt qua các đối thủ cạnh
tranh, thậm chí khi không được hưởng lợi từ bất kỳ chương trình ưu đãi thương mại hay
Hiệp định Thương mại tự do nào.
Một trong những khó khăn đối với ngành dệt may hiện nay là trước tiên do thách
thức từ bên ngoài. Trung Quốc được coi là đối thủ cạnh tranh nặng ký với quy mô sản xuất


lớn, giá thành thấp, nhất là về nguồn lực, Trung Quốc giành lợi thế theo quy mô. Trước xu
thế hội nhập, việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là mục tiêu lớn

3. HÀNH VI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY
3.1 Hành vi định giá
Cách thức định giá chung cho các sản phẩm thường dựa vào chỉ số Lerner (L) nhằm
đo lường sự chênh lệch về giá (P) và chi phí cận biên(MC).
Ta có công thức xác định như sau:

Suy ra

Từ công thức trên ta thấy để định giá cho sản phẩm thì nhà sản xuất cần phải dựa

vào chi phí cận biên và tỷ lệ thuận với markup factor (). Tuy nhiên, nếu chỉ nhắc đến chi
phí cận biên thì thật khó đánh giá được giá thực sự mà nhà sản xuất đã phải chịu vì chưa
tính cả chi phí chìm.
Giá trị tài sản cố định của ngành dệt may rất nhỏ, một doanh nghiệp may cỡ vừa
vốn cũng chỉ xấp xỉ 100-200 tỷ. Giá trị vô hình của các thương hiệu thì chúng ta chưa có
phương pháp chính xác để xác định nó.
Tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp dệt may phải thường xuyên đối diện
với nạn hàng nhái, hàng giả. Tại thị trường nước ngoài, các sản phẩm dệt may Việt Nam
đang bị cạnh tranh gay gắt bởi các hàng rào thương mại với các chính sách bảo hộ hàng nội
địa của nhiều quốc gia. Chính sự bất ổn đó mà các doanh nghiệp cũng đã phải tốn khoản
chi phí ngầm để đảm hộ cho sản phẩm của mình được sản xuất và tiêu thụ không chỉ thị
trường trong nước và cả nước ngoài.

3.2 Hoạt động mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập
3.2.1 Khái niệm về mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập
a) Hợp nhất doanh nghiệp
Hợp nhất doanh nghiệp là hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp
nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm
dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
b) Sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập)
có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt
sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.




Lý do thực hiện hai hoạt động hợp nhất và sáp nhập

Cắt giảm chi phí giao dịch
Tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô chuyên môn hóa năng lực sản xuất
Tăng sức mạnh cạnh tranh thị trường
Tiếp cận các thị trường về vốn.
Các dạng liên kết


- Liên kết dọc: là nhiều bước quy trình sản xuất để tạo ra một sản phẩm trong một
doanh nghiệp.
- Liên kết ngang: sáp nhập hai hoặc nhiều sản phẩm giống nhau ở trong cùng một
doanh nghiệp
- Liên kết hỗn hợp: là liên kết hai hoặc nhiều sản phẩm khác nhau trong một doanh
nghiệp.
3.2.2 Hoạt động hợp nhất và sáp nhập của các DN trong ngành may dệt của Việt
Nam
Tại Đại hội nhiệm kỳ 5 bầu ban chấp hành mới của Hội Dệt may thêu đan Tp.HCM
(Agtek) vừa qua, một thông tin khiến nhiều người lo lắng khi Agtek cho biết đang diễn ra
hiện tượng mua bán, sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực dệt may, nhất là các doanh nghiệp
(DN) có quy mô trung bình. Đặc biệt, có DN trong nước xây dựng xong và bán đứt cho DN
nước ngoài. Agtek cho biết nguyên nhân là do các DN dệt may của Việt Nam hiện nay
không đáp ứng được nguồn cung nguyên liệu do nguồn vốn đầu tư rất hạn chế chỉ có
khoảng 20-30% DN đáp ứng được điều kiện này.
Bên cạnh đó, hiện tượng các DN trong nước xây dựng xong và bán lại cho DN nước
ngoài cũng diễn ra khắp nơi. Có nhà xưởng thực chất được nhà đầu tư nước ngoài rót tiền,
nhưng đứng tên chủ sở hữu Việt Nam, sau đó một thời gian thì tiến hành sang nhượng lại.
Một số nhà xưởng được rao bán như tại Đông Thanh, Hóc Môn, cơ sở sản xuất có diện tích
2.200m2 gồm văn phòng, nhà nghỉ cho công nhân, nhà bếp, 6 dây chuyền may đang được
rao bán 11 tỷ đồng. Hay một xưởng may trên đường Phan Huy Ích (Gò Vấp, Tp. HCM) với
khuôn viên 7.000m2, diện tích nhà xưởng 5.000m2, với 450 máy may và 450 công nhân
đang hoạt động nhưng chủ cơ sở này đã đăng tin muốn sang nhượng với giá 10 tỷ đồng.

Với các doanh nghiệp tương đối lớn và có quy mô trung bình trở lên, hoạt động kinh doanh
ổn định. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ không tránh gặp khó khăn. Vì vậy, thời gian gần
đây, đã có nhiều DN sang nhượng mặt bằng, nhà xưởng để chuyển đổi ngành nghề kinh
doanh.
Có một số doanh nghiệp Việt bán bớt một phần DN cho các DN nước ngoài. Đây là
hình thức “kết hợp” giữa DN trong nước với DN nước ngoài, trong đó có DN Trung Quốc,
tạo thành một mạng lưới vệ tinh nhằm sản xuất, gia công, cung cấp sản phẩm cho DN nước
ngoài.
Để đón đầu Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhiều nhà đầu tư
nước ngoài muốn đẩy nhanh việc đầu tư ở Việt Nam nên thâm nhập bằng cách M&A với
các DN Việt Nam. Việc các DN nước ngoài tăng cường đầu tư vào may mặc Việt Nam để
đón đầu TTP là dự đoán từ trước của giới chuyên gia cũng như động thái của các DN FDI
(đặc biệt là Trung Quốc).

3.3 Hoạt động nghiên cứu và phát triển
Để nghiên cứu những mặt mạnh và mặt yếu thì cần phải xem xét đến hoạt động
nghiên cứu và phát triển (R&D). Các công ty đang theo đuổi chiến lược phát triển cần phải
tập trung vào hoạt động nghiên cứu và phát triển. Sự tập trung vào hoạt động nghiên cứu và
phát triển có thể khác nhau tùy thuộc vào chiến lược cạnh tranh của một công ty. Bộ phận
nghiên cứu và phát triển phải có khả năng đưa ra những kiến thức về công nghệ và khoa


học, khai thác những kiến thức về công nghệ và khoa học, và quản lý các rủi ro liên quan
đến sáng kiến, sản phẩm, dịch vụ, và yêu cầu của sản xuất.

3.4 Hoạt động Marketing
Marketing có thể được miêu tả như quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn
các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng cho các sản phẩm hay dịch vụ. Marketing bao
gồm chín chức năng cơ bản: phân tích khách hàng, mua hàng, phân tích cơ hội và trách
nhiệm đối với xã hội. Việc năm vững các chức năng này sẽ giúp các chiến lược gia xác định

và đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của các hoạt động marketing.
Về hoạt động quảng bá thương hiệu và thời trang trong ngành dệt may, một số
thương hiệu đã đăng ký và tạo dấu ấn trên thị trường với nhãn hiệu Vee Sendy (Việt Tiến),
Novelty( Nhà Bè), F-House ( Phương Đông), Jump&Bloom (Hanosimex), Pharaon(May
10)… Còn về thời trang, đã tổ chức các sự kiện thời trang trong và ngoài nước từ nhỏ đến
lớn như tuần lễ thời trang Xuân Hè, Thu Đông, hay như Vietnam international fashion
week, thi Grand Prix Collection, biểu diễn thời trang phục vụ vho APEC với sự tham gia
của đông đảo đội ngũ các nhà thiết kế, gây được tiếng vang trong và ngoài nước, đồng thời
tham gia tôn vinh các Doanh nghiệp tiêu biểu trong ngành Dệt may với Dệt may Việt Tiến
và dệt Phong Phú đạt danh hiệu cao nhất trong các năm đã qua.
Mạng lưới bán lẻ tại thị trường nội địa đã được nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh một
bước đáng kể. Hệ thống siêu thị chuyên hàng dệt may Vinatex mart, hệ thống của hàng
collection với nhãn hiệu riêng như Vera, WOW, F- House, An Phước, May 10, may Nhà
Bè… có thể tự hào đã cạnh tranh ngang ngửa tại thị trường với BigC, Metro… Tuy nhiên,
kênh phân phối có sức thu hút lớn nhất với người tiêu dùng hàng dệt may-thời trang hiện
nay là các của hàng chuyên về sản phẩm và siêu thị. Và đây cũng là điểm yếu nhất của
ngành dệt may thời trang Việt Nam khi mạng. Việc chen chân được vào các trung tâm
thương mại, siêu thị cao cấp vẫn là bài toán khó đối với doanh nghiệp. Hàng cao cấp chưa
chen chân được vào các trung tâm thương mại lớn hay siêu thị cao cấp hoặc nếu đã được
vào đó thì chỉ được xuất hiện với những vị trí khuất bóng. Một số trung tâm thương mại
không chấp nhận hàng của dệt may Việt Nam vì chất lượng, giá, thương hiệu của các sản
phẩm trong nước không cùng đẳng cấp với phần lớn mặt hàng hộ đang kinh doanh. Như
vậy việc quảng bá sản phẩm tại các cửa hàng hay siêu thị cũng khó phát triển cùng với các
chương trình marketing bổ sung tại các của hàng của dệt may Việt Nam chưa được sôi
động, hơn nữa chưa được đón nhận về mặt giá trị sản phẩm của dệt may Việt Nam.

4. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
4.1 Các chỉ số đo lường
Để xác định hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp hay một ngành, người ta
thường thông qua việc tính toán 4 nhóm chỉ số:


-

Nhóm chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng gặp rủi ro
Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời


Trong tiểu luận này, ta sẽ phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dựa vào nhóm chỉ
số phản ánh khả năng hoạt động và nhóm chỉ số khả năng thể hiện khả năng sinh lời. Cụ
thể là các hệ số:



Chỉ số vòng quay tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS)

Số vòng quay tổng tài sản (hay gọi tắt là Số vòng quay tài sản) là một thước đo khái
quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Công thức TTS:
Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy doanh thu thuần (ròng) đạt được trong một
thời kỳ nhất định chia cho giá trị bình quân tổng tài sản (bao gồm cả tài sản lưu động lẫn tài
sản cố định) của doanh nghiệp trong cũng kỳ đó. Giá trị bình quân tính bằng trung bình
cộng của giá trị đầu kỳ và giá trị cuối kỳ. Tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho
doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.


 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Công thức ROS:
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch
vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng lớn thì hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp càng cao.

 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Công thức ROA:
Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản
được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Công thức ROE:
Chỉ tiêu ROE cho biết số lợi nhuận được thu về cho các chủ sở hữu doanh nghiệp
sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh.

4.2 Kết quả tính toán và ý nghĩa


Bảng 4: Kết quả tính toán các chỉ số

Mã ngành

Chỉ số vòng
quay tổng tài sản

ROS

ROA


ROE

14100

0.231917

-0.095050

-0.022044

-0.046580

14200

0.013587

0.019937

0.000271

0.001559

14300

0.742484

0.004680

0.003474


0.004128

Nhận xét cho toàn ngành
Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy chỉ số vòng quay tổng tài sản của toàn ngành
thấp, thể hiện việc sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu là không hiệu quả. Nhóm chỉ số thể
hiện khả năng sinh lời của ngành sản xuất trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) xuống
đến số âm thể hiện khả năng sinh lời của ngành rất thấp, thậm chí còn bị lỗ.

 Mã ngành Sản xuất trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) – 14100
Bảng 5: Các chỉ số đo lường mức độ hoạt động và mức độ sinh lời của ngành 14100 trong năm
2010

Mã ngành

Chỉ số vòng
quay tổng tài sản

ROS

ROA

ROE

14100

0.231917

-0.095050


-0.022044

-0.046580

Nhận xét

-

Chỉ số vòng quay tổng tài sản

Trong năm 2010, chỉ số vòng quay tổng tài sản của mã ngành 14100 là 0.231917,
thể hiện cứ mỗi 1% được đầu tư vào trong tổng tài sản thì thu được 0.23% doanh thu.
Điều này cho ta thấy hầu hết các doanh nghiệp trong ngành hoạt động không hiệu quả.

-

Chỉ số phản ánh khả năng sinh lời ROS, ROA và ROE

Ta thấy chỉ số ROS, ROA, ROE của mã ngành 14100 trong năm 2010 lần lượt là
-0.09505, -0.022044 và -0.046580 thể hiện lợi nhuận thu được của ngành trên doanh thu
thuần là -0.09595, lợi nhuận thu được của ngành trên tổng tài sản bình quân là -0.022044 và
lợi nhuận thu được trên vốn chủ sở hữu là -0,046580. Các con số này cho thấy rõ khả năng
sinh lời của các doanh nghiệp trên thị trường ngành trang phục là thấp do phần lớn là các
doanh nghiệp không có vốn đầu tư và doanh thu không đủ bù các khoản chi phí, do vậy lợi
nhuận ròng của nhiều doanh nghiệp trong ngành là số âm.

 Mã ngành Sản xuất trang phục từ da lông thú – 14200


Bảng 6: Các chỉ số đo lường mức độ hoạt động và mức độ sinh lời của ngành 14200 trong năm

2010

Mã ngành

Chỉ số vòng
quay tổng tài sản

ROS

ROA

ROE

14200

0.013587

0.019937

0.000271

0.001559

-

Chỉ số vòng quay tổng tài sản

Trong năm 2010, chỉ số vòng quay tổng tài sản của mã ngành 14200 là 0.013587 ,
thể hiện cứ 1% vốn đầu tư vào tổng tài sản thì doanh nghiệp thu được 0.013587% đơn vị
doanh thu.


-

Chỉ số phản ánh khả năng sinh lời ROS, ROA và ROE

Dựa theo bảng trên, chỉ số khả năng sinh lời trên doanh thu sau khi đã trừ đi các chi
phí - ROS của ngành là 0.019937, chỉ số khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh
nghiệp - ROA là 0.000271 – khá thấp, chỉ số khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu là
0.001559. Ta có thể thấy mã ngành 14200 có chỉ số ROS, ROA, ROE cao hơn mã ngành
14100. Nguyên nhân là do mã ngành 14200 có số liệu của 1 doanh nghiệp với vốn đầu tư ít,
chi phí cho cơ sở vật chất và các dịch vụ rẻ dẫn đến khả năng thua lỗ thấp hơn.

 Mã ngành Sản xuất trang phục dệt kim – 14300
Bảng 7: Các chỉ số đo lường mức độ hoạt động và mức độ sinh lời của ngành 14300 trong năm
2010

Mã ngành

Chỉ số vòng
quay tổng tài sản

ROS

ROA

ROE

14300

0.742484


0.004680

0.003474

0.004128

-

Chỉ số vòng quay tổng tài sản

Trong năm 2010, chỉ số vòng quay tổng tài sản của mã ngành 14300 là 0.742484,
thể hiện cứ 1% vốn đầu tư vào tổng tài sản thì doanh nghiệp thu được 0.742484% đơn vị
doanh thu.

-

Chỉ số phản ánh khả năng sinh lời ROS, ROA và ROE

Dựa theo bảng trên, chỉ số khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE của ngành
là 0.004128 và chỉ số khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp - ROA là
0.003474. Ta có thể thấy mã ngành 14300 có chỉ số ROA và ROE cao hơn mã ngành 14100
và 14200. Chỉ số khả năng sinh lời trên doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí - ROS của
mã ngành 14300 lại thấp hơn mã ngành 14200.

5. RỦI RO TRIỂN VỌNG VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY
5.1 Rủi ro
 Điểm yếu



- Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt có tốc độ tăng trưởng
chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Tình trạng này còn làm ảnh hưởng tới các đơn đặt hàng về thời gian, chất lượng và hiệu
quả kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ngành may còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa
cao.
- Giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt lao động có trình độ
chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất lao động thấp, so với các nước trong khu vực
thì năng suất lao động của ngành dệt may nước ta chỉ bằng 2/3. Lương thấp gây ra tình
trạng di chuyển lao động trong cùng ngành hoặc ra khỏi ngành làm cho việc đào tạo chuyên
môn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra công ty có khả năng xuất khẩu hàng may mặc và gia
công là chủ yếu chứ không thực hiện xuất khẩu trực tiếp.
- Ngành dệt may có sự đầu tư lớn nhưng chưa đồng bộ. Có những loại máy móc thiết bị
đã quá lạc hậu nhưng còn tận dụng nên năng suất không cao.
- Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành dệt may của ngành dệt may của
Việt Nam nên chưa có hệ thống các kênh phân phối rộng khắp, kể cả thị trường nội địa và
nước ngoài mà chỉ có các cửa hàng của công ty tự lập để tiêu thụ sản phẩm. Do vậy việc
tiêu thụ còn yếu. Đặc biệt các công ty không có sự phối hợp với nhau trong việc quảng cáo
để cạnh tranh trong nội bộ tại thị trường trong nước.
- Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của phía nước
ngoài để xuất khẩu
- Chưa tập trung nghiên cứu và đầu tư nhu cầu thị trường nên nhiều đoạn khúc thị
trường còn bỏ trống tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm ngoại thâm nhập sâu vào thị trường
trong nước như các sản phẩm: chăn, ga, gối… hầu hết là sản phẩm của Trung Quốc, Hàn
Quốc, Thái Lan, Xingapo. Một số sản phẩm có chất lượng cao có thể đáp ứng nhu cầu
khách hàng khó tính: Mỹ, Nhật nhưng lại không có mặt tại thị trường trong nước gây ra
hiện tượng không tôn trọng khách hàng trong nước và bỏ trống thì trường với hàng triệu
khách hàng tiềm năng.
- Chi phí cho nhân công rẻ nhưng chi phí bình quân / 1 đơn vị sản phẩm vẫn cao. Do đó
giá của chúng ta vẫn cao hơn so với Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia khoảng 30% -40%.
Đồng thời hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chưa được chuẩn hóa trong ngành nên mỗi công

ty trong ngành có định mức về tiêu chuẩn khác nhau mà không thống nhất trong toàn
ngành.

 Thách thức
- Ngành phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh rất mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ,
Pakistan không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn trong thị trường nội địa. Các đối thủ này
không chỉ mạnh về nhiều mặt như: tiềm lực về các nguồn lực, con người , vật chất, thông
tin mà còn có kinh nghiệm và hệ thống phân phối rất mạnh, kể cả việc bán lẻ cũng chuyên
nghiệp hơn các doanh nghiệp Việt Nam.
- Việc xoá bỏ hạn ngạch cũng vô hình chung làm cho các doanh nghiệp Việt Nam phải
đối đầu với Trung Quốc, Ấn độ trong việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước WTO. Do sức
ép của quá trình hội nhập tạo nên một hiện tượng tâm lý, vừa bất an vừa buông xuôi. Bất an


do chúng ta không biết nhiều về các đối thủ cạnh tranh, vì việc kinh doanh quốc tế không
được chú trọng
- Việt Nam đã ký 12 hiệp định thương mại tự do (FTA). Thế nhưng, hàng dệt may xuất
khẩu của doanh nghiệp nước ta vẫn tập trung vào một số thị trường như Mỹ, châu Âu, Nhật
Bản và Hàn Quốc, chưa phân đều cho các thị trường mà nước ta đã ký kết FTA. Thực tế
này làm tăng rủi ro cho tăng trưởng của ngành, khi bị ách tắc tại một số thị trường truyền
thống. Đồng thời, không tạo lợi thế cạnh tranh để kéo giảm sức ép hàng rào kỹ thuật mà
một số thị trường truyền thống đang dựng lên ngày càng nhiều nhằm hạn chế hàng hóa
nhập khẩu của Việt Nam. Hiện nay các chính sách hỗ trợ của nhà nước không còn, các công
ty dệt may phải tự mình đối mặt với các biến động của thì trường trong và ngoài nước.

5.2 Triển vọng
 Điểm mạnh
- Giá công nhân của ngành may mặc của Việt Nam rẻ nhất so với các nước trong khu
vực và thế giới. Giá nhân công rẻ, chi phí thấp, giá thành sản phẩm rẻ do đó tạo lợi thế cạnh
tranh trong sản phẩm may mặc.

- Người lao động cần cù chăm chỉ và khéo léo nên có những sản phẩm yêu cầu tay nghề
thủ công rất độc đáo đặc sắc và có sự khác biệt do tạo lợi thế cạnh tranh cũng như vậy giúp
Việt Nam có những thuận lợi lớn trong xuất khẩu và trong việc tạo dựng các làng nghề để
phát triển ngành.
- Ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng các công ty liên tục
tăng qua các năm và quy mô của công ty ngành càng lớn cả về mọi nguồn lực. Giá trị xuất
khẩu tăng ở các thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật. Ngành dệt may Việt Nam có thế mạnh
trong việc sản xuất các sản phẩm dệt kim. Đây là chủng loại mà người tiêu dùng Mỹ, EU
rất ưa chuộng
- Ngành may mặc được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại với những máy cắt, máy ép, là
hơi…giảm bớt các công đoạn thủ công. Một số thương hiệu được khẳng định trên thị
trường trong và ngoài nước: May 10, May Việt Tiến, Dệt Kim Đồng Xuân, Gấm Thái Tuấn,
áo sơ mi An Phước… giúp ngành dệt may Việt Nam tạo dựng tên tuổi trên thị trường nước
ngoài
 Cơ hội
- Thị trường nội địa rộng lớn với hơn 90 triệu dân là những khách hàng mục tiêu và
tiềm năng trong ngành dệt may. Việt Nam đã gia nhập WTO chính thức và cũng nhân đó
chúng ta được xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch xuất khẩu dệt may với các nước thành viên của
WTO.
- Ngay khi CPTPP được ký kết, mặc dù Mỹ không tham gia CPTPP nhưng vẫn còn
những thị trường đầy tiềm năng khác, đặc biệt là Australia, Canada. Đây là 2 thị trường có
quy mô sử dụng hàng dệt may khá lớn với khoảng 10 tỷ USD/năm, trong khi thị phần xuất
khẩu của Việt Nam còn nhỏ, chỉ khoảng 500 triệu USD.
- Tổng cầu của thị trường dệt may thế giới trong 5 năm gần đây không thay đổi, dao
động ở mức 700 tỷ USD/năm. Trong khi đó, các quốc gia sản xuất hàng dệt may liên tục
đưa ra các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đơn hàng.
5.3 Kiến nghị đề xuất phát triển ngành dệt may
 Về đầu tư



- Chuyển dịch các dự án dệt nhuộm ô nhiễm vào các khu công nghiệp tập trung có
hệ thống xử lý nước thải, còn các dự án may về các vùng nông thôn, thị trấn nhằm tận dụng
nguồn lao động tại chỗ.
- Tăng cường xúc tiến kêu gọi đầu tư vào sản xuất nguyên liệu, vải, in nhuộm hoàn
tất nhằm từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và khả năng chủ động về nguyên liệu cho
doanh nghiệp, chuyển dịch phương thức sản xuất từ gia công CMT sang FOB và ODM,
từng bước hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng dệt may. Xây dựng các khu công
nghiệp dệt nhuộm tại Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Ninh
Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Tây Ninh…
 Về thị trường
- Xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời cho các doanh nghiệp trong ngành.Xây
dựng các trung tâm thiết kế thời trang nhằm định hướng xu hướng thời trang cho các nhà
thiết kế cũng như cung cấp các dịch vụ cung cấp các mẫu thiết kế/bộ sưu tập cho các doanh
nghiệp đẩy mạnh làm hàng FOB, ODM.
- Tăng cường công tác phổ biến luật thương mại quốc tế, các quy định liên quan
trong Hiệp định CPTPP, FTA giúp các doanh nghiệp vượt qua các rào cản phòng vệ thương
mại của các nước nhập khẩu.
- Các doanh nghiệp tổ chức và mở rộng mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới
phương thức tiếp thị, nắm bắt nhu cầu của thị trường, thị hiếu từng tầng lớp dân cư.
Xây dựng, quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp, của ngành dệt may Việt Nam
trên thị trường quốc tế. Chọn một số doanh nghiệp lớn xây dựng thương hiệu quốc gia
quảng bá ra thế giới.
 Phát triển nguồn nhân lực
- Củng cố hệ thống đào tạo chuyên ngành dệt may. Phát huy lợi thế đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao của Trường đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội và một số
trường Cao đẳng trong ngành.
- Hiệp hội Dệt May Việt Nam làm đầu mối để phối hợp và liên kết với các doanh
nghiệp, cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai chương trình đạo tạo nguồn nhân lực
cho ngành.

- Tiếp tục phối hợp với Công đoàn Dệt May Việt Nam thương lượng, bổ sung, sửa
đổi Thỏa ước lao động tập thể ngành phù hợp với yếu cầu thực tế của ngành, đảm bảo ổn
định lực lượng lao động.
 Bảo vệ môi trường
- Xây dựng và thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ trong ngành dệt may theo
hướng sản xuất “thân thiện với môi trường”, sản xuất sạch hơn, sử dụng hợp lý, tiết kiệm
và đạt hiệu quả cao các hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm, hơi, điện, nước...
 Tài chính
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, các tổ chức ngân hàng, tín dụng trong và
ngoài nước góp vốn tham gia đầu tư vào ngành dệt may.
- Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán để tạo kênh huy
động vốn.


KẾT LUẬN
Xu hướng dịch chuyển sản xuất của thị trường dệt may thế giới đã, đang và sẽ tiếp
tục có sự thay đổi lớn. Việt Nam được dự báo sẽ là điểm đến của các nhà đầu tư lớn với lợi
thế về nhân công, môi trường kinh doanh thuận lợi. Bên cạnh đó, ngành may mặc đã và
đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam.
Mặc dù thị trường ngành may mặc có rất nhiều tiềm năng để phát triển, tuy vậy vẫn
tồn tại những rủi ro, bị động về nguồn nguyên liệu và khâu thiết kế. Đó cũng là những
nguyên nhân cơ bản mà theo như phân tích số liệu, đa số các doanh nghiệp ngành may mặc
ở Việt Nam có hiệu quả hoạt động chưa đạt kỳ vọng, nhất là các doanh nghiệp hoạt động
trong ngành may trang phục – mã 14100 dù ngành này được rất nhiều các doanh nghiệp
hướng tới bởi rào cản gia nhập ngành khá thấp, kỹ thuật sản xuất đơn giản, tận dụng được
nguồn lao động dồi dào.
Đứng trước một loạt những cơ hội và thách thức, để góp phần thúc đẩy và khai thác
hết tiềm năng của ngành may mặc, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về nhiều
lĩnh vực đã được đưa ra để phát triển ngành về cả chiều rộng và chiều sâu, góp phần thúc
đẩy nền kinh tế nước nhà.



TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anh Bình, 3/2018, “Nâng tầng thương hiệu dệt may Việt Nam (kỳ I), Báo Điện tử Nhân
dân, mục Kinh tế
Đoàn Dung, 3/2018, “Khởi động dự án định giá một số nhãn hiệu của ngành dệt may”,
Baomoi.com
Hệ thống ngành kinh tế ở Việt Nam 2007, Phần II Quy định nội dung, Bộ kế hoạch và Đầu

Michael R. Baye & JeffRey T. Prince, Managerial Economics and Business Strategy
Lê Thúy, 2015, “M&A trong ngành dệt may: May bao nhiêu và rủi bao nhiêu?”, Thời báo
Kinh doanh
Vietnamplus, 1/2018, “Động lực để ngành dệt may Việt Nam khởi sắc trong năm 2018”,
Báo Công Thương
Việt Nga, 3/2018, “Ngành Dệt may: Tận dụng cơ hội từ CPTPP”, Diễn đàn giới công
thương Việt Nam
Vinatex, 2017, “Ngành dệt may trong nước vững vàng trước những thách thức”, Phu
Thanh
Group.
Website Wikipia Việt Nam, />Website của Tổng cục thống kê, />



×