Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

Thạc sĩ chính trị học Tư tưởng chính trị việt nam thế kỷ x

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (404.7 KB, 101 trang )

M U
1.Tớnh cp thit ca ti
1.Quỏ trỡnh u tranh dng nc v gi nc ca nhõn dõn ta di thi
c, trung i tng tri qua mt thi k sc sụi, bin ng vi nhiờu s kin
ln lao, thỳc y lch s phỏt trin. M u l s kin Khỳc Tha D lónh o
dõn chỳng ni dy ginh li quyờn t ch t tay phong kin ụ h Trung Hoa
vo nm 905, t nờn múng cho k nguyờn c lp t ch, cho n Ngụ
Quyờn, inh B Lnh, Lờ Hon ó trit s nghip gii phúng dõn tc khi
ỏch ụ h ca phong kin Trung Hoa, gi yờn b cừi nc nh. Thi k lch
s oanh lit ú c mnh danh l th k X.
Th k X hin ra trong lch s nh mt th k bn lờ, ni tip gia hai
thi k hon ton khỏc bit. Trc th k X l ờm di tm ti di ỏch ụ h
ca phong kin Trung Hoa hn 1000 nm. Sau th k X l k nguyờn c lp,
t ch lõu di ca dõn tc vi nờn vn minh i Vit huy hong. Đây là
thời k chuyển tiếp giữa cái cũ và cái mới, phát huy những yếu
tố tích cực của cái cũ để xây dựng cái mới xung quanh trục
bản lề của nó là t tởng chính trị độc lập dân tộc và ch
quyờn quốc gia. Trong thế k X, nhân dân ta đã kế thừa và
phát triển truyền thống lịch sử với nhng giá trị văn hoá,
chính trị mt cách xuất sắc. Xuyên suốt thế k X, những
chuyển biến lớn lao về t tởng chính trị có ý nghĩa nh một bớc
ngoặt của lịch sử dân tộc đều xoay quanh một trc trung
tâm là chống Bắc thuộc, giành độc lập dân tộc, chấm dt
hoa mất nớc kéo dài hơn 1000 năm.
Trong lịch sử thế giới thật hiếm có một đất nớc đã mất
chủ quyền hơn 1000 năm mà vẫn có thể giành lại nớc. Trong
lịch sử khu vc, Việt Nam là đại diện cuối cùng v duy nhất còn


2
sót lại của đại gia đình Bách Việt va giành lại đợc độc lập,


giữ vững truyền thống văn hóa của ngời Vit va hiên ngang
trong t thế của mt quốc gia tự chủ, tự cờng với những chiến
thắng lẫy lừng.
2. T tởng chính trị độc lập dân tộc v chủ quyền quốc
gia ở thế k X có nguồn gốc sức mạnh và nền móng vững
chắc từ những thế k trớc đó rất lâu dài và thờng xuyên đợc
bồi đắp, củng cố. Về điều này, nhiều nhà nghiên cứu đã
khẳng định: Trong quá trình đấu tranh lâu dài để dựng nớc và giữ nớc, nhân dân ta sớm có ý thức dân tộc và đã biểu
thị một tinh thần đấu tranh quyết liệt vì độc lập dân tộc
và chủ quyền quốc gia đã trở thnh một giá trị của vn hoá
chính trị Việt Nam truyền thống.
T tởng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia ở thế k
X đợc củng cố và nâng dần theo mức độ thng lợi của cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc và quá trình xây dựng dân
tộc độc lập tự chủ. Họ Khúc, họ Dơng còn giữ chức Tiết
độ sứ, có nghĩa là cha công khai tuyên bố nền độc lập
(thực chất đã độc lập), giữ thế hoà hoãn với kẻ thù để tranh
thủ thời gian xây dựng chính quyền và lực lợng vờ mọi
mặt. Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền tiến lên xng
vơng hiệu, tự khẳng định là vơng quốc độc lập. Đinh Bộ
Lĩnh tiến lên một bớc nữa, sau khi dẹp loạn mời hai sứ
quân, đã tự xng hoàng đế, đặt niên hiu, định quốc
hiệu. Đó là những việc làm có ý nghĩa nêu cao chủ quyền
quốc gia của dân tộc. Trên thực tế, vơng quốc đời Ngô v


3
đời Đinh, Tiền Lê là một quốc gia độc lập, có nhà nớc riêng,
có quân đội riêng và làm chủ một giang sơn riêng. Cho n
ngy nay, iờu ú vn luụn l niờm t ho ca dõn tc v ca mi con

ngi Vit Nam chỳng ta.
3. Ngy nay, t nc ta ó hon ton thng nht, chỳng ta ó v ang xõy
dng mt nh nc c lp tht s v vng mnh, tin hnh cụng cuc i
mi vi s nghip CNH-HH t nc v hi nhp quc t, m rng quan h
giao lu vi cỏc nc trong khu vc v trờn th gii. Quỏ trỡnh ú ũi hi mi
ngi Vit Nam chỳng ta phi cú s hiu bit y hn, mi m hn vờ lch
s dõn tc theo tinh thn ụn c tri tõn, k tha v phỏt huy tinh hoa vn hoỏ
truyờn thng ca dõn tc, ng thi khụng ngng tip bin v dõn tc hoỏ tinh
hoa vn hoỏ nhõn loi. Vi tinh thn ú cựng vi s kin trng i tin ti k
nim mt nghỡn nm Thng Long - H Ni, ngc dũng lch s chỳng ta tr
vờ ci ngun, dng chõn th k X tỡm hiu vờ i sng kinh t, chớnh tr
- xó hi v vn hoỏ cng nh tỡm hiu v k tha nhng tinh hoa, nhng giỏ
tr vờ t tng chớnh tr c lp dõn tc, ch quyờn quc gia, t tng chớnh
tr ngoi giao mờm do, hũa bỡnh. iờu ú cú ý ngha quan trng gúp phn
cng c niờm t ho dõn tc cng nh l sng ca con ngi Vit Nam v
cng l phc v cho s nghip xõy dng v bo v T quc trong thi i
ngy nay.
T nhng lý do trờn tỏc gi chn ờ ti T tng chớnh tr Vit Nam
th k X lm lun vn thc s, chuyờn ngnh chớnh tr hc.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu liờn quan n ti
T tng chớnh tr l lnh vc cú th núi c nghiờn cu khỏ mun so
vi cỏc khoa hc chớnh tr khỏc, nú mi ch tht s quan tõm trong hn 10
nm tr li õy, k t khi Vin Khoa hc chớnh tr (nay l Vin Chớnh tr hc)


4
được chính thức thành lập tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh. Nó được ra đời
trong xu thế đổi mới tư duy lý luận nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra từ Nghị quyết Đại hội VI của
Đảng (12/1986).

Từ khoảng vài ba thập kỷ trở lại đây, khi triển khai những đề tài khoa học
nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, các giá trị truyền thống và con
người Việt Nam trong lịch sử, tư tưởng chính trị Việt Nam cũng được nhiều
nhà nghiên cứu đề cập đến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, ở mức độ đậm
nhạt khác nhau trong nhiều công trình đã được công bố. Có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu sau :
Trong cuốn LÞch sö t tëng ViÖt Nam, tËp 1 do PGS.TS Nguyễn
Tài Thư chủ biên, Nhà xuất bản KHXH năm 1993 đã dành riêng một phần
nói về tư tưởng Việt Nam thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập từ
thế kỷ X-XV, sự nhận thức về tư tưởng của dân tộc ta lúc này gắn liền với
những thắng lợi huy hoàng của công cuộc dựng nước, giữ nước và thực hiện
thống nhất nước nhà.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tư tưởng dựng nước bao giờ cũng gắn
liền với giữ nước. Sau hơn nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta đã dành được
nền độc lập tự chủ và xây dựng nhà nước trung ương tập quyền. Vì vậy, trong
cuốn Tìm về cội nguồn của GS Phan Huy Lê, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội
1999 cũng đã có một phần đề cập đến tính chất và chức năng của nhà nước
thời Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Tiền Lê (905-1009).
Năm 2008, trong cuốn sách Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt
Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, do PGS.TS Nguyễn Hoài Văn chủ biên, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, đã nêu bật được một số tư tưởng chính trị cơ bản
của thế kỷ X. Từ đó khẳng định đây là thế kỷ bản lề và tư tưởng chính trị cơ


5
bn ca th k ny l c lp dõn tc, thng nht quc gia cú ý ngha xuyờn
sut trong lch s t tng chớnh tr Vit Nam.
Cng trong nm 2008, tỏc gi La Vn Quỏn vi cun Lịch sử t tởng
chính trị - xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ Lý Trần. Nha xut bn Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2008 cng ó i
sõu tỡm hiu quỏ trỡnh u tranh ginh c lp chng Hỏn hoỏ v khỏi quỏt

c t tng chớnh tr - xó hi Vit Nam t th k X n th k XV, trong ú
ó ờ cp n t tng chớnh tr - xó hi Vit Nam qua cỏc triờu i Ngụinh - Tiờn Lờ.
Trc ú, vo nm 1982 nhm mc ớch lp nhng l hng lụ gớch lch
s, tin thờm mt bc trong nhn thc vờ th k X, thỏng 9 -1982, Vin s
hc hp tỏc vi U ban nhõn dõn H Nam Ninh (c) t chc hi ngh khoa
hc vờ Lch s th k X ti a im Hoa L - kinh ụ ca nc i C
Vit xa. Trong hi ngh ú cú rt nhiờu bi tham lun khoa hc ờ cp n
nhiờu mt, nhiờu vn ờ ca lch s th k X vi nhng ni dung phong phỳ.
Trờn c s ú, n nm 1984, Nh xut bn KHXH ó tuyn chn mt s bi
tiờu biu in thnh cun sỏch Th k X - Nhng vn lch s. Trong ú cú
nhiờu bi ờ cp n nhng vn ờ vờ kinh t, chớnh tr, vn hoỏ, xó hi th k
X nh Th k X v phng thc sn xut Chõu ca Lờ Kim Ngõn; V tng
lp th ho, ho trng trong xó hi Vit Nam hi th k X ca Nguyn
Danh Phit; V xu hng tp trung v phõn tỏn Vit Nam u thi k c
lp-th k X ca c Hựng; ó cú mt trn tuyn ngoi giao th k X
ca Nguyn Vn Huyờn; Pht giỏo thi inh Lờ ca Phan i Doón
Trong nhng nm qua, trờn cỏc tp chớ nghiờn cu cng ó cụng b mt
s bi vit, cụng trỡnh nghiờn cu liờn quan n t tng chớnh tr Vit Nam
núi chung nh : H Vn Tn, Mấy suy nghĩ về lịch sử Việt Nam và
t tởng Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 4 - 1984 ; Trn Quc
Vng, Văn minh Việt Nam thế kỷ X - X V, Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, số 3-1998


6
Tóm lại, các công trình, ấn phẩm nói trên phần nào đó đã đề cập đến các
vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội thế kỷ X, hoặc một vài khía cạnh
của tư tưởng chính trị Việt Nam nói chung và tư tưởng chính trị Việt Nam thế
kỷ X nói riêng, nhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học, triết học, lịch sử
tư tưởng và văn hoá, cũng đã có công trình tiếp cận dưới góc độ chính trị học.

Song, dù tiếp cận và nghiên cứu dưới góc độ nào thì các công trình, ấn phẩm
đó cũng đều chưa bàn sâu và có tính hệ thống về tư tưởng chính trị Việt Nam
thế kỷ X. Vì vậy, nội dung tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ X dưới góc
nhìn chính trị học vẫn còn là khoảng trống cần được nghiên cứu và tìm hiểu
một cách sâu sắc và toàn diện để xứng đáng với tầm vóc của thời kỳ lịch sử
oanh liệt, kỳ vĩ đó. Song, những công trình khoa học của các học giả, các nhà
nghiên cứu kể trên sẽ là nguồn tư liệu quý giá giúp tác giả của luận văn có
điều kiện kế thừa, đồng thời vừa có thể tự hệ thống và khám phá độc lập trong
nghiên cứu riêng của mình.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
*Mục tiêu:
Phân tích nội dung cơ bản những của tư tưởng chính trị Việt Nam thế
kỷ X, đồng thời rút ra một số ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay.
*Nhiệm vụ :
Từ mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ điều kiện về kinh tế, chính trị - xã hội và văn hoá của thế kỷ X.
- Tìm hiểu những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ X.
- Rút ra ý nghĩa của các tư tưởng đó đối với công cuộc đổi mới ở nước
ta hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quan điểm,
nội dung của tư tưởng chính trị của các đại biểu tiêu biểu thế kỷ X.
* Phạm vi nghiên cứu:


7
-Thi gian: t nm 904- 1009 (th k X)
- Khụng gian: Vit Nam.
- Ni dung:

+C s kinh t, chớnh tr - xó hi, vn hoỏ.
+T tng chớnh tr c bn ca th k X.
5. C s lý lun v phng phỏp nghiờn cu ca lun vn
* C s lý lun: Lun vn c nghiên cứu dựa trên cơ sở vận
dụng lý luận và phơng pháp lun của chủ nghĩa duy vt biện
chứng và duy vt lịch sử của Ch ngha Mỏc - Lờ nin; t tng H Chớ
Minh vờ chớnh tr. Lun vn cng da trờn cỏc quan im ca ng cng sn
Vit Nam vờ c lp dõn tc v ch quyờn quc gia cng nh ng li ca
ng vờ xõy dng t nc trong thi k i mi.
* Phng phỏp nghiờn cu ch yu l phng phỏp lch s - lụgớc ng
thi s dng nhiờu phng phỏp khỏc an xen, b tr nhau nh phng
phỏp phõn tớch v tng hp, phng phỏp so sỏnh, phng phỏp h thng,
khỏi quỏt hoỏ.
6. Nhng úng gúp v khoa hc ca lun vn
- Trỡnh by mt cỏch khoa hc cú h thng hon cnh lch s v ngun
gc hỡnh thnh t tng chớnh tr Vit Nam th k X.
- Phõn tớch mt s t tng chớnh tr ni bt, xuyờn sut ca th k X.
- Rỳt ra ý ngha ca cỏc t tng ú i vi cụng cuc i mi nc ta
hin nay.
- B sung thờm ngun t liu nghiờn cu vờ t tng chớnh tr Vit
Nam núi chung, cng nh gúp phn hiu rừ hn vờ th k X trong lch s
dõn tc Vit Nam.
7. í ngha lý lun v thc tin ca lun vn


8
- Kết quả nghiên cứu của luận văn làm rõ được tư tưởng chính trị của
Việt Nam thế kỷ X. Từ đó là nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu tư tưởng
chính trị Việt Nam ở các giai đoạn lịch sử tiếp theo.
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

giảng dạy về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và khoa học chính trị nói
chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương 7 tiết.


9
Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM THẾ KỶ X
1.1. CƠ SỞ KINH TẾ

Hơn một nghìn năm dưới ách phong kiến đô hộ của phương Bắc, bị áp bức
tàn bạo về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, nhưng dân tộc ta luôn nêu cao ý
thức tự lực tự cường, đã không những không bị đồng hoá, diệt vong mà cuối cùng
còn vùng lên giành lại được nền độc lập. Ý thức tự lự, tự cường đó không chỉ
được biểu hiện trong chính trị - xã hội nói chung, mà còn cả trong lĩnh vực kinh tế
bao gồm nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp.
1.1.1. Về Nông nghiệp
Bước vào thời kỳ sơ sử, nông nghiệp đã giữ một vị trí chủ đạo trong nền
kinh tế của cư dân Văn Lang- Âu Lạc. Nếu như ở vùng đồi núi người ta tiến
hành canh tác nương rẫy với phương thức “đao canh hỏa chủ” (cày bằng dao,
trồng bằng lửa) thì ở các vùng thung lũng ven núi, phù sa ven sông và vùng
thấp trũng ở đồng bằng thì lại trồng lúa nước. Người ta dựa vào nước nguồn,
vào thủy triều lên xuống để chủ động tưới, tiêu nước, áp dụng kỹ thuật “đao
canh thủy nậu” (cày bằng dao, làm mát đất bằng nước). Kỹ thuật phát hoặc
đốt cây cỏ, lợi dụng nguồn nước hoặc chủ động dẫn nước để cấy cày đã thành
truyền thống sản xuất chủ yếu của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Trung tâm đất nước từ vùng ngã ba sông Việt Trì thời Văn Lang chuyển

xuống Cổ Loa thời Âu Lạc vào thế kỷ II trước Công Nguyên đã thực sự ghi
nhận bước phát triển toàn diện của xã hội, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp.
Đến thế kỷ X, hầu như khắp vùng châu thổ Sông Hồng, sông Mã, sông Lam,
trừ những ô trũng, những vùng bãi bồi ven biển, đều được khai phá canh tác.
Căn cứ vào ghi chép của sử sách hồi thế kỷ X với địa danh Cửa Bố, ngày nay
là ở thị xã Thái Bình, căn cứ vào sự xuất hiện của con đê Hồng Đức vào năm


10
1472 ở Ninh Bình - Nam Định, và sự hình thành các xã ven biển đồng bằng
Nga Sơn (Thanh Hóa) vào những thế kỷ sau này, ta có thể hình dung vào thế
kỷ X, dải đất phía đông nam Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và ven biển
đông bắc Thanh Hóa ngày nay còn chưa được bồi tụ. Mặc dù vậy, nhìn chung
trên phạm vi cả nước thời bấy giờ, kinh tế nông nghiệp đã mở mang nhiều,
chiếm ưu thế tuyệt đối và giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống của
cư dân.
Tuy nhiên, Đại Cồ Việt là một nước nông nghiệp thuần tuý. Những năm
dưới thời họ Khúc, họ Ngô, do tác động của các cuộc chiến tranh hay tranh
chấp nội bộ, nhà nước không có điều kiện xây dựng nền kinh tế riêng. Khi đất
nước ổn định, ý thức về quyền lực tập trung của Nhà nước quân chủ dần dần
dẫn đến sự hình thành của quan niệm về quyền sở hữu tối cao của nhà vua đối
với toàn bộ ruộng đất trong nước. Thực hiện quan niệm này, Đinh Bộ Lĩnh
sau khi lên ngôi hoàng đế đã phong ấp hay phong hộ nông dân cho các tướng
lĩnh có công như Trần Lãm, Nguyễn Tấn, Phạm Hạp...Tiếp sau đó nhà Tiền
Lê đã thực hiện việc phong ấp cho các Hoàng tử và giao cho họ cai quản địa
phương có ấp của mình. Một số quan chức cao cấp như Tả thân vệ Điện tiền
chỉ huy sứ Lý Công Uẩn cũng được phong ấp ở Đằng Châu. Song, nhận thức
được tầm quan trọng của nghề nông, nhà nước quân chủ thời kỳ này đã có
nhiều biện pháp, chính sách nằm khuyến khích nông nghiệp. Cày cấy vốn là
công việc của nhà nông, để tỏ ý động viên khích lệ, người đứng đầu nhà nước

thường tiến hành cày tịch điền. Mở đầu cho việc làm này là Lê Hoàn, tức vua
Lê Đại Hành. Vào năm Đinh Hợi (987), ông cày tịch điền ở Đọi Sơn (Hà
Nam) và Bàn Hải (?). Hơn nữa Lê Hoàn còn sử dụng một số vùng đã tịch thu
được của các sứ quân để làm ruộng tịch điền, phục vụ nghi lễ, khuyến khích
sản xuất nông nghệp và lấy thóc lúa đưa vào kho nhà nước. Bố Hải Khẩu vùng đất lập nghiệp cũ của sứ quân Trần Lãm, vùng Đỗ Động của sứ quân Đỗ


11
Cảnh Thạc và một số vùng khác như Bàn Hải, Đọi Sơn ( Hà Nam)... đều là tịch
điền của nhà nước. Các vùng đất này đều do những người bị tù tội hay nông dân
làm nghĩa vụ cấy cày, toàn bộ thu hoạch thuộc về nhà nước.
Bên cạnh đó, một hiện tượng được bia cổ nghi lại đã nói thêm về điều
này. Theo tấm bia “Càn Ni Sơn Hưng Nghiêm tự bi minh” (Bia được dựng
vào năm 1124 và được khắc lại vào năm 1726). Vua Đinh Tiên Hoàng đã
phong Lê Lương người Đông Sơn - Thanh Hoá làm Đô quốc dịch sứ của quận
Cửu Chân thuộc Ái Châu cai quản cả một vùng đất rộng lớn “đông đến Phân
Dịch, nam đến Vũ Long, tây đến đỉnh núi Ma La, bắc đến lèn Kim Cốc” và
cho con cháu ông đời đời được làm quan coi đất ấy. Thực ra thì vùng đất rộng
lớn này vốn thuộc quyền cai quản của dòng họ Lê Lương từ trước và bản thân
ông cũng là một lãnh chúa lớn của địa phương này. Việc phong ấp mang ý
nghĩa khẳng định quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước mới.
Ruộng đất trong nước nói chung thuộc sở hữu làng xã. Nhân dân trong
làng theo tập tục chia ruộng đều cho nhau để cày cấy và hàng năm nộp thuế
cho nhà nước. Một số làng mới được thành lập theo phương thức khai hoang.
Tuy nhiên, ở một số nơi vẫn tồn tại các trang trại của con cháu các viên quan
đô hộ cũ đời Đường hoặc các thổ hào địa phương. Rải rác ở nơi này hay làng
nọ, đã xuất hiện ruộng đất tư hữu. Quá trình phong kiến hoá được tiếp tục.
Những điều kiện hoà bình và ổn định xã hội đã giúp cho người nông dân
phát triển sản xuất vừa để có thu nhập duy trì cuộc sống vừa có thóc lúa nộp
thuế cho nhà nước hay các quan chức, chủ ấp. Nhà nước mới cũng quan tâm

nhiều hơn đến nông nghiệp. Vua Lê, hàng năm vào đầu xuân vẫn về địa
phương làm lễ cày tịch điền để khuyến khích sản xuất. Nhà Lê cũng chú ý đào
vét song, kênh vừa phục vụ việc lưu thông, vừa phục vụ việc sản xuất nông
nghiệp. Năm 1003, Lê Hoàn sai quân dân nạo vét kênh Đa Cái (Hoa Cái Nghệ An), năm 1009 Lê Long Đĩnh cho phép quân dân Ái Châu - Thanh Hoá
đắp đường, đào kênh ở vùng mình....


12
Chính sự khuyến khích của nhà nước và sự nỗ lực của nhân dân đã làm
cho nông nghiệp ngày càng ổn định và bước đầu phát triển.
Trong sản xuất nông nghiệp, sau ruộng đất thì nước là yếu tố hàng đầu
đảm bảo cho năng suất cây trồng (nước, phân, cần, giống). Ở vị trí nhiệt đới
gió mùa như nước ta vào thế kỷ X, khí hậu không khác mấy so với ngày nay.
Tuy nhiên, nắng lắm mưa nhiều cũng có những khó khăn, thường gây nên hạn
hán và lũ lụt. Vì vậy, từ rất sớm đê đập ngăn lũ lụt và hệ thông tưới tiêu đã
xuất hiện.
Sự quan tâm của nhà nước quân chủ thời này đến nông nghiệp cùng
những hình thức cày tịch điền, đắp đê, đập, bảo vệ sức kéo tạo điều kiện cho
nông nghiệp phát triển với năng xuất cao.
1.1.2. Về Thủ công nghiệp
Là đứa con song sinh với nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ với nông
nghiệp, thủ công nghiệp ở nước ta xuất hiện từ khá sớm. Cho đến những thế
kỷ đầu của thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài, nền thủ công nghiệp của quốc gia
Đại Cồ Việt (thế kỷ X), có điều kiện phát triển hơn. Tuy nhiên tài liệu về thủ
công nghiệp rất khan hiếm, không đủ để khôi phục lại diện mạo rất phong phú
và sinh động của nó. Mặc dù vậy, bằng cách “lội ngược dòng”, tức từ những
sản phẩm thủ công, nhu cầu về thủ công được sử sách ghi chép, người ta có
thể hình dung sự phong phú về ngành nghề và sự tinh xảo về kỹ thuật của nó.
Người ta thường nhìn nhận ở trung tâm Cổ Loa, Hoa Lư thời này, phần
“đô” vẫn là hạt nhân, chiếm một vị trí khá lớn và giữ vai trò quan trọng trong

quá trình tồn tại và phát triển hoặc chuyển dời nó. Mặc dù vậy, người ta cũng
phải thừa nhận bên phần “đô” còn có phần “thị” với nhu cầu của thủ công
nghiệp và trao đổi phục vụ cho đời sống của trung tâm là rất lớn và có tác
dụng kích thích đối với thủ công nghiệp.


13
Nếu như ở Cổ Loa, hầu như thủ công nghiệp không để lại dấu vết gì cụ
thể thì Hoa Lư lại khác. Không còn ngi ngờ gì về sự tồn tại của một nền thủ
công nghiệp phong phú ở Hoa Lư thời Đinh, Tiền Lê. Có thể qua những di vật
phát hiện ở Hoa Lư để lập nên một danh mục về các nghề thủ công đương
thời đã từng tập trung ở chốn đế đô.
Theo phương thức thời Đường, nhà nước Đinh - Tiền Lê xây dựng một
số xưởng chuyên sản xuất các sản phẩm thủ công cần thiết cho mình. Hình
thành những xưởng đúc tiền, rèn vũ khí, may mũ, áo, xây dựng cung điện, nhà
cửa, chùa chiền... Kinh đô Hoa Lư như sử cũ nghi: “Có điện Bách Bảo thiên
tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu, phía đông là điện
Phong Lưu, phía tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện
Cực Lạc”, ngoài ra còn có “lầu Đại Vân, điện Trường Xuân, điện Long Lộc
lợp bằng ngói bạc”, điện Càn Nguyên... Đinh- Tiền Lê cũng cho xây dựng đài
kính thiên làm nơi tế trời đất...Xung quanh kinh thành có tường thành hoặc
xây bằng gạch hoặc đắp bằng đất đá. Trong thành còn có một số ngôi chùa
như chùa Nhất Trụ, các kho vũ khí hoặc kho đồ dùng hàng ngày, kho thóc
thuế...
Trong nhân dân, các nghề thủ công cổ truyền như kéo tơ, dệt lụa, làm
gốm, làm giấy đều phát triển. Nhà nước đã từng dùng các sản phẩm thủ công
nghiệp của nhân dân để làm cống phẩm. Chỉ riêng ở kinh đô Hoa Lư đã có
các ngành nghề: đập đá, thổ mộc qua việc đắp thành, xây cất cung điện chùa
chiền, kho tàng, đóng thuyền chiến… nghề khai thác và chế biến kim loại quý
hẳn đã phát triển qua việc dựng cột điện Bách Bảo thiên tuế có dát vàng bạc,

các lầu Đại Vân, điện Trường Xuân, điện Long Lộc lợp ngói bạc. Để đúc nên
hàng vạn mũi tên đồng, chế tạo nên mũ đầu mâu bằng kim loại, đúc tiền, rèn
công cụ vũ khí trang bị cho quân đội thì nghề đúc kim loại phải hiện diện phổ
biến và đạt đến một trình độ khá hoàn thiện. Với nghề gạch, gốm người thủ


14
công thời bấy giờ đã có thể nung được các loại gạch xây thành, làm cầu cống,
lát đường và đặc biệt là các loại gạch có hoa văn đẹp, có hình đôi chim
phượng mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoa Lư, ấy là chưa kể đến
nghề gốm phục vụ cho đời sống hàng ngày qua các loại bát, đĩa, nồi, chum,
vại…Nếu như nghề dệt từng cung cấp vải lụa cho các loại trang phục của nhà
vua, quan lại, binh lính, nhân dân thì nghề đan lát bằng nguyên liệu mây, tre,
nứa…các loại có từ lâu đời đã trở thành khá phổ biến ở mọi nơi. Bên cạnh
việc cung cấp các mặt hàng thông dụng hàng ngày, nghề đan lát còn góp phần
quan trọng trong phục vụ giao thông và chiến đấu trên sông nước qua việc chế
tạo thuyền nan và đóng bè các loại.
Nhìn chung, kinh tế thủ công nghiệp tuy có phong phú, đa dạng, thêm các
nghề, nhưng chắc hẳn vẫn còn kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp. Tình hình này
còn tồn tại lâu dài và đó cũng là đặc điểm của thủ công nghiệp nước ta, đồng
thời là tác nhân khá quan trọng làm cho thủ công nghiệp không vượt khỏi hàng
rào nông nghiệp để hình thành một ngành kinh tế độc lập, có sức mạnh từ thúc
đẩy đến mở đường cho những bước phát triển đột biến của xã hội.
1.1.3. Về Thương nghiệp
Trong bối cảnh một nền sản xuất hàng hóa thủ công hạn hẹp đó, hoạt
động thương nghiệp cũng diễn ra chập chạp.
Sau khi dẹp xong loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh xây dựng kinh
đô mới ở Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên - huyện Hoa Lư - tỉnh Ninh
Bình). Với kinh đô Hoa Lư thành thị - một mô típ chung của nhiều nước,
“thành” được xây dựng, thì “thị” (chợ) cũng ra đời để đáp ứng nhu cầu cần

thiết của “thành”, đã xuất hiện trên đất nước Đại Cồ Việt.
Từ kinh đô Hoa Lư đi về các ngả có nhiều tuyến đường thuỷ và đường
bộ. Sông Hoàng Long chạy sát phía Tây Bắc kinh đô Hoa Lư là tuyến đường
thuỷ quan trọng nhất. Từ đây có thể toả đi nhiều nơi, tại điểm giáp với Hoa
Lư có bến đò truyền thuyết và nhân dân trong vùng xưa thường gọi là “bến đò


15
Rồng”, ngày nay là bến đò Trường Yên. Theo nhiều cụ cao tuổi ở đây cho
biết, xưa ở đó có một bến, thuyền buôn thường qua lại buôn bán trao đổi hàng
hoá và lý giải về bến đò Rồng rằng : ngày xưa Đinh Bộ Lĩnh bị chú đuổi đến
đây, rồng vàng nổi lên đưa ông qua sông, nên gọi là bến đò Rồng và sông đó
gọi là sông Hoàng Long. Điều lý giải này nói lên một thực tế là từ trước đến
thế kỷ X, nơi đây đã có bến đò nối liền hai khu vực cư dân ở phía Tây và phía
Đông sông Hoàng Long.
Về tiền tệ, lưu thông trên thị trường cũng đã có mặt ba loại tiền : tiền
đồng của các đời vua Trung Quốc, tiền đồng thời Đinh và tiền đồng thời Lê.
Từ đầu thế kỷ X đến năm 938 nước ta vẫn còn tiêu các loại tiền của các đời
vua bên Trung Quốc. Bấy giờ thế lực nước ta chưa mạnh, những người đứng
đầu nhà nước như Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Hạo và Dương Đình Nghệ vẫn
còn xưng Tiết độ sứ, có thể chưa dám đúc tiền. Mặt khác, về danh nghĩa nước
ta lúc bấy giờ vẫn là quận huyện của Trung Quốc, với người đứng đầu quốc
gia vẫn là quan “ tiết độ sứ” nên có thể tiền đồng các đời vua bên Trung Quốc
vẫn được nhập vào nước ta một cách bình thường. Đến năm 968 vua Đinh cho
đúc tiền đông để thuận lợi cho việc buôn bán, trao đổi trong nước - đây là
những đồng tiền đầu tiên của nước ta. Tiền hình tròn, có lỗ vuông, mặt trước
có chữ “Thái Bình thông bảo”, phía sau đúc nổi chữ Đinh.
Lê Hoàn lên làm vua, năm 984 cho đúc tiền đồng, mang niên hiệu thời
Lê. Từ đó đến năm 1010, nước ta tiêu tiền đồng thời Lê.
Ngoài dùng tiền làm vật trung gian mua bán, nhân dân ta còn dùng hình

thức vật đổi vật, hay thông qua vật trung gian khác là vàng hoặc bạc. Vàng,
bạc đến thế kỷ thứ X có thể đã được quy định thành những đơn vi như lạng,
nén, hốt...
Như vậy, đến thế kỷ X trên thị trường tồn tại ba loại hình trao đổi hàng
hoá : vật đổi vật, dùng tiền đồng và dùng vàng, bạc làm vật trung gian. Trong
ba hình thức đó, thì tiền đồng là hình thức chủ yếu.


16
Cùng với sự phát triển của nội thương, ngoại thương ở thế kỷ X cũng
bước đầu được phát triển, không những buôn bán bằng đường thuỷ (phương
tiện đi lại chủ yếu là thuyền buồm), giữa nước ta với các nước khác còn buôn
bán, trao đổi bằng đường bộ, đi qua các cửa ải ở biên giới với các nước láng
giềng chủ yếu là Trung Quốc.
Hoa Lư, Long Biên, Đại La đã trở thành những trung tâm buôn bán.
Đường sá được sửa đắp, nối liền với kinh đô cũng như vùng Nam với vùng
Bắc. Năm 983 Lê Hoàn cho đào con sông nối từ núi Đồng Cổ (Yên Định
-Thanh Hoá ) đến sông Bà Hoà (Tĩnh Gia -Thanh Hoá) thuyền bè công, tư đi
lại đều tiện. Năm 1003 Lê Hoàn lại cho vét kênh Đa Cái (Nghệ An). Năm
1009 Lê Long Đĩnh cho đóng thuyền chở người qua lại trên sông Vũ Lũng và
cho đào sông, đắp đường từ cửa sông Chi Long (Nga Sơn - Thanh Hoá) đến
sông Vũ Lũng. Từ năm 992 Lê Hoàn đã sai phụ quốc Ngô Vũ An đem ba vạn
người đắp đường từ cửa Nam Giới (Hà Tĩnh) đến châu Địa Lý (bắc Quảng
Bình). Năm 1009 Lê Long Đĩnh lại sai Hồ Thủ Ích đem 5000 quân vào sửa
đắp lại con đường này. Cũng trong năm này Lê Long Đĩnh xin đặt quan hệ
buôn bán với nhà Tống, được nhà Tống cho thông thương với châu Liêm
thuộc nam Quảng Tây và trấn Như Hồng thuộc nam Quảng Đông.
Tuy nhiên, hoạt động thương nghiệp có được mở mang trên cơ sở nông
nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp vào thời kỳ này vẫn mang tính chất nhỏ
hẹp tự cấp, tự túc của một xã hội đang lấy công xã nông thôn làm cơ sở. Sở

hữu ruộng đất tư nhân tuy đã có, nhưng chưa xuất hiện phổ biến. Trong tình
hình đó, việc trao đổi hàng hóa nhìn chung còn giới hạn ở từng địa phương
nhỏ hẹp, phố phường vẫn mang tính chất hỗn hợp của cấu trúc xã hội nông
nghiệp. Ở đây mối liên hệ giữa hoạt động nông - công - thương còn gắn bó
chặt chẽ, lấy đơn vị gia đình làm cơ sở. Cái gọi là phố phường cũng chỉ là một
biến thể theo phương thức chuyển dịch của làng xã vào nơi đô hội.


17
Mặt khác, cũng cần nhìn nhận rõ vị trí thuận tiện trong giao lưu tiếp xúc
của đất nước trong mối liên hệ với các quốc gia khác trong khu vực. Do đó,
trao đổi với nước ngoài tuy còn hạn chế, nhưng cũng đã xuất hiện như một
nhu cầu tất yếu. Sử sách đã ghi lại mối quan hệ buôn bán với Trung Hoa tấp
nập ở các chợ xuất hiện dọc biên giới Việt - Trung gọi là bạc dịch trường. Có
thể kể đến các địa điểm buôn bán thời kỳ này như: Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Tô
Mậu, Hoành Sơn, Giang Đông để cho dân địa phương và cả phú thương phía
Trung Hoa đến buôn bán, trao đổi hàng hóa. Về các bạc dịch trường này, nhà
nghien cứu Hoàng Xuân Hãn đã nhận định: “Trên những chỗ đường thông lộ
lớn, qua biên giới sự buôn bán khá thịnh và có tổ chức. Tống cũng như Lý,
cho người giả mạo vào buôn bán để do thám. Cho nên lúc thường tuy cho đi
lại thông thương, nhưng chỉ được tụ họp ở một nơi nhất định, gọi là bạc dịch
trường” [15, tr.79,80].
Hẳn rằng Nhà nước quân chủ thời này đã thấu được yêu cầu cần thiết
phải thiết lập thông thương với các quốc gia lân cận, dù mới chỉ là bước đầu,
giới hạn ở một số vùng biên cũng như hải đảo. Đồng thời nhà nước cũng ý
thức rõ ràng về sự cảnh giác trước con mắt dòm ngó, hoạt động thăm dò nội
tình của nước ngoài, vì mục tiêu độc lập chủ quyền của dân tộc.
Tóm lại, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp là những hoạt
động kinh tế quan trọng nhằm xây dựng đất nước và đảm bảo, thoả mãn nhu
cầu đời sống thường nhật của cư dân. Vì vậy, những thành tựu về kinh tế luôn

gắn liền với sự vận động và phát triển của tư tưởng đất nước, nhất là tư tưởng
chính trị.
Trong bối cảnh của một quốc gia nông nghiệp tồn tại và phát triển không
bình thường với quá trình lịch sử bị đô hộ hàng thiên niên kỷ trước thế kỷ X,
tiếp đến những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Đại Cồ Việt, các mặt hoạt động kinh
tế diễn ra chậm, lấy nông nghiệp làm cơ sở. Quan niệm “dĩ nông vi bản” (lấy
nông làm gốc) về mặt ngôn từ là du nhập, phản ánh mặt tiếp thu hội nhập văn


18
hóa nói chung, ngôn ngữ văn tự nói riêng. Tuy nhiên đó cũng là một sản phẩm
bản địa đích thực, là tư duy của xã hội nông nghiệp đã hình thành và đúc kết
dần từ buổi bình minh của lịch sử. Quan niệm này đã chi phối mọi hoạt động
của từng cá nhân đến cả cộng đồng. Cũng từ quan niệm này các nhà nước
quân chủ độc lập từ thế kỷ X đã đưa ra những chủ trương, chính sách và hoạt
động cụ thể. Dù không đưa ra những văn bản giải thích, thuyết minh, hướng
dẫn nhưng bằng những hành động có tính chất chỉ đạo, nêu gương hoặc bằng
pháp luật, người ta dễ dàng nhận ra các nhà quân chủ thời kỳ này đặc biệt
quan tâm đến nông nghiệp. Những tổ chức hoạt động công thương nghiệp
xuất hiện nhiều từng tồn tại và mở mang từ bệ đỡ của nông nghiệp, nếu
không muốn nói là bám chặt vào nông nghiệp.
Tất cả mọi hoạt động kinh tế của đất nước trong các thế kỷ đều diễn ra
trên cơ sở của một kết cấu ruộng đất còn tương đối đơn giản, trong đó sở hữu
ruộng đất công do công xã quản lý và sử dụng chiếm ưu thế.
Hiển nhiên từ sau khi khôi phục được độc lập tự chủ, toàn bộ lãnh thổ
đất đai thuộc quyền quản lý của người đứng đầu Nhà nước Đại Cồ Việt. “Đất
vua” chính là khái niệm phản ánh sở hữu ruộng đất chung của nhà nước thời
kỳ trung đại. Tuy nhiên người đứng đầu quốc gia là các nhà vua, không trực
tiếp quản lý trừ một bộ phận nhỏ mà sử sách còn chép là “ruộng tịch điền”,
“ruộng quốc khố”, còn lại tuyệt đại bộ phận ruộng đất do các công xã nông

thôn quản lý, sử dụng và có nghĩa vụ phải nộp tô thuế cho nhà nước theo hình
thức cống nạp. Nói rõ hơn, chủ sở hữu danh nghĩa là thuộc nhà nước giao
quyền cho công xã quản lý, phân phối sử dụng lấy gia đình làm đơn vị sản
xuất. Ruộng tư đã từng xuất hiện từ thời Bắc thuộc với các điền trang của bọn
quan lại đô hộ và một bộ phận giàu có người bản địa. Hẳn rằng từ đầu thế kỷ
X, theo chân bọn thống trị đô hộ, điền trang của chúng bị quét sạch. Nhưng
điền trang của thổ hào bản địa nó có thể còn tồn tại như những mảnh sót
trong cái biển ruộng công mênh mông.


19
1.2. DIỄN BIẾN CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

1.2.1. Diễn biến chính tri
1.2.1.1. Cuộc đấu tranh giành, giữ chính quyền
Trải qua hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của các triều đại phương Bắc, đất
nước Âu Lạc của người Việt cổ đã có nhiều đổi thay. Mặc dầu luôn luôn bị
kìm hãm, áp bức, bóc lột nặng nề, người dân Việt vẫn cố gắng vươn lên.
Vào cuối thế kỷ IX, chính quyền đô hộ nhà Đường ở phương Bắc lâm vào
thế suy sụp, bùng lên một phong trào đấu tranh ở các nước phong kiến địa
phương nhằm tách khỏi sự khống chế của chính quyền trung ương, thành lập
quốc gia độc lập. Đó là thời cơ cực kỳ thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành
lại độc lập của người Việt ở An Nam. Đầu thế kỷ X, vị thổ hào đất Hồng Châu là
Khúc Thừa Dụ đã nhanh chóng khởi binh, đánh tan quân đô hộ, buộc nhà Đường
trong thế sụp đổ đã phải cách chức tiết độ sứ Độc Cô Tổn, chấm dứt nền đô hộ
của mình trên đất Tĩnh Hải (An Nam ). Họ Khúc đã trở thành người làm chủ trên
đất An Nam và đầu năm 906, vua Đường buộc phải phong thêm cho Tĩnh Hải
quân tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ chức “Đồng bình chương sự”.
Như vậy, năm 905 dù những người đứng đầu đất nước chưa thành lập
vương triều nhưng cũng đã đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng - thời kỳ

Bắc thuộc nói chung đã chấm dứt vĩnh viễn. Ý thức độc lập dân tộc càng thể
hiện rõ hơn ở những việc làm của Khúc Hạo - người kế tục sự nghiệp của
Khúc Thừa Dụ. Nói một cách khác từ năm 905 đất nước ta chuyển sang một
thời đại mới - thời đại độc lập, tự chủ dưới chế độ phong kiến.
Hơn 20 năm của buổi đầu độc lập, thời gian quả là quá ít trong bối cảnh
của xã hội thế kỷ X, nhưng nhân dân ta đã tự tạo cho mình một cái nền khá
vững chắc để rồi hai lần đánh bại quân xâm lược Nam Hán, đặc biệt là ở lần
thứ hai với chiến thắng Bạch Đằng vang dội năm 938, không những khẳng
định quyền làm chủ của người dân Việt trên đất nước mình mà còn tự tạo nên
cái uy thế cần thiết cho Ngô Quyền - người chỉ đạo cuộc kháng chiến - xưng


20
vương, xác lập chế độ quân chủ, xây dựng triều đình mới, lấy Cổ Loa ( Đông
Anh - Hà Nội ) làm kinh đô, dựng cung điện.
Sử cũ không cho biết gì thêm về tổ chức nhà nước trung ương đương
thời. Ở địa phương các châu, huyện được giữ nguyên. Các thứ sử như Đinh
Công Trứ tiếp tục được cai quản châu của mình. Giáp, làng vẫn là những đơn
vị hành chính cơ sở. Bên cạnh các xóm làng cổ truyền có một số xóm, làng
mới được hình thành.
Tuy đã trải qua hơn 30 năm độc lập với hai cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm, nhưng những tàn dư cửa chế độ cũ vẫn còn nhiều, tình hình xã hội
còn phức tạp. Sự thành lập của nhà Ngô với người đứng đầu là Ngô Quyền
chưa đủ điều kiện để giữ vững sự ổn định lâu dài.
Năm 944 Ngô Quyền mất, người em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi,
tự xưng là Bình Vương. Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập đã
bỏ trốn lên đất Trà Hương (Hải Dương). Mâu thuẫn trong dòng họ thống trị
nảy sinh. Năm 950 Ngô Xương Văn - em trai Ngô Xương Ngập, đã nhân dịp
cầm quân đi đàn áp cuộc nổi dậy của các thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình đã
quay về kinh đô bắt Dương Tam Kha, giành lại chính quyền và đón anh trai

về cùng lo việc nước. Cũng từ đây nội bộ nhà Ngô lục đục và mâu thuẫn nhau
tạo điều kiện cho các thổ hào, thứ sử địa phương nổi dậy, mộ quân, làm chủ
vùng mình trấn trị, tách khỏi chính quyền trung ương. Đất nước rơi vào tình
trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên 12 vùng đất biệt lập do 12 thủ lĩnh đứng đầu
mà sử cũ gọi là 12 sứ quân.
Cùng thời gian này, ở Trung Quốc nhà Tống thành lập, chấm dứt thời kì
“ngũ đại thập quốc” và bắt đầu mở rộng thế lực xuống phía Nam. Nguy cơ
ngoại xâm lại xuất hiện và đe dọa.
Đất nước đứng trước một thử thách lớn. Từ đất Hoa Lư (Ninh Bình) nổi
lên người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh.


21
Đinh Bộ Lĩnh là người làng Đại Hữu (huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình)
là con trai của thứ sử Đinh Công Trứ. Thuở nhỏ sống với mẹ ở Đàm Gia,
thường cùng lũ trẻ chăn trâu trong vùng chơi trò đánh nhau, lấy bông lau làm
cờ. Nhờ có tài chỉ huy, lại có chí lớn nên được bạn bè kính phục. Lớn lên vào
lúc nhà Ngô suy, ông đã cùng các bạn thân thiết như Đinh Điền, Nguyễn Bặc
tổ chức lực lượng, rèn vũ khí và chiếm giữ vùng đất Hoa Lư. Nhân dân địa
phương cũng suy tôn và ủng hộ ông nhiệt liệt.
Từ đầu những năm 50 của thế kỷ X, thanh thế của quân ông đã nổi, khiến
Nam Tấn Vương lo sợ, đem quân đến đánh. Nhờ sức chiến đấu quyết liệt và sự
ủng hộ của nhân dân, Đinh Bộ Lĩnh đã buộc Nam Tấn Vương phải rút quân.
Nhà Ngô đổ, tình hình đất nước rối loạn. Đinh Bộ Lĩnh quyết định tiến
quân đánh các sứ quân. Để tăng thêm lực lượng, ông đã liên kết với sứ quân
Trần Lãm, sau đó chiêu dụ được sứ quân Phạm Phòng Ất, rồi tiến ra Giao
Châu. Các sứ quân lần lượt bị đánh bại hoặc xin hàng.
Đến cuối năm 967, Đất nước trở lại thống nhất, yên bình.
Năm 968, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (tức
Đinh Tiên Hoàng) đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Mùa xuân

năm 970 tiến thêm một bước, Đinh Bộ Lĩnh bỏ không dùng niên hiệu của nhà
Tống. Một quốc gia độc lập có quốc hiệu, có nhà nước riêng do Hoàng đế
đứng đầu đã được xác lập.
Năm 978, Đinh Tiên Hoàng lập con nhỏ là Hạng Lang làm Thái tử,
phong con thứ là Toàn làm Vệ vương. Đinh Liễn là con trai đầu, đã từng có
nhiều công lao trong sự nghiệp đánh dẹp 12 sứ quân, dựng nên triều đại mới,
chỉ được phong Nam Việt vương. Không chấp nhận điều đó, Đinh Liễn cho
người ngầm giết Hạng Lang. Sự việc chưa có gì đổi mới thì cuối năm 979,
nhân một bữa tiệc rượu trong cung của hai cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh
Liễn, một viên quan hầu tên là Đỗ Thích đã ám hại cả hai. Đỗ Thích bị bắt


22
giết. Triều thần đưa Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi. Thập đạo tướng quân
Lê Hoàn được cử làm phụ chính. Vì nghi ngờ Lê Hoàn có ý định cướp ngôi,
các tướng cũ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đã
đưa quân về kinh định giết ông. Cuộc chiến xảy ra, Đinh Điền, Nguyễn Bặc,
Phạm Hạp đều bị giết.
Giữa lúc đó thì nhà Tống, nhân sự kiện Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn
bị ám hại, quyết định đem quân sang xâm lược Đại Cồ Việt. Trước nguy cơ
ngoại xâm đang đến gần, bà Thái hậu họ Dương - mẹ đẻ của Đinh Toàn đã cử
Lê Hoàn làm tổng chỉ huy quân đội, chuẩn bị cuộc kháng chiến. Trong buổi
hội triều bàn kế hoạch chống giặc, dựa vào đề nghị của các tướng lĩnh, Thái
hậu Dương Vân Nga đã khoác áo long cổn lên mình Lê Hoàn và mời ông lên
ngôi vua.
Lê Hoàn là người Xuân Lập (Thọ Xuân - Thanh Hoá), quê gốc ở Thanh
Liêm (Hà Nam), cha mẹ mất sớm, được một viên quan họ Lê nuôi. Lớn lên,
ông theo giúp Đinh Liễn, lập nhiều công trạng, khi nhà Đinh thành lập, ông
được phong chức Thập đạo tướng quân.
Nhà Lê thành lập (sau gọi là Tiền Lê). Lê Hoàn (tức Lê Đại Hành) giữ

nguyên bộ máy tổ chức nhà nước của thời Đinh với kinh đô Hoa Lư.
Triều đình trung ương do vua đứng đầu, nắm mọi quyền hành về dân sự
cũng như quân sự. Dưới vua là các chức quan văn, võ, về sau Lê Hoàn đặt
thêm các chức thái sư, đại tổng quản, thái uý, tả và hữu điện tiền chỉ huy sứ,
chỉ hậu v.v... Đặc biệt ở thời Đinh - Tiền Lê còn có một bộ phận tăng quan với
các tăng thống, sùng chân uy nghi v.v... Lê Hoàn đã dùng một vị đại sư làm
quốc sư (Ngô Chân Lưu) vừa phụ trách việc quản lí đạo Phật vừa làm cố vấn
cho nhà vua.
Hệ thống các đơn vị hành chính và chính quyền địa phương cũng được
tổ chức đầy đủ. Ban đầu cả nước được chia làm 10 đạo. Năm 1002, Lê Hoàn
đổi 10 đạo thành lộ, dưới có phủ, châu. Các lộ, châu đều có quản giáp, thứ sử,


23
trấn tướng... trông coi. Thời Tiền Lê, nhằm bảo vệ quyền lực của dòng họ, nhà
vua đã cử các hoàng tử trông coi các châu về tất cả các mặt. Trừ các nhà sư,
quan lại trong ngoài triều hầu hết là võ tướng.
Nhà Đinh - Tiền Lê rất chú trọng xây dựng quân đội. Ở kinh thành có
một đạo cấm quân gồm khoảng 3000 người. Đạo quân này chủ yếu làm nhiệm
vụ bảo vệ hoàng thành và các vua quan. Bên cạnh đó còn có một đạo quân Tứ
sương, canh giữ các cổng thành.
Chế độ ngụ binh ư nông được thực hiện để nhà nước có được một lực
lượng quân sự lớn khi cần. Lực lượng này gồm 10 đạo, mỗi đạo gồm 10 quân,
mỗi quân gồm 10 lữ, mỗi lữ gồm 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người.
Nếu đúng như vậy, nhà Đinh - Tiền Lê đã từng có đến 100 vạn quân. Quân sĩ
đều được trang bị quần áo, mũ da bốn bề khâu giáp nhau lại, trên hẹp, dưới
rộng, chóp phẳng và có vũ khí đầy đủ : cung, nỏ, giáo mác, lao, gậy, mộc bài.
Thuỷ quân gồm nhiều chiến thuyền, trang bị đầy đủ. Với những tướng lĩnh có
nhiều kinh nghiệm, quân đội của nhà Đinh - Tiền Lê đã hoàn thành tốt nhiệm
vụ giữ vững an ninh đất nước và chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Trong buổi đầu xây dựng và củng cố một đất nước vừa thống nhất lại sau
nhiều năm rối loạn và một nhà nước quân chủ tập quyền mới thành lập, nhà
Đinh - Tiền Lê rất coi trọng luật pháp. Những hành động chống lại nhà nước
trung ương, phá hoại trật tự an ninh xã hội v.v... đều bị trừng trị nặng. Luật
pháp thành văn chưa có điều kiện soạn thảo và ban hành, nhưng như sử cũ ghi
lại : “Vua (chỉ Đinh Tiên Hoàng) muốn lấy uy thế để ngự trị thiên hạ mới đặt
vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong cũi, hạ lệnh rằng: người nào trái
phép sẽ phải chịu tội bỏ vào vạc dầu nấu hay cho hổ ăn. Mọi người sợ phục
không dám trái” [28, tr.154]. Thời Tiền Lê, nhà vua thường tùy tiện xét xử.
Theo sứ nhà Tống là Tống Cảo, bấy giờ “tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc
đánh từ 100 đến 200 roi, bọn giúp việc ai hỏi có điều gì trái ý cũng đánh 30


24
hay 50 roi, truất làm tên gác cổng khi hết giận lại gọi về làm chức cũ”. Năm
1002, vua Lê “định luật lệnh”, tiếc rằng sách xưa không còn nên không có
thông tin cụ thể . Theo nhà sử học thế kỉ XIX là Phan Huy Chú thì : “Thời cổ
làm việc chỉ có quy chế” [3, tr.94]. Có thể nghĩ rằng, bấy giờ hình pháp nói
chung hà khắc, việc xét xử ở trung ương chủ yếu do vua định đoạt, còn ở địa
phương thì do các quan trông coi quyết định. Luật tập quán còn thịnh hành.
Nhìn chung, nhà nước Đinh -Tiền Lê tuy đã tiến một bước quan trọng
trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc, nhưng vẫn còn rất đơn giản,
thể hiện sự quá độ sang một thời kỳ phát triển ổn định theo hướng phong kiến
hoá ngày càng vững chắc và mang đậm ý thức dân tộc.
1.2.1.2. Quan hệ chính tri giữa nước Việt và Trung Hoa
Có thể nói rằng, cơ chế của chế độ phong kiến Trung Hoa vốn chứa đựng
những nhân tố tạo nên chủ nghĩa bành trướng có nguồn gốc sâu xa trong
quan hệ kinh tế xã hội, trong quá trình hình thành và phát triển quốc gia
của nó và đã trở thành một đặc trưng nổi bật trong suốt quá trình lịch sử
chế độ phong kiến Trung Hoa.

Tham vọng mở rộng lãnh thổ không chỉ đối với các vương triều thống
nhất, mà ngay cả khi phân liệt, trong từng thế lực phong kiến cát cứ ở các địa
phương xa, trong đó có dân tộc Việt. Song người Việt phương Nam đã anh
dũng đứng lên tự mình giành được độc lập.
Đây là một kết quả của một quá trình rất bền bỉ và quyết liệt, rất sôi động
và sâu lắng, về chính trị cũng như quân sự, về xã hội cũng như văn hóa. Một
quá trình dứt khoát tự khẳng định mình và giành cho mình một chỗ đứng
riêng dưới bầu trời này. Quá trình đó đến thế kỷ X thì đủ độ chín để tự đứng
vững, nhưng đồng thời cũng hoàn toàn thích hợp với thời điểm của điều kiện
bên ngoài. Nói cách khác là đã tranh thủ được thời cơ.
Từ nhà Tống (năm 906) trở về sau, những cuộc xung đột của các thế lực
phong kiến chưa phải là hết, nhưng xu hướng phân biệt giảm hẳn (không kể do


25
tác động của ngoại tộc), lãnh thổ căn bản được xác định. Chính quyền phong
kiến cũng tập trung ra sức củng cố quyền lực trên toàn lãnh thổ và luôn tìm cách
tiếp tục mở rộng thêm. Sau năm 960, Trung Hoa chỉ có thêm đất sát nhập, chứ
không còn lãnh thổ thoát ly.
Trong khoảng thời gian biến động và chia rẽ của Trung Hoa, trong
khoảng 53 năm (từ năm 906 - 960), thì năm 905 và năm 938 diễn ra như một
sự kiện kỳ diệu đối với người Việt. Điều đó gợi nhớ lại sự kiện nhà nước Vạn
Xuân (năm 542 - 602), Lý Bí đã chọn đúng một thời điểm tốt để phất cờ khởi
nghĩa. Nhưng bấy giờ tự ta chưa đủ mạnh, mà chế độ phong kiến Trung Hoa
còn đang phát triển, trong đó nhà Đường có một vị trí quan trọng trong lịch sử
Trung Hoa, như mốc đánh dấu một thời điểm cực thịnh và hoàn chỉnh về mọi
mặt. Lý Bí và những người kế tục ông cuối cùng đã thất bại. Trong khi đó
Khúc Thừa Dụ nổi lên từ năm 905, không phải không có những bước thăng
trầm, nhưng “thế” là thế đi lên, thắng lợi ngày càng được củng cố.
Về phía Trung Hoa từ nhà Tống trở đi, nói chung chính quyền thống nhất

được duy trì, nhưng chế độ phong kiến đã có những biểu hiện bắt đầu suy
thoái. Nhưng tham vọng của Trung Hoa không phải vì thế đã mất hẳn. Nhà
Tống mới lên, vừa hoàn thành việc chinh phục lại các đối thủ phong kiến của
mình và thống nhất Trung Hoa vào năm 979, thì hai năm sau đã đưa quân
đánh nước Việt. Nhưng bấy giờ quốc gia Đại Cồ Việt đã được xây dựng, Hoa
Lư được chọn làm kinh đô, với một tinh thần cảnh giác cao, quân Tống đã bị
thất bại thảm hại. Nguyên nhân thắng lợi của người Việt lần này là do tài đức
của Lê Hoàn cùng với tinh thần của nhân dân, nhưng cũng có cả thế yếu của
quân Tống. Vì vậy, Đại Cồ Việt có điều kiện trong hàng trăm năm củng cố và
phát triển thành một quốc gia hùng mạnh. Như thế thật dễ thấy, sợi dây nối
liền năm 905 (Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa ở Hải Hưng), năm 938 (Ngô Quyền
đánh thắng quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng), năm 968 (Đinh Tiên Hoàng


×