Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

tiểu luận kinh tế phát triển giải pháp xóa đói giảm nghèo ở khu vực tây nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (90.6 KB, 15 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam nước ta là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng từ điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt đến lịch sử hình thành trải qua bao cuộc chiến tranh, sống
trong cảnh nô lệ hàng ngàn năm trở về trước. Đi lên từ hai bàn tay trắng, các nhà
lãnh đạo cùng nhân dân đã nỗ lực từng ngày tuy nhiên do xuất phát điểm của đất
nước ta đã thấp hơn rất nhiều so với những quốc gia khác, kéo theo đó là vấn
nạn đói nghèo còn tập trung ở một số vùng, lãnh thổ của Việt Nam ta nên sự cố
gắng cần phải dành nhiều thời gian và công sức hơn nữa mới có thể sánh kịp
cùng với sự phát triển chung của toàn thế giới.
Ngày nay, để vươn lên trở thành một quốc gia thực sự phát triển, Đảng và
nhà nước ta đã và đang nỗ lực không ngừng, đặc biệt là tìm ra con đường để xóa
bỏ vấn nạn đói nghèo trên cả nước. Nhận thức được tầm quan trọng của việc xóa
đói giảm nghèo, Đảng và nhà nước đã và đang có những chính sách nhằm đưa
vấn đề này lên hàng đầu để khắp các vùng miền dân tộc trong một quốc gia có
đầy đủ điều kiện cuộc sống, kết hợp cùng với các chương trình kinh tế-chính trịxã hội khác nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong năm vừa qua, Chính phủ đã có rất nhiều chương trình, dự án để đầu tư cho
vùng sâu vùng xa , vùng đặc biệt khó khăn, nhất là ở khu vực Tây nguyên, Là
vùng khó khăn thứ hai của Việt Nam, nơi dân cư đa số là người đồng bào dân tộc
thiểu số, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, thiếu thông tin quan
trọng về sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường . Cho nên đời sống còn
gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội trên
địa bàn Tây Nguyên đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, nhưng đời sống
của cộng đồng dân cư tại chỗ hiện vẫn còn nhiều khó khăn, sự phân cực giàu
nghèo giữa các cộng đồng dân cư đang ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, cùng với
tình hình chính trị-xã hội bất ổn định, thế nên cái nghèo cái đói vẫn đang đeo
bám lấy người dân nơi đây từng ngày. Việc nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt
cho mảnh đất này cũng phần nào sẽ tạo động lực và cơ hội cho những vùng
nghèo lân cận phát triển.
Nhận thức được tầm quan trọng của công cuộc xóa đói giảm nghèo, và
cùng với mong muốn đất nước ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh để sánh
vai với các cường quốc năm châu.Đó chính là mục đích khiến chúng em đã chọn


đề tài “Nghèo đói và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở khu vực Tây Nguyên”. Với
mong muốn tìm hiểu được một phần nào đó về thực trạng đói nghèo ở Tây
Nguyên mà đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số để thấy được kết quả đã
đạt được và những yếu kém cần khắc phục trong quá trình thực hiên công tác
xóa đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước ta. Từ đó đề ra những giải pháp để
nâng cao hiểu quả của công tác xóa đói giảm nghèo.
Trong quá trình thực hiện đề tài sẽ không tránh khỏi những sai phạm và
những thiếu sót trong quá trình tìm hiểu và tìm kiếm thông tin, chúng em rất
mong nhận được sự quan tâm và góp ý của thầy cô để đề tài của chúng em được
hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3


CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM NGHÈO ĐÓI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG KINH TẾ, CHÍNH
TRỊ, XÃ HỘI
1.

Khái niệm về nghèo đói

Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập
thấp do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hằng ngày
của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn
thương trước những mất mát.
Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa.
Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ
gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có
thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ,
sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất.
Hội nghị chống nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do

ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa như
sau: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa
phương.
Nghèo được nhận diện qua hai khía cạnh nghèo đói tuyệt đối và nghèo
đói tương đối.
1.1. Nghèo tuyệt đối
Nghèo đói tuyệt đối là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không
được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở,
được chăm sóc sức khoẻ, được giáo dục cơ bản và được hưởng các nhu cầu
cần thiết khác) mà những nhu cầu đó được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước.
Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập
của World Bank đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia.

4


Bảng tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank.
Khu vực

Mức thu nhập tối thiểu (usd/người/ngày)

Các nước đang phát triển khác

1USD hoặc 360 USD/năm

Châu Mỹ Latinh và Caribe


2

Đông Âu

4

Các nước phát triển

14.4

Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình
dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do
đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.
Theo quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng
cho giai đoạn 2016 – 2020 , số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ , tiêu
chuẩn nghèo của Việt Nam trong thời kỳ 2016 – 2020 được trình bày trong bảng
sau:
Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam 2016 – 2020.

Khu vực

Tiêu chuẩn nghèo đói
Mức thu nhập/ Người/tháng

Thành thị

900.000 đồng

Nông thôn


700.000 đồng

Như vậy, tiêu chuẩn của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với World
Bank (135,65<360 USD/người/năm).

5


1.2.

Nghèo tương đối

Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình
thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm
cụ thể và thời gian nhất định.
Như vậy, nghèo đói tương đối được xác định trong mối tương quan xã
hội về tình trạng thu nhập với nhóm người. Luôn luôn tồn tại nhóm người có
thu nhập thấp nhật trong xã hội, do đó cũng theo khái niệm này thì người
nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào.
2. Tác động của nghèo đói đến đời sống kinh tế – chính trị – xã hội
2.1. Về kinh tế
Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là sự trở ngại lớn đối với
phát triển. Nói cách khác là, xoá đói, giảm nghèo là tiền đề của sự phát triển.
Sự phát triển kinh tế – xã hội vững chắc gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội là nhân tố bảo đảm thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Có thể nói công tác xoá đói giảm nghèo và công cuộc phát triển kinh tế
xã hội có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ và tác động lẫn nhau. Ở đây ta đề
cập đến những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của nghèo đói đối với đời sống
kinh tế– xã hội, để từ đó, có thể nhận thức được tầm quan trọng và thực hiện
tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo đem lại thành tưu cho phát triển kinh tế

xã hội.
Nghèo đói làm lực lượng sản xuất chậm phát triển, kỹ thuật lạc hậu,
phân công lao động xã hội có trình độ thấp kém, dẫn đến năng suất lao động
và tăng trưởng kinh tế luôn ở mức thấp.Thiếu thu nhập cho chi dùng vật chất
tối thiểu, nhu cầu văn hoá tinh thần dẫn đến thiếu điều kiện tái sản xuất lao
động xã hội, từ đó thiếu nguồn nhân lực có chất lượng, tỷ lệ thất nghiệp tăng
cao vì lao động khiếm khuyết về mọi mặt (trình độ chuyên môn, trình độ văn
hoá, thể lực, kinh nghiệm…).
Nước nghèo luôn thua thiệt trong cạnh tranh kinh tế khi sản phẩm làm
ra chất lượng thấp, giá thành cao, hàng xuất khẩu hầu hết là sản phẩm thô, lợi
nhuận thấp. Nước nghèo tăng trưởng kinh tế với tốc độ rất chậm nên không có
vị thế trong đàm phán và ký kết với các nhà đầu tư nước ngoài.Từ đó, nước
nghèo trở nên bị lệ thuộc và thua thiệt về kinh tế, tiếng nói và vai trò của nước
nghèo trên diễn đàn quốc tế ít được chú ý.

6


2.2.

Về văn hoá

Từ nghèo đói về kinh tế dẫn đến nghèo đói về văn hoá. Nguy cơ này rất
tiềm tàng và là chướng ngại đối với sự phát triển toàn diện không chỉ từng
người, từng gia đình mà cả cộng đồng, kìm hãm sự phát triển của toàn xã hội.
Thứ nhất, do nghèo đói , thiếu thu nhập mà người nghèo chỉ quan tâm
chủ yếu đến các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở. cho nên thiếu sự quan tâm,
thiếu điều kiện để tiếp cận tới các dịch vụ văn hoá, giải trí, các chương trình
biểu diễn văn nghệ. Từ đó, đời sống tinh thần nghèo nàn, giảm sút. Giáo dục ít
được các gia đình chú trọng, con em họ buộc phải nghỉ học để đi làm tạo thu

nhập cho gia đình.
Thứ hai, cũng vì nghèo nên mục tiêu phấn đấu là đạt tới sự giàu có.
Nhưng sự giàu có chỉ đơn thuần về vật chất, kinh tế mà thiếu đi sự quan tâm về
văn hoá, tinh thần, sẽ dẫn tới nguy cơ lao vào lối sống thực dụng, sùng bái đồng
tiền, tăng nguy cơ phát triển cái ác, cái xấu, làm nghèo nàn, biến dạng cái chânthiện-mỹ. Nếu tình trạng này xảy ra cho giới trẻ thì nó sẽ tạo ra một lớp người
lố lăng, lai-căng, nghèo nàn, cằn cỗi về văn hoá và nhân cách.
Do đo, trong quá trình thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo phải chú
trọng đến nguy cơ và tai hại của đói nghèo về văn hoá
2.3. Về chính trị – xã hội
Nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt xã hội và chính
trị, từ đó tác động xấu trở lại đến kinh tế. Nghèo đói làm con người lâm vào ngõ
cụt, từ đó phát sinh ra những trộm cắp cướp, cướp giật, ma tuý, mại dâm… đạo
đức bị suy đồi, an ninh xã hội không được đảm bảo và đến một mức độ sẽ dẫn
đến rối loạn xã hội. Đói nghèo không được chú trọng giải quyết, tỷ lệ và cấp độ
nghèo đói tăng cao, người nghèo sẽ bất mãn với chế độ, chính quyền, từ đó sinh
ra bạo loạn… dẫn đến khủng hoảng chính trị, trật tự an toàn xã hội không được
đảm bảo.
Có thể nói rằng, nghèo đói và lạc hậu là hai bạn đồng hành, là xiềng xích
trói buộc các nước nghèo, là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay mà mỗi
quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế phải hợp lực cùng giải quyết.

7


CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI Ở TÂY NGUYÊN
1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - chính trị - xã hội của Tây Nguyên
1.1.Đặc điểm tự nhiên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông
giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình
Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh

Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có
biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk
Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có
đường biên giới quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5
tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng khoảng 54.7 nghìn km².
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một
loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, Kon
Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku cao khoảng 800 m, M'Drăk cao khoảng 500 m,
Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800–1000 m, Lâm
Viên cao khoảng 1500 m và Di Linh cao khoảng 900–1000 m. Tất cả các cao
nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao
chính là Trường Sơn Nam.
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu
vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia
Lai), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam
Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên có độ cao thấp
hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ Bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m
so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như Cà
phê, Ca cao, Hồ tiêu, Dâu tằm. Cây điều và cây Cao su cũng đang được phát
triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây
Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ và đang tiến
hành khai thác mỏ quặng Bô xít. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn
nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú
hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái
nhà của Miền Trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng,
hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chặn
được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường,
sinh thái.
8



Số lượng sông hồ ở Tây Nguyên rất hạn chế và hầu hết các sông hồ đều trở
nên cạn kiệt vào mùa khô. Do vậy nguồn cung cấp nước là một vấn đề khó khăn
cho vùng này
Nói tóm lại, điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên hứa hẹn nhiều tiềm năng cho
phát triên kinh tế. Tuy nhiên, Tây Nguyên cũng đang rất cần sự đầu tư và chính
sách phát triền kinh tế xã hội.
1.2.Tình hình kinh tế - xã hội của Tây Nguyên hiện nay
1.2.1.Những thành tựu đạt được
Kinh tế Tây Nguyên trong những năm qua duy trì tăng trưởng ở mức cao
và có sự chuyển dịch theo hướng tích cực.
Trong năm 2017 tổng giá trị sản phẩm GRDP của các tỉnh Tây Nguyên đạt
trên 165.472 tỷ đồng, tăng 8,09%; trong đó, lĩnh vực nông, lâm, thủy sản tăng
5%, công nghiệp xây dựng tăng gần 11%, dịch vụ tăng gần 10%, cơ cấu GRDP
chuyển dịch theo hướng tích cực (giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản,
tăng khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ). Thu nhập bình quân đầu người
năm 2017 của các tỉnh Tây Nguyên đạt trên 41,6 triệu đồng, tăng 5,02% so với
năm 2016.
Sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Tây Nguyên phục hồi nhanh sau hạn
hán, bão lũ, tập trung đầu tư hình thành nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao gắn với chế biến, tiêu thụ. Đồng bào các dân tộc ở Tây
Nguyên cũng đã linh hoạt chuyển đổi diện tích sản xuất, cơ cấu cây trồng, áp
dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động.
Hiện nay, Tây Nguyên là vùng trọng điểm sản xuất cà phê, hồ tiêu của cả
nước; trong đó, diện tích cà phê 582.149 ha (diện tích cho thu hoạch là 548.533
ha), sản lượng đạt trên 1,370 triệu tấn cà phê nhân, cây hồ tiêu có tổng diện tích
trên 71.000 ha, sản lượng đạt trên 120.877 tấn tiêu hạt…
Sản xuất nông nghiệp của Đắk Lắk tiếp tục phát triển, giữ vai trò quan
trọng trong ổn định kinh tế, góp phần chủ yếu trong việc duy trì tốc độ tăng

trưởng kinh tế địa phương. Cụ thể, giá trị tổng sản phẩm nông, lâm, thủy sản của
Đắk Lắk đạt trên 19.468 tỷ đồng, tăng 4,25% so với năm 2016. Tổng diện tích
gieo trồng đạt 648.126 ha, tăng 10% so với kế hoạch, tổng sản lượng lương thực
đạt trên 1,2 triệu tấn, đạt 107%, tăng 71.865 tấn so với năm 2016, cây lâu năm
đạt 317.478 ha, tăng 13% so với năm ngoái. Đắk Lắk là địa phương có diện tích,
sản lượng cà phê, hồ tiêu nhiều nhất cả nước với diện tích cà phê là 202.476 ha,
9


sản lượng đạt trên 450.000 tấn cà phê nhân; hồ tiêu 42.563 ha, sản lượng đạt
62.478 tấn tiêu hạt…
Ngành chăn nuôi của các tỉnh Tây Nguyên cũng đã có những bước chuyển
rõ rệt, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang
trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế. Công
tác trồng mới rừng tập trung, tu bổ, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, giao khoán,
quản lý bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Công nghiệp của các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục phát triển, nhiều sản phẩm
chủ lực tăng khá, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2.662 triệu USD, tăng 22,71% so
với năm 2016, thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra, tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội tăng 15,8% so cùng kỳ năm ngoái. Cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bước
đầu phát huy hiệu quả. Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có gần 23.330 doanh
nghiệp đang hoạt động, tăng 14,9% so với năm 2016. Các tỉnh Tây Nguyên cũng
thu hút được 235 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 103.357 tỷ
đồng, 9 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, với tổng số vốn 109,9 triệu
USD…Các tỉnh Tây Nguyên cũng thực hiện tốt chính sách dân tộc, nhất là tập
trung hỗ trợ thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo.
Công tác giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa xã hội trên địa bàn Tây Nguyên
đã có những chuyển biến tích cực. Trong đó, trên 99% số thôn, buôn có nhân

viên y tế, có gần 7,6 bác sĩ/1 vạn dân, 61,4% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế
xã…
Về văn hóa- thông tin, tập trung vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở
buôn làng, đầu tư nghiên cứu, sưu tầm sử thi, văn học dân gian, biên soạn luật
tục của các dân tộc, bảo tồn các buôn làng cổ truyền, khôi phục nhà rông, nhà
dài,…Đặc biệt không gian văn hóa cồng chiêng đã được UNESCO công nhận là
“ Tuyệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”. Hiện nay toàn vùng
có hơn 1100 điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng buôn làng, 780 nhà rông văn hóa,
trên 2000 điểm bưu điện văn hóa xã.
1.2.2.Những mặt còn hạn chế
Cũng theo đánh giá của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tăng
trưởng kinh tế của vùng Tây Nguyên vẫn còn thấp so với tiềm năng, lợi thế vốn
có, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu phát
triển theo chiều rộng, chưa tạo được gắn kết giữa doanh nghiệp với người sản
10


xuất, giữa sản xuất với chế biến, tiêu thụ, tạo nên chuỗi giá trị sản phẩm, giá cả
một số mặt hàng chủ lực không ổn định, giảm mạnh, đã tác động lớn đến sản
xuất nông nghiệp…
2.Tình hình nghèo đói ở Tây Nguyên
Tính đến năm 2014, tại các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn 158.486 hộ nghèo
(chiếm 12,56%) và 87.497 hộ cận nghèo (chiếm 6,93%). Trong đó, hộ nghèo dân
tộc thiểu số là 133.700 hộ, chiếm 27,36%.
Vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay là tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân
tộc thiểu số vùng Tây Nguyên chiếm tỷ lệ cao. Một bộ phận cận nghèo, tiệm cận
với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao, hàng năm tỷ lệ tái nghèo và phát
sinh hộ nghèo mới khoảng 1/3 số hộ nghèo nên giảm nghèo chưa thực sự bền
vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư, nhất là các huyện, xã
tỷ lệ nghèo còn cao, ngày càng có xu hướng tăng lên.

Với mục tiêu, yêu cầu và nguồn lực hiện nay, công tác giảm nghèo vẫn
còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt với vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu
số.
Mục tiêu giảm nghèo thời gian qua còn những tồn tại là triển khai chậm và
thiếu đồng bộ đã làm hạn chế đến kết quả thực hiện mục tiêu, đồng nghĩa với
việc kéo dài quá trình thực hiện. Thời gian tới, các tỉnh vùng Tây Nguyên cần
chủ động hơn nữa trong việc triển khai thông tin phối hợp để khắc phục được
hiện tượng triển khai chậm và thiếu đồng bộ. Tránh các trường hợp ban hành
chính sách không phù hợp, chồng chéo như tự nhận định của các tỉnh để tăng
cường sức mạnh trong việc thực hiện chủ trương giảm nghèo.
Hiện nay, kết quả giảm nghèo ở các tỉnh vùng Tây Nguyên chưa vững
chắc, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp.
Nhất là khu vực các huyện vùng miền núi Tây Nguyên. Bên cạnh đó, các tỉnh
trong khu vực Tây Nguyên có quá nhiều chính sách giảm nghèo dẫn đến nguồn
lực bị phân tán, hiệu quả tác động đến đối tượng thụ hưởng chưa cao. Các chính
sách giảm nghèo đã ban hành và thực hiện trong thời gian qua thường thiên về
các chính sách hỗ trợ trực tiếp, mang tính trợ cấp, giải quyết khó khăn trước mắt
cho hộ nghèo. Điều đó là hoàn toàn đúng đắn và có thể nói là tạo dựng nền tảng
cho quá trình thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

11


CHƯƠNG II: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1. Phương hướng và nhiệm vụ
Để phát triển hài hòa giữa thành thị với nông thôn; hộ giàu và hộ nghèo
từng bước thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng trong
Tỉnh. Tây nguyên đưa ra những nhiệm vụ cơ bản như sau:


Theo mục tiêu chung cả nước, Tây nguyên phấn đấu đến năm 2020:



















Tỷ lệ hộ nghèo giảm dưới 7%
Tỷ lệ người biết chữ 100%
Được dùng nước sạch 100%
Được xem chương trình đài truyền hình Việt Nam 100%

Các ngành chức năng, địa phương vùng Tây Nguyên kiểm tra việc triển
khai thực hiện Quyết định 686 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp, đổi
mới nông, lâm trường quốc doanh.
Tiếp tục đề xuất chủ trương xây dựng cơ chế đặc thù nhằm huy động các
nguồn vốn phục

Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ bổ sung vốn Trái phiếu Chính phủ đầu tư nâng cấp các tuyến
quốc lộ, công trình giao thông trọng yếu… vụ kết nối hạ tầng giao thông
Triển khai mô hình thử nghiệm cơ chế, chính sách liên kết vùng đối với
một số lĩnh vực, ngành hàng ở Tây Nguyên
Xây dựng văn hóa cơ sở và triển khai có hiệu quả dự án chăm sóc sức
khỏe nhân dân
Phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban
hành chính sách mới về phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề các tỉnh Tây
Nguyên và các huyện miền núi giáp Tây Nguyên
Tăng cường làm tốt hơn nữa công tác đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện
chính sách đối với gia đình có công, chăm lo công tác đào tạo nghề cho
lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững ở
các địa bàn đặc biệt khó khan
Giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất, cho các hộ đồng bào dân tộc
thiểu số thiếu đất
Đề xuất tăng định mức cấp đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số,
giải quyết hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương với bảo
đảm đất đai
12




Tập trung chỉ đạo việc củng cố, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị
cơ sở, trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng,
bộ máy chính quyền cấp xã đủ sức lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế,
xã hội, bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn…

2.

Những biện pháp chủ yếu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Tây
Nguyên
2.1. Huy động nguồn vốn đầu tư cho người nghèo.
Tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài
nước, các nguồn viện trợ của các tổ chức thế giới để phát triển sản xuất, kinh
doanh, tạo công ăn việc làm cho người dân, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho
đồng bào các dân tộc. Triển khai công tác xúc tiến và đầu tư để tận dụng các
nguồn vốn, áp dụng linh hoạt các chính sách thuế, tạo môi trường kinh doanh
hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ đói nghèo trong dân cư.
2.2. Xây dựng con người Tây Nguyên mới có đủ khả năng thực hiện xoá đói
giảm nghèo hiệu quả từ người dân đến cán bộ quản lí.
Xây dựng con người mới ở Tây Nguyên là cải tạo và xây dựng con người
Tây Nguyên từ chỗ còn bảo lưu nhiều tàn tích của xã hội manh nha có giai cấp,
với hoạt động kinh tế còn mang nặng tính tự nhiên, tự cấp tự túc, lệ thuộc chặt
chẽ vào rừng, sang con người có đủ tri thức về kinh tế, xã hội và khoa học - kỹ
thuật mới từng bước làm chủ tự nhiên và có đủ năng lực tự xoá đói giảm nghèo
và triển khai hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo. Trong xây
dựng con người mới, việc quan trọng đầu tiên là đẩy mạnh công tác bồi dưỡng
và đào tạo cán bộ. Sự thành công hay thất bại của các hoạt động kinh tế - xã hội
suy cho cùng là do con người, đội ngũ cán bộ địa phương quyết định, như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn
việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
2.3. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ
giáo dục, y tế, văn hóa bảo vệ môi trường nâng cao đời sống cho người dân.
Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ điện - đường - trường - trạm, khắc phục
tình trạng thiếu điện, thiếu nước sinh hoạt, thiếu thuốc chữa bệnh, không có y
bác sĩ đủ trình độ chuyên môn khám bệnh cho người dân. Phát triển đồng bộ cơ
sở vật chất tại trường học, trạm xá, bệnh viện phù hợp với nhu cầu của người
dân. Kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả các chương trình xóa đối giảm nghèo với
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sống cho người dân.

13


2.4. Hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất
kinh doanh cho người nghèo.
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới
cho người dân. Tăng số lượng cán bộ khuyến nông khuyến lâm xuống địa
phương hỗ trợ người dân. Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ
để có năng lực thực tiễn, chuyên môn, hiểu được phong tục tập quán canh tác
của người dân để hướng dẫn kỹ thuật canh tác, chăm sóc cây trồng vật nuôi cho
người dân. Thường xuyên tổ chức tập huấn kỹ thuật mới, tham quan học tập các
mô hình có hiệu quả để đồng bào được biết, khuyến khích đồng bào vươn lên
thoát nghèo.
2.5. Tạo điều kiện để các dân tộc tại chỗ và các dân tộc mới đến học hỏi lẫn
nhau trong quá trình xoá đói giảm nghèo.
Có định hướng và giải pháp cụ thể để khắc phục tác động tiêu cực và phát
huy tác động tích cực của bộ phận cư dân mới đến, trong đó, đáng chú ý là: Trả
lời thoả đáng các câu hỏi đưa ai đến, đến làm gì và đến bao nhiêu là đủ; tổ chức
cho các làng mới đến và tại chỗ giao lưu, kết nghĩa với nhau để người dân mới
đến giúp đỡ người dân tại chỗ trong mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kỹ thuật sản
xuất và phát triển kinh tế. Tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, cùng nhau
học hỏi, cùng nhau phát triển để giảm đói nghèo.
2.6.

Khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất.
Chú ý là giao đất, giao rừng cho buôn làng, cấp đất cho người dân tại chỗ
thiếu đất bằng những nguồn khác nhau, tránh tình trạng mâu thuẫn, tranh giành
vì thiếu đất sản xuất nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn,
tiếp tục thu hút lao động tại chỗ vào làm công nhân trong các nông, lâm trường
sản xuất kinh doanh tốt.

2.7. Củng cố, kiện toàn và nâng cao vai trò của bộ máy chính quyền và đoàn
thể cấp xã trong thực hiện xoá đói giảm nghèo.
Ngoài việc củng cố, kiện toàn, cần coi trọng và nâng cao vai trò của hệ
thống chính quyền và đoàn thể cấp xã, trong đó, quan trọng và có ý nghĩa then
chốt là, một mặt thông báo để xã biết và theo dõi toàn bộ các chương trình dự án
xoá đói, giảm nghèo do Nhà nước đầu tư xuống xã, mặt khác, cố gắng đưa
chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo xuống cho xã triển khai thực hiện, coi
xã là đơn vị chủ đầu tư, khắc phục tình trạng đã và đang diễn ra ở một số địa
phương là chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo triển khai tại xã, nhưng
chính quyền, đoàn thể cấp xã không được tham gia và đơn vị chủ đầu tư chỉ là
cấp huyện trở lên.
14


2.8. Tăng cường rà soát, kiểm tra ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo từ tỉnh,
huyện đến cơ sở
Chú ý sắp xếp cán bộ nhiệt tình, có năng lực, có đạo đức phẩm chất tốt
làm công tác xóa đói giảm nghèo. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát làm
tốt công tác sơ kết, tổng kết kịp thời biểu dương những cá nhân, tập thể có thành
tích tốt trong công tác xóa đói giảm nghèo đồng thời phê bình những hành vi sai
trái, ảnh hưởng đến hình tượng người cán bộ trong nhân dân. Nhân rộng những
điển hình tốt về xóa đói giảm nghèo và gắn công tác xóa đói giảm nghèo với việc
phát triển kinh tế, xã hội khác nhằm tạo mối quan hệ tích cực, tác động qua lại,
tạo thành sức mạnh tổng hợp trong việc đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo và thúc
đẩy kinh tế, xã hội vùng phát triển ngang bằng các vùng kinh tế khác trong cả
nước.
2.9. Phối hợp các tổ chức hữu quan trong công tác vận động tuyên truyền
cho người dân
Làm tốt công tác tổ chức, tuyên truyền, hướng dẫn và vận động đồng bào
tích cực tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo. Phối hợp đồng bộ các tổ

chức như hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội thanh niên…trong
công tác tuyên truyền xóa đói giảm nghèo, nâng cao ý thức, tri thức cho người
dân về các chương trình xóa đói giảm nghèo. Lấy các già làng, trưởng bản là lực
lượng xung kích, đầu tàu trong việc thực hiện các chương trình xóa đói giảm
nghèo.

15


KẾT LUẬN
Xóa đói, giảm nghèo toàn diện luôn là vấn đề mà Đảng và nhà nước ta
dành sự quan tâm đặc biệt nhất là trong thời kì đổi mới xã hội, công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Nó thực sự là một vấn đề cấp bách và cần thiết để đưa đất
nước thoát khỏi sự ám ảnh của cái nghèo, tự tin hơn trong công cuộc giao thương
quốc tế.
Đặc biệt, Tây Nguyên, vùng đất với nền kinh tế - xã hội - chính trị phức
tạp, thì công cuộc này càng nên được đẩy mạnh hơn nữa. Đây là một trận chiến
quyết liệt và bền bỉ, đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của tất cả mọi người, hơn hết là
công lao của người dân vùng Tây Nguyên này.
Trên thực tế, trong nhiều năm qua, với việc quán triệt và thực hiện các
đường lối chủ trương này, các tỉnh thuộc Tây Nguyên đã phần nào giải quyết
được nạn đói nghèo, bằng các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, nâng cao hơn
vấn đề sức khỏe và trình độ học vấn cho bộ phận lớn người dân Tây Nguyên.
Theo đại biểu Ksor H’Bơ Khăp, Tây Nguyên trong những năm qua đã có
sự phát triển về kinh tế, xã hội vượt bậc, nhưng sự phát triển chưa kết hợp tốt với
cách giải quyết các vấn đề xã hội, tiềm lực kinh tế của người dân vẫn còn thấp so
với mặt bằng chung cả nước, phát triển kinh tế chưa tích hợp tốt với việc giải
quyết các vấn đề xã hội và đoàn kết các dân tộc, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu, như trên chúng ta đã đề cập rằng
đây là một cuộc chiến đấu dài và quyết liệt, với sự quyết tâm cao và thực hiện

đồng bộ những giải pháp, chính sách, Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói
chung nhất định sẽ thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra mang đầy tính
nhân văn đã cam kết với cộng đồng quốc tế - mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên
đất nước ta.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Luận văn tốt nghiệp các khóa trước
Thời báo kinh tế Việt Nam
Thư viện pháp luật: Mức chuẩn nghèo mới trong giai đoạn 2016 – 2020
World Bank Document and Report
Wikipedia
Báo tin tức: Xóa nghèo căn cơ cho Tây Nguyên
Báo mặt trận: Một số giải pháp giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đối với
các tộc người thiểu số ở khu vực Tây Nguyên hiện nay –Tạp chí Mặt trận ngày
7/5/2019

17




×