Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

tiểu luận kinh tế phát triển tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (334.45 KB, 26 trang )

HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
1.

Một số vấn đề về dân số và tăng trưởng kinh tế
1.1. Dân số
1.1.1. Khái niệm
Dân số là số lượng và chất lượng người trong một đơn vị hành chính hay một quốc gia,

một châu lục hoặc cả hành tinh, … tại một thời điểm nhất định. Dân số của một cộng đồng, một
quốc gia phụ thuộc vào quá trình sinh tử, kết hôn, ly hôn và xuất nhập cư. Dân số luôn bến động
theo thời gian và không gian. Những biến động về dân số có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của
mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
1.1.2. Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay
nhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó).
Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hôn
nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn…Việc
nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số
của một địa phương. Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và
cơ cấu giới tính. Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm
dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức tử, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn
nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh
xã hội.
a. Cơ cấu dân số theo sinh học
* Cơ cấu dân số theo giới
Cơ cấu dân số theo giới biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc mỗi giới
so với tổng số dân, đơn vị tính bằng phần trăm (%).
Tỉ số giới tính =



Cơ cấu dân số theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khu
vực. Thông thường ở những nước phát triển, nữ nhiều hơn nam; ngược lại, ở các nước đang phát
triển, nam nhiều hơn nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chiến
tranh, do tai nạn, do tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam và do chuyển cư. Khi phân
tích cơ cấu theo giới, người ta không chỉ chú ý tới khía cạnh sinh học, mà còn quan tâm tới khía
cạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ.
* Cơ cấu dân số theo độ tuổi
Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất
định. Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình
sinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia. Có hai loại cơ
cấu dân số theo tuổi:
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau: Với loại cơ cấu này, dân số Việt Nam
được phân chia thành ba nhóm tuổi:
+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động: 15 – 55 tuổi với nữ (hoặc đến 60 tuổi với nam)
+ Nhóm trên tuổi lao động: 55 tuổi với nữ (hoặc 60 tuổi với nam) trở lên
Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già hay
trẻ.
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theo
khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm.
Để nghiên cứu cơ cấu sinh học, người ta thường sử dụng tháp dân số – mô hình đồ họa
mô phỏng sự phân bố dân số ở các nhóm tuổi khác nhau (thường của một địa phương, vùng hay
quốc gia nào đó trên thế giới).
+ Kiểu mở rộng (Bốt-xoa-na): đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, cạnh tháp thoai thoải; thể
hiện tỉ suất sinh cao, trẻ em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh.


+ Kiểu thu hẹp (Trung Quốc): tháp có dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và
đỉnh tháp; thể sự chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh, nhóm trẻ em
ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần.

+ Kiểu ổn định (Nhật Bản): tháp có dạng hẹp ở phần đáy và mở rộng hơn ở phần đỉnh;
thể hiện tỉ suất sinh thấp, tỉ suất tử thấp ở nhóm trẻ nhưng cao ở nhóm già, tuổi thọ trung bình
cao, dân số ổn định cả về quy mô và cơ cấu.

b. Cơ cấu dân số theo xã hội
* Cơ cấu dân số theo lao động
Cơ cấu dân số theo lao động cho biết nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vực
kinh tế.
- Nguồn lao động :
Nguồn lao động bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao
động. Hiện nay trên thế giới có khoảng 2,9 tỉ người đang tham gia hoạt động kinh tế, chiếm trên
48% tổng số dân, hay 77% dân số trong độ tuổi lao động. Trong hơn hai thập kỉ qua, số dân này
tăng thêm 900 triệu người.
* Cơ cấu dân số theo khu vực kinh tế


Hiện nay trên thế giới đang phổ biến cách phân chia các hoạt động kinh tế thành ba khu
vực:
+ Khu vực I: nông – lâm – ngư nghiệp
+ Khu vực II: công nghiệp và xây dựng
+ Khu vực III: dịch vụ
* Cơ cấu dân số theo tình trạng hôn nhân
Theo tình trạng hôn nhân, người ta chia dân số từ 13 tuổi trở lên thành các nhóm dân số
như sau:
+ Chưa vợ/chồng: dân số chưa bao giờ lấy vợ, lấy chồng
+ Có vợ/chồng: người được pháp luật hoặc phong tục thừa nhận là có vợ, có chồng hoặc
sống với người khác giới tính như vợ/ chồng tại thời điểm điều tra
+ Goá (người có vợ/ chồng đã bị chết mà chưa tái hôn tại thời điểm điều tra)
+ Ly hôn: người trước đây đã kết hôn nhưng nay đã được toà án xử cho ly hôn và hiện
vẫn chưa kết hôn lại

+ Ly thân: người đã kết hôn nhưng vì lý do nào đó đã không còn sống chung như vợ/
chồng tại thời điểm điều tra
+ Không xác định: số người còn lại
* Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa
Cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá phản ánh trình độ dân trí và học vấn của dân cư, là
một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống ở mỗi quốc gia.
Toàn bộ dân số từ 5 tuổi trở lên trước hết được chia thành số đang đi học, số đã thôi học
và số chưa bao giờ đi học. Sau đó, toàn bộ dân số 5 tuổi trở lên lại được chia theo các cấp học đã
hoàn thành. Dân số 10 tuổi trở lên được chia thành số người biết đọc biết viết và số người không


biết đọc biết viết. Những phân chia này đều được phân biệt giữa nam và nữ, giữa các nhóm tuổi
khác nhau và giữa khu vực thành thị và nông thôn.
             Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, đến tháng 6/2008, cả nước có hơn 140.000 người trong 
độ tuổi 15­25 không biết chữ. Ở độ tuổi 25­35, con số này là gần 250.000 người. Tỷ lệ mù chữ 
nhiều nhất rơi vào độ tuổi trên 36, với gần 1,3 triệu người. Hà Nội dẫn đầu cả nước với gần 
235.000 người và TP HCM hơn 90.000 người không biết đọc, viết.
1.2. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng
thời gian. Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc
mức tăng GDP bình quân đầu người một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định
mức tăng như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI( tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm
ròng quốc gia) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng).
Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào,
cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên, thì quốc gia đó đã đạt được “tăng trưởng kinh tế”.
2.

Cơ sở lý luận về tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế:

2.1


Tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế qua lực lượng lao động

Một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế chính là nguồn nhân lực.
Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Do vậy, nguồn nhân lực có vai trò vô cùng
quan trọng trong tăng trưởng và phát triển.
2.1.1

Số lượng lao động

Tổng cung là lượng hàng hóa và dịch vụ được cung ứng trên thị trường. Nó thể hiện mối quan hệ
giữa mức giá chung và lượng hàng hóa được cung ứng.
Tổng cung lao động là lực lượng lao động có khả năng và sẵn sàng lao động hoặc đang tham gia
lao động tương ứng với các mức lương khác nhau và bản chất công việc nhất định. Lượng lao
động được cung chính là số giờ mà mọi người sẵn sàng lao động, nó sẽ tăng khi mức lương tăng.
Khi lực lượng lao động càng lớn thì càng tạo ra thị trường lao động lớn và có tiềm năng, thu hút
sự đầu tư và biết tận dụng lợi thế về lực lượng lao động lớn, tiền lương rẻ mở rộng sản xuất, sử
dụng lợi thế nhờ quy mô, tăng sức cạnh tranh.


Số lượng lao động phụ thuộc vào phần lớn dân số, cung lao động lớn dễ tìm kiếm nhân tố con
người có liên quan đến sáng chế, công nghệ hiện đại và sử dụng lao động năng suất cao. Vậy
cung lao động càng lớn thị trường lao động càng có tiềm năng.
2.1.2

Chất lượng lao động

Chất lượng lao động là “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động vớiyêu cầu
công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn

cao nhất nhu cầu của người lao động” (Theo TS. Vũ Thị Mai). Chất lượng lao động có thể được
đánh giá qua các chỉ tiêu như trạng thái sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ
thuật…
Lao động thu nguồn ngoại tệ của nước ngoài và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế. Chính vì
vậy, sức khỏe cho người lao động là vấn đề quan tâm hàng đầu. Bởi lẽ khi người lao động có
sức khỏe tốt thì sẽ có khả năng đáp ứng được công việc với cường độ cao, đảm bảo được tiến độ
sản xuất, tăng năng suất lao động. Nhiều cá nhân với sức khỏe tốt sẽ nâng cao chất lượng công
việc một cách tối đa. Vì vậy cần phải có chế độ khám sức khỏe định kỳ và bảo hiểm y tế cho
người lao động. Một công việc với các chính sách về bảo hiểm ý tế đầy đủ chắc chắn sẽ thu hút
một nguồn lực dồi dào với chất lượng lao động tốt.
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua số lượng và tỷ lệ người biết chữ,
số lượng và tỷ lệ người tốt nghiệp các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông,
cao đẳng, đại học, trên đại học, … Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh
chất lượng nguồn nhân lực cũng như trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Với trình độ văn hóa
tốt, lực lượng lao động sẽ có những cách thức nhìn nhận phù hợp để lựa chọn công việc sao cho
hiệu quả nhất.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động rất quan trọng. Nó liên quan trực tiếp đến năng suất
của lao động. Chuyên môn cao chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn. Trong giai đoạn hiện nay,
doanh nghiệp nào có bước tiến nhanh về đổi mới công nghệ thì càng chiếm được ưu thế và có thể
cạnh tranh về giá với các sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước. Khi khoa học công nghệ
phát triển thì việc đưa công nghệ mới, hiện đại vào dây chuyền sản xuất đòi hỏi người lao động
cần có đủ trình độ thì mới vận hành được. Nếu trình độ chuyên môn không tốt sẽ dẫn đến nền
kinh tế phát triển chậm, lạc hậu và không thể hiện được các bước tiến rõ ràng. Còn nếu chuyên
môn tốt kết hợp với máy móc, thiết bị tiên tiến sẽ đem đến hiệu quả cao cho doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế xã hội nói chung.
2.1.3

Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất và cũng là yếu tố tạo nên tăng

trưởng kinh tế. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển do điều kiện về vốn và khoa học công
nghệ bị hạn chế, nhưng lại có một lực lượng lao động lớn nên đây sẽ là tiềm năng mà các nước
đang phát triển cần biết vận dụng và khai thác triệt để nguồn lực này.


Lao động với trình độ kỹ thuật càng cao thì việc tổ chức sản xuất càng khoa học và năng lực sản
xuất ngày càng tăng. Sự tăng năng suất lao động dẫn đến tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, buộc
doanh nghiệp phải trả mức tiền lương phù hợp với trình độ của người lao động, vậy sẽ làm tăng
thu nhập bình quân đầu người.
Theo quy luật Engel, khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì tiêu dùng cho các hàng hóa
thông thường giảm xuống, chi tiêu cho các hàng hóa cao cấp, xa xỉ tăng lên. Điều này dẫn đến tỉ
trọng nông nghiệp giảm, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên.Vì vậy, khi tiêu dùng tăng
làm thúc đẩy quá trình sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất, dẫn đến sự tăng trưởng của nền
kinh tế.
Ngoài ra do lợi thế nguồn lực lao động lớn đã tạo ra lợi thế so sánh về lao động cho nền kinh tế ở
các nước đang phát triển là tiền lương lao động rẻ hơn so với các nước phát triển. Khi đó, có thể
cạnh tranh về giá ở cả những sản phẩm cùng loại. Xong, do lực lượng lao động lớn thì yêu cầu
giải quyết việc làm cũng phải tăng để tạo động lực cho nền kinh tế phát triển.
Ngược lại, nguồn nhân lực có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ thấp sẽ không đủ khả
năng để tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại. Khoa học kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động
thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp và
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “dậm chân tại chỗ”, thậm
chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển chậm.
Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người lao động
và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức. Nước ta
là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên con đường
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình độ học
vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế, do đó để có thể theo kịp được các nước trên
thế giới và khu vực thì nước ta cần phải đầu tư phát triển các nguồn lực đất nước nhiều hơn nữa
trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quan trọng

quyết định tới sự phát triển của đất nước.
2.2

Tác dộng của dân số đến tăng trưởng kinh tế qua các chính sách an sinh xã hội.

Trong thời gian gần đây, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam càng thể hiện vai trò to lớn của nó
đối với sự phát triển và ổn định kinh tế và xã hội. An sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của
người lao động, thay thế và bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả
năng lao động, mất việc làm. Nhờ vậy mà người lao động có thể khắc phục nhanh chóng những
tổn thất về vật chất, phục hồi sức khỏe và ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động bình
thường. Ngoài ra, an sinh xã hội còn giúp đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế xã
hội, góp phần vào việc phòng ngừa, hạn chế những tổn thất, rủi ro xảy ra với nền kinh tế. Bên
cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người
có thu nhập thấp, vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm khoảng cách giữa người giàu và
người nghèo, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội. Ta có thể thấy rằng, an sinh xã hội thể hiện


đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công
bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Nói đến an sinh xã hội không thể
không đề cập đến vấn đề dân số, chúng là hai khía cạnh liên quan trực tiếp đến nhau, có mối
quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời.
a.

Già hóa dân số

Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu dân số số người cao tuổi
chiếm tỉ lệ ngày càng tăng lên. Già hóa dân số đặt ra thách thức lớn đối với nền kinh tế toàn thế
giới, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi tốc độ già hóa dân số nước ta diễn ra ngắn hơn nhiều so
với các nước. Khi dân số cao tuổi chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số đồng nghĩa với việc tỉ lệ
tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi. Như vậy, số người làm ra của cải vật chất cho

xã hội sẽ có xu hướng giảm đi và số người thụ hưởng sẽ có xu hướng gia tăng. Điều này ở một
khía cạnh nào đó cũng sẽ tạo ra gánh nặng cho quỹ hưu trí khi phải chi trả lương hưu nhiều hơn.
Vấn đề đặt ra cho hệ thống an sinh xã hội quốc gia là phải có chính sách việc làm phù hợp cho
người cao tuổi để họ vừa duy trì được sức khỏe, vừa có thêm thu nhập.
Hơn nữa, khi tuổi càng cao, sức khỏe càng xảy ra nhiều vấn đề hơn, quá trình lão hóa diễn ra với
tốc độ càng nhanh cùng với việc phát sinh nhiều bệnh tật đặc trưng của vấn đề tuổi già. Như vậy,
cùng với tuổi tác, cơ cấu chi tiêu của người cao tuổi đã thay đổi nhiều, chi phí cho khám chữa
bệnh có xu hướng tăng lên, đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với gia đình, xã hội và hệ
thống an sinh xã hội của quốc gia.
Như vậy, xét trên khía cạnh tích cực, già hóa dân số là quá trình biến đổi nhân khẩu học tất yếu,
đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ và vượt trội của con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ chế
độ dinh dưỡng, chất lượng giáo dục, đời sống kinh tế cho đến tiến bộ y khoa. Tuy nhiên, bên
cạnh những lợi thế, già hóa dân số cũng đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia trên thế giới.
Năm 2022, số người trên 60 tuổi trên toàn thế giới ước tính đạt đến 1 tỉ người, cao gấp 5 lần con
số này vào năm 1950, chính dân số cao tuổi gia tăng nhanh chóng sẽ tạo ra áp lực mạnh mẽ lên
hệ thống an sinh xã hội và dịch vụ y tế tại nhiều đất nước. Cũng như những cơ hội, các thách
thức mà thời kì già hóa dân số mang đến là tất yếu, do đó,xã hội cũng như cộng đồng cần có
những chuẩn bị cả về nhận thức và tài chính phù hợp để có thể nhanh chóng giả quyết những khó
khăn và rủi ro trước mắt.
b.

Gia tăng dân số

Hiện nay, một vấn đề làm cho nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển lo lắng là vấn đề
gia tăng dân số.
Thực tế cho thấy, dân số ở các nước đang phát triển ngày càng gia tăng với tốc độ nhanh chóng,
nhưng do yêu cầu xây dựng kinh tế công nghiệp, các nước này vay nợ quá lớn của nước ngoài
nên không tránh khỏi tình trạng lạm phát và thất nghiệp. Và tình trạng thiếu việc làm chính là



nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các vấn đề, tệ nạn của xã hội như cờ bạc, nghiện hút, mại
dâm,trộm cắp…...
Sự gia tăng dân số cũng tác động mạnh mẽ tới tài nguyên và môi trường, gây ra nhiều hậu quả
nặng nề cho hiện tại và tương lai. Việc này làm ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế của
một đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, dẫn đén nhà nước phải mang gánh nặng các
khoản chi phí lớn cho các chính sách an sinh xã hội liên quan đến các vấn đề này. Mất cân bằng
giới tính, mức sinh có xu hướng tăng trở lại, tất yếu sẽ tác động xấu dến sự phát triển của xã hội,
do đó, chúng ta cần một chiến lược đầu tư lâu dài cho công tác dân số cũng như sức khỏe sinh
sản.
c.

Cơ cấu dân số

Hiện nay, thế giới chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề nghiêm trọng liên quan đến dân số, đó
chính là sự mất cân bằng giới tính. Việc thừa nam, thiếu nữ trong xã hội có thể dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng về các vấn đề kinh tế xã hội và phân biệt nam nữ, dẫn đến tình trạng bất
bình đẳng giới. Đặc biệt, tại các nước đang phát triển và kém phát triển, do tư tưởng trọng nam
khinh nữ và trình độ dân trí thấp, tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng diễn ra sâu và rộng.
Cùng với sự phát triển của công nghệ và y học, tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ
hết nhờ các biện pháp tránh thai, phá thai do muốn sinh con chọn giới tính. Và chúng ta có thể
thấy hậu quả rõ ràng nhất là các vấn nạn liên quan đến tình dục như xâm hại, mua bán và bắt cóc
phụ nữ. Vì vậy, hơn lúc nào hết, nhà nước các quốc gia cần kiểm soát chặt chẽ tình trạng này,
đưa ra những biện pháp thiết thực, nhanh chóng để hạn chế tối đa tình trạng mất cân bằng giới
tính như hiện nay.
Một vấn đề khác là chất lượng dân số thấp và phân bố dân cư không đồng đều. Phân bố dân cư là
một hiện tượng xã hội có tính quy luật, do tác động của hàng loạt nhân tố, trong đó, nguyên nhân
quyết định là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tính chất của nền kinh tế cũng như các
điều kiện địa lí, tự nhiên. Việc chất lượng dân số tương đối thấp cũng là do việc phân bố dân cư
không đồng đều. Ở những vùng sâu vùng xa, trình độ học vấn, tư tưởng và các yếu tố khác hầu
như thấp hơn nhiều so với vùng đô thị. Vì thế, nhà nước cần có những biện pháp phù hợp để cải

thiện việc phân bố dân cư, cung cấp thêm nhiều điều kiện tốt hơn để nâng cao chất lượng dân số.
Tóm lại, các khoản đầu tư cho hệ thống an sinh xã hội luôn chiếm một tỉ trọng lớn. Khoản đầu tư
này càng lớn, thì vốn tích lũy cho đầu tư càng hạn hẹp, kinh tế càng chậm phát triển. Đồng thời,
dân số càng cao, các hệ lụy liên quan tới nó càng lớn, chi tiêu càng nhiều. Vì vậy, để góp phần
tăng trưởng kinh tế, nhà nước cần kiểm soát tình trạng dân số tốt hơn, xây dựng hệ thống an sinh
xã hội hoàn chỉnh, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển vững mạnh.


CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở VIỆT NAM
1. Phân bố dân cư ở Việt Nam và tác động của phân bố dân cư đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam
1.1.

Phân bố dân cư ở Việt Nam
a.

Xét chung về quy mô dân số:

Theo thống kê tính đến tháng 5 năm 2016, dân số của Việt Nam đạt khoảng hơn 93 triệu
người, xếp thứ 7 châu Á. Mật độ dân số trung bình là 284 người / km 2. Tỉ lệ tăng dân số bình
quân trong 5 năm qua là khoảng 1.06%, thấp nhất trong 35 năm qua. ( Nguồn : />b. Phân bố dân cư
Những đặc điểm phân bố dân cư của nước ta như sau:
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa các vùng và các tỉnh trong cả nước:
+ Vùng đông dân nhất là đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung, đồng bằng sông Cửu Long. Vùng có dân số ít nhất là Tây Nguyên.
+ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mật độ dân số cao nhất cả nước. Mật độ dân số ở
hai nơi này cao gấp 7 đến 13 lần mật độ dân số cả nước.
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi:
+ Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số cả nước, trong khi diện tích hẹp (chỉ chiếm ¼ diện

tích lãnh thổ).
+ Ở vùng trung du và miền núi với diện tích rộng lớn, chiếm khoảng ¾ diện tích lãnh thổ, tài
nguyên thiên nhiên phong phú nhưng dân số chỉ chiếm 25% cả nước, mật độ dân số thấp hơn
nhiều so với vùng đồng bằng.
- Dân số phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn: Tỉ lệ dân thành thị chiếm 33.6%, tỉ lệ
dân nông thôn chiếm 66.4% (năm 2015).
Sự phân bố không hợp lý này đã dẫn đến một luồng di cư từ nông thôn vào thành thị. Tỉ lệ di cư
thuần của khu vực thành thị là khoảng 2.72% và của khu vực nông thôn là -1.33% cho thấy xu
hướng di cư chủ yếu vào khu vực thành thị.
(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

1.2.

Tác động của phân bố dân cư đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1.2.1. Tác động đến kinh tế


Nguồn lao động dồi dào, thu hút sự đầu tư và phát triển kinh tế: Việc di dân từ nông thôn ra
thành thị tạo ra nguồn lao động dồi dào, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước ta
trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời tạo ra một thị trường tiêu thụ hàng
hóa cung cấp nguồn cầu quý giá cho các nhà sản xuất. Ví dụ như thành phố Hà Nội có mật
độ dân cư cao, là trung tâm thương mại và kinh tế của khu vực.
Dân cư ở nông thôn cao hơn thành thị ảnh hưởng đến phân bố lực lượng lao động của nền
kinh tế. Dễ thấy lực lượng lao động tập trung phần lớn ở nông thôi, nơi chủ yếu sống dựa vào
nông nghiệp, trình độ dân trí thấp và công ăn việc làm với mức lương không cao. Việc tỉ lệ
dân cư ở nông thôn vẫn cao ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành của Việt Nam, khi nước
chúng ta đang hướng tới công nghiệp hóa-hiện đại hóa, thì một bộ phận lớn dân cư vẫn còn
phải sống phụ thuộc vào nghề làm nông.
1.2.2. Tác động đến xã hội
Thúc đẩy trình độ dân trí phát triển: Khi tập trung dân cư đông sẽ thúc đẩy các dịch vụ công

cộng phát triển, khả năng con người tiếp cận với các nguồn lực cao hơn. So giữa nông thôn
và thành thị, đồng bằng và miền núi sẽ nhận ra sự chênh lệch về mặt tri thức rõ rệt: Tỉ lệ dân
số từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học ở nông thôn là 5.5 % so với 3.3% của khu vực thành
thị hay tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết có sự chênh lệch giữa thành thị và nông
thôn là 4.2 % (lần lượt 97.5 % ở thành thị và 93.3% ở nông thôn).
Các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng: Do dân cư tập trung đông dẫn đến thiếu việc làm, ảnh
hưởng đến thu nhập xã hội, sinh ra tệ nạn. Hơn nữa, dân cư ngoại tỉnh đổ về ồ ạt, chính
quyền địa phương không đủ khả năng để kiểm soát và nắm thông tin dẫn đến không quản lí
được nhân khẩu.
Gây ùn tắc giao thông ở những nơi tập trung đông dân cư. Ví dụ sắt đá nhất cho tình trạng
này có thể dễ dàng nhận ra tại hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh
Tập trung quá đông dân cư: Ở một số khu vực, dân cư tập trung lớn gây sức ép về giải quyết
các vấn đề việc làm, an sinh xã hội như đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư công và các dịch vụ về y
tế gây ra nhiều tình trạng đáng báo động, Ví dụ như thủ đô Hà Nội hiện nay đang phải đối
mặt với tình trạng cơ sở hạ tầng xuống cấp, các dịch vụ công cộng, y tế không có khả năng
đáp ứng đủ nhu cầu
2. Cơ cấu dân số ở Việt Nam và tác động của cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam
2.1. Cơ cấu dân số ở Việt Nam
2.1.1.

Cơ cấu dân số theo giới tính


Theo thống kê tính đến tháng 5 năm 2016, dân số của Việt Nam đạt khoảng hơn 93 triệu
người. Trong đó tỉ lệ phần trăm của nam với nữ lần lượt là 49.44% và 50.56%. Tỉ lệ giới tính
(Nam/100 nữ) vào năm 2016 đạt 97.8. Ở thành thị, con số này là 94.8. Nông thôn có tỉ lệ cao hơn
với tỉ số giới tính là 98.6. ( Nguồn : />Bảng 1. Thống kê dân số Việt Nam năm 2016
Tổng số


Nam

Nữ

Số người

93 434 748

46 201 349

47 233 399

Cơ cấu (%)

100

49.44%

50.56%

(Nguồn: />Tỉ số giới tính nam trên 100 nữ trong giai đoạn 2000-2014 có dấu hiệu tăng trên tổng số.
Trung bình tỉ lệ tăng hàng năm của tỉ số giới tính là khoảng 0.01%. Xu hướng sắp tới của dân số
Việt Nam là gia tăng về số dân số nam nhiều hơn.
2.1.2.

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi
Biểu đồ 1. Tháp dân số Việt Nam theo nhóm tuổi năm 2014

(Nguồn: />


Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy dân số Việt Nam năm 2014 tập trung nhiều nhất ở độ tuổi lao
động (từ 15-50 tuổi). Trong đó, độ tuổi từ 20-24 và 25-29 chiếm nhiều nhất với lần lượt số lượng
vào khoảng 4.7 triệu người (nam) và 4.4 triệu người (nữ) mỗi nhóm. Tỉ lệ sinh cao dẫn đến ở đáy
tháp lượng dân số mới sinh tăng lên, dân số ở độ tuổi 0-4 đạt khoảng gần 4 triệu người.
Tuy nhiên, nhìn vào cả giai đoạn năm 2000 - 2014, dân số Việt Nam trong các nhóm tuổi lao
động lại có biến động lớn. Mặc dù ở năm 2014, phần lớn dân số vẫn thuộc độ tuổi lao động,
nhưng tỉ lệ nhóm dân số ở cuối độ tuổi lao động (trên 50 tuổi) đang có dấu hiệu tăng lên, và
nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động (15-24 và 25-49 tuổi) lại suy giảm. Điều này sẽ làm
ảnh hưởng đến chất lượng lao động, và lực lượng lao động của Việt Nam trong tương lai đang có
dấu hiệu bị “lão hóa”, thiếu các lực lượng lao động kế cận sau đó.
2.2. Tác động của cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Cơ cấu dân số có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế. Từ cơ cấu theo giới hay cơ cấu theo
nhóm tuổi đều có tác động nhất định theo từng mặt. Cơ cấu dân số cũng là yếu tố tác động tới
nhiều mặt xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến những chính sách về kinh tế.
2.2.1.

Tác động của cơ cấu dân số theo nhóm tuổi đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam

2.2.1.1 Tác động đến lực lượng lao động
Dân số Việt Nam đã lên tới 90 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 8 ở châu Á. Cùng với
xu hướng giảm sinh và nâng cao tuổi thọ, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-64) tăng lên,
hiện chiếm 69% tổng số dân. Nước ta chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng,” đây
thực sự là cơ hội để Việt Nam sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là cơ hội dân số chỉ xảy ra một lần và trong một khoảng thời
gian nhất định – với nhiều thuận lợi cũng như thách thức cho tăng trưởng, phát triển kinh tế.


Cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượng lao động trẻ,
dồi dào đây là giai đoạn các nền kinh tế có khả năng cất cánh để trở thành nước công nghiệp.

Bên cạnh đó, theo báo cáo của Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, cơ cấu “dân số vàng”
thực sự là cơ hội để cải thiện sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản cho thanh niên, vị thành
niên, sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu “dân số
vàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, việc
làm trong tương lai. Lực lượng lao động dồi dào với đặc tính cần cù, thông minh cũng đang là
yếu tố tạo nên sức hút của Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế, khiến nước ta trở thành một
trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn trên thế giới. Như vậy, với cơ cấu dân số như hiện nay,
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để thực hiện thành công kế hoạch cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại và sớm trở thành nước công nghiệp.
Tuy nhiên, “dân số vàng” cũng đem đến không ít thách thức. Nếu không tận dụng tốt cơ hội,
kinh tế và xã hội Việt Nam sẽ bị nhấn chìm trong khó khăn khi quá trình già hoá dân số ngày
càng gia tăng, nghĩa là trong biểu đồ dân số, số người già ngày càng nhiều hơn so với số người
trẻ tuổi.
Thách thức đầu tiên của thời kỳ “dân số vàng” là áp lực giải quyết việc làm cho người lao động.
Cùng với đó, trong thời kỳ đòi hỏi lao động phải có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, việc đào
tạo người lao động để có thể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư trong sản xuất, kinh
doanh các mặt hàng, dịch vụ hiện đại là thách thức không nhỏ. Nếu không giải quyết được vấn
đề này, lao động Việt Nam sẽ chỉ là lao động giản đơn, có năng suất thấp và không tạo ra được
nhiều giá trị gia tăng. Đó là trở ngại lớn trên con đường đưa Việt Nam trở thành nước công
nghiệp phát triển. Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội),
hiện nay, Việt Nam còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề. Bên cạnh đó, khoảng
70% dân số Việt Nam sinh sống và làm việc ở nông thôn, trong khi nông dân hiện nay mới sử
dụng 40% thời gian cho sản xuất nông nghiệp, còn lại 60% thời gian là nông nhàn.
2.2.1.2 Tác động đến xã hội
Thu nhập thấp, thiếu việc làm, chất lượng sống và chất lượng dân số chưa cao, tốc độ già hóa
nhanh, chi phí an sinh xã hội lớn cũng là những thách thức đặt ra đối với Việt Nam.Tất cả những
vấn đề nêu trên sẽ trở thành gánh nặng gây hiệu ứng ngược của thời kỳ “dân số vàng” nếu chúng
ta không có những chính sách, giải pháp thích hợp. Cơ cấu tuổi ở Việt Nam có thể sẽ dần chuyển
từ cơ cấu trẻ sang cơ cấu già trong khoảng hơn 10 năm nữa. Khi dân số già, ngoài việc nguồn lao
động bị giảm đi, tỉ lệ gánh vác của mỗi người lao động tăng lên, còn là vấn đề an sinh xã hội,

nhất là người già Việt Nam đa phần ở nông thôn, không có lương hưu. Chỉ tính riêng các quỹ
hưu trí và chi trả cho y tế, cũng có thể sẽ là một vấn đề nan giải nếu tốc độ già hóa của Việt Nam
tiếp tục cao như thế này. Vì thế chính phủ Việt Nam cần chú trọng hơn nữa trong việc tận dụng
những cơ hội mà cơ cấu dân số trẻ hiện nay mang lại nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
và công nghệ, cùng với việc chuẩn bị thật tốt cho giai đoạn sắp tới. Bên cạnh đó việc xây dựng
hệ thống lương hưu và chăm sóc sức khỏe trong trung hạn cũng là việc làm hết sức cần thiết.
2.2.2.

Tác động của cơ cấu dân số theo giới tính đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam


Ở khía cạnh này chúng ta cũng có thể thấy rõ tác động của cơ cấu dân số theo giới tính tác động
đến tăng trưởng kinh tế qua lực lượng lao động và các vấn đề xã hội. Hiện nay, cơ cấu dân số
phân theo giới tính của Việt Nam vẫn khá đồng đều bởi chính sách bình đẳng nam - nữ của Nhà
nước. Tuy nhiên, một vấn đề lớn ở Việt Nam là chênh lệch giới tính khi sinh rất cao. Tỉ lệ chênh
lệch giới tính khi sinh đã tăng lên mức 114 nam/100 nữ (năm 2014). Nhiều chuyên gia trong và
ngoài nước nhận định rằng sự mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh sẽ tác động lên cơ cấu giới
tính dân số trong tương lai và chắc chắn dẫn tới hiện tượng thừa nam giới. Sự chênh lệch giới
tính ở trẻ sơ sinh sẽ dẫn đến tình trạng thừa nam, thiếu nữ, cùng với xu hướng lấy chồng ngoại ở
nhiều tỉnh miền Tây, nạn buôn bán phụ nữ sang ở các tỉnh phía Bắc… trong tương lai có thể Việt
Nam sẽ phải “nhập khẩu cô dâu”, kéo theo việc gia tăng nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em gái... Sự
mất cân bằng giới tính còn làm tăng mâu thuẫn trong hôn nhân. Xa hơn, thiếu phụ nữ dẫn đến
thiếu trẻ em, dân số dần nên trở nên già cỗi, khiến lực lượng lao động suy giảm, ngân sách quốc
gia phải tăng chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc y tế, sức khỏe, các chương trình bảo trợ xã hội và
lương hưu… gây ảnh hưởng đến việc tiết kiệm, đầu tư cho phát triển kinh tế. Dự báo đến năm
2025, Việt Nam sẽ phải đối mặt với hậu quả về mất cân bằng giới tính. Nếu điều này thực sự xảy
ra, xã hội Việt Nam sẽ thiếu an toàn, số tiền bỏ ra trong tương lai cho các dịch vụ an ninh, y tế sẽ
tăng cao. Để tránh sự khủng hoảng xã hội, an ninh quốc gia này, Việt Nam đã phải chi rất nhiều
ngân sách cho việc tuyên truyền, đưa ra các biện pháp xử phạt, thậm chí cải thiện về cả y tế giáo

dục. Năm 2013, Bộ Y tế đã từng phải đề xuất chi 3000 tỷ cho việc cân bằng lại giới tính.

3. Chất lượng dân số ở Việt Nam và tác động của chất lượng dân số đến tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam
3.1. Chất lượng dân số ở Việt Nam
Dân số và phát triển kinh tế xã hội luôn có mối quan hệ quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và thúc đẩy
lẫn nhau. Muốn tăng trưởng kinh tế thì yếu tố đầu tiên là con người và phải là những người có
sức khỏe và trí tuệ. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt khi chất lượng dân số được nâng cao, quy mô, tốc
độ tăng trưởng, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm kinh tế ở mỗi vùng
địa phương.
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là một trong những chỉ tiêu
kinh tế - xã hội tổng hợp, là thước đo thành tựu trung bình của một quốc gia, được dùng làm căn
cứ để đánh giá, so sánh trình độ phát triển của các quốc gia. HDI được đánh giá qua 3 tiêu chí:


Sức khỏe (đo bằng tuổi thọ trung bình); tri thức (đo bằng số năm đi học bình quân và kỳ vọng số
năm đi học) và mức sống đo bằng GNI (tổng thu nhập quốc gia) trên đầu người.
Biểu đồ 3. Chỉ số HDI của Việt Nam từ 1990 – 2014

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2014)
Ta có thể thấy trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt trong
việc phát triển con người. Chỉ số HDI của Việt Nam liên tục tăng qua các năm trong giai đoạn
1990 – 2014, từ mức 0.475 năm 1990 tăng gần 40.2% lên mức 0.666 vào năm 2014. Tuy nhiên
chỉ số HDI của Việt Nam hiện nay vẫn chỉ ở mức trung bình thấp so với khu vực và trên thế giới.
Trong khu vực Đông Nam Á, chỉ số HDI của Việt Nam đứng thứ 7 và so với 188 nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới thì Việt Nam mới xếp thứ 116, đứng trong nhóm HDI trung bình (từ 0,.522
đến dưới 0.689).
Bảng 2: Chỉ số HDI Việt Nam qua các tiêu chí đánh giá từ 1990-2014

199

0
199
5
200
0
200
5

Tuổi thọ trung bình
ước lượng

Số năm đi học
kì vọng

Số năm đi học
thực tế

GNI bình quân
đầu người

Chỉ số
HDI

70.5

7.7

3.9

1,410


0.475

72.0

9.2

4.6

2,020

0.530

73.3

10.4

5.4

2,615

0.575

74.3

11.2

6.4

3,423


0.616


201
0
201
4

75.1

11.9

7.5

4,314

0.653

75.8

11.9

7.5

5,092

0.666

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2014)

Trước hết về chỉ số tuổi thọ, tuổi thọ bình quân ở nước ta đạt mức cao so với các nước có
cùng mức thu nhập và có tầm quan trọng hàng đầu trong 3 chỉ số (thu nhập, tuổi thọ, giáo dục),
quyết định thứ bậc về HDI. Cụ thể, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam năm 2014 đạt 75.8
(cao hơn mức 69.3 tuổi của nhóm nước có HDI trung bình, cao hơn cả mức 72.6 tuổi của nhóm
có HDI cao). Ngoài các yếu tố có tính tự nhiên, tuổi thọ cao của người Việt Nam còn là kết quả
của việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khoẻ con người, được thể hiện trên nhiều mặt. Cụ thể:
Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (từ 58.2% năm 1993 xuống còn 9.6% cuối năm 2012 và dự kiến còn
7.8% vào cuối năm 2013); số cơ sở khám chữa bệnh công lập đến năm 2013 có 13.120; số
giường bệnh (không kể trạm y tế) năm 2013 đạt 283000; số bác sỹ đạt 75000 người…
Chỉ số tri thức (giáo dục), được biểu hiện qua 2 chỉ số chi tiết, đó là số năm đi học kỳ
vọng và số năm đi học trung bình. Số năm đi học kỳ vọng của nước ta tăng từ 7.7 năm vào năm
1990 lên 11.9 năm vào năm 2014 (vẫn thấp hơn mức 12.7 năm bình quân ở khu vực Đông Á
Thái Bình Dương). Số năm đi học trung bình của Việt Nam đã tăng từ 3.9 năm (năm 1990) lên
7.5 năm vào năm 2014. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo của nước ta còn nhiều bất hợp lý và chưa chú
trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao. Tỉ lệ nhân công đã qua đào tạo chuyên
môn và kỹ thuật chỉ chiếm 7.6% toàn dân số từ 13 tuổi trở lên (2.3% là công nhân kỹ thuật và
nhân viên nghiệp vụ, 2.8% có trình độ học chuyên nghiệp, 0.7% cao đẳng, 1.7% đại học và chỉ
0.1% trên đại học). Có thể thấy, mặc dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, nhưng kết quả vẫn còn thấp so với thế giới. Đây là một vấn đề rất đáng lo ngại.
Về chỉ số thu nhập tính bằng GNI bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 1410
USD năm 1990 lên 5092 USD năm 2014, gấp khoảng 3.6 lần. Tuy nhiên trên thực tế, GDP bình
quân đầu người của Việt Nam vẫn thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực và tốc độ tăng GDP
của Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình so với một số nước châu Á. Tỉ lệ tiết kiệm so với GDP
luôn thấp hơn tỉ lệ đầu tư so với GDP và đang có xu hướng giảm dần. Năm 2005 đạt 28.94%,
giảm xuống 28.4% trong năm 2010 và xuống mức 27% trong năm 2013. Do chỉ số thu nhập còn
thấp nên cần phải tập trung cho việc nâng cao chỉ tiêu này. Muốn tăng chỉ tiêu này, một mặt phải
tăng tổng GDP (tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương), mặt khác phải tăng tỷ lệ GNI
so với GDP (năm 2013 đạt 95.2%) và tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số.
3.2. Tác động của chất lượng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
3.2.1. Tác động đến nguồn nhân lực
Về mặt tích cực, như đã đề cập trong phần chỉ số tuổi thọ, dân số Việt Nam hiện đang ở

giai đoạn cơ cấu dân số vàng. Chúng ta có một lực lượng lao động trẻ dồi dào. Nếu tận dụng tốt
sẽ mang lại kết quả tích cực cho quốc gia.


Tuy nhiên,nhìn vào chỉ số giáo dục, chúng ta có thể thấy, dù có một nguồn nhân lực dồi
dào, nhưng nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực của chúng ta còn thấp.Nguồn nhân lực được
đào tạo mới chỉ gần 30%, số có bằng cấp mới chỉ là 8%. Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay chỉ đạt 3.79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11
trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt
3.39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp
hạng. Ngay cả các số đo về chiều cao, cân nặng của cả nam và nữ của chúng ta đều chưa đạt tiêu
chuẩn như các nước trong khu vực. Như vậy, về sức khỏe hay tri thức, chúng ta đều chưa đáp
ứng được các tiêu chuẩn để có được một bộ phận nhân lực chất lượng cao đáp ứng các công việc
đòi hỏi tay nghề, kĩ thuật,… Việc này tác động tiêu cực cả đến người lao động và các chủ doanh
nghiệp, gây ra hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ”, “thừa lao động nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu
người”. Điều này xuất phát từ thực trạng giáo dục của nước ta.Như đã đề cập ở trên, giáo dục
nước ta chưa thực hiện tốt vai trò của mình. Giả sử chúng ta xét riêng về thành phần tri thức
được đào tạo để đáp ứng các công việc cần tay nghề cao: Nếu xét sinh viên đại học và cao đẳng
trở lên được xem là tri thức, thì dù thành phần đó hiện nay đang tăng mạnh về số lượng, nhưng
chất lượng lại không đảm bảo, còn nhiều yếu kém và bất cập. Đa số công chức, viên chức làm
việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên chức
như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công
việc. Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm; không ít đơn vị nhận
người vào làm, phải mất 1-2 năm đào tạo lại. Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng
không đáp ứng được công việc. Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động
quốc tế thừa nhận. Nếu tính vào năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là 161411 người.
Theo ước tính, mỗi tấm bằng đại học, người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn nhà nước đầu tư
khoảng 30 triệu đồng. Như vậy, với tỷ lệ 63% số sinh viên ra trường chưa có việc làm, cho thấy
kinh phí đầu tư của sinh viên thất nghiệp (161411 sinh viên x 63% x 70 triệu), ít nhất thất thoát
7117 tỷ đồng (trong đó, 4067 tỷ đồng của dân và 3050 tỷ đồng của nhà nước). Chưa kể, tỉ lệ thất

nghiệp ở thành phần này càng ngày càng tăng cao, năm 2014 so với 2010 đã tăng đến 103%, số
cử nhân thất nghiệp tính vào quý I năm 2014 lên đến 162000 người có trình độ đại học trở lên và
79000 người có trình độ cao đẳng. Vậy có thể thấy con số thất thoát lớn đến bao nhiêu. Cần phải
biết, đầu tư cho giáo dục của nước ta hiện nay là 20% ngân sách. Tỉ lệ phần trăm này so với các
nước khác là một con số khá lớn, thế nhưng nếu chúng ta ko tận dụng được, thì sẽ chỉ là lãng phí
nguồn vốn mà thôi. Điều này, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo thừa nhận là do điều kiện đảm bảo
chất lượng của một số cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo; một số trường đại học (chủ yếu
là trường đại học địa phương và tư thục) có đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng, chưa đảm bảo
về chất lượng, không tương xứng với quy mô đào tạao; điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trang
thiết bị lạc hậu, uy tín và chất lượng đào tạo thấp, khả năng cạnh tranh thấp nên sinh viên khó
tìm kiếm việc làm.
Chúng ta có thể thấy, trình độ giáo dục không cao và ko hiệu quả, các cơ sở giáo dục mở
tràn lan không đáp ứng chất lượng, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế và cả tích lũy do sự tiêu tốn tiền
của, thời gian một cách lãng phí từ cả cá nhân và nhà nước, đến việc mức lương thấp, các doanh


nghiệp ở Việt Nam không phát triển vì thiếu nhân lực, là bước cản lớn cho sự phát triển kinh tế
của Việt Nam. Trong tương lai, khi nền kinh tế càng hội nhập, nhất là khi cộng đồng kinh tế
ASEAN được thành lập vào cuối năm 2015 sẽ có 14 triệu chỗ làm việc. Khi đó, lao động và các
chuyên gia nước ngoài có thể đi lại và làm việc ở Việt Nam tự do hơn và ngược lại. Nếu lao động
của chúng ta tiếp tục không đáp ứng được các yêu cầu công việc, chúng ta sẽ tự thải loại mình ra
khỏi cuộc chơi, mất vị thế để chiếm lĩnh những việc làm này, và thay vào đó những công việc
trình độ cao sẽ bị các lao động nước ngoài chiếm lĩnh, tỉ lệ tri thức có bằng cấp nhưng kĩ thuật
kém thất nghiệp sẽ còn cao hơn nữa, gây ra các vấn nạn cho xã hội.
3.2.2. Tác động đến các vấn đề xã hội
Do các chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa, đời sống nâng cao, việc tiếp cận văn hóa,
nâng cao tri thức văn hóa của Việt Nam được cải thiện, đem lại cơ hội cho giới trẻ Việt Nam
ngày càng dễ dàng hơn trong việc hòa nhập với các nước trên thế giới.
Tuy nhiên,đời sống tinh thần và các tiện nghi để hưởng thụ văn hóa rõ ràng được tăng lên
nhiều nhưng nhiều khi chưa có sự quản lý tốt tạo ra nhiều lệch lạc của các em tuổi nhỏ và vị

thành niên trong tình yêu, tình dục, bạo hành và bạo lực trong đời sống hàng ngày. Cách hiểu về
quyền con người, nhân cách và các giá trị tinh thần có những biểu hiện lạc chuẩn. Theo nghiên
cứu bạo lực học đường được thực hiện ở 5 nước Châu Á bởi Tổ chức phát triển cộng đồng Plan
International, Việt Nam cũng thuộc top có tỷ lệ cao ở cả nhóm bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác
và bạo lực tình dục. Tỷ lệ học sinh Việt Nam trải qua bạo lực ở bất cứ hình thức nào là 71%.
66% học sinh Việt Nam được khảo sát từng trải qua bạo lực tinh thần, chỉ xếp sau Indonesia –
69%. Với 31% học sinh từng hứng chịu bạo lực thể xác, Việt Nam đứng thứ 3, sau Nepal (47%)
và Indonesia (40%).Tỷ lệ bạo lực tình dục ở nước ta là 11% - cao hơn Campuchia (2%), Nepal
(9%) và Pakistan (4%).Việt Nam có tốc độ phát triển khá nhanh, số người có của ăn của để cũng
tăng nhanh, từ đó khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng xa. Xã hội vẫn còn tồn tại số đông
người dân bị sống cơ cực, khó khăn từng miếng cơm, manh áo… cũng khiến cho chất lượng dân
số VN bị coi là kém.Điều này khiến an sinh xã hội, bao gồm cả an ninh, an toàn xã hội gặp nhiều
khó khăn. Nếu con người thụ hưởng văn hóa lệch lạc, sẽ không thể đào tạo ra những người có
ích cho xã hội. Nhân tố quan trọng nhất của kinh tế chính là con người, nếu không được cải thiện
từ gốc rễ, sẽ không thể giúp kinh tế đất nước phát triển được. Có thể thấy, giáo dục của chúng ta
dù có mặt phát triển nhưng còn nhiều bất cập, nhất là trong thời đại mở cửa, nếu chúng ta không
kịp đi trước đón đầu, tiến hành song song việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và quản lý
làn sóng văn hóa đa dạng, chúng ta sẽ tụt hậu so với các nước trên thế giới.
Sức khỏe con người tác động đến xã hội được phản ánh rõ qua chỉ số thể chất của người
Việt Nam: Chỉ số BMI của Việt Nam vẫn còn rất thấp, tỉ lệ trẻ sinh ra bị dị tật và hơn cả là tỉ lệ
phụ nữ có thai ngoài ý muốn còn lớn. Các tố chất thể lực của người Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Vào năm 2009, chiều cao trung bình của người Việt Nam ở độ tuổi 22-26, ở nam là 164.4 cm, ở
nữ là 154.8 cm. Dù có sự cải thiện về so với những năm trước đây, nhưng so với các nước trong


khu vực vẫn là quá chậm. Việc người Việt Nam yếu ớt về thể chất ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội,
khi chúng ta phải chi ra các khoản lớn cho các dịch vụ y tế, nhất là khi về già.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ MÔ
HÌNH DÂN SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.

Cải thiện chất lượng giáo dục ở Việt Nam qua định hướng nghề nghiệp

Nước ta là một nước có dân số đông, lực lượng lao động dự trữ dồi dào, tuy nhiên, chất lượng
lao động và số lượng lao động chất lượng cao vẫn còn vô cùng hạn chế. Một trong số những
nguyên nhân của thực trạng đó chính là thiếu sót trong giáo dục về việc định hướng nghề nghiệp
cho thế hệ trẻ - lực lượng lao động dự trữ, cũng chính là những chủ nhân tương lai của đất nước,
đặc biệt là giáo dục bậc đại học, cao đẳng.
Theo Bộ Giáo dục và Ðào tạo, trong những năm qua, giáo dục Ðại học đã có những bước phát
triển mạnh về số lượng cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên và quy mô sinh viên. Tổng kết năm học
2014-2015, cả nước có 219 trường đại học, 217 trường cao đẳng, 1.824.328 sinh viên, trong đó
sinh viên cao đẳng là 539.614, sinh viên chính quy đại học là 1.348.937, sinh viên chính quy cao
đẳng là 519.722. Cùng với đó, có hàng nghìn doanh nghiệp, cơ quan nhà nước ở tất cả ngành
nghề liên tục tuyển dụng nhân lực, nhất là nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị
trường lao động. Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, giáo dục Ðại học còn
nhiều khoảng trống; sinh viên, học viên thất nghiệp hoặc làm việc không đúng ngành nghề đào
tạo; kỹ năng làm việc còn hạn chế.
Thực tế, giáo dục Việt Nam đã và đang dần thể hiện sự quan tâm tới vấn đề định hướng nghề
nghiệp trong giáo dục, đặc biệt là định hướng nghề nghiệp ở bậc học Đại học, Cao đẳng, thể
hiện qua việc phát triển giáo dục Đại học theo hướng nghề nghiệp ứng dụng. Mỗi năm trước các
kì thi đại học đều có các buổi tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp được tổ chức tại các trường THPT
và đại học trên cả nước. Bên cạnh đó, trong vòng 3 năm qua, các biện pháp cải cách phương
pháp tuyển sinh đại học cao đẳng liên tiếp được áp dụng, ví dụ như một số trường Đại học được
phép tuyển sinh riêng bằng các bài kiểm tra năng lực đầu vào, ra đề thi riêng, để tìm kiếm và đào
tạo những thế hệ sinh viên có năng lực và mong muốn nghề nghiệp đúng với chuyên môn đào
tạo của các trường đại học này.
Bà Phạm Thị Ly (Viện đào tạo quốc tế Ðại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng:
chừng nào các trường, nhất là trường công lập vẫn được ngân sách nhà nước bao cấp, thì lối dạy
chay, chủ yếu đáp ứng nhu cầu bằng cấp của người học vẫn có đất sống và các trường chưa có

động lực thay đổi. Và để đáp lại nhận định này, năm 2015, có 5 trường được phê duyệt tự chủ tài
chính, đến năm 2016 con số này đã lên đến 14 trường đại học.


Theo một khảo sát của Trường Ðại học Nông lâm (Ðại học Huế) mới đây, mặc dù đã triển khai
chương trình giáo dục Ðại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng, nhưng vẫn còn 9,2% số
sinh viên cho rằng, chương trình đào tạo chưa đáp ứng các mục tiêu đặt ra từ đầu và 22,8% còn
phân vân về việc đáp ứng mục tiêu đặt ra từ đầu của chương trình đào tạo; 20,8% không đồng ý
với ý kiến cho rằng, chương trình đào tạo giúp sinh viên có khả năng tìm kiếm được việc làm
khác ngoài chuyên môn; 33% không đồng ý cho rằng có thể sử dụng tốt ngoại ngữ khi ra
trường...Thực trạng trên cho thấy việc áp dụng mô hình định hướng nghề nghiệp ứng dụng này
vẫn chưa phát huy hết khả năng. Tuy nhiên, đó vẫn là dấu hiệu đáng mừng, là một bước đi đúng
đắn của giáo dục Việt Nam trong việc cải thiện định hướng nghề nghiệp trong giáo dục.
Thực tế hiện nay, phần lớn các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam chưa thành lập bộ phận
chuyên trách để tìm kiếm cơ hội hợp tác, quản lý, duy trì thông tin liên lạc. Các mối quan hệ hợp
tác chủ yếu xuất phát từ quan hệ cá nhân giữa giảng viên, cựu sinh viên với doanh nghiệp. Trong
khi đó, doanh nghiệp chưa nắm rõ nhu cầu của trường Ðại học cũng như sinh viên trong hoạt
động hợp tác. Vì vậy, các trường Ðại học cần xác định hợp tác doanh nghiệp là ưu tiên trong
chiến lược phát triển, còn doanh nghiệp phải coi hợp tác với trường là then chốt trong
nâng cao nguồn nhân lực và lợi thế cạnh tranh sản phẩm trên thị trường. Các trường có thể
thành lập các trung tâm quan hệ với doanh nghiệp gắn với hoạt động của cán bộ quản lý, các
khoa phòng, giảng viên và sinh viên, tăng cường trao đổi thông tin giữa trường ÐH và doanh
nghiệp như: xây dựng hệ thống dữ liệu doanh nghiệp đối tác, tổ chức các sự kiện có sự tham gia
của doanh nghiệp...
Để phát triển giáo dục Việt Nam theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng, đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước cần giữ vai trò định hướng phát triển, điều
phối nguồn lực quốc gia và quản lý hệ thống giáo dục Ðại học thông qua việc hoạch định
chính sách, xây dựng và ban hành khung pháp lý, cung cấp về tài chính và hướng dẫn các
trường họat động phục vụ lợi ích quốc gia, cộng đồng. Ðối với nhà tuyển dụng, Nhà nước giữ vai
trò cân bằng lợi ích giữa nhà trường và nhà tuyển dụng thông qua các chính sách về đầu tư tài

chính, miễn giảm thuế.

2.

Giải quyết vấn đề việc làm ở nông thôn

Việt Nam là một nước đi lên từ nền nông nghiệp trồng lúa nước. Nông thôn nước ta có diện tích
rộng, dân số đông, số người trong độ tuổi lao động chiếm phần lớn, nhưng hiện nay còn thiếu
việc làm, hoặc có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động. Điều đó đã ảnh hưởng
không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và yêu cầu củng cố quốc phòng - an ninh
(QP-AN) của đất nước. Vì vậy, giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn hiện nay là vấn đề
mang tính chiến lược, là đòi hỏi vừa lâu dài, vừa cấp thiết đối với sự phát triển bền vững của
nước ta.


Đảng và Nhà nước cần có chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động phù hợp. Lao động nông thôn thiếu việc
làm do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là trình độ văn hóa thấp, lại không được đào tạo nghề
nên lao động phổ thông là phổ biến. Bởi vậy, việc đẩy mạnh đào tạo nghề và đa dạng các hình
thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành,
các lực lượng trong toàn xã hội.
Không chỉ dừng lại ở việc đào tạo, vì những người lao động nông thôn thiếu hiểu biết và sự liên
kết với các nhà tuyển dụng, các chủ doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, vì vậy, cần có một sợi
dây liên kết giữa người thuê lao động và người lao động, giúp người lao động có cơ hội tìm
được việc làm như mong muốn. Sợi dây ấy có thể được tạo nhờ các cơ quan, ban ngành, chính
quyền địa phương, cũng có thể được tạo do chính các doanh nghiệp, các chủ thuê lao động, liên
kết giữa các trường dạy nghề và các doanh nghiệp, các xí nghiệp, nhà máy để tăng cơ hội kiếm
việc làm cho lao động nông thôn, đồng thời tận dụng lực lượng lao động này cho những ngành
công nghiệp mũi nhọn, nâng cao đời sống người dân nông thôn khi diện tích đồng ruộng ngày
càng hạn chế.

Một bộ phận không nhỏ những công ty, nhà máy, xí nghiệp đào tạo và thuê lao động nông thôn
chính là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, tỉ trọng xuất khẩu các mặt hàng
điện thoại, linh kiện điện tử đang chiếm tỉ trọng cao nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam. Đóng góp một phần không nhỏ vào tỉ trọng đó chính là các công ty như Sony, Samsung,…
tại Việt Nam. Chính họ đã mang lại cơ hội việc làm cho những người dân trong vùng nơi xây
dựng nhà máy. Bởi vậy, việc đối ngoại, giữ quan hệ chính trị đối ngoại tốt với bạn bè quốc tế,
với các đối tác quốc tế cũng như việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một phần không
nhỏ để giải quyết vấn đề việc làm ở các vùng nông thôn Việt Nam.
3.

Phát triển chiến lược an sinh xã hội phù hợp

Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây
vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị- xã hội, phát triển bền vững.
An sinh xã hội thể hiện quyền cơ bản của con người và là công cụ để xây dựng một xã hội hài
hòa, văn minh, đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng đối với các rủi ro trong đời
sống, do vậy nó có tác dụng thúc đẩy bình đẳng và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống an
sinh xã hội thông qua tác động tích cực của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập
và các dịch vụ xã hội, sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu lao động nói
riêng và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế nói chung. Với những lợi ích đó, phát triển an sinh
xã hội thực sự là một điều vô cùng quan trọng và cần thiết để nâng cao đời sống người dân, góp
phần thực hiện mục tiêu phát triển ổn định, bền vững của đất nước.
Trong thời gian qua, mặc dù nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp nhưng Đảng và Nhà nước vẫn
luôn coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm đầu tư cho vùng núi, vùng đồng bào


dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải
đảo… Các chương trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia đã thu được những
kết quả rất tốt đẹp, đã được dư luận quốc tế thừa nhận và đánh giá cao. Những thành tích mà Việt

Nam đạt được về phát triển giáo dục, chăm lo sức khỏe cộng đồng, thực hiện BHYT cho người
dân, KCB cho người nghèo, chăm sóc các bà mẹ và trẻ em, cũng như những nỗ lực giải quyết
việc làm, cải thiện mức sống và điều kiện sống cho dân cư, cứu trợ xã hội và thực hiện phúc lợi
xã hội, quan tâm tới các đối tượng yếu thế... là những minh chứng về những tiến bộ đáng kể thực
hiện an sinh xã hội.Tuy nhiên, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam chưa phát triển đồng bộ và
tương xứng với thành tựu phát triển kinh tế, biểu hiện ở mức độ phổ quát chưa cao, khả năng tiếp
cận còn hạn chế, còn nhiều chính sách bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu sự liên kết, chưa huy động
nguồn lực và chưa bảo đảm tính bền vững.
Để phát triển an sinh xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng “Chiến lược phát triển an sinh
xã hội giai đoạn 2011-2020” cũng như "Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của Việt
Nam giai đoạn 2011-2020”, với mục tiêu là đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước
công nghiệp, hiện đại và xếp vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình, thể hiện nhất quán chủ
trương của Đảng “… xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” (Văn kiện Đại hội X) và thực hiện
quan điểm “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách,
đối tượng nghèo” (theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VI).
Để bảo đảm hệ thống an sinh xã hội được phát triển phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cần có những giải pháp, định hướng cụ thể và đúng đắn như:
Tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững
cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ
tín dụng, giải quyết việc làm và kết nối thông tin thị trường lao động.
Mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro,
ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già.
Hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho
người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa,
thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo,...) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân
sách nhà nước bảo đảm.
Tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như giáo

dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin.

4.

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế


Để có thể tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, xa hơn là hội nhập kinh tế quốc tế với mục tiêu
phát triển nguồn nhân lực chúng ta cần chủ động hội nhập với những định hướng cơ bản là:
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về phát triển nguồn nhân lực phù hợp
với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về
lĩnh vực này mà chúng ta tham gia, ký kết, cam kết thực hiện. Điều này giúp nâng cao trình độ
của lao động một cách đúng đắn và hợp lí theo quy chuẩn của quốc tế.
- Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội,
kêu gọi đầu tư nước ngoài, thu hút các trường đại học, dạy nghề có đẳng cấp quốc tế vào
Việt Nam hoạt động. Trong tương lai, các trường này sẽ đào tạo được một thế hệ lao động có
tay nghề cao, kĩ thuật tốt, từ đó đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng quốc tế, tạo điều
kiện cho nước ta gia nhập thị trường thế giới.
-Tạo dựng môi trường và vị thế để lao động trình độ cao hoạt động. Hiện nay, môi trường
phát triển cũng như các đãi ngộ đối với lao động trình độ cao chưa thực sự thỏa đáng trong các
ngành kinh tế nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Điều này dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng như chảy máu chất xám,... Do đó, việc tạo dựng môi trường thuận lợi để nguồn lao
động có trình độ cao phát triển là vấn đề cực kì quan trọng. Các doanh nghiệp cũng như Nhà
nước cần có những biện pháp đãi ngộ cho những nhân tố lao động này nhằm hướng đến phát
triển bền vững nguồn nhân lực

KẾT LUẬN
Dân số là vấn đề lớn đang được cả xã hội quan tâm. Bài nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận
quan trọng: Sự biến động dân số có tác động, ảnh hưởng rõ rệt đến sự tăng trưởng của nền kinh
tế. Có thể nói, biến động dân số đã tạo nhiều lợi tức cho sự phát triển kinh tế cho Việt Nam. Đó

là một nguồn lao động dồi dào.
Tuy nhiên, việc tăng dân số quá nhanh, những biến động thất thường về cơ cấu dân số, hay
các chính sách dân số không hiệu quả lại có tác động không tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Từ
đó thấy rằng: một tốc độ gia tăng dân số chậm mới tạo điều kiện cho sự tăng trưởng GDP và thu
nhập bình quân đầu người diễn ra nhanh hơn, bền vững hơn, đồng thời khi đất nước có những sự
điều chỉnh và kiểm soát biến động dân số mạnh mẽ và tốt hơn thì khả năng góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác càng được thể hiện rõ nét.
Quản lí tốt công tác dân số, tận dụng được lợi tức từ dân số cùng những chính sách đúng đắn
sẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng một cách nhanh chóng.
Học sinh sinh viên là những người chủ tương lai của đất nước, hơn lúc nào hết cần được
trang bị những kiến thức cơ bản về dân số học, giáo dục dân số và chính sách dân số - kế hoạch
hóa gia đình của Đảng và Nhà nước ta.



×