Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

tiểu luận tài chính công trần nợ công và phương pháp xây dựng trần nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trần nợ công

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (463.7 KB, 28 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ BẢNG, BIỂU ĐỒ......................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ TRẦN NỢ CÔNG........6
1.1. KHÁI NIỆM “NỢ CÔNG”.............................................................................6
1.2. TỔNG QUAN VỀ TRẦN NỢ CÔNG............................................................8
1.2.1. Nguồn gốc của Trần nợ công...................................................................8
1.2.2. Định nghĩa Trần nợ công......................................................................... 8
1.2.3 Nguyên nhân hình thành Trần nợ công.....................................................9
1.3. NGƯỠNG NỢ CÔNG AN TOÀN CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ TRÊN
THẾ GIỚI.............................................................................................................. 9
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG.........................13
2.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NỢ THEO TIÊU CHUẨN WB...............................13
2.2. XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC YẾU TỐ CỦA QUỐC GIA........................15
2.3 CÁC CÁCH XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG KHÁC................................... 17
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẦN NỢ CÔNG VIỆT NAM.............................................20
3.1. THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM..............................................20
3.2 CHÍNH SÁCH TRẦN NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN
ĐÂY.....................................................................................................................23
3.2.1 Ngưỡng nợ công tối ưu:..........................................................................23
3.2.2 Nới lỏng trần nợ công............................................................................. 24
3.2.3 Tái cơ cấu đầu tư công với tái cơ cấu thu chi ngân sách........................25
3.3. GIẢI PHÁP VÀ ĐIỀU CHỈNH TRẦN NỢ CÔNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG
Ở VIỆT NAM...................................................................................................... 25
KẾT LUẬN..............................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 29

2



DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ BẢNG, BIỂU ĐỒ
GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

WB

Ngân hàng thế giới

UNCTAD

Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển

IMF

Quỹ tiền tệ thế giới

SDR

Quyền rút vốn đặc biệt

NHTW

Ngân hàng trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

WAEMU


Liên minh kinh tế và tiền tệ Tây Phi

CEMAC

Liên minh kinh tế tiền tệ Trung Phi

ECCU

Liên minh tiền tệ vùng Tây Caribbean

ICOR

Hệ số hiệu quả vốn đầu tư

HSBC

Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải

Hình 1.1

Tr. 7

Các chủ thể nợ công

Hình 2.1.

Tr. 14

Nợ công của các quốc gia trên thế giới


Hình 3.1

Tr. 21

Diễn biến tỷ lệ nợ công của Việt Nam

Bảng 2.1.

Tr 14.

Phân loại mức độ nợ công theo IMF

Bảng 2.2

Tr 16.

Nợ công trên GDP của Việt Nam qua các năm

3


PHẦN MỞ ĐẦU
Khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu
cầu chi tiêu, Nhà nước phải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và
chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công. Nợ công
mang lại những lợi ích quan trọng cho nền kinh tế vĩ mô của các quốc gia mà không một
Chính phủ nào có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, quốc gia nào không biết sử dụng một
cách hợp lý mà “vượt trần” không kiểm soát thì nợ công cũng mang lại những hệ lụy
nghiêm trọng cho nền kinh tế đó.Trong quá trình phục hồi kinh tế thế giới, các quốc gia

phải đối mặt với khủng hoảng nợ công, nợ công vượt quá cao so với mức an toàn ở nhiều
nền kinh tế đang trở thành chủ đề nóng hiện nay bởi nó không chỉ tác động xấu đến nền
kinh tế của các nước trong vòng xoáy nợ công, mà hơn thế nữa, nó còn đe dọa nghiêm
trọng tới sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung. Nợ công đã trở thành một vấn đề
nóng bỏng trên toàn cầu, ở tất cả các quốc gia, kể cả nhóm các nước phát triển cũng như
nhóm các nước đang phát triển.
Việc đặt ra một ngưỡng giới hạn nợ hiện nay là rất cần thiết, đây được coi như một
biện pháp tình thế để kìm hãm tốc độ tăng trưởng nợ công. Tuy nhiên, nợ công đang có xu
hướng tăng sát trần cho phép, áp lực trả nợ lớn trong ngắn hạn, một số dự án đầu tư kém
hiệu quả. Điều này đặt ra một bài toán cho Chính phủ cũng như các nhà kinh tế một bài
toán “Làm thế nào để xác định được một ngưỡng nợ công an toàn”. Mặt tích cực, trần nợ
có thể xem như là một lời nhắc nhở hữu ích cho tình trạng thâm hụt ngân sách Quốc gia,
nhưng đôi khi nó lại trở thành không khác gì hơn một “vách đá nhân tạo” kìm hãm sự
phát triển của nền kinh tế. Từ tính quan trọng và cấp thiết của vấn đề, nhóm chúng em đã
đi đến việc chọn đề tài tiểu luận “Trần nợ công và phương pháp xây dựng trần nợ
công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trần nợ công”. Chúng em xin chân
thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Lan. Trong quá trình
làm bài, do kiến thức còn hạn chế và mới mẻ nên chúng em không thể tránh khỏi những
thiếu sót, khiếm khuyết. chúng em cũng đã gặp khá nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm
và tích hợp thông tin vì đây là vấn đề nhạy cảm của quốc gia mỗi nước, nguồn thông tin

4


rất khan hiếm và chưa có những chính sách áp dụng cụ thể về vấn đề này mới nhất. Vậy
chúng em kính mong nhận được sự góp ý quý báu của cô.
Đề tài của chúng em gồm có 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan chung về nợ công và trần nợ công
Chương II: Phương pháp xây dựng trần nợ công
Chương III: Thực trạng nợ công của Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến trần

nợ công Việt Nam.

5


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NỢ CÔNG
VÀ TRẦN NỢ CÔNG
1.1. KHÁI NIỆM “NỢ CÔNG”
Mặc dù khái niệm về nợ công tương đối rõ ràng và mang tính trực quan cao là các
nghĩa vụ nợ của nhà nước, nhưng cách thức tính toán và phạm vi bao hàm có sự khác biệt
nhất định giữa các quốc gia.
Định nghĩa của World Bank
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ
nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
- Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;
- Nợ của các cấp chính quyền địa phương;
- Nợ của Ngân hàng trung ương;
- Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn.
Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và
phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển
(UNCTAD).
Định nghĩa của IMF
Để đảm bảo khả năng so sánh và kiểm soát rủi ro nợ công trên phạm vi toàn cầu,
Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra một khung tiếp cận chung trong tính toán về nợ công
bao gồm hai cấu phần chính, xác định các chủ thể nợ công và các công cụ nợ công.
Các chủ thể nợ công
Theo định nghĩa của IMF, nợ công bao gồm nợ của chính phủ trung ương và chính
phủ địa phương. Trong đó nợ chính phủ trung ương bao gồm cả nợ của các đơn vị sử dụng
vốn ngân sách nằm ngoài Chính phủ (các đơn vị y tế, giáo dục, an sinh xã hội, xây dựng,
… được kiểm soát và tài trợ hoàn toàn bởi Chỉnh phủ) và các quỹ an sinh xã hội.


6


Hình 1.1 Các chủ thể nợ công (Nguồn: IMF)
Các công cụ nợ công
IMF (2001) đưa ra định nghĩa tổng nợ công (gross debt) dựa trên 6 nhóm công cụ
nợ, bao gồm:
-

Các chứng khoán nợ như trái phiếu, tín phiếu.

-

Các khoản vay trực tiếp.

-

Các khoản phải trả như tín dụng thương mại, trả trước…

-

Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) do IMF phát hành và phân bổ đến các nước thành
viên.

-

Tiền mặt do NHTW phát hành và các khoản tiền gửi tại NHTW, Chính phủ hay các
tổ chức thuộc chính phủ khác.


-

Các khoản bảo hiểm xã hội, hưu trí được Chính phủ bảo đảm thanh toán.

Định nghĩa nợ công tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm nợ chính
phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Nợ Chính phủ là khoản
nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được ký kết, phát hành nhân danh
Nhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát
hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm
khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức
tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền

7


địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi
chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.

1.2. TỔNG QUAN VỀ TRẦN NỢ CÔNG
1.2.1. Nguồn gốc của Trần nợ công
Giới hạn về nợ liên bang được đặt ra từ năm 1917, nhằm dễ dàng tài trợ cho Chiến
tranh thế giới thứ nhất bằng cách nhóm các loại trái phiếu thành các loại khác nhau. Việc
này cũng giảm bớt gánh nặng lên Quốc hội. Trước đó, các nhà làm luật sẽ thông qua từng
loại trái phiếu một, trong đó có cả những khoản vay dùng để đầu tư vào kênh đào
Panama.
(Nguồn: CRS Báo cáo Quốc hội, 2008, “The Debt Limit: History and Recent
Increases”).
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, Quốc hội Mỹ lần đầu tiên đặt

ra giới hạn tổng hợp cho tất cả các loại nợ, và đều đặn nâng giới hạn nợ cho tới năm 1953.
Đây là năm mà ý tưởng nâng giới hạn nợ bị kẹt ở Thượng viện trong nỗ lực ngăn cản cựu
Tổng thống Dwight Eisenhower (thuộc phe Cộng hòa) xây dựng hệ thống đường cao tốc
xuyên quốc gia.

1.2.2. Định nghĩa Trần nợ công
Trần nợ công là giới hạn do Quốc hội ấn định đối với khoản nợ mà chính phủ có
thể nắm giữ trong bất kỳ thời điểm nào. Mức trần nợ là một con số tổng hợp áp dụng cho
tổng nợ, bao gồm nợ trong tay của công chúng và trong các tài khoản trong chính phủ
(Khoảng 0,5% nợ không được quy định bởi mức trần). Do các khoản chi được luật pháp
quy định riêng, trần nợ không trực tiếp hạn chế thâm hụt của chính phủ. Trong thực tế, nó
chỉ có thể cản trở Kho bạc từ việc chi trả các khoản chi tiêu và các nghĩa vụ tài chính khác
sau khi đã đạt đến giới hạn, nhưng đã được phê duyệt (trong ngân sách) và sử dụng. Khi
trần nợ thực sự đạt đến mà không có sự gia tăng giới hạn đã được ban hành, Kho bạc sẽ
cần phải sử dụng "các biện pháp phi thường" để tạm thời chi cho các khoản chi tiêu và
nghĩa vụ của chính phủ cho đến khi có thể giải quyết được. Kho bạc chưa bao giờ đạt đến

8


mức phải mất các biện pháp bất thường, dẫn đến việc vỡ nợ mặc dù trong một số trường
hợp, Quốc hội dường như sẽ cho phép mặc định diễn ra. Nếu tình huống này xảy ra,
không rõ là Bộ Tài chính sẽ có thể ưu tiên thanh toán nợ để tránh tình trạng vỡ nợ của các
khoản nợ trái phiếu của mình, nhưng ít nhất nó cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ thanh
toán không phải là trái phiếu. Một trường hợp vỡ nợ kéo dài có thể gây ra nhiều vấn đề
kinh tế bao gồm khủng hoảng tài chính và sự sụt giảm sản lượng có thể đưa đất nước rơi
vào suy thoái kinh tế trầm trọng.

1.2.3 Nguyên nhân hình thành Trần nợ công.
Như đã nói ở trên, Trần nợ công là hạn mức nợ có thể cản trở khả năng của Kho bạc

để quản lý tài chính của chính phủ. Trong trường hợp cực đoan, khi nợ gần với giới hạn
quy định của nó, Chính phủ phải có các biện pháp để giải quyết tình trạng nợ công vượt
trần.
Bên cạnh đó, Giới hạn nợ cũng cung cấp cho Quốc hội những chuỗi kiểm soát túi
tín dụng của các địa phương, cho phép Quốc hội khẳng định các đặc quyền hiến pháp của
mình để kiểm soát chi tiêu. Giới hạn nợ cũng áp đặt một hình thức trách nhiệm tài chính
buộc Quốc hội phải có hành động rõ ràng để có thể khống chế tình trạng chi tiêu vượt hơn
thu nhập. Theo lời của một tác giả, giới hạn nợ "thể hiện sự tôn kính quốc gia về ý tưởng
tiết kiệm và quản lý kinh tế về các vấn đề tài chính của chính phủ".

1.3. NGƯỠNG NỢ CÔNG AN TOÀN CỦA MỘT SỐ NỀN KINH
TẾ TRÊN THẾ GIỚI
Không phải lúc nào nợ công cao cũng ngay lập tức mang lại “kết cục” bi đát cho một
quốc gia nào đó. Thực tế cho thấy, những cuộc khủng hoảng nợ công chỉ diễn ra khi
Chính phủ của một quốc gia không thể trả nợ đúng hạn, cả gốc và lãi, nên phải tuyên bố
quốc gia phá sản hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế. Vì thế, xác định ngưỡng nợ công an
toàn là cần thiết nhằm quản lý nợ công hiệu quả.
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của một
nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toàn hay không là cần
thiết đối với các nhà đầu tư cũng như với Chính phủ của quốc gia đó. Tuy nhiên, hiện nay
trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về ngưỡng an toàn đối với các chỉ tiêu về nợ công

9


để áp dụng cho tất cả các nước. Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từng
nước thường được dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính
sách tài khóa, tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có
thể tham khảo khuyến nghị của các tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế
giới (WB) về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượng khuôn khổ thể chế

và chính sách.
Trên thế giới, việc xác định ngưỡng an toàn cho nợ công được thực hiện dưới
nhiều hình thức: Dựa trên các cam kết chính trị hoặc các quy định về tài chính theo thỏa
thuận khu vực được ký kết; do Hiến pháp quy định (như ở Hungary và Phần Lan) hoặc do
Nghị viện quyết định hàng năm.
Ở một số nước như Argentina, Brazil, Canada, Nhật Bản, Moldova, New Zealand
hay Tây Ban Nha, Nghị viện được trao quyền xác định giới hạn nợ công thông qua xem
xét và phê chuẩn Đạo luật Ngân sách hoặc Đạo luật Phân bổ ngân sách hàng năm. Đơn
cử, ở Brazil, Hiến pháp quy định cấm Chính phủ vay vượt quá chi phí vốn trong năm tài
chính. Quy định này được xem như nguyên tắc vàng và được thực thi thông qua Đạo luật
Trách nhiệm tài khóa của Brazil. Điều 30 Luật này quy định, Thượng viện quyết định giới
hạn nợ hàng năm ở mọi cấp của Chính phủ.
Ở Mỹ, trước khi Đạo luật Ngân sách Quốc hội và kiểm soát việc sung công 1974
được thực thi, giới hạn nợ hàng năm phải được Hạ viện phê chuẩn, cùng với ngân sách,
dưới hình thức thông qua nghị quyết. Theo Điều I Mục 8 của Hiến pháp Mỹ, chỉ Quốc hội
mới có thể ủy quyền Chính phủ đi vay nợ dựa trên tín dụng quốc gia. Kể từ khi lập quốc
đến năm 1917, Quốc hội Mỹ trực tiếp xem xét ủy quyền từng khoản nợ do Chính phủ
trình ra. Nhằm tạo sự linh hoạt hơn trong cung cấp tài chính cho các hoạt động quân sự
của Mỹ trong Thế chiến I, Quốc hội đã sửa đổi phương pháp ủy quyền cho phép Chính
phủ vay nợ trong Đạo luật Công trái Tự do thứ hai (Second Liberty Bond) năm 1917.
Theo Luật, Quốc hội thiết lập giới hạn nợ công, còn gọi là “trần nợ”, trên tổng khối lượng
trái phiếu mới có thể được ban hành. “Trần nợ” hiện nay là giới hạn áp dụng cho hầu hết
các khoản nợ liên bang. Ban đầu, “trần nợ” do các Đạo luật Nợ công năm 1939 và 1941
thiết lập, nhưng về sau các đạo luật này được sửa đổi nhằm cho phép điều chỉnh mức trần.

10


Khi thảo luận về việc vạch ra ngưỡng an toàn cho nợ công, giới chuyên gia nhấn
mạnh, không nên dựa quá nhiều vào ngưỡng nợ. Mặc dù đây là thông số hữu ích nhưng

nếu chỉ nhìn vào ngưỡng an toàn thì chưa đủ. Khi xem xét tình trạng nợ công của một
nước cần phải xem các nước có nền kinh tế tương tự có ngưỡng nợ thế nào và nên tính
đến cả rủi ro về lòng tin. Quan trọng hơn, cần hiểu được phạm vi, quy mô và chất lượng
nợ thực chất như thế nào? Nên xác định trần nợ bao nhiêu phần trăm là vừa để bảo đảm
thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn, dài hạn.
Tại các nước Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), quy định hạn mức
trần nợ công áp dụng chung cho tất cả các nước trong khối là dưới 60% GDP, thâm hụt
ngân sách dưới 3% GDP.
Vương quốc Anh đã vận hành hai quy tắc tài khóa trong những năm gần đây. Quy
tắc thứ nhất yêu cầu trong một chu kỳ “Chính phủ chỉ được phép vay để đầu tư chứ không
vay để chi thường xuyên” (đây được xem là một trong những “nguyên tắc vàng”). Quy tắc
thứ hai yêu cầu “Nợ ròng khu vực công theo tỷ lệ với GDP cần phải giữ ổn định ở mức
cẩn trọng - hiện nay được xác định dưới 40% GDP” (quy tắc đầu tư vững chắc).
Năm 2003, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, Indonesia đã đặt ra
quy tắc tài khóa, theo đó ấn định mức bội chi ngân sách hàng năm tối đa là 3% GDP và
dư nợ công tối đa là 60% GDP.
Hiến pháp của Singapore quy định, Chính phủ trong nhiệm kỳ của mình (5 năm)
phải bảo đảm cân bằng ngân sách, nghĩa là thâm hụt ngân sách của bất kỳ năm nào phải
được bù đắp bằng thặng dư ngân sách tích lũy của những năm còn lại trong nhiệm kỳ.
Trong trường hợp đặc biệt, Chính phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sách bằng thặng dư
ngân sách của nhiệm kỳ trước, nhưng phải được sự chấp thuận đồng thời của nghị viện và
tổng thống.
Luật Trách nhiệm Tài khóa (1994) của New Zealand quy định cụ thể 5 nguyên tắc
quan trọng mà Chính phủ phải tuân thủ, trong đó có yêu cầu giảm tổng nợ xuống mức cẩn
trọng; bảo đảm bình quân tổng chi thường xuyên không vượt quá tổng thu thường
xuyên... Mặc dù Luật không quy định số liệu cụ thể, nhưng Chính phủ nước này sau đó
cũng tự đặt mục tiêu duy trì mức nợ dưới 30% GDP.

11



Tỷ lệ nợ/GDP của Trung Quốc 6 tháng đầu năm là 250%, vẫn thấp hơn nhiều so
với phần lớn các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh và Nhật Bản với tỷ lệ nợ/GDP tính
đến cuối năm 2013 lần lượt là khoảng 260%, 277% và 415%. Tuy nhiên, nợ công của
Nhật Bản không gây khó cho nền kinh tế do họ có khả năng trả nợ trong khi với Trung
Quốc, đây là điều đáng quan tâm khi nợ công gia tăng rất nhanh so với GDP kể từ năm
2009 đến nay, còn kinh tế lại tăng trưởng chậm hơn.
Với LB Nga, trong những năm từ 2004 – 2008, Tổng thống V.Putin đã đặt ra nhiệm
vụ cho Chính phủ là phải giảm đến mức thấp nhất mức nợ công từ các khoản vay của
nước ngoài. Trong những năm gần đây Nga luôn là nước có mức nợ công gần như thấp
nhất ở châu Âu – khoảng hơn 10% đến xấp xỉ 11% GDP.

12


CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN
NỢ CÔNG
Có nhiều nghiên cứu về bản chất của khủng hoảng nợ công đã được tiến hành, và cũng
đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khủng hoảng nợ công. Theo định nghĩa của
Manasse, Roubini và Schimmelpfennig (2003): “Một quốc gia được cho là khủng hoảng
về nợ công nếu bị Standard & Poor’s xếp hạng là vỡ nợ, hoặc được nhận một khoản vay
không ưu đãi lớn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)”.
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của một
nền kinh tế. Chính vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toàn hay không
trở nên vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như chính bản thân chính phủ của
quốc gia đó. Nhờ đó mà xếp hạng tín dụng nợ công ra đời.
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng an toàn đối
với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước.
Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từng nước thường được dựa trên cơ
sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ,

nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thể tham khảo
khuyến nghị của IMF/WB về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượng
khuôn khổ thể chế và chính sách.

2.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NỢ THEO TIÊU CHUẨN WB
- Số dư nợ so với tổng thu nhập quốc nội (GDP): K1 =x 100%
- Số dư nợ so với kim ngạch xuất khẩu: K2= x100%
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu:

- Lãi đến hạn trả so với kim ngạch XK: K4 = x100%
=> Đánh giá mức độ nợ theo WB:

13


Mức độ

K1

K2

K3

K

Nợ nghiêm

>50%

>275%


>30%

<20%

Nợ vừa phải

30%-50%

165%-275%

18%-30%

12%-20%

Nợ ít

<30%

<165%

<18%

<12%

4

trọng

Bảng 2.1. Phân loại mức độ nợ công theo IMF

Đây chỉ là ngưỡng tham khảo cho các quốc gia trên thế giới chứ không phải là mức
ấn định trong mọi trường hợp. Tuy nhiên các ngưỡng này được WB xác định một các
tương đối dựa trên cơ sở thực tiễn từ các nền kinh tế.

Hình 2.1. Nợ công của các quốc gia trên thế giới (Nguồn: Inforaphic.com)

14


Có thể thấy rằng Nhật Bản, Singapore, Hy Lạp, là một trong những nước có nợ
công trên 100% so với GDP với số tiền nợ rất lớn, do đó mỗi người dân của các quốc gia
này đang phải gánh trên vai những khoản nợ công rất lớn.
Tuy nhiên, khác với Nhật Bản, Hy Lạp đang gặp những khó khăn vô cùng lớn vì
những khoản nợ này mặc dù số tiền nợ công nhỏ hơn. Trước khi gia nhập EU Hy Lạp chỉ
được vay những khoản tiền nhỏ với lãi suất rất cao lên tới 18% nhưng sau khi gia nhập
EU thì quốc gia này chỉ phải chịu lãi suất ngang với Đức bởi các quốc gia tin rằng khi Hy
Lạp không trả được nợ thì họ sẽ được các nước trong khối liên minh châu Âu đứng ra trả
hộ vì sử dụng chung đồng tiền euro. Sự tín nhiệm của Hy Lạp đã thay đổi hoàn toàn. Các
chính trị gia Hy Lạp thực hiện chi tiêu lớn để tăng uy tin và hứa hẹn tăng việc làm, lương,
… nhưng những khoản này lại được chi trả bằng các khoản vay rồi tích lũy thành các
khoản nợ khủng lồ. Và vòng lặp vay để trả nợ tiếp tục diễn ra kéo theo ảnh hưởng của
toàn khu vực. Nền kinh tế yếu làm cho Hy Lạp trở thành con nợ nguy hiểm và mối lo ngại
rất lớn của khu vực châu Âu.
Trong khi đó, Nhật Bản có nợ công rất lớn lên tới 245% GDP nhưng đây không
được xem là ngưỡng nguy hiểm báo động cho nền kinh tế. Phần lớn các khoản nợ công
(~90%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước nên Nhật chưa phải trải qua cuộc hủng
hoảng như Hy Lạp và tránh được tác động trực tiếp từ sụ thất thường của thị trường tài
chính thế giới. Theo IMF (2008),tổng tài sản Nhật ở nước ngoài là 5700 tỷ USD cao hơn
nhiều so với mức nợ nước ngoài nên nếu Nhật gặp khó khăn trong việc huy động tài
chính trong nước. Ngoài ra hệ số ICOR của nước này vào khoảng 3,0 cộng với dự trữ

ngoại tế lớn nên khả năng trả nợ không quá khó.
Do đó, đôi khi nợ công vượt ngưỡng trần nợ an toàn do WB đề xuất thì chưa thể
khẳng định rằng quốc gia đó đang gặp mối đe dọa về vỡ nợ. Dưới đây là một số ví dụ về
trần nợ công có thể thấy rằng các trần nợ này khá gần so với trần nợ của WB.

2.2. XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC YẾU TỐ CỦA QUỐC GIA
Như đã trình bày, không có một cách chính thống và thống nhất nào trong cách tính nợ
công và tràn nợ công của các quốc gia. Tuy nhiên, các mức trần nợ này có thể xem xét

15


dựa trên các yếu tố thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, chính sách
tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia.
Xem xét Việt Nam quốc gia để thấy được việc xác định trần nợ công phần nào được
thông qua các yếu tố này.
Chính phủ Việt Nam đã và đang sử dụng mức trần nợ công là 65% GDP trong những
năm vừa qua.
- Thực trạng nợ:

Năm

2013

2014

2015

2016


Nợ công/GDP (%)

54,5

58

62,2

64,73

Bảng 2.2 Nợ công trên GDP của Việt Nam qua các năm
Còn theo báo cáo của Bộ Tài chính cho biết đến cuối năm 2016 dư nợ công khoảng
64,73% GDP, dư nợ Chính Phủ khoảng 53,62%. Hai con số này đều đã tiến đến sát
ngưỡng nợ không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP trong Nghị quyết về
kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 – 2020.
-

Tình hình kinh tế vĩ mô: trong vòng 10 năm trở lại đây, GDP của Việt Nam đã có
bước tăng trưởng tới hơn 4 lần, nếu năm 2006 GDP cả nước chưa đạt 1.000 nghìn
tỷ đồng và GDP/đầu người khoảng 715 USD thì năm 2015 GDP đã đạt đến con số
xấp xỉ 4.200 nghìn tỷ đồng và GDP/đầu người là 2.019 USD. GDP tăng trưởng
tương đối bền vững, lạm phát được kiềm chế đáng kể.

-

Xếp hạng tín nhiệm: Bộ Tài chính cho biết cơ quan xếp hạng tín nhiệm
Standard&Poor’s (S&P) khẳng định mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam ở mức
BB-/B, triển vọng ổn định, không thay đổi so với mức xếp hạng do S&P đã công
bố vào tháng 3/2015.


-

Việt Nam hiện vẫn là quốc gia đang phát triển do đó nhu cầu đầu tư công là rất lớn
nên việc ngân sách không đáp ứng được nhu cầu khiến chính phủ cần đi vay nợ là
điều tất yếu.

16


-

Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng nơ ̣công (nhằm đảm bảo nợ công là động lực giúp
tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triển là90%, các nước đang
phát triển cónền tảng tốt là60% vàcónền tảng kém là30 - 40%. Vì vậy, mức ngưỡng
nợ công/GDP được Quốc hội đề ra 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc
vươṭ ngưỡng cóthểtiềm ẩn rủi ro bởi nền kinh tế Việt Nam hiện nay khó có thể
chịu được gánh nặng nợ quá lớn.

Bên cạnh đó, để xác định được mức nợ phù hợp với quốc gia hay không cần xem xét
thông qua một số mục tiêu cần đạt được như sau:
-

Mức nợ có góp phần đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa không?

-

Mức nợ này có làm giảm tính dễ bị tổn thương bởi khủng hoảng không?

-


Mức nợ mà tại đó tối ưu hóa tăng trưởng bằng cách giảm rủi ro không?

-

Mức nợ có tạo được khoảng cách cho các khoản nợ bất ngờ lớn như các hoạt động
tái cấp vốn trong lĩnh vực tài chính,…
Tuy nhiên trần nợ phụ thuộc vào từng quốc gia và sự ưu tiên trong chính sách mà

quốc gia đó hướng đến. Do vậy, trần nợ hợp lý có thể thay đổi khác nhau giữa các quốc
gia và giữa các thời kỳ.

2.3 CÁC CÁCH XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG KHÁC.
2.3.1 Cam kết chính trị
Ở một số quốc gia, mức trần nợ được xác định là một phần của khuôn khổ trách
nhiệm tài chính dựa trên những chính sách đã cam kết hơn là các công cụ pháp lý rõ ràng.
Các quy tắc về nợ đã được lập ra bởi cơ quan chính phủ như tại Canada và Cape Verde, và
bởi các hiệp định liên minh trong Phần Lan.

2.3.2 Mức trần nợ đa quốc gia
Các mức trần nợ đôi khi được thiết lập như một phần của các quy tắc tài chính theo
các hiệp định khu vực dùng để ràng buộc thành viên của Liên minh tiền tệ. Ví dụ như trần
nợ được áp dụng cho các nước thành viên EU. Khác Các Liên minh tiền tệ đã đặt ra mức

17


trần nợ. Chúng bao gồm WAEMU (Tỷ lệ nợ / GDP là 70%) và CEMAC (tỷ lệ nợ / GDP
của 70%) . Trong trường hợp của ECCU, tỷ lệ nợ / GDP là 60% hoạt động như một chuẩn
mực hoặc mục tiêu mà các quốc gia thành viên mong muốn đạt được vào năm 2020 thay
vì một mức trần ràng buộc.


2.3.3 Trần nợ Hiến pháp
Ở một số quốc gia hạn chế (như Hungary và Ba Lan), trần nợ được thiết lập theo
Hiến pháp. Điều này giúp đưa trần nợ lên cấp độ pháp luật vượt trội của cơ quan có thẩm
quyền. Ngoài ra, nếu đưa vào Hiến pháp, điều khoản này có thể làm cho quy tắc trần nợ
trở nên vĩnh viễn và không bị thay đổi tùy ý, với điều kiện các thủ tục sửa đổi hiến pháp
thường nghiêm ngặt hơn so với các luật thông thường. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến
sự cứng nhắc khi đối mặt với thách thức kinh tế đi lên, dẫn đến hậu quả không mong đợi,
cần được xem xét cẩn thận.

2.3.4 Trần nợ theo Luật định
Trong một số lĩnh vực có trần nợ, trần được thành lập theo quy định như luật nợ
công, luật về trách nhiệm tài chính hoặc luật về ngân sách / quản lý tài chính công. Mức
độ linh hoạt trong trường hợp trần nợ theo luật định có thể hơi cao hơn so với Hiến pháp
rằng Quốc hội thường có thể sửa đổi các mức trần được quy định theo Luật. Tuy nhiên,
trong phạm vi quyền hạn, việc sửa đổi trần nợ theo luật định yêu cầu phải có tất cả phiếu
bầu của đại đa số ý kiến trong Quốc hội và nó cũng có nét tương tự với độ cứng nhắc của
mức trần theo Hiến pháp quy định.

2.3.5 Mức trần nợ hàng năm do Nghị viện đặt ra
Ở một số nước như Argentina, Brazil, Canada, Nhật Bản, Moldova, New Zealand
hay Tây Ban Nha, Nghị viện được trao quyền xác định giới hạn nợ công thông qua xem
xét và phê chuẩn Đạo luật Ngân sách hoặc Đạo luật Phân bổ ngân sách hàng năm. Đơn
cử, ở Brazil, Hiến pháp quy định cấm Chính phủ vay vượt quá chi phí vốn trong năm tài
chính. Quy định này được xem như nguyên tắc vàng và được thực thi thông qua Đạo luật
Trách nhiệm tài khóa của Brazil. Điều 30 Luật này quy định, Thượng viện quyết định giới
hạn nợ hàng năm ở mọi cấp của Chính phủ.

18



Ở Mỹ, trước khi Đạo luật Ngân sách Quốc hội và kiểm soát việc sung công 1974
được thực thi, giới hạn nợ hàng năm phải được Hạ viện phê chuẩn, cùng với ngân sách,
dưới hình thức thông qua nghị quyết. Theo Điều I Mục 8 của Hiến pháp Mỹ, chỉ Quốc hội
mới có thể ủy quyền Chính phủ đi vay nợ dựa trên tín dụng quốc gia. Kể từ khi lập quốc
đến năm 1917, Quốc hội Mỹ trực tiếp xem xét ủy quyền từng khoản nợ do Chính phủ
trình ra. Nhằm tạo sự linh hoạt hơn trong cung cấp tài chính cho các hoạt động quân sự
của Mỹ trong Thế chiến I, Quốc hội đã sửa đổi phương pháp ủy quyền cho phép Chính
phủ vay nợ trong Đạo luật Công trái Tự do thứ hai (Second Liberty Bond) năm 1917.
Theo Luật, Quốc hội thiết lập giới hạn nợ công, còn gọi là “trần nợ”, trên tổng khối lượng
trái phiếu mới có thể được ban hành. “Trần nợ” hiện nay là giới hạn áp dụng cho hầu hết
các khoản nợ liên bang. Ban đầu, “trần nợ” do các Đạo luật Nợ công năm 1939 và 1941
thiết lập, nhưng về sau các đạo luật này được sửa đổi nhằm cho phép điều chỉnh mức trần.

2.3.6 Quyết định cấp Bộ
Một số khu vực pháp lý cho thấy sự linh hoạt hơn khi cho phép Bộ trưởng Bộ Tài
chính định kỳ ấn định trần nợ theo luật thứ cấp. Tuy nhiên, điều này có thể tạo ra quá
nhiều sự thận trọng trong quyết định của Bộ trưởng, đặc biệt khi không có yêu cầu cho
Quốc hội để xác nhận các quy định như vậy.

19


CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT
NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẦN
NỢ CÔNG VIỆT NAM.
3.1. THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM
Trong giai đoạn 2011 - 2015, nợ công của Việt Nam tăng trưởng ở mức cao, trong đó
tốc độ tăng nợ công năm 2011 đạt gần 25%. Năm 2015, quy mô nợ công ước khoảng 2,6
triệu tỷ đồng, gấp khoảng 2 lần so với năm 2011. Tuy nhiên, hầu hết các chỉ tiêu về nợ

công của Việt Nam đều nằm trong giới hạn an toàn. Năm 2015, tổng nợ công/GDP đạt
62,2%, thấp hơn ngưỡng an toàn 65% Quốc hội đề ra.
Xét cơ cấu nợ công so GDP, quy mô nợ công của Việt Nam tăng nhanh, từ 54,9%
GDP năm 2011 lên 62,2% GDP năm 2015, trong đó nợ chính phủ/GDP tăng từ 43,2%
GDP lên 50,3% GDP vào cuối năm 2015; nợ nước ngoài/GDP đạt 43,1%, thấp hơn
ngưỡng an toàn 50%. Xét cơ cấu nợ công so NSNN, quy mô nợ công của Việt Nam đã
tăng từ 1,93 lần tổng thu NSNN vào năm 2011 lên 2,36 lần vào năm 2013 và khoảng 2,11
lần năm 2015. Quy mô nợ công tăng nhanh so với thu NSNN sẽ tạo ra áp lực rất lớn đối
với nguồn trả nợ. (Nguồn: Bộ tài chính)
Trong bốn năm, con số nợ công đã tăng lên gấp đôi, khoảng 117 tỷ USD. Trong khi
GDP mỗi năm của nước ta chỉ vào khoảng 200 tỷ USD. Trung bình cứ mỗi năm nợ công
lại tăng thêm gần 20%. Với tốc độ tăng nhanh như vậy và vượt cả tăng trưởng GDP, dẫn
tới tỷ lệ nợ công trên GDP cũng tăng liên tục, từ mức khoảng 50% vào cuối năm 2011 lên
sát ngưỡng 65%. Nếu tốc độ tăng trưởng GDP tiếp tục chậm lại, thì tỷ lệ nợ công trên
GDP rất có thể vượt qua ngưỡng 65%. Đến cuối năm 2015, nợ công bằng 62,2% GDP; nợ
Chính phủ 50,3% (vượt trần quy định là 50%); nợ nước ngoài của quốc gia 43,1%. Nghĩa
vụ chi trả nợ lãi trực tiếp năm 2015 bằng khoảng 8,4% tổng thu NSNN (nếu tính cả trả nợ
gốc thì bằng hơn 26%). Chi trả nợ giai đoạn 2011 - 2015 gấp 1,86 lần giai đoạn 2006 2010. Dự báo chi trả nợ sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong các năm 2016, 2017 và 2018.

20


Mức trần nợ công cần được xem xét dưới giác độ một ràng buộc cứng để cải thiện
hiệu quả của chính sách tài khóa, bên cạnh ý nghĩa là ngưỡng an toàn để ngăn chặn một
cuộc khủng hoảng nợ công có thể xảy ra trong tương lai. Vì lý do đó việc duy trì “mức
trần nợ công cố định” có ý nghĩa thiết yếu trong kiểm soát các rủi ro vĩ mô trong trung
hạn. Thay vì nới rộng trần nợ công, cần thực hiện các biện pháp cứng rắn để đưa và duy
trì nợ công ở ngưỡng cho phép. Cần đồng hóa chuẩn mực thống kê của Việt Nam so với
thế giới để kiểm soát tốt hơn những rủi ro về nợ công.
Cụ thể, nhiệm kỳ khóa 11, nợ công ở mức 47-48% thì Chính phủ cho rằng ngưỡng an

toàn dưới 50%. Đến nhiệm kỳ khóa 12, nợ công khoảng 57% Chính phủ cũng cho rằng
đấy là ngưỡng an toàn. Đến cuối nhiệm kỳ khóa 13, tỷ lệ nợ công lên đến 61,3%, Chính
phủ lại cho rằng ngưỡng an toàn là 65%. Báo cáo dẫn chứng phát biểu của đại biểu: “Bộ
trưởng Bộ Tài chính từng giải trình, nếu không vượt quá 60% thì nợ công của Việt Nam
an toàn, bây giờ nợ công đã vượt quá 60% thì vẫn cho là an toàn”. ( Theo Dân trí ) Có
nghĩa là mức trần nợ công đang chạy theo mức nợ công chứ không còn là mức trần nợ
công được xây dựng để đặt ra một ngưỡng nợ công an toàn giúp cho việc chi tiêu của
chính phủ trở nên chừng mực hơn?
Theo nhận định của HSBC, vấn đề nợ của Việt Nam ngày càng trầm trọng hơn do lạm
phát chậm lại (ảnh hưởng đến GDP danh nghĩa) và đồng tiền Việt Nam mất giá (làm tăng
giá trị nợ nước ngoài). Dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam sẽ tăng lên 64,5%
GDP trong năm 2016, đạt mức trần nợ công của Quốc hội đề ra 65% trong 2017

21


Hình 3.1 Diễn biến tỷ lệ nợ công của Việt Nam (Nguồn: HSBC)
T11/2016, Bộ Tài chính đề ra Nghị quyết chỉ đạo “Chỉ chi trong khả năng của nền
kinh tế và Chỉ vay trong khả năng trả nợ”, đặt mục tiêu, tỉ lệ huy động vào ngân sách Nhà
nước giai đoạn 2016 - 2020 bình quân khoảng 20 - 21% GDP, phấn đấu tổng thu ngân
sách bằng khoảng 1,65 lần giai đoạn 2011 - 2015. Trong tổng thu ngân sách Nhà nước, tỉ
trọng thu nội địa khoảng 84 - 85%, tỉ trọng thu dầu thô và thu xuất nhập khẩu khoảng 14 16%; tỉ trọng thu ngân sách Trung ương 60 - 65%. Sau năm 2020, tỉ lệ huy động vào ngân
sách Nhà nước so với GDP được duy trì ở mức ổn định, hợp lý. Tỉ lệ chi ngân sách Nhà
nước giai đoạn 2016 - 2020 bình quân khoảng 24 - 25% GDP. Trong tổng chi ngân sách
nhà nước, tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 25 - 26%; tỉ trọng chi thường xuyên dưới
64%; ưu tiên bảo đảm chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia. Sau năm 2020, quy mô chi xác định
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, khả năng cân đối nguồn lực, bảo đảm an
toàn nợ công.
Song song với việc giữ vững an ninh tài chính quốc gia, mục tiêu là phải bảo đảm
cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020

xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu - chi
ngân sách nhà nước. Quy mô nợ công hằng năm trong giai đoạn 2016 - 2020 không quá
65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài quốc gia không quá

22


50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50%
GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP. Đến năm 2030, trần nợ công là
60% GDP. ( Theo Báo Dân trí)

3.2 CHÍNH SÁCH TRẦN NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
3.2.1 Ngưỡng nợ công tối ưu:
Nghiên cứu của Học viện Chính sách cũng chỉ rõ, “Ngưỡng nợ công” là chỉ tiêu
đánh giá quy mô nợ công, được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số nợ công/GDP của một quốc
gia trong một thời kỳ nhất định.
“Ngưỡng nợ công tối ưu” là ngưỡng nợ mà tại đó quy mô nợ công được xem như
mức nợ thận trọng, đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa và tối ưu hóa tăng
trưởng kinh tế. Khi vượt ngưỡng này, thì phần lớn sản lượng tạo ra được dùng để trả nợ
và do đó, không tạo ra động lực cho đầu tư phát triển. Tổng nợ càng lớn thì khả năng trả
nợ càng giảm. Ngưỡng nợ công tối ưu là một chỉ tiêu quan trọng để quản lý, kiểm soát nợ
công ở mức tối ưu của nền kinh tế và là cơ sở tham khảo để tính toán chỉ tiêu trần nợ.
“Trần nợ công” là giới hạn tổng số dư nợ công (tổng số tiền) tối đa mà chính phủ
được phép vay nợ, trong một thời kỳ nhất định và được quyết định bởi cơ quan lập pháp
cao nhất của quốc gia.
Trần nợ công an toàn là mức nợ thận trọng và bền vững, nằm dưới đường cong
biểu diễn sự tăng trưởng giả định của một quốc gia, được xác định căn cứ vào ngưỡng nợ
công tối ưu của quốc gia, phù hợp với năng lực phát triển của nền kinh tế.
Quản lý nợ công bằng trần nợ công và ngưỡng nợ công là một xu hướng ngày càng phổ

biến ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, PGS. TS. Đào Văn Hùng cũng chỉ rõ, không tồn tại một ngưỡng nợ
công tối ưu, trần nợ công an toàn hay tiêu chuẩn về ngưỡng an toàn nợ công chung cho tất
cả các nước trên thế giới. Mỗi quốc gia có một ngưỡng nợ công tối ưu và trần nợ công
riêng phù hợp với điều kiện của quốc gia đó.

23


Ngưỡng nợ công tối ưu và trần nợ công an toàn chỉ là điều kiện cần để đảm bảo an
toàn của nợ công, chất lượng nợ là điều kiện đủ để đảm bảo mức độ an toàn của nợ công;
phù hợp với các định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và các chính sách kinh tế
vĩ mô trung và dài hạn của đất nước.
Cần phải chủ động dự phòng đối với các khoản nợ bất khả kháng, bao gồm nợ
ngầm định và nợ bất thường nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và an toàn nợ công.

3.2.2 Nới lỏng trần nợ công
Nợ công là vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm trong phiên thảo luận tổ
chiều 22/10/2016. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, hiện có một số ý
kiến đề nghị nâng trần nợ công, nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.
Phó Thủ tướng cho rằng, chỉ tiêu về nợ công đã được Chính phủ bàn bạc, cân nhắc, tính
toán rất kỹ lưỡng và quyết định giữ trần nợ công chung là 65%. Thực sự, việc giữ được ở
mức trần này đã là một sự cố gắng, phấn đấu mệt mỏi, gian nan.
Đồng quan điểm về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phân tích
rõ hơn, về kế hoạch tài chính 5 năm, trên tinh thần là phải bám vào các chỉ tiêu của Nghị
quyết Đại hội Đảng, các chỉ tiêu trong Nghị quyết của Quốc hội đã thông qua. Trong giai
đoạn 2016 – 2020, đề xuất của Chính phủ vẫn giữ trần nợ công là 65% GDP. Như vậy, khi
trần chung vẫn được giữ đồng nghĩa với việc sẽ cắt nợ chính phủ bảo lãnh, mà thực chất
điều này đã cắt.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết thêm: Việc giữ trần là quan trọng, nhưng quan

trọng hơn hết là chúng ta có được những chỉ tiêu tài chính tốt. Vấn đề quan trọng hơn, nợ
chúng ta vay về phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả. Trần nợ công được giữ vững sẽ giúp
vị thế, tín nhiệm quốc gia của Việt Nam được nâng lên trên trường quốc tế.
“Cũng may mắn là thời gian qua, tỷ lệ vay trong nước của Chính phủ đã tăng lên,
giảm tỷ lệ vay nước ngoài. Điều này giúp chúng ta có thể tăng tự chủ trong nước, đặc biệt
là thời gian qua, cơ cấu kỳ hạn trái phiếu đã được kéo dài hơn rất nhiều so với trước đây.
Việc đa dạng và tăng kỳ hạn huy động trái phiếu chính phủ đã giúp cho đỉnh trả nợ được
giãn ra”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng chia sẻ.

24


Bộ trưởng Bộ Tài chính phân tích thêm, sắp tới đây, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của hệ
thống ngân hàng thương mại sẽ giảm, tăng tỷ trọng nắm giữ của các tổ chức bảo hiểm,
công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, ... Như vậy, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu sẽ
được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Các ngân hàng vẫn có vai trò quan trọng, nhưng
khi có thêm các tổ chức khác tham gia thì kỳ hạn trái phiếu sẽ được kéo dài.
Trả lời cho câu hỏi, tại sao Chính phủ phải kiên quyết giữ trần nợ công? Bộ trưởng
Đinh Tiến Dũng cho rằng, thời hạn trả nợ mặc dù đã được tái cơ cấu theo hướng kéo dài
hơn, nhưng nhìn chung vẫn còn ngắn. Cùng với đó, so với giai đoạn 2011-2013 lãi suất
nợ vay đã giảm rất nhiều, gần như một nửa; nhưng so với mặt bằng chung quốc tế vẫn
còn cao. Hơn nữa, nghĩa vụ trả nợ của ngân sách vẫn còn cao.
Chính vì vậy, theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, tới đây, cần tiếp tục nghiên
cứu hoàn thiện pháp luật về quản lý nợ công tiệm cận dần theo tiêu chuẩn quốc tế.

3.2.3 Tái cơ cấu đầu tư công với tái cơ cấu thu chi ngân sách
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định rằng, tái cơ cấu đầu tư công phải nằm
trong tái cơ cấu lại thu chi ngân sách; đồng thời phải bảo đảm bền vững, an toàn nợ công.
Muốn thế, ngân sách nhà nước chỉ dành đầu tư vào những cái thiết yếu, quan trọng, có
tính chất làm “mồi” để lan toả và phấn đấu làm sao tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư

của toàn xã hội giảm xuống. Cùng với đó, thời gian tới, hiệu quả đầu tư công phải tăng
lên.

3.3. GIẢI PHÁP VÀ ĐIỀU CHỈNH TRẦN NỢ CÔNG QUẢN LÝ
NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.3.1 Ý kiến của Bộ tài chính:
Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý nợ công
và đặc biệt là Luật Quản lý nợ công để đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản. Trong
đó cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Luật Quản lý nợ công về trả nợ chính phủ (Điều 30)
và trả nợ của chính quyền địa phương (Điều 42) cho phù hợp; bổ sung thẩm quyền của
các cơ quan nêu trên liên quan đến kế hoạch chi trả nợ trong kế hoạch tài chính 5 năm và

25


kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm tại Luật Quản lý nợ công cho phù hợp với
Luật NSNN; cần có quy định về chỉ tiêu thống kê, thực hiện thống kê tại Luật Quản lý nợ
công để có cơ sở báo cáo thông tin thống kê về nợ công phù hợp, đồng bộ với pháp luật
về thống kê. Luật Quản lý nợ công cần có các quy định về thẩm quyền để thống nhất với
Luật Đầu tư công; sửa đổi Luật Quản lý nợ công theo hướng có quy định về kiểm toán nợ
công phù hợp với Luật Kiểm toán nhà nước 2015.
Thứ hai, tổng kết, sửa đổi, bổ sung Chiến lược quản lý nợ công, đặc biệt là giai đoạn 2016
- 2020, theo hướng phù hợp với thực tế nợ công hiện nay. Giai đoạn 2016 - 2020, các chỉ tiêu
về nợ công đều đã dần tiệm cận với trần, việc giữ các tiêu chí nằm trong phạm

vi trần cam kết là rất khó khăn. Việc tiếp tục duy trì nợ công trong hạn mức cần được theo
dõi, đánh giá, tổng kết và đưa ra những cảnh báo kịp thời.
Thứ ba, kiểm soát việc tăng vốn vay: Chỉ chi tiêu nếu đã có nguồn thực; gắn trách
nhiệm vay - trả nợ trực tiếp với người ra quyết định đầu tư và tiêu dùng; không phát sinh
nợ vay nếu không có phương án trả nợ khả thi; không vay cho tiêu dùng. Những giải pháp

này chỉ có thể thực hiện được và phát huy kết quả khi có sự thống nhất và quyết tâm cao
của tất cả các cơ quan hữu quan.
Thứ tư, tăng cường trả nợ, cơ cấu lại vốn vay, không để tình trạng quá hạn trả nợ:
Tăng cường kiểm soát các khoản vay về cho vay lại; hạn chế tối đa các khoản vay từ nước
ngoài, thay bằng vay trong nước; tập trung các nguồn để trả nợ, nhất là nợ nước ngoài đến
hạn; kiểm soát việc bảo lãnh tín dụng cho DNNN; tập trung trả nợ đọng xây dựng cơ bản.
Những giải pháp này đòi hỏi các cơ quan hữu quan thống nhất từ trong tư tưởng chỉ đạo
đến hành động thực tiễn. Các giải pháp này không chỉ đơn thuần là cắt giảm, nâng cao
hiệu quả mà còn là sự hạn chế những giải pháp nới lỏng quản lý chi tiêu công, vay nợ
công.
Thứ năm, giảm chi hiệu quả: Giảm chi thường xuyên thông qua việc cơ cấu lại bộ
máy, tinh giảm biên chế, giảm chi các hoạt động khánh tiết; giảm thiểu khởi công các
công trình đầu tư có tính chất tiêu dùng; giảm chi bù lỗ DNNN; nâng cao hiệu quả đầu tư
công để giảm tổng mức đầu tư, nâng cao đóng góp của đầu tư công vào tăng trưởng kinh
tế, góp phần giảm bội chi.

26


×