Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

tiểu luận tài chính công trần nợ công và phương pháp xây dựng trần nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định nợ công

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 58 trang )

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRẦN NỢ CÔNG.................................................................5
I. Khái niệm “Trần nợ công”.......................................................................................................6
II. Tại sao có Trần nợ công..........................................................................................................8
III. Lịch sử và Nguyên nhân dẫn đến Trần nợ công....................................................................8
IV. Trần nợ công xuất hiện khi nào..............................................................................................9
V. Điều gì xảy ra nếu Trần nợ công không tăng?........................................................................ 9
VI. Cuộc khủng hoảng Trần nợ công nổi tiếng......................................................................... 10
1. Mùa hè năm 2011.............................................................................................................. 10
2. Cuộc khủng hoảng năm 2013............................................................................................ 13
VII. Trần nợ công Việt Nam......................................................................................................15
1. Thực trạng Nợ công Việt Nam tính đến năm 2016............................................................15
2. Nguyên nhân NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN...........................................................................16
3. Các biện pháp giải quyết tình trạng NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN........................................18
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG......................................................25
I. Mô hình hóa........................................................................................................................... 28
II. Giải pháp rõ ràng.................................................................................................................. 35
III. Thời gian để đạt đến trần nợ tối ưu......................................................................................37
IV. Phân tích kinh tế.................................................................................................................. 38
V. Các nhận xét kết luận............................................................................................................ 45
PHẦN 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG............46
I. Cơ sở đánh giá thực trạng nợ................................................................................................. 48
II. Tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ............................................................50
III. Nhu cầu về vốn đầu tư phát triển.........................................................................................50
IV. Hệ số tín nhiệm của quốc gia...............................................................................................52
V. Tham khảo khuyến nghị của IMF/Ngân hàng thế giới (WB)............................................... 53
VI. Các nhân tố khác................................................................................................................. 55
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................59


3


PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình quản lý nền kinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nguồn
lực nhiều hơn từ cả trong và ngoài nước. Nói cách khác, khi các khoản thu truyền
thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà nước
phải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm
trong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công. Nợ công đã trở thành
một vấn đề nóng bỏng trên toàn cầu, ở tất cả các quốc gia, kể cả nhóm các nước
phát triển cũng như nhóm các nước đang phát triển. Từ câu chuyện nợ công của Hy
Lạp cùng một số nước trong khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu đến những
cuộc tranh cãi trong Thượng – Hạ viện Mỹ về nâng trần nợ công là một hồi chuông
cảnh báo cho nhiều quốc gia trên thế giới phải có một cái nhìn cẩn trọng về vấn đề
nợ công. Tại Việt Nam, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã cảnh báo nợ công đang ở
mức nguy hiểm và có xu hướng tăng nhanh, có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trong chi
tiêu công, trả nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam. Tuy nhiên, không phải lúc
nào nợ công cao cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Thực tế cho thấy,
những cuộc khủng hoảng nợ công chỉ diễn ra khi Chính phủ của một quốc gia
không thể trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi nên phải tuyên bố quốc gia phá sản hoặc
cầu cứu sự trợ giúp từ quốc tế. Vì vậy, các quốc gia phải đưa ra một ngưỡng nợ
công an toàn trong quá trình quản lý nợ công.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xác định ngưỡng nợ công an toàn,
chúng em xin lựa chọn đề tài “Trần nợ công và các phương pháp xây dựng trần
nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trần nợ công”. Chúng em xin
chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Lan.
Trong quá trình làm bài, do kiến thức còn hạn chế và mới mẻ nên chúng em không
thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Vậy chúng em kính mong nhận được
sự góp ý quý báu của cô.
4



PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRẦN NỢ CÔNG

5


I. Khái niệm “Trần nợ công”
Trần nợ công là giới hạn do Quốc hội ấn định đối với khoản nợ mà chính
phủ có thể nắm giữ trong bất kỳ thời điểm nào. Mức trần nợ là một con số tổng
hợp áp dụng cho tổng nợ, bao gồm nợ trong tay của công chúng và trong các tài
khoản trong chính phủ. (Khoảng 0,5% nợ không được quy định bởi mức trần.) Do
các khoản chi được luật pháp quy định riêng, trần nợ không trực tiếp hạn chế thâm
hụt của chính phủ. Trong thực tế, nó chỉ có thể cản trở Kho bạc từ việc chi trả các
khoản chi tiêu và các nghĩa vụ tài chính khác sau khi đã đạt đến giới hạn, nhưng đã
được phê duyệt (trong ngân sách) và sử dụng.
Khi trần nợ thực sự đạt đến mà không có sự gia tăng giới hạn đã được ban
hành, Kho bạc sẽ cần phải sử dụng "các biện pháp phi thường" để tạm thời chi cho
các khoản chi tiêu và nghĩa vụ của chính phủ cho đến khi có thể giải quyết được.
Kho bạc chưa bao giờ đạt đến mức phải mất các biện pháp bất thường, dẫn đến
việc vỡ nợ mặc dù trong một số trường hợp, Quốc hội dường như sẽ cho phép mặc
định diễn ra. Nếu tình huống này xảy ra, không rõ là Bộ Tài chính sẽ có thể ưu tiên
thanh toán nợ để tránh tình trạng vỡ nợ của các khoản nợ trái phiếu của mình,
nhưng ít nhất nó cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ thanh toán không phải là trái
phiếu. Một trường hợp vỡ nợ kéo dài có thể gây ra nhiều vấn đề kinh tế bao gồm
khủng hoảng tài chính và sự sụt giảm sản lượng có thể đưa đất nước rơi vào suy
thoái kinh tế trầm trọng.
Cụ thể trong trường hợp của Mỹ, quản lý nợ công của Hoa Kỳ là một phần
quan trọng của nền kinh tế vĩ mô của nền kinh tế và hệ thống tài chính Hoa Kỳ, và
trần nợ là một hạn chế đối với khả năng quản lý của nền kinh tế Hoa Kỳ. Tuy

nhiên, vẫn có tranh luận về cách thức quản lý nền kinh tế Mỹ và liệu trần nợ có là
một cơ chế thích hợp để kiềm chế chi tiêu của chính phủ hay không.
Vào ngày 2 tháng 11 năm 2015, Quốc hội Mĩ đã đình chỉ trần nợ công vào khi
thông qua đạo luật Ngân sách Bipartisan năm 2015 (Pub L. 114-74). Mức trần được
6


giữ lại cho đến ngày 15 tháng 3 năm 2017. Khoản nợ phải trả cho giới hạn này
không thể cao hơn một xu nào so với mức $ 19.808 tỷ trong thời gian đó.
(Nguồn: Zero Hedge, 17/03/2017, "The Debt Ceiling Deadline Has Passed,").

Mức trần nợ công trước đây là $18.113 nghìn tỷ. Mỹ đã đạt được mức trần
đó vào ngày 15 tháng 3 năm 2015. Đáp lại, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew đã
bắt đầu giai đoạn tạm ngừng cấp nợ. Điều đó có nghĩa là ông sẽ có những biện
pháp phi thường để giữ nợ vượt quá giới hạn. Chẳng hạn, ông đã ngừng trả tiền
cho nhân viên chính phủ Liên bang và các quỹ hưu trí của nhân viên Bưu điện.
Ông cũng bán các khoản đầu tư của các quỹ này.
(Nguồn: Báo cáo hoạt động và tình trạng quỹ, Bộ Tài chính, 29/01/2016,
"Meet the New Debt Ceiling,", CNN Money, 17/03/2015).

Mức trần nợ cũng tương tự như giới hạn mà công ty thẻ tín dụng dành cho
khoản chi tiêu của bạn. Nhưng có một sự khác biệt đáng kể. Quốc hội cũng chịu
trách nhiệm về khoản nợ bổ sung cho nợ với mức thâm hụt ngân sách năm. Nói
cách khác, Quốc hội đang đặt ra một giới hạn cho chính các hoạt động của mình.
Quốc hội thường sử dụng đủ để vượt qua trần nợ đã đặt. Điều đó giống như công
ty thẻ tín dụng của bạn cho phép bạn chi tiêu vượt quá giới hạn của nó và sau đó từ
chối thanh toán cho các cửa hàng mua hàng của bạn.
Về mặt kỹ thuật, trần nợ chỉ áp dụng cho "Hạn mức nợ theo Luật định." Đó
là khoản nợ tồn đọng trong các khoản tiền của Kho bạc Mỹ sau khi đã điều chỉnh
cho các khoản chiết khấu chưa thanh toán, nợ cũ, nợ của Ngân hàng Tài chính Liên

bang và khoản nợ được bảo lãnh. Số tiền này chỉ thấp hơn một chút so với tổng nợ
của Mỹ được ghi nhận bởi đồng hồ nợ quốc gia. Nó cũng bao gồm nhiều khoản nợ
mà chính phủ nợ chính mình, chủ yếu là Quỹ Uỷ thác An sinh Xã hội. Khoản nợ
thuộc về tất cả mọi người gọi là nợ công. Chỉ có khoảng 70% tổng nợ.

7


II. Tại sao có Trần nợ công
Như đã nói ở trên, Trần nợ công là hạn mức nợ có thể cản trở khả năng của
Kho bạc để quản lý tài chính của chính phủ. Trong trường hợp cực đoan, khi nợ
gần với giới hạn quy định của nó, Chính phủ phải có các biện pháp để giải quyết
tình trạng nợ công vượt trần.
Bên cạnh đó, Giới hạn nợ cũng cung cấp cho Quốc hội những chuỗi kiểm
soát túi tín dụng của các địa phương, cho phép Quốc hội khẳng định các đặc quyền
hiến pháp của mình để kiểm soát chi tiêu. Giới hạn nợ cũng áp đặt một hình thức
trách nhiệm tài chính buộc Quốc hội phải có hành động rõ ràng để có thể khống
chế tình trạng chi tiêu vượt hơn thu nhập. Theo lời của một tác giả, giới hạn nợ
"thể hiện sự tôn kính quốc gia về ý tưởng tiết kiệm và quản lý kinh tế về các vấn đề
tài chính của chính phủ".

III. Lịch sử và Nguyên nhân dẫn đến Trần nợ công
Vào năm 1917, Quốc hội Mĩ đã tạo ra trần nợ thông qua Đạo luật cho vay tự do
lần thứ hai. Điều này cho phép Bộ Tài chính phát hành Trái phiếu Chính phủ để Hoa
Kỳ có thể tài trợ cho các chi phí quân sự của Chiến tranh thế giới thứ I. Các trái phiếu
dài hạn này có khoản thanh toán lãi thấp hơn các khoản dự phòng ngắn hạn Kho bạc
sử dụng trước Đạo luật. Quốc hội Mĩ bấy giờ đã có khả năng kiểm soát tổng thể chi
tiêu của chính phủ lần đầu tiên. Trước đó, trần nợ chỉ cấp phép cho các khoản nợ cụ
thể, chẳng hạn như Kênh đào Panama hoặc các khoản ghi chú ngắn hạn khác.
(Nguồn: CRS Báo cáo Quốc hội, 2008, “The Debt Limit: History and Recent

Increases”).

Tuy nhiên, đến năm 1974, Quốc hội đã tạo ra quy trình ngân sách cho phép
kiểm soát chi tiêu. Đó là lý do tại sao Quốc hội thường tăng trần nợ. Khi quá trình
ngân sách hoạt động trôi chảy, cả hai viện của Quốc hội và Tổng thống đã thống
nhất mức chi tiêu của chính phủ.
(Nguồn: Đại học California Berkeley, Đạo luật kiểm soát ngân sách năm
1974)
8


Các quan chức được bầu cử có nhiều áp lực để tăng thâm hụt ngân sách hàng
năm của Hoa Kỳ và đẩy nợ quốc gia ngày càng cao. Điều này xuất phát từ việc
không có nhiều khích lệ cho các chính trị gia để hạn chế chi tiêu của chính phủ. Họ
được tái đắc cử để tạo ra các chương trình có lợi cho cử tri và các nhà tài trợ của
họ. Họ cũng ở lại làm việc nếu họ cắt giảm thuế. Nói chung, thâm hụt chi tiêu đã,
đang và sẽ tạo ra tăng trưởng kinh tế.

IV. Trần nợ công xuất hiện khi nào
Quốc hội phải tăng trần nợ để Hoa Kỳ không mặc toán nợ của mình. Điều đó
thường không phải là một vấn đề. Trên thực tế, trong 10 năm qua, Quốc hội đã
tăng trần nợ 10 lần - bốn lần trong năm 2008 và năm 2009.
Khi nhìn vào lịch sử trần nợ, sẽ thấy rằng Quốc hội thường không nghĩ đến
việc nâng trần nợ. Trần nợ chỉ là vấn đề khi Tổng thống và Quốc hội không thể
thống nhất về chính sách tài khóa. Điều đó xảy ra vào năm 1985, 1995-1996, 2002,
2003, 2011 và gần đây nhất vào năm 2013. Đó là một phương sách cuối cùng để
thu hút sự chú ý của đảng không thuộc đa số trong Quốc hội. Họ có thể cảm thấy bị
xem nhẹ bởi quá trình ngân sách.
Mức trần nợ và chi tiêu của chính phủ cũng có thể trở thành mối quan tâm
nếu tỷ lệ nợ / GDP tăng quá cao. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, mức đó là 77% đối với

các nước phát triển. Sau đó, chủ nợ trở nên lo ngại rằng một quốc gia không thể tạo
ra đủ doanh thu để trả nợ trở lại.

V. Điều gì xảy ra nếu Trần nợ công không tăng?
Khi nợ đến gần mức trần, Kho bạc có thể ngừng phát hành và vay từ quỹ
hưu trí của mình (không bao gồm An Sinh Xã Hội hoặc Trung tâm Y tế). Kho bạc
có thể rút khoảng 800 tỷ đô la được giữ tại ngân hàng dự trữ liên bang.
Trong khoảng thời gian từ năm 2008-2010, Fed đã tăng đáng kể khoản tiền
của Kho bạc mà chính nó mang lại, một chính sách được gọi là Định lượng Giảm
bớt. Cựu nghị sĩ Ron Paul (R-Texas), Chủ tịch Ủy ban giám sát Fed, cho rằng Fed
9


đã tha thứ hoặc hoãn thanh toán khoản nợ 1,6 nghìn tỷ đô la mà họ sở hữu. Điều đó
có thể làm trì hoãn việc tăng trần nợ.
Một khi trần nợ đã đạt được, Kho bạc không thể bán đấu giá Kho bạc mới.
Nó phải dựa vào doanh thu đến để chi trả chi phí chính phủ liên bang hiện hành.
Điều đó đã xảy ra vào năm 1996, và Bộ Tài chính tuyên bố nó không thể gửi séc
An Sinh Xã Hội.
Nếu Kho bạc đã không thanh toán lãi suất, ba điều sau đây sẽ xảy ra:
 Thứ nhất, chính phủ liên bang không còn có thể thực hiện thanh toán
hàng tháng. Nhân viên sẽ được nghỉ hưu, và các khoản thanh toán hưu trí sẽ không
đi ra ngoài. Tất cả những người nhận trợ cấp An Sinh Xã Hội, Medicare, và
Medicaid sẽ không có. Các tòa nhà và dịch vụ liên bang sẽ đóng cửa.
 Thứ hai, sản lượng kho bạc bán trên thị trường thứ cấp sẽ tăng. Điều

đó sẽ tạo ra lãi suất cao hơn, tăng chi phí kinh doanh và mua nhà. Nó làm chậm
tăng trưởng kinh tế.
 Thứ ba, chủ sở hữu Kho bạc Mỹ sẽ bán phá giá cổ phiếu của họ. Điều


đó sẽ làm cho đồng đô la sụt giảm, có thể loại bỏ tình trạng của nó như là đồng tiền
dự trữ của thế giới. Mức sống ở Mỹ sẽ giảm. Điều này sẽ khiến cho Hoa Kỳ khó có
thể trả nợ.
Vì tất cả những lý do này, Quốc hội không nên nâng cao trần nợ mà không
có các kế hoạch đã định trước. Bên cạnh đó, nếu các thành viên quan tâm đến chi
tiêu của chính phủ, họ nên nghiêm túc trong việc áp dụng một chính sách tài khóa
bảo thủ hơn trước khi trần nợ tăng lên.

VI. Cuộc khủng hoảng Trần nợ công nổi tiếng
1. Mùa hè năm 2011
a. Diễn biến
Vào tháng Năm, các nhà Cộng hòa hàng đầu trong Quốc hội, Chủ tịch Hạ viện
John Boehner và Trưởng đoàn Thượng viện Mitch McConnell tuyên bố rằng: Các
10


băng nhóm họp chỉ bỏ phiếu để tăng trần nợ nếu luật pháp bao gồm các biện pháp
có thể cắt giảm chi tiêu và cải thiện nợ quốc gia đã tích lũy.
Tuy nhiên, các đảng viên Cộng hòa của đảng Dân chủ cũng không đồng ý với
viễn cảnh của bất kỳ biện pháp nào có thể được hiểu là tăng thuế. Các thành viên
Đảng “Tea Party” đặc biệt kiên quyết về những yêu cầu này và một số thậm chí đã từ
chối không tăng trần nợ trong bất kỳ trường hợp nào. Hơn nữa, bởi vì 60 trong số 242
thành viên của phái đoàn Cộng hòa Nhà được xác định là thuộc Đảng “Tea Party”, các
thành viên này ở một vị trí nhất định để thúc đẩy các cuộc đàm phán. Như vậy, các
yêu cầu của đảng Cộng hòa chạy ngược lại với những dự tính của Tổng thống Barack
Obama và đảng Dân chủ Quốc hội - những người hy vọng rằng bất kỳ cắt giảm chi
tiêu của liên bang sẽ được kết hợp với nguồn thu nhập tăng thêm.
Sau nhiều cuộc đàm phán và những tranh đấu trong các hoạt động giữa các bên,
cuối cùng, vào ngày 2 tháng 8, với viễn cảnh chỉ vài giờ, Chủ tịch Obama đã ký một
khoản nợ dài hạn tăng lên luật. Luật pháp cuối cùng tăng trần nợ lên tới 2,4 nghìn tỷ

đô la, đủ để ngăn Quốc hội bỏ phiếu về trần nợ một lần nữa trước kỳ bầu cử năm
2012. Các điều khoản của Luật pháp đã kêu gọi 917 tỷ đô la để cắt giảm trực tiếp cho
chi tiêu liên bang. Ngoài ra, Ủy ban hỗn hợp đặc biệt chung sẽ được yêu cầu xác định
1,5 nghìn tỷ đô la cho các khoản bổ sung cắt giảm. Tuy nhiên, nếu ủy ban không
thành công, hoặc nếu Quốc hội thất bại trong việc ban hành các khuyến nghị, kế
hoạch yêu cầu cắt giảm thêm, chia đều giữa bảo vệ và chi tiêu trong nước.
Mặc dù quốc gia tránh mặc định, Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng những hậu quả.
Trước cuộc khủng hoảng trần nợ, chính phủ liên bang có xếp hạng tín dụng AAA,
bảng xếp hạng cao nhất có thể. Điều này cho phép chính phủ vay tiền với lãi suất thấp
và phản ánh mức độ cao của các nhà đầu tư tự tin đặt vào khả năng trả nợ của chính
phủ. Khoảng một tuần trước cuộc họp báo của ông Obama, vào ngày 14 tháng 7, cơ
quan xếp hạng tín nhiệm Standard and Poor's đã chuyển chính phủ liên bang tới danh
sách "CreditWatch with negative implications". Standard and Poor's đưa ra
11


một tuyên bố lưu ý rằng "chúng tôi tin rằng có nguy cơ gia tăng về một chính sách
bất ổn kéo dài vượt quá bất kỳ thỏa thuận nào gần đây để nâng trần nợ.". Về cơ
bản, Standard and Poor tin rằng môi trường đảng phái quá độc hại đến mức có một
cơ hội đáng kể mà chính phủ sẽ không tăng trần nợ trước ngày kết thúc tháng 8.
Vào ngày 5 tháng 8 năm 2011, bất chấp sự gia tăng thành công trong trần nợ,
Standard Và Poor đã hạ xếp hạng tín dụng của chính phủ liên bang từ xếp loại AAA
xuống AA+. Lần đầu tiên chính phủ liên bang bị hạ cấp. Thị trường chứng khoán sụt
giảm. Một lần nữa, Standard and Poor's đưa ra một tuyên bố, lần này tuyên bố rằng
"việc hạ cấp phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng sự hiệu quả, sự ổn định và khả
năng dự đoán của các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và các thể chế chính trị đã
yếu đi trong thời điểm những thách thức về tài chính và kinh tế đang diễn ra

...". Đáng chú ý, hai thành viên còn lại của tổ chức xếp hạng tín dụng 'Big Three',
Moody's Investor Services và Fitch Ratings, không hạ cấp chính phủ liên bang.

Tuy nhiên, biểu tượng đằng sau sự hạ cấp của Standard and Poor là rõ ràng, cho
thấy tài chính hiện tại của quốc gia là không bền vững và chính phủ liên bang
không cho thấy dấu hiệu của việc có thể đưa tình hình đi vào kiểm soát.
b. Kết luận
Cuộc khủng hoảng năm 2011 trình bày một ví dụ trong đó một Quốc hội bị
chia rẽ với đảng Cộng hòa trong việc kiểm soát Hạ viện đã làm trầm trọng thêm
cuộc khủng hoảng trần nợ. Không có động cơ nào cho các đảng viên Đảng Cộng
hòa tăng trần nợ một cách hài hòa vì làm như vậy chắc chắn sẽ tăng cường vị thế
bầu cử của Tổng thống Obama và đảng Dân chủ.
Trên bề mặt, quyết định của Obama về việc khen ngợi kế hoạch Gang of Six có
vẻ khó hiểu. Tuy nhiên, quyết định của ông Obama phản ánh mong muốn không mấy
say mê của ông để đạt được kiểu thỏa hiệp lưỡng đảng mà ông đã hứa trong chiến
dịch của ông. Cuối cùng, Obama đã phản ứng quá mức với kế hoạch của Gang of Six
và bỏ qua việc thực sự xem xét thực tế rằng thoả thuận này không được hình
12


thành đầy đủ và hầu như không thể điều hướng qua Hạ viện với các khoản thu
nhập. Quyết định của ông đã trở thành một sự tính sai lầm đáng kể, một trong số
đó là một số nguồn tin nội bộ trong Đảng Cộng hòa do sự thiếu kinh nghiệm về lập
pháp của Obama. Cuối cùng, tính sai lầm đã quét qua những hy vọng tốt nhất cho
một món hời lớn và một thỏa thuận giảm thâm hụt sâu rộng.

2. Cuộc khủng hoảng năm 2013
Vào ngày 11 tháng 2 năm 2014, Chủ tịch Hạ viện John Boehner thông qua dự
luật đình chỉ trần lãi suất cho đến ngày 15 tháng 3 năm 2015. Ngưỡng nợ sẽ tự động
trở thành mức nợ vào thời điểm đó. Dự luật đã được thông qua mà không có bất kỳ
đính kèm. Ông không có 218 phiếu của đảng Cộng hòa để làm như vậy. Thay vào đó,
ông đã thông qua nó với 193 đảng viên đảng Dân chủ và 28 đảng viên Cộng hòa.


Ông đã bị chỉ trích nặng nề bởi những người đảng Cộng hòa trong Nhà
Trắng, người đã gọi đó là "... sự khai thác hoàn toàn phần của Người Phát ngôn và
chứng tỏ rằng ông đã mất khả năng lãnh đạo Hạ viện". Họ, và Thượng nghị sĩ Ted
Cruz, là những người duy nhất nghĩ rằng mối đe dọa về nợ vỡ nợ là một công cụ
hữu ích để buộc chính phủ cắt giảm chi tiêu. Tuy nhiên, không có đủ nguồn lực để
sử dụng công cụ này.
Vào ngày 17 tháng 10 năm 2013, Quốc hội đã đồng ý thỏa thuận cho phép
Kho bạc phát hành nợ cho đến ngày 7 tháng 2 năm 2014. Nếu không, Kho bạc
không thể bán đấu giá bất kỳ khoản tiền mới nào để thanh toán hóa đơn. Tại thời
điểm đó, Kho bạc ước tính nó có 30 tỷ đô la tiền mặt. Đây là lịch biểu của dự luật
sắp đến hạn:
Ngày 23 tháng 10: Khoảng 12 tỷ đô la về trợ cấp An Sinh Xã Hội.
Ngày 31 tháng 10: Khoản thanh toán lãi 6 tỷ USD, 3 tỷ USD tiền lương nhân viên
liên bang và 2 tỷ USD cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của
Medicare.
13


Ngày 1 tháng 11: 58 tỉ đô la sẽ dành cho trợ cấp An sinh Xã hội và trợ cấp tàn tật,
Medicare và tiền lương quân sự. Sẽ không có đủ doanh thu từ ngày 17 tháng 10
đến ngày 1 tháng 11 để kiếm được khoản tiền lớn.
Ngày 14 tháng 11: Các khoản phúc lợi An sinh xã hội là 12 tỷ đô la.
Ngày 15 tháng 11: Khoản thanh toán trị giá 29 tỷ USD đối với Kho bạc chưa thanh
toán sẽ không được thanh toán. Hoa Kỳ có thể bị vỡ nợ lần đầu tiên trong lịch sử
của mình.
Bộ trưởng Tài chính Jack Lew cảnh báo vào ngày 25 tháng 9 năm 2013 rằng
trần nợ sẽ đạt được vào ngày 17 tháng 10. Nhiều đảng viên Cộng hòa nói rằng họ
chỉ tăng trần nếu tài trợ cho Obamacare đã được đưa ra khỏi ngân sách năm 2014.
Thoạt đầu, dường như Nhà diễn thuyết John Boehner sẽ vượt qua trần nợ nếu
không có họ. Ông không muốn đảng Cộng hòa bị đổ lỗi cho một thất bại khác như

cuộc khủng hoảng trần nợ năm 2011.
Vào ngày 20 tháng 9, Boehner thay đổi ý định của mình. Ông hứa sẽ lừa dối
Obamacare, bằng mọi cách cần thiết - dù nó có nghĩa là ngân sách hay trần nợ sẽ bị
giữ làm con tin. Một cuộc khủng hoảng khác đang được tiến hành.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2013, Quốc hội cho phép chính phủ đóng cửa do
không có dự luật tài trợ đã được thông qua. Thượng viện sẽ không chấp nhận một
dự luật lừa đảo hoặc trì hoãn Obamacare. Nhà không chấp nhận một dự luật tài trợ
cho nó. Boehner tuyên bố ông sẽ không tăng trần nợ trừ khi đảng Dân chủ đồng ý
đàm phán cắt giảm các chương trình bắt buộc, như Medicare, Medicaid và
Obamacare. Tổng thống Obama sẽ không thương lượng ngân sách cho đến khi Hạ
viện thông qua dự luật tài trợ và tăng trần nợ. Vào phút chót, Thượng viện và Hạ
nghị viện đã đồng ý thỏa thuận mở lại chính phủ và tăng trần nợ. Để biết thêm
thông tin, hãy xem phần Chính phủ Shutdown.
Đầu năm đó, vào tháng Giêng, Quốc hội đã sử dụng mối đe doạ không tăng
trần nợ buộc chính phủ Liên bang phải cắt giảm chi tiêu trong ngân sách năm 2013.
14


Vị trí của nó là một đồng đô la chi tiêu phải được cắt giảm cho mỗi đồng đô la trần
nợ đã được nâng lên. Tổng thống Obama trả lời ông sẽ không đàm phán, vì khoản
nợ nảy sinh để trả các dự luật mà Quốc hội đã chấp thuận. May mắn thay, doanh
thu tốt hơn dự kiến có nghĩa là cuộc tranh luận về trần nợ đã được hoãn lại.
(Nguồn: Atlanta Blackstar, Debt Ceiling Postponed, ngày 23 tháng 1 năm 2013)

VII. Trần nợ công Việt Nam
1. Thực trạng Nợ công Việt Nam tính đến năm 2016
Theo Báo cáo của Chính phủ vào cuối tháng 3/2016, nợ công (bao gồm nợ
của doanh nghiệp nhà nước, nợ của chính quyền địa phương) của Việt Nam đã
chiếm 65% GDP, riêng nợ nước ngoài của Chính phủ đã vượt ngưỡng 50% cho
phép, chiếm 50,3% GDP. Còn trong báo cáo mới nhất điểm lại nửa chặng đường

của năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65%
GDP) đang dần hiện hữu.
Theo nhận định của HSBC, vấn đề nợ của Việt Nam ngày càng trầm trọng
hơn do lạm phát chậm lại (ảnh hưởng đến GDP danh nghĩa) và đồng tiền Việt Nam
mất giá (làm tăng giá trị nợ nước ngoài). Dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt
Nam sẽ tăng lên 64,5% GDP trong năm 2016, đạt ngưỡng giới hạn của Quốc hội
đề ra 65% trong 2017. Nhìn chung, Nợ công Việt Nam sắp đến ngưỡng giới hạn
cho phép.
Tại báo cáo triển vọng thị trường Việt Nam do Ngân hàng HSBC mới phát
hành, khối phân tích của ngân hàng này đánh giá, biên độ dao động cho chính sách
tài chính của Việt Nam đang bị giới hạn.
Theo HSBC, thâm hụt ngân sách tăng là vấn đề do tỷ lệ nợ công của Việt Nam
đã thực sự cao. Báo cáo ước tính nợ công Việt Nam (bao gồm nợ nước ngoài và trong
nước - đáng chú ý là của chính quyền trung ương và địa phương, cộng với bảo lãnh
chính phủ) đã tăng từ 59,6% năm 2014 lên 63,3% GDP vào cuối năm 2015.
15


Vấn đề nợ ngày càng trầm trọng hơn do lạm phát chậm lại (ảnh hưởng đến
GDP danh nghĩa) và đồng tiền Việt Nam mất giá (làm tăng giá trị nợ nước ngoài).
HSBC dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam sẽ tăng lên 64,5% GDP trong
năm 2016, đạt ngưỡng giới hạn của Quốc hội đề ra 65%.

Diễn biến tỉ lệ nợ công Việt Nam (HSBC)

2. Nguyên nhân NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN
Hiện, nợ công của Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng cao và nghĩa vụ trả nợ
cũng ngày càng lớn. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân chính dưới đây:
Thực trạng sử dụng ngân sách không hiệu quả đang diễn ra phổ biến trên
cả nước, cụ thể như: Dự án đạm Ninh Bình phải bỏ dở chừng vì đầu tư 12.000 tỷ

đồng, mỗi năm lỗ 2.000 tỷ đồng. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) đã chi 7.000
tỷ đồng đến nay vẫn đắp chiếu, mặc cho máy móc, thiết bị hoen rỉ dần…. Nhiều dự
án đầu tư công chậm tiến độ, đội vốn… như dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà
Đông (Hà Nội) khởi công tháng 10/2011, dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Tuy
nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa đi vào sử dụng mà vốn đã đội vốn gần 7000 tỷ
16


đồng, Dự án đường 5 kéo dài có tổng mức đầu tư là 3.532 tỷ đồng, đã chậm tiến độ
tới 6 năm và mức đầu tư cho dự án cũng tăng gần gấp đôi...
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nêu ý kiến: “Đầu tư công khi dự toán
là một, đến lúc thực hiện tăng lên gấp 2, gấp 3 lần. Cái đó thể hiện sự kém hiệu
quả của đầu tư công, trong đó có thể là lãng phí, có thể thất thoát … vì vậy, đầu tư
công trở nên kém tin cậy. Khi tính là một thì có hiệu quả nhưng khi thực tế tăng
lên gấp 2, gấp 3 thì hiệu quả sẽ hoàn toàn biến mất”.
Trong khi đó, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, hiện cả nước dư thừa
khoảng 7.000 chiếc xe công, điển hình như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn thừa 176 xe, Bộ Công Thương thừa 57 xe... Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành, địa
phương vẫn tiếp tục đề nghị được mua xe mới.
Tổng hợp báo cáo kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy vẫn
còn nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, như: mỗi
năm Tổng Công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) lỗ 3.400 tỷ đồng; Tổng Công ty
Xây lắp dầu khí lỗ 3.500 tỷ đồng; Binh đoàn 15 lỗ 470 tỷ đồng... Các chuyên gia cho
rằng, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được Chính phủ hỗ
trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ và để bù
đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ sẽ buộc
phải phát hành trái phiếu cũng khiến nợ công tăng cao.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết:
“Trong một nền kinh tế vận hành bình thường thì các doanh nghiệp tự vay tự trả.

Vì nền kinh tế của ta là nền kinh tế đang phát triển, cho nên phải vận dụng rất linh
hoạt việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp, để họ phát triển thì Chính phủ phải
đứng ra bảo lãnh để họ vay vốn và doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ.
Nhưng trong tình huống xấu nhất thì đúng là nhà nước phải chịu”.
17


Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng thu ngân sách nhà
nước trong 8 tháng (2015-2016) đạt 603 nghìn 700 tỷ đồng nhưng đã phải chi ra
715 nghìn 200 tỷ đồng, tức là bội chi đã lên đến 111 nghìn 300 tỷ đồng. Ông Bùi
Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị
thế giới cho rằng, với điều kiện tăng trưởng kinh tế thấp như hiện nay, thu ngân
sách khó có thể bảo đảm dự toán và nếu kinh tế tăng trưởng không đạt mục tiêu thì
nợ công và bội chi cũng sẽ tăng. Nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đã
bắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên chính là vì như vậy.
Nhưng đáng lo ngại, theo ông Sơn, là triển vọng kinh tế của ta chưa sáng. Rõ
ràng khi vay nợ nhiều, nguồn thu để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trong
ngân sách của nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là nguy hiểm. Nếu như
thế thì thu được bao nhiêu đi trả nợ hết, hoặc là vay xong lại đi trả nợ luôn.

Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công trong mấy năm gần đây tăng nhanh là
do Việt Nam phải vay nợ mới để trả nợ cũ, và nếu đà nợ công vẫn cứ tăng đều như
hiện nay thì nợ công sẽ vượt trần.

3. Các biện pháp giải quyết tình trạng NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN
Trong năm 2017, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng phải có cải cách
đột phá trong tư duy ngân sách, kiểm soát nợ công và đảm bảo khả năng trả nợ. Về
phía Bộ Tài chính, một trong những giải pháp mà Bộ này sẽ triển khai trong năm
mới là không chuyển vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp
phát ngân sách Nhà nước. Mặt khác, Bộ Tài chính cũng khẳng định sẽ thực hiện

đầy đủ các yếu tố tác động lên nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn trước
khi thực hiện các khoản vay mới. Một số biện pháp cụ thể được đề ra như sau:

18


a. Hướng tới cân bằng Thu – Chi NSNN
Trong Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016, Bộ Chính trị đặt mục tiêu:
Cơ cấu lại ngân sách nhà nước (NSNN) và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nền
tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huy
động, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát
triển kinh tế, xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người, bảo
đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến
đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị
thế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Cụ thể, Bộ Chính trị xác định: Tỉ lệ huy động vào NSNN giai đoạn 20162020 bình quân khoảng 20-21% GDP, phấn đấu tổng thu ngân sách bằng khoảng
1,65 lần giai đoạn 2011-2015. Trong tổng thu NSNN, tỉ trọng thu nội địa khoảng
84-85%, tỉ trọng thu dầu thô và thu xuất nhập khẩu khoảng 14-16%; tỉ trọng thu
ngân sách Trung ương 60-65%. Sau năm 2020, tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà
nước so với GDP được duy trì ở mức ổn định, hợp lý.
Tỉ lệ chi NSNN giai đoạn 2016-2020 bình quân khoảng 24-25% GDP. Trong
tổng chi NSNN, tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 25-26%; tỉ trọng chi thường
xuyên dưới 64%; ưu tiên đảm bảo chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia. Sau năm 2020,
quy mô chi xác định phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, khả năng cân
đối nguồn lực, bảo đảm an toàn nợ công.
Giữ vững an ninh tài chính quốc gia; bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảm
dần tỉ lệ bội chi NSNN, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống
khoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu – chi NSNN. Quy mô nợ công hằng năm
trong giai đoạn 2016-2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP

và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công
19


không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc
gia không quá 45% GDP.
b. Xóa bỏ cơ chế “xin – cho”
Về quan điểm chỉ đạo, Bộ Chính trị xác định: Cơ cấu lại NSNN và quản lý
nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình
tăng trưởng, bảo đảm hiệu quả, toàn diện, công bằng, bền vững, động viên hợp lý
các nguồn lực.
Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; xác định tiết kiệm là quốc sách
hàng đầu; chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả
nợ.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – NSNN, tăng cường công khai, minh
bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp về thu, chi NSNN, sử dụng vốn vay và
xử lý nợ công, hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế “xin – cho”.
Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề quan trọng, cấp bách với các vấn
đề cơ bản, dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Bảo đảm vai trò chủ
đạo của ngân sách Trung ương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành,
địa phương; thu hút tối đa nguồn lực của xã hội.
Điều chỉnh quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa chi thường xuyên và chi
đầu tư phát triển; tiết kiệm chi thường xuyên để tăng tỉ trọng chi đầu tư phát triển,
chi trả nợ trong tổng chi NSNN và giảm bội chi NSNN. Thực hiện huy động, phân
bổ, sử dụng nguồn lực NSNN gắn với các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế.
Đổi mới công tác quản lý tài chính – NSNN phù hợp với thông lệ và chuẩn
mực quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm độc lập,
tự chủ, chủ quyền đất nước.
20



Bên cạnh đó, Bộ Chính trị đề ra 6 chủ trương và giải pháp chủ yếu để thực
hiện các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo nêu trên. Đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho
các cơ quan tổ chức thực hiện.
c. Hoàn thiện pháp luật về thu, chi NSNN
Cụ thể, Bộ Chính trị giao các tỉnh ủy, thành ủy, ban đảng, ban cán sự đảng,
đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương
tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện
Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của ngành, địa
phương, đơn vị. Xác định cụ thể nội dung cơ cấu lại NSNN trong phạm vi được
giao theo nguyên tắc triệt để tiết kiệm chi, chống lãng phí, tổ chức sắp xếp lại bộ
máy, biên chế theo hướng tinh gọn, tập trung; đẩy mạnh cải cách khu vực sự
nghiệp công lập, thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài
nhà nước cho phát triển. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị
quyết. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị.
Nghị quyết giao, Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ lãnh
đạo việc rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi NSNN, nợ công,
tài sản công; khu vực hành chính, sự nghiệp công lập; về quản lý giá, tài chính, đầu
tư, kế toán, kiểm toán...; rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn tổ
chức của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương theo hướng tinh gọn, gắn
trách nhiệm quyết định chi ngân sách, vay nợ công với trách nhiệm quản lý NSNN
và trả nợ công.
Ban Cán sự Đảng các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ, Y tế, Giáo
dục và Đào tạo, NHNN Việt Nam tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Bộ Tài chính chủ trì triển khai các nội dung liên quan đến cơ cấu
lại NSNN, quản lý nợ công.
21


Thứ hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai các biện pháp nâng cao

chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội; xây dựng, điều hành kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm;
đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
đầu tư công.
Thứ ba, NHNN Việt Nam chủ trì triển khai thực hiện chính sách tiền tệ phù
hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của
các doanh nghiệp, bảo đảm nhất quán với việc quản lý nợ công, nợ quốc gia; đẩy
mạnh thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và
các tổ chức tín dụng yếu kém.
Thứ tư, Bộ Nội vụ chủ trì, rà soát, đôn đốc, kiến nghị các giải pháp tiếp tục
tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu
xây dựng phương án sắp xếp lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, xác định rõ
trách nhiệm quản lý NSNN và trả nợ công, trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản
nhà nước tại các doanh nghiệp.
Thứ năm, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với các cơ quan liên quan
xây dựng và triển khai thực hiện các giải pháp đổi mới khu vực sự nghiệp công lập
theo phạm vi trách nhiệm được giao.
d. Không nên nới Trần nợ công
Nợ công là vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm trong phiên thảo
luận tổ chiều 22/10/2016. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, hiện
có một số ý kiến đề nghị nâng trần nợ công, nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ.

22


Phó Thủ tướng cho rằng, chỉ tiêu về nợ công đã được Chính phủ bàn bạc, cân
nhắc, tính toán rất kỹ lưỡng và quyết định giữ trần nợ công chung là 65%. Thực sự,
việc giữ được ở mức trần này đã là một sự cố gắng, phấn đấu mệt mỏi, gian nan.


Đồng quan điểm về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng
phân tích rõ hơn, về kế hoạch tài chính 5 năm, trên tinh thần là phải bám vào các
chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng, các chỉ tiêu trong Nghị quyết của Quốc hội
đã thông qua. Trong giai đoạn 2016 – 2020, đề xuất của Chính phủ vẫn giữ trần nợ
công là 65% GDP. Như vậy, khi trần chung vẫn được giữ đồng nghĩa với việc sẽ
cắt nợ chính phủ bảo lãnh, mà thực chất điều này đã cắt.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết thêm: Việc giữ trần là quan trọng,
nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta có được những chỉ tiêu tài chính tốt. Vấn
đề quan trọng hơn, nợ chúng ta vay về phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả.
Trần nợ công được giữ vững sẽ giúp vị thế, tín nhiệm quốc gia của Việt Nam
được nâng lên trên trường quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Tài chính phân tích thêm, sắp tới đây, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu
của hệ thống ngân hàng thương mại sẽ giảm, tăng tỷ trọng nắm giữ của các tổ chức
bảo hiểm, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, ... Như vậy, cơ sở nhà đầu tư trên thị
trường trái phiếu sẽ được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Các ngân hàng vẫn
có vai trò quan trọng, nhưng khi có thêm các tổ chức khác tham gia thì kỳ hạn trái
phiếu sẽ được kéo dài.
Trả lời cho câu hỏi, tại sao Chính phủ phải kiên quyết giữ trần nợ công? Bộ
trưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng, thời hạn trả nợ mặc dù đã được tái cơ cấu theo
hướng kéo dài hơn, nhưng nhìn chung vẫn còn ngắn. Cùng với đó, so với giai đoạn
2011-2013 lãi suất nợ vay đã giảm rất nhiều, gần như một nửa; nhưng so với mặt
23


bằng chung quốc tế vẫn còn cao. Hơn nữa, nghĩa vụ trả nợ của ngân sách vẫn còn
cao.
e. Phấn đấu tăng lương
Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2015, ngân sách đã thực hiện một phần lộ trình
cải cách tiền lương: điều chỉnh tăng tiền lương cơ sở 3 lần, 1 lần thực hiện phụ cấp
công vụ 25%, 1 lần điều chỉnh tăng 8% đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có

công và tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thu
nhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống).
Tuy nhiên, cơ quan giải trình cho rằng đây cũng thể hiện sự cố gắng rất lớn
của Chính phủ trong việc thực hiện cải cách tiền lương, đặc biệt trong bối cảnh quy
mô thu ngân sách tăng chậm, trong khi áp lực chi đầu tư phát triển, chi trả nợ và
thực hiện các chính sách an sinh xã hội rất lớn.
Trong giai đoạn 2016-2020, để góp phần nâng cao đời sống cho người
hưởng lương, trên cơ sở định hướng thu, chi ngân sách 5 năm, Chính phủ trình
Quốc hội dự kiến bố trí nguồn để điều chỉnh mức lương cơ sở, lương hưu và trợ
cấp ưu đãi người có công tăng bình quân khoảng 7%/năm.
Căn cứ tình hình thực tế, mức điều chỉnh cụ thể sẽ được Quốc hội xem xét,
quyết định trong dự toán ngân sách hằng năm, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân
sách Nguyễn Đức Hải cho biết.
Tiếp thu ý kiến các vị đại biểu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính
phủ, trong điều hành, cần căn cứ khả năng thu, phấn đấu điều chỉnh tăng lương cơ
sở, lương hưu, trợ cấp ưu đãi với mức tăng bình quân cao hơn so với mức Chính
phủ trình.

24


PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG

25


Cách xác định mức trần nợ tối ưu trong trường hợp “Can thiệp không giới hạn”

Chúng tôi trình bày một mô hình lý thuyết cho một chính phủ muốn kiểm
soát nợ của mình bằng cách áp dụng một giới hạn trên hoặc trần đối với tỷ lệ nợ/

GDP. Chúng ta có một công thức rõ ràng về mức trần nợ tối ưu của chính phủ
(hoặc tương đương với mức trần tối ưu của tỷ lệ nợ). Hơn nữa, chúng tôi rút ra đề
xuất về quản lý nợ của chính phủ dựa trên mức tối đa của nợ chính phủ.
Công thức mà chúng ta thu được được tạo riêng cho từng quốc gia, theo nghĩa
nó phụ thuộc vào các biến số cụ thể như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất nợ, chi phí
biên giảm nợ, biến động nợ, món nợ. Do đó, mỗi quốc gia có mức trần nợ tối ưu khác
nhau tùy thuộc vào các biến số này. Điều này phù hợp với quan sát của Wyplosz
(2005) rằng không áp dụng mức trần thống nhất cho các nước có tỷ lệ nợ lớn, chủ yếu
là do mức tỷ suất nợ hiện tại cho thấy các quốc gia khác nhau có thể giải quyết các
mức nợ khác nhau mà không nhất thiết phải nảy sinh trong vấn đề nợ.

Chúng tôi xem xét một chính phủ muốn kiểm soát tối ưu tỷ lệ nợ của đất
nước. Chúng tôi giả định rằng trong những khoảng thời gian mà chính phủ không
can thiệp, sự năng động của tỷ lệ nợ theo một chuyển động của Browni. Mô hình
này là phiên bản ngẫu nhiên của động lực tỷ lệ nợ chuẩn trình bày trong sách giáo
khoa kinh tế vĩ mô.
Chúng tôi thừa nhận rằng nợ công có thể có lợi cho nền kinh tế, nhưng cũng có
những hậu quả bất lợi về tài chính và thực tế. Vì chúng ta đang xác định một mô hình
lấy cảm hứng từ những cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu, chúng tôi cho rằng những
bất lợi vượt xa những lợi thế. Do đó, chúng tôi giả định rằng nợ tạo ra chi phí cho đất
nước, và rằng chi phí này là một chức năng tăng và lồi của tỷ lệ nợ (chúng tôi gọi nó
là chi phí có nợ). Chính phủ có thể giảm tỷ lệ nợ, nhưng có một chi phí liên quan đến
việc giảm này (chúng tôi gọi nó là chi phí can thiệp). Chi phí này được tạo ra bởi các
điều chỉnh tài chính, có thể dưới hình thức tăng thuế hoặc giảm chi
26


phí. Để theo dõi các can thiệp (tích lũy) chúng ta xác định biến kiểm soát: một quá
trình không giảm, không giảm mà đại diện cho việc giảm tỷ lệ nợ.
Chúng tôi xác định tổng chi phí là tổng của chi phí có nợ và chi phí liên

quan. Trong khuôn khổ này, chính phủ phải đối mặt với sự mất cân bằng: quá trình
kiểm soát càng lớn, chi phí can thiệp càng lớn, và giảm chi phí để có nợ; Và cách
khác xung quanh. Chính phủ muốn tìm ra sự kiểm soát tối ưu, đó là sự kiểm soát
để giảm thiểu tổng chi phí dự kiến. Chức năng cho tổng chi phí dự kiến tối thiểu
được gọi là hàm giá trị.
Chúng tôi chỉ ra rằng kiểm soát tối ưu và chức năng giá trị có thể được kết
hợp với trần tỷ lệ nợ, mà chúng tôi gọi là trần tỷ lệ nợ tối ưu của chính phủ. Bằng
cách xây dựng, đó là mức nợ tối thiểu mà chính phủ nên can thiệp. Do đó, chính
phủ không nên can thiệp khi tỷ lệ nợ thấp hơn tỷ lệ nợ tối ưu trần. Nếu tỷ lệ nợ cao
hơn trần nợ tối ưu, chính phủ sẽ tạo ra thặng dư đầu tiên tích cực để giảm tỷ lệ nợ.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng trần nợ tối ưu, nợ tối ưu, nợ giới hạn, và trần
tín dụng (hoặc giới hạn tín dụng) là các khái niệm khác nhau. Ví dụ đầu tiên, nếu nợ
thực tế của một quốc gia nằm dưới mức trần nợ tối ưu, thì đó là tối ưu để chính phủ
không can thiệp để kiểm soát nợ. Ngược lại, nếu nợ thực tế của một quốc gia nhỏ hơn
nợ tối ưu thì có thể can thiệp tối đa (miễn là chi phí can thiệp không quá cao). Ví dụ
thứ hai, nếu tỷ lệ nợ thực tế lớn hơn hoặc bằng trần nợ tối ưu, điều đó hàm ý rằng
chính phủ can thiệp can thiệp để giảm tỷ lệ nợ; Không có liên quan gì đến khủng
hoảng. Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ thực tế bằng với giới hạn nợ thì cuộc khủng hoảng sẽ
xảy ra. Cuối cùng, vì mức trần tín dụng (hoặc giới hạn tín dụng) được xác định bởi
nhận thức của người cho vay về đất nước, thuật ngữ này không liên quan đến sự tối
ưu (theo quan điểm của đất nước) hoặc khủng hoảng nợ.

Chúng tôi thành công trong việc có được một giải pháp rõ ràng cho vấn đề
kiểm soát nợ của chính phủ. Cụ thể, chúng ta có được một công thức rõ ràng cho
27


×