i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 8 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ĐẶNG VĂN MINH
Thái Nguyên – 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình tôi, các số
liệu, kết quả đã nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin cam đoan, rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Huyền Trang
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến GS.TS. Đặng Văn Minh
đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
Khoa Quản lý tài nguyên, Phòng Đào tạo Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã luôn tạo điều kiện cho tôi để thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo UBND huyện Chiêm Hóa,
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chiêm Hóa, Văn phòng đăng ký đất
đai chi nhánh huyện Chiêm Hóa, Phòng Nông nghiệp, UBND các xã vùng
nghiên cứu… đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài
trên địa bàn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các cán bộ, đồng nghiệp và
bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, người thân đã động viên, tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Huyền Trang
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ................................... 3
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất
nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam. .................................................. 3
1.1.1. Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp ............................................ 3
1.1.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam .............. 4
1.2. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp ........ 9
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp................ 9
1.2.3. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất .................................... 12
1.3. Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của
FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc) ............. 16
1.4. Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và
Việt Nam ............................................................................................... 17
1.4.1. Những nghiên cứu trên thế giới ............................................................ 17
1.4.2. Những nghiên cứu trong nước .............................................................. 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 21
2.1. Phạm vi, đối tượng, thời gian nghiên cứu ................................................ 21
2.1.1. Phạm vi nghiên cứu:.............................................................................. 21
iv
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 21
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................ 21
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 21
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
2.5. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu........................................................ 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................... 27
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chiêm Hóa ........................... 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ..................................................................... 30
3.1.3. Đánh giá thực trạng sử dụng đất huyện Chiêm Hóa ............................. 32
3.2. Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất. .......................................... 37
3.2.1. Xác định các loại hình và kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
chính của huyện Chiêm Hóa ................................................................. 37
3.2.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa ...... 42
3.3. Nghiên cứu và đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa ........................................ 58
3.3.1. Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng của huyện ................. 58
3.3.2. Một số đề xuất và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa ............................... 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................................. 65
1. Kết luận ....................................................................................................... 65
2. Đề nghị ........................................................................................................ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 67
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 70
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
BVTV
Bảo vệ thực vật
CNHN
Công nghiệp hàng năm
CNLN
Công nghiệp lâu năm
CPTG
Chi phí trung gian
ĐT, ĐX
Đậu tương, Đậu xanh.
FAO
Tổ chức lương thực và nông nghiệp
GTNCLĐ
Giá trị ngày công lao động
GTSX
Giá trị sản xuất
HQĐV
Hiệu quả đồng vốn
HQKT
Hiệu quả kinh tế
LĐ
Lao động
LM
Lúa mùa
LUT
Land Use Type (Loại hình sử dụng đất)
LX
Lúa xuân
NQ - CP
Nghị quyết - Chính phủ
TNHH
Thu nhập hỗn hợp
TTCN-CN
Tiểu thủ công nghiệp-công nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.
Cơ cấu kinh tế của huyện Chiêm Hóa giai đoạn 2014-2018 .... 31
Bảng 3.2:
Hiện trạng sử dụng đất của huyện Chiêm Hóa ......................... 32
Bảng 3.4:
Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Chiêm Hóa........... 38
Bảng 3.5.
Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 1...................................... 44
Bảng 3.6.
Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2...................................... 47
Bảng 3.7:
Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 3...................................... 49
Bảng 3.8.
Mức đầu tư lao động của các kiểu sử dụng đất tại 3 tiểu vùng ....... 51
Bảng 3.9.
Mức độ đầu tư phân bón của một số loại cây trồng trên địa
bàn huyện .................................................................................. 54
Bảng 3.10.
Phân cấp chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả của các loại
hình sử dụng đất ........................................................................ 56
Bảng 3.11:
Đánh giá hiệu quả LUT có hiệu quả bền vững ......................... 57
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt
động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản
xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp,
đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông
nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực
thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững
đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của
đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Ở nước ta, vai trò đặc biệt của đất đai đã được cụ thể hóa trong các văn
bản pháp luật. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
của Quốc hội tại chương III, tại các điều 53, 54 đã quy định: “Đất đai, tài
nguyên nước, khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên
nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý và tài sản công thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và “Đất
đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất
nước, được quản lý theo pháp luật”. Để đảm bảo quản lý và sử dụng đất đai
hợp lý trong nhiều năm qua Đảng, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề sử
dụng hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp. Chúng ta đã từng bước thực hiện việc
giao đất nông lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các hộ gia đình, các tổ chức và
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người
dân sử dụng đất hiệu quả.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của huyện Chiêm Hóa có
bước phát triển mạnh, đã làm tăng áp lực đối với đất đai. Kết quả thực hiện quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2015 cho thấy chưa khoanh định được diện tích đất
2
trồng lúa cần bảo vệ; đối với đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiêm ngặt các
quy định về bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; với đất phi nông nghiệp,
việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu thống nhất
đặc biệt là đất nông nghiệp diện tích ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục
đích sang các loại đất khác, việc bù đắp lại diện tích đất trồng lúa bị mất là vô
cùng khó khăn. Bên cạnh đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện nay của
huyện khai thác và sử dụng đạt hiệu quả kinh tế chưa cao, đất đai ngày càng
suy giảm về chất lượng, rửa trôi và xói mòn diễn ra khá mạnh do người dân
chưa có các phương thức canh tác vừa cải tạo vừa chống xói mòn đất. Vì vậy,
việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu
quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang"
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông tại huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế,
xã hội và môi trường) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất được các giải pháp sử dụng đất sản xuât nông nghiệp hợp lý,
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp hoá - hiện
đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của huyện Chiêm Hóa trong việc quy
hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất sẽ
cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu
quả cao.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất
nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1. Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là
đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì, khí quyển. Là lớp mặt tươi
xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Là lớp phủ
thổ nhưỡng, thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự
nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển,
khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên
và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản.
Luật đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và
nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm
đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất nông nghiệp khác” (Quốc hội, 2013).
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành
nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào
mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì
thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các
ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản
xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất
khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính). Bởi vậy:
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Muốn nâng cao
hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và
4
chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực
phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho
xuất khẩu (Nguyễn Xuân Quát, 1996).
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững.
Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất
đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn
cho thế hệ tương lai.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
1.1.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.1.2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Trên thế giới, mỗi quốc gia có nền sản xuất nông
nghiệp phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với đời
sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận và hầu hết các nước đều coi
nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày
một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên
đất, nhất là đất nông nghiệp. Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất
nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông
nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện
pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp. Vì
vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ
và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh
thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, đất
bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn… gây ảnh hưởng lớn
đến năng suất, chất lượng nông sản.
5
Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới có khoảng 3,3 tỉ
ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng
78%, tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào sản xuất nông nghiệp.
Trong tổng số 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho
trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46%
đất đang có khả năng trồng trọt). Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt
chưa được khai thác.
Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông, lâm
nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát
triển ở trình độ không giống nhau, nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối
với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận. Trên thế giới
các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển. Tuy nhiên, khi
dân số tăng nhanh thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn.
Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để
thêm đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Thêm nữa, đất đai lại bị khai
thác triệt để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất.
Nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là đất đai.
Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không
giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào
cũng thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng
của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu
lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực
loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá
vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không
còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi
trọng. Mặt khác, cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công
nghệ, khoa học và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò
quan trọng đối với cuộc sống của con người. Nhân loại đã có những bước tiến
6
kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày. Nhưng do chạy
theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã
gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất. Kết
quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các
hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn
và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất... Người ta ước tính có tới 15% tổng diện
tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người
gây ra (Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng, 1995).
Trên thế giới đất đai được phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có
diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại
có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt
khác, Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia
dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn 5 Độ. Đối với ở Châu Á, đất
đồi núi chiếm 35% tổng diện tích. Đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là
khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt
và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam
Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây
vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên
rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.
Đất canh tác trên thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng
do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số
ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người
ngày một giảm.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Việt Nam là nước có diện tích tự nhiên nhỏ so với các nước khác trên
thế giới, Việt Nam đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, nhưng dân số lại
đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người chỉ xếp vào hàng
7
thứ 9 trong khu vực. Theo số liệu của kết quả kiểm kê đất đai năm 2014, Việt
Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.731 nghìn ha, trong đó đất nông
nghiệp là 26.822.953 nghìn ha, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp
là 2.956,38 m2/ người (Nguyễn Văn Bộ, 2014). Diện tích đất bình quân đầu
người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới. Ngày nay với áp lực về dân
số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất đai nước ta ngày càng giảm, đặc biệt là
diện tích đất nông nghiệp.
Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước
đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và
đang dần từng bước xóa bỏ tính tự cung, tự cấp, chuyển dần sang sản xuất
hàng hoá và phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành
vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý, sử dụng đất quan tâm.
Trên thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá,
cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả
nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở nước ta có nhiều biến động. Đất
nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số
vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản
xuất nông nghiệp. Diện tích đất đai càng ngày bị xói mòn, thoái hóa do việc
phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên. Đáng báo động hơn là tình
trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn, sa
mạc, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá, thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm… suy
thoái chất lượng đất dẫn đến giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học
và nhiều hậu quả khác. Những tác động tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp
đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là
thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta (Lê
Thái Bạt, 2009).
8
Kết quả nghiên cứu của Lê Thái Bạt (2009), đã thống kê ở nước ta có
15,7 triệu ha đất bị xói mòn, rửa trôi, đất chua, có 9 triệu ha đất có tầng mỏng
và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hoá, 1,9 triệu ha
đất bị phèn hoá và mặn hoá. Ngoài ra còn các tình trạng ô nhiễm do phân bón,
hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng
nghề, sản xuất dịch vụ, chất độc hoá học để lại sau chiến tranh cũng gây ảnh
hưởng đến việc sử dụng đất. Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và
thách thức lớn đối với nước ta hiện nay.
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của nước ta
chỉ chiếm khoảng 28,38% diện tích tự nhiên, gần tương đương với diện tích
này là diện tích đất chưa sử dụng. So với một số nước trên thế giới, nước ta có
tỷ lệ đất nông nghiệp rất thấp.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất để phát triển một nền nông
nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần
xuất khẩu thì cần phải biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng
đất có hiệu quả.
Tỉnh Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có phía Bắc giáp tỉnh Hà
Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Bắc Kạn và Thái
Nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía Tây - Nam giáp Phú Thọ, phía Tây
giáp Yên Bái.
Tuyên Quang có tổng diện tích tự nhiên là 5.867,9 Km2 bao gồm: 1
thành phố và 6 huyện chính là Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương, Chiêm Hóa,
Na Hang, Lâm Bình. Trong đó:
Huyện Chiêm Hóa có đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, đất chưa sử
dụng chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng diện tích tự nhiên: Đất nông nghiệp
chiếm 92,84 % tổng diện tích tự nhiên (tỷ lệ chung của cả tỉnh là 90,66%, của
cả vùng Đông Bắc là 81,84%). Trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao
với 82,20%. Đất rừng sản xuất hiện đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong đất lâm
9
nghiệp với52,5% (Tỷ lệ chung củatỉnh là 43,96%); đất chưasử dụng chiếm
2,13 % tổng diện tích tự nhiên (tỷ lệ chung của tỉnh là 2,01%, của vùng Đông
Bắc là 9,97%). Đây là sự bố trí đúng đắn, thích hợp trong điều kiện hiện tại
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Điều đó được thể
hiện ở các mặt sau:
- Khai thác tối đa quỹ đất đai vào sản xuất nông, lâm nghiệp.
- Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động tại chỗ.
- Sử dụng đất sản xuất nông, lâm nghiệp tạo ra nhiều loại sản phẩm, với số
lượng lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm
hàng hoá, tạo nguồn nguyên liệu, thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến.
- Đất trồng lúa tương đối ổn định về quy mô diện tích, địa bàn và đang
được đầu tư nâng cao về năng suất, chất lượng góp phần ổn định mục tiêu an toàn
lương thực.
1.2. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của
ngành sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp không chỉ là chỗ dựa của lao
động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào
cây trồng đều dựa vào đất đai. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu
không thể thay thế được. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp (Bùi Nữ
Hoàng Anh, 2013).
Trên thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông
nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng từ 3 - 5 tỷ ha. Nhân
loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7
triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Để giải quyết nhu cầu
về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng
suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Việc điều tra, nghiên
10
cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản
đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch
sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm
(Viện Điều tra Quy hoạch, 1998).
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết
của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và
quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất
mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên
cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả
3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan
điểm quản lý sử dụng đất bền vững.
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là một việc
hết sức cần thiết, nó sẽ giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng
vùng đất. Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm như sau:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất
đai, vi, sinh vật, khí hậu, thời tiết, nước,... luôn có ảnh hưởng trực tiếp tới sản
xuất nông nghiệp, vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo
sinh khối. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên sẽ là cơ sở xác định cây trồng vật
nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng (Ngô Thế Dân, 2001).
- Khí hậu: đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất
nông nghiệp, điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn nhiều hay ít,
nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt độ và thời gian, không gian, biên
độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm... trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân
bố sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
- Điều kiện về lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa
quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, khả năng cung cấp nước cho
các cây sinh trưởng và phát triển (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998).
11
- Về đất đai sự khác nhau về địa hình địa mạo, độ cao, độ dốc và hướng
dốc... thì cũng sẽ dẫn đến khí hậu, đất đai khác nhau vì vậy sẽ ảnh hưởng đến
sản xuất và sự phân bố của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp. Địa hình và
độ dốc sẽ ảnh hưởng tới phương thức của sử dụng đất nông nghiệp, và việc
lựa chọn cây trồng hợp lí.
Tùy từng khu vực địa lí khác nhau sẽ có những điều kiện khác nhau về
nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, gió, mưa, nước... và các điều kiện khác của tự
nhiên. Chính vì thế các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng, hiệu quả
của việc sử dụng đất.
* Biện pháp kỹ thuật canh tác
Mọi biện pháp kỹ thuật canh tác là chính các tác động của con người
vào đất đai, vật nuôi, cây trồng... nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của
quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Theo
tác giả Đường Hồng Dật (1994), thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác
động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, thời
tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh, sắc sảo. Lựa
chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù
hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có
thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế. Vì vậy, nhóm các biện pháp kỹ
thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Ngô Thế Dân, 2001).
* Nhân tố kinh tế - xã hội: Thường bao gồm rất nhiều nhân tố như chế
độ xã hội, dân số, chính sách, cơ sở hạ tầng, môi trường... Các yếu tố này có ý
nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả của việc sử dụng đất.
Chính vì như vậy 3 nhóm yếu tố trên tạo ra rất nhiều ảnh hưởng đến
việc sử dụng đất. Tuy nhiên mỗi yếu tố lại có một sự tác động khác nhau vào
hiệu quả sử dụng đất, bởi vậy chúng ta cần căn cứ vào các yếu tố này để tìm
12
ra những yếu tố thuận lợi cho cây trồng và những yếu tố khó khăn trong việc
sử dụng đất để khắc phục.
1.2.3. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả. Trước kia nhận thức
con người còn hạn chế, nên người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả
chỉ là một. Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn người ta
đã thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả. Theo trung tâm từ điển
ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại.
Vậy hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người
chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả
có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi
nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh
giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc
bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Viện từ
điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng
đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, giá trị (lợi nhuận)
thu được bằng tiền. Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội, là thể hiện hiệu quả của
lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như
hàng năm để khai thác sử dụng đất. Đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu
quả kinh tế về mặt giá trị qua giá trị sản lượng và hiệu quả về mặt sử dụng sức
lao động của nông dân, công nhân, trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu
quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu được, nhất là các loại nông sản
cơ bản, có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu, nguyên liệu
quan trọng cho công nghiệp chế biến...) để bảo đảm sự ổn định về kinh tế và
xã hội của đất nước (Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Vậy hiệu quả sử dụng đất là: kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học - kĩ thuật, quản lí kinh tế và phát huy các lợi thế,
13
khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên; trong những hoàn
cảnh thực tế nhất định, còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của
nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường
quốc tế (Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả thường thông qua việc bố trí cơ
cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay của hầu
hết các nước trên thế giới, nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất nông nghiệp. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá
cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm ưu thế ở từng địa
phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có
tính cạnh tranh cao. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển
nông nghiệp hướng hàng hóa có tính ổn định và bền vững.
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau
là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. Trong đó
đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Vậy hiệu
quả sử dụng đất là:
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có
nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội.
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng
hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” (Vũ Thị
Phương Thuỵ, 2000).
Đất nông nghiệp sử dụng có hiệu quả cao hay không là thông qua việc
bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc
hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm
của các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
14
Hiện nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản
chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và
những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được
xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
(Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2006).
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian, phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà khoa học kinh tế
Samuelson Nordhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí". Nghiên cứu hiệu
quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội
không thể tăng sản lượng một hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng
một loại hàng hoá khác". Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm
chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt
động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của
xã hội.
HQKT là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả, nó có vai trò
quyết định đối với các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có
khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng hệ
thống các chỉ tiêu.
HQKT được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần
giá trị của các nguồn lực đầu vào.
HQKT là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế
và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều
tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt
được một trong yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều
15
kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc
sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản
xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.
Bởi vậy, bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một diện tích
đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một
lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng tăng về vật chất của xã hội (Hội khoa học đất, Đất Việt Nam, 2000).
Vậy hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
+ Một là: mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật
"tiết kiệm thời gian".
+ Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết
hệ thống.
+ Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người.
HQKT được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được
và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là
phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
các nguồn lực đầu vào (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995).
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
hội và tổng chi phí bỏ ra. Ở đây, hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh và
mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm,
xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội....
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả
năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Trong giai đoạn
hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp đang được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm.
16
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất
nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn
vị diện tích đất nông nghiệp. Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức
thu hút lao động, thu nhập của nhân dân. Hiệu quả xã hội cao sẽ góp phần
thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao
mức sống của nhân dân. Việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất phải phù hợp
với phong tục, tập quán của địa phương thì sử dụng đất sẽ bền vững hơn.
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là một vấn đề mang tính toàn
cầu, ngày nay đang được đặc biệt quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá
hiệu quả sử dụng đất. Điều này có nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện
pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý...được coi là có hiệu quả khi
chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi
trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến
môi sinh và đa dạng sinh học.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính
lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó
gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
sinh thái (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995).
1.3. Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của
FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc)
* Loại hình sử dụng đất.
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử
dụng đất, đưa vào nội dung các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất
là một đối tượng dùng trong đánh giá đất.
Loại hình Sử dụng đất (Land Use Types-LUT): Là bức tranh mô tả thực
trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản
xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định. (Đào
Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998).
17
* Nội dung chính của đáng giá các loại hình sử dụng đất.
- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại;
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại trên ba mặt:
+ Hiệu quả về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị
trường chấp nhận;
+ Hiệu quả về môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai,
ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;
+ Hiệu quả về xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng: Lựa chọn các loại
hình sử dụng đất để có thể duy trì và phát triển trong tương lai cần thoả mãn
các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường. Nói chung nếu có hiệu
quả kinh tế cao thì phải được người dân chấp nhận và môi trường đất, nước và
không khí không bị suy giảm.
1.4. Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và
Việt Nam
1.4.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Đến nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều
phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá. Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình
độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau.
Hằng năm, các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đều
nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo ra
được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn. Viện lúa
quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa, hệ thống cây trồng
trên đất canh tác. Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới
thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất,
điển hình là của Nhật. Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên
18
những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho
rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật,
kinh tế- xã hội. Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu
quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp
giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường
độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá
của sản phẩm Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ (1992).
Ở Trung Quốc thì việc khai thác, sử dụng đất là yếu tố quyết định để
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện. Chính phủ Trung Quốc đã đưa
ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho
nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của
nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn
diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều nhiều quy chế mới
ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích
hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn.
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp
quan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số
tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp),
Canada tương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Otraylia 1,7 tỉ USD (chiếm
14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ
USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%).
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây
dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
1.4.2. Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình
nghiên cứu về sử dụng đất. Các nhà khoa học đã chú trọng đến công tác lai tạo