Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Tình huống (CÓ LỜI GIẢI) môn luật hình sự tội Hiếp dâm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (91.6 KB, 10 trang )

BÀI TẬP NHÓM HÌNH SỰ SỐ II
ĐỀ SỐ 7.
Ngày 17/5/2019, Trần Tuấn A và Đỗ Quang I (đều sinh năm 1990) (đều là
nam giới) rủ nhau đi uống rượu. Khi đã ngà ngà say, A và I vào một chòi canh cá
nghỉ. Ngay lúc đó, A nhìn thấy Lê Thị D (sinh năm 1998) đang đi một mình trên
quãng đường vắng gần đó liền bàn với I kế hoạch thực hiện hành vi giao cấu với D.
A nói I ngồi canh chừng còn mình đi tìm một đoạn dây dứa. Khi D đi tới thì I lao
ra khống chế, bịt miệng D kéo vào chòi canh còn A dùng dây dứa buộc chặt hai tay
D. Sau đó A và I thay nhau thực hiện hành vi giao cấu với D. Sau khi thực hiện
hành vi giao cấu, A và I dìm đầu D xuống mương nước gần đó cho đến khi thấy D
không còn thở liền bảo nhau lấy vỏ lọ thuốc trừ sâu bên bờ ruộng nhét vào miệng
D, phòng trường hợp D tỉnh lại sẽ hô hoán. Hậu quả D chết.
Hỏi:
1. Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định
tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?
2. Giả sử D được người dân trong làng phát hiện kịp thời và cứu sống thì
tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I có thay đổi không? Vì sao?
3. Giả sử D đang có thai ở tháng thứ hai thì A và I có phải chịu trách
nhiệm hình sự về tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai”
quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS không? Vì sao?


PHẦN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG CỦA NHÓM:
1. Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội gì? Theo quy định tại
điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?
 Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội Hiếp dâm và tội Giết
người theo điều 141 và điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017:


Đối với tội Hiếp dâm: Tội hiếp dâm theo pháp luật hiện nay được quy định tại


điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi
quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến
15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa
bệnh;
c) Nhiều người hiếp một người;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Có tính chất loạn luân;
g) Làm nạn nhân có thai;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành
vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến
20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành
vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;


b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều

này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, có thể thấy rằng hiếp dâm là hành vi của một người dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân
hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với
ý muốn của nạn nhân.
Về khách thể của tội phạm: hành vi hiếp dâm xâm phạm đến quyền tự do
về tình dục của con người. Đồng thời xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo
vệ về sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cũng như tính mạng của con người.
Như vậy, trong tình huống trên, hành vi của anh A và I đã xâm phạm đến
thân thể của chị D, cụ thể là sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của chị D, ngoài ra còn
xâm phạm đến quyền tự do về tình dục của chị (tức là có hành vi giao cấu trái với
ý muốn của chị D).
Về mặt khách quan của tội phạm: Đối với tội hiếp dâm, có 2 nhóm hành vi
khách quan như sau:
Nhóm hành vi thứ nhất là: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng
tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác.
Nhóm hành vi thứ hai là: giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác trái ý muốn của nạn nhân. Dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt
buộc của cấu thành tội hiếp dâm


Trong tình huống trên, nhóm hành vi thứ nhất của anh A và anh I thể hiện đó
là dùng vũ lực, cụ thể hành vi lao ra khống chế chị D, bịt miệng chị D, kéo chị D
vào chòi canh, dùng dây dứa buộc chặt hai tay D. Nhóm hành vi thứ hai đối với tội
danh này được thể hiện, hành vi giao cấu với chị D. Bên cạnh đó, dấu hiệu trái ý
muốn với nạn nạn nhân như nhóm phân tích ở trên là dấu hiệu bắt buộc đối với tội
danh này, Trong tình huống các hành vi khách quan của A và I như khống chế, bịt
miệng, buộc chặt tay chị D, thể hiện rằng việc giao cấu được thực hiện trái với ý

muốn của chị D.
Về mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm
với lỗi cố ý trực tiếp. Xét đến tình huống, khi thực hiện hành vi phạm tội anh A và
anh I đã có ý định từ ban đầu, mong muốn thực hiện hành vi của mình và thực tế
đã thực hiện được đến cùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý sau khi uống rượu. Do đó,
lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp.
Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội hiếp dâm là người từ đủ 16 tuổi
trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu thuộc trường hợp tội phạm rất
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp trên, A và I sinh năm
1990 do đó, A và I đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội này.


Đối với tội giết người: theo pháp luật hiện nay tội giết người được quy định
tại điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;


đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt
tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ
01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một
cách trái pháp luật.
Khách thể của tội phạm: tội phạm xâm phạm đến quyền sống của con
người.
Như vậy, trong tình huống trên A và I đã xâm phạm đến quyền sống của D,
cụ thể là có những hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của chị D, trên thực tế đã gây
ra hậu quả là D chết.
Mặt khách quan của tội phạm: thể hiện ở hành vi tước đoạt tính mạng của
người khác một cách trái pháp luật. Hành vi có thể được thực hiện dưới hình thức
hành động, như đâm, chém, nổ súng, bóp cổ, cho uống thuốc độc… Có thể được


thể hiện bằng không hành động, như không cho ăn uống đối với người mà mình có
trách nhiệm nuôi dưỡng. Hậu quả là dẫn đến chết người.
Trong tình huống trên, A và I đã có các hành vi khách quan của tội giết
người, tước đoạt mạng sống của D, cụ thể các hành vi đó là: dùng tay dìm đầu D
xuống mương nước gần đó cho tới khi chị D tắc thở, lấy vỏ lọ thuốc trừ sâu bên bờ
ruộng nhét vào miệng chị D mặc dù chị D đã bị dìm dẫn đến tắc thở và bên cạnh

đó, đây là vỏ lọ thuốc trừ sâu chứ không phải vỏ chai nhựa bình thường. Hậu quả
là dẫn đến chị D chết.
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Xuất phát từ các hành vi khách quan của tội giết người mà A và I thực hiện,
và bên cạnh đó là có ý định phòng chị D tỉnh dậy chứng tỏ rằng A và I không muốn
chị D tỉnh dậy để không ai biết hành vi phạm tội của mình (tức là mong muốn chị
D chết). Vậy, lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp.
Chủ thể của tội phạm: là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách
nhiệm hình sự. Trường hợp trên, A và I sinh năm 1990, như vậy A và I đã đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này.
 Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo điều khoản sau:
• Đối với tội Hiếp dâm: Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội
theo khoản 2 điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì căn cứ theo khoản điểm c, khoản 2 điều 141 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017 thì tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội này là
nhiều người hiếp một người. Như vậy, trong tình huống trên có anh A và anh I
cùng hiếp chị D, do đó Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo 2 điều 141


BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt là phạt tù từ
7-15 năm tù giam.
• Đối với tội Giết người: Hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm
tội theo khoản 2 điều 123 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bởi vì, xét trong tình huống trên, hành vi của anh A và anh I đối với tội giết
người không thuộc bất cứ trường hợp nào theo quy định tại khoản 1 điều này.
Do đó, hành vi của Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội theo 2 điều 123 BLHS
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
 Vậy, qua phân tích trên của nhóm đối với các hành vi của A và I, có thể
khẳng định rằng, Trần Tuấn A và Đỗ Quang I phạm tội hiếp dâm và tội
giết người theo điều 141 và điều 123 BLHS.

2. Giả sử D được người dân trong làng phát hiện kịp thời và cứu sống thì tội
danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I có thay đổi không? Vì sao?
• Đối với tội hiếp dâm: Như đã phân tích tại câu 1, các hành vi của A và I đã
cấu thành tội Hiếp dâm, bao gồm hành vi dùng vũ lực và hành vi giao cấu
trái với ý muốn của chị D. Do đó, tội hiếp dâm và khung hình phạt của tội
này áp dụng đối với A và I không thay đổi
• Đối với tội giết người: Theo như nhóm phân tích tại câu 1, nhóm cho rằng
lỗi của A và I trong trường hợp trên đối với tội giết người là lỗi cố ý trực
tiếp, xuất phát từ những nguyên do sau:
 Thứ nhất, A và I có hành vi dìm đầu chị D xuống bờ mương bên cạnh đến
khi tắc thở.
 Thứ hai, sau khi dìm A và I lại tiếp tục có hành vi dùng vỏ chai thuốc sâu
bên bờ nhét vào miệng chị D, mặc dù chị D đã tắc thở, bên cạnh đó có thể


thấy rằng, vỏ chai đây không phải là chai nhựa bình thường mà là vỏ chai
thuốc sâu, một người bình thường khi ngậm vào có nguy cơ chết rất cao nếu
như không cứu chữa kịp thời…
 Thứ ba, A và I có ý định phòng chị D tỉnh dậy, như vậy chứng tỏ rằng A và I
mong muốn chị D sẽ không tỉnh dậy để hành vi phạm tội của mình không bị
phát hiện tức là mong muốn chị D chết sau khi dìm đến tắc thở và nhét vỏ
thuốc sâu vào miệng chị D.
Nhóm cho rằng nếu như chị D được người dân trong làng phát hiện kịp thời
và cứu sống thì tội giết người và khung hình phạt của tội này áp dụng đối với A và
I cũng sẽ không thay đổi. Vì căn cứ vào lỗi của A và I là lỗi cố ý trực tiếp như
nhóm đã phân tích ở trên thì việc chị D được người dân phát hiện và cứu sống kịp
thời là những trở ngại khách quan, nằm ngoài ý thức chủ quan, nằm ngoài ý muốn,
mong muốn của A và I. Hành vi của A và I là mong muốn chị D chết để hành vi
phạm tội của mình không bị phát hiện. Do đó, về tội giết người và khung hình phạt
của tội này áp dụng đối với A và I sẽ không thay đổi.

 Như vậy, tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và I sẽ không thay
đổi, cho dù D được người dân phát hiện và cứu sống kịp thời.
3. Giả sử D đang có thai ở tháng thứ hai thì A và I có phải chịu trách nhiệm
hình sự về tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” quy
định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS không? Vì sao?
Tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai” được quy định
tại điểm i, khoản 1, Điều 52 BLHS. Theo như quy định Tại mục 2 của Nghị số
01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao: “Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai,
người già đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý


thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị
xâm hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già”.
Như vậy, điều kiệp để áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội là: thứ
nhất, đối với các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý; thứ hai, trên thực tế nạn nhân là
người có thai;
Để kết luận có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ
có thai” đối với A và I hay không, nhóm sẽ chia thành 2 trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất: A và I khi thực hiện hành vi phạm tội không biết rằng
chị D có thai. Như vậy xét đến 2 điều kiện để áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS
“phạm tội đối với phụ nữ có thai” thì trong trường hợp trên, A và I đã đủ kiểu kiện
để áp dụng tình tiết này. Do đó nếu như D đang có thai ở tháng thứ hai và A và I
không biết việc có thai này khi thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ bị áp dụng tình
tiết tăng nặng TNHS trên.
Trường hợp thứ hai: A và I khi thực hiện hành vi phạm tội mà biết rằng chị
D là người đang có thai. Căn cứ theo điểm c, khoản 1, điều 123 BLHS đối với tình
tiết tăng nặng định khung hình phạt “giết phụ nữ mà biết có thai”, nhóm cho rằng,
để áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội thì cần thỏa mãn 2 điều kiện: thứ
nhất, người thực hiện hành vi phạm tội biết rằng nạn nhân là người có thai; thứ hai,

Trên thực tế nạn nhân đang mang thai. Trong trường hợp thứ hai này, khi thực hiện
hành vi phạm tội, A và I biết rằng chị D có thai và trên thực tế chị D đang mang
thai. Vậy, hành vi của A và I đã thỏa mãn hết các điều kiện để áp dụng tình tiết tăng
nặng định khung hình phạt “giết phụ nữ mà biết có thai”.
Căn cứ theo khoản 2 điều 52 BLHS thì “các tình tiết đã được bộ luật này
quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình
tiết tăng nặng”. Do đó, đối với trường hợp thứ hai này nhóm sẽ áp dụng tình tiết


tăng nặng định khung là “giết phụ nữ mà biết có thai” quy định tại điểm c, khoản
1, điều 123 BLHS chứ không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với
phụ nữ có thai” đối với A và I. Chính vì vậy, A và I sẽ bị áp dụng tình tiết tặng
nặng định khung hình phạt là “giết phụ nữ mà biết có thai”.



×