HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN THANH
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2020
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN VĂN THANH
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 931 02 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. GS.TS ĐỖ QUANG HƢNG
2. GS.TSKH PHAN XUÂN SƠN
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả
Nguyễn Văn Thanh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách tôn giáo và
hoạch định chính sách tôn giáo
1.2. Các công trình liên quan đến vai trò của Mặt trận với việc hoạch
định chính sách nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng
1.3. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu
1
10
10
23
25
Chƣơng 2: LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Lý luận chung về chính sách công và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
2.2. Khái quát chung về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của
Mặt trận trong hoạch định chính sách và chính sách tôn giáo
27
27
49
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
70
3.1. Thực trạng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch định chính
sách tôn giáo ở nước ta hiện nay
70
3.2. Đánh giá chung về thực trạng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với
việc hoạch định chính sách tôn giáo thời gian qua
104
3.3. Một số vấn đề đặt ra
113
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
124
4.1. Quan điểm
4.2. Giải pháp
KẾT LUẬN
124
128
148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
151
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo, với tư cách là một hình ý thức xã hội, một thực thể xã hội
nên không nằm ngoài sự vận động, biến đổi chung của toàn xã hội. Trong bối
cảnh sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, đặc biệt là khoa học và
công nghệ, đòi hỏi mỗi quốc gia phải hoàn thiên hệ thống chính sách, pháp
luật liên quan đến tôn giáo cho phù hợp.
Như đã biết, mặc dù tôn giáo xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài
người, cho dù với sự phát triển khoa học công nghệ như hiện nay, tôn giáo
không những không tiêu vong mà nó còn có xu hướng phát triển đa dạng, ảnh
hưởng sâu rộng đến mọi mặt trong đời sống xã hội con người. Các cộng đồng
tôn giáo có mối quan hệ không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn xuyên
quốc gia, liên quốc gia, trở thành một trong những lực lượng quốc tế có tiếng
nói và ảnh hưởng đáng kể đến đời sống con người, là một trong những yếu tố
tạo nên bản sắc văn hóa của các cộng đồng tộc người, quốc gia, dân tộc.
Thế kỷ XXI là thế kỷ được dự báo có nhiều diễn biến phức tạp về tôn
giáo và dân tộc. Có những quốc gia ở nhiều thời kỳ, vấn đề tôn giáo và vấn đề
dân tộc gắn liền với nhau mà tôn giáo không chỉ liên quan đến nhân quyền,
đến đời sống chính trị, nó còn là nguyên nhân của những xung đột vũ trang, là
ngòi nổ của chiến tranh. Chính vì vậy, mà vấn đề tôn giáo trong điều kiện
toàn cầu hoá và cách mạng khoa học, công nghệ thông tin dễ dàng vượt khỏi
phạm vi quốc gia, trở thành vấn đề quốc tế.
Do đó, chính sách pháp luật về tôn giáo nếu không được xây dựng và
thực hiện tốt, thường dễ bị lợi dụng, kích động trở thành mâu thuẫn, thù hận,
chia rẽ giữa các tôn giáo, thậm chí trở thành xung đột xã hội dưới vỏ bọc tôn
giáo, hoặc xung đột tôn giáo, mà chúng ta chứng kiến chúng đang nổ ra khắp
nơi trên thế giới.
Một điều đáng lo ngại đó là các thế lực chính trị cực đoan sẽ tiếp tục
2
tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống lại xu hướng phát triển tiến bộ của loài
người, thậm chí thúc đẩy xu hướng ly khai,... nhằm chia rẽ giữa các quốc gia
dân tộc, sự đoàn kết trong cộng đồng từng dân tộc trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh này, đòi hỏi hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến tôn
giáo cần được xây dựng, hoàn chỉnh để tăng cường được sự đoàn kết, khoan
dung giữa các tôn giáo và phát huy được vai trò, các giá trị và nguồn lực của
các tôn giáo trong đời sống xã hội.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo,
được coi là "bảo tàng tôn giáo của thế giới". Với chính sách tôn trọng tự do
tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo, đến nay đã có 43 tổ
chức thuộc 16 tôn giáo ở Việt Nam đã được Nhà nước công nhận hoặc đăng
ký hoạt động của tổ chức (các tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, đạo Cao
Đài, Phật giáo Hoà Hảo, đạo Tin Lành, Hồi giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt
Nam, đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, đạo Bửu sơn Kỳ hương, Minh Sư đạo, Minh Lý
đạo, tôn giáo Baha'i, đạo Bàlamôn, Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của
Chúa Giêsu Kitô, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam...). Ngoài ra, sự xuất
hiện của các "tổ chức tôn giáo mới" có xu hướng tăng lên. Các tổ chức này tổ
chức truyền đạo và hoạt động trái pháp luật, gây nhiều hệ lụy trong đời sống
tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Thái độ ứng xử của Nhà nước đối với các
"tổ chức tôn giáo mới" (có tác giả gọi là các hiện tượng tôn giáo mới) như thế
nào? Thái độ ứng xử đối với các tôn giáo hợp pháp và bất hợp pháp cần thể
hiện trong chính sách tôn giáo.
Trong quá khứ và hiện tại, tôn giáo đã và đang có ảnh hưởng lớn đến
đời sống văn hoá, tinh thần, kinh tế, chính trị, xã hội,... của đất nước và khối
đại đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Tôn giáo
cũng là một nhân tố góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc trong
quá trình giao lưu, hội nhập, phát triển và toàn cầu hoá, để quá trình hội nhập
quốc tế của Việt Nam đạt đến mục tiêu "hòa nhập, không hòa tan".
3
Bước vào thời kỳ đổi mới, hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo ở
nước ta đã được Đảng, Nhà nước quan tâm xây dựng và từng bước hoàn
thiện, với nhiều quan điểm mới tiến bộ, từng bước khắc phục những nhận
thức giáo điều, tả khuynh về tôn giáo. Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về
công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tôn giáo là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đồng bào các tôn giáo là một bộ
phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện nhất quán chính
sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tự do không theo tôn giáo
của nhân dân; phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của
các tôn giáo. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng
trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Đảng và Nhà nước ta xác định: Cả hệ
thống chính trị đều phải tham gia vào công tác tôn giáo và nội dung cốt lõi của
công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, chống mọi hành vi vi phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, đồng thời chống việc lợi dụng
tín ngưỡng tôn giáo để chia rẽ đoàn kết dân tộc, trục lợi và làm tổn hại đến lợi
ích chung của dân tộc, của cộng đồng và của nhân dân.
Luật tín ngưỡng, tôn giáo ra đời năm 2016 là một bước phát triển mới
trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Luật tín ngưỡng, tôn giáo được thông qua có ý
nghĩa quan trọng trong việc khẳng định và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của mọi người, là một bước tiến mới trong vấn đề đảm bảo hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để xây
dựng và thể chế hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng thành Luật tín
ngưỡng, tôn giáo này là sự cố gắng không nhỏ của cả hệ thống chính trị nước
ta trong đó phải kể đến vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bởi, "Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ
chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt
4
Nam định cư ở nước ngoài" [121, tr.1]. Với tư cách là tổ chức liên minh chính
trị, cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận là nơi thể hiện ý chí,
nguyện vọng, đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
nhân dân, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc "Tham gia xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; phản biện xã hội đối với các dự
thảo văn bản pháp quy, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án
phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo
theo quy định của pháp luật" [125, tr.3]. Thông qua việc chủ động tham gia
xây dựng, đề xuất, kiến nghị các chính sách và sáng kiến pháp luật về tôn
giáo sẽ góp phần quan trọng đảm bảo cho các chủ trương, chính sách đó thể
hiện đúng đắn, đầy đủ ý chí nguyện vọng của các tôn giáo và đảm bảo quyền
lợi chính đáng, hợp pháp của các tôn giáo, qua đó củng cố và tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đáp ứng yêu cầu xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân.
Tuy nhiên, việc tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào quá
trình hoạch định chính sách tôn giáo vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề, như tính
chủ động, tính hiệu quả của quá trình tham gia, năng lực của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong các quá trình chính sách nói chung, chính sách tôn
giáo nói riêng...
Từ những lý do trên, chúng tôi thấy rằng việc triển khai Luận án với
chủ đề "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch định chính sách tôn
giáo ở nước ta hiện nay" là cần thiết. Phải nghiêm túc nghiên cứu một cách
có hệ thống để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò của mình
vào việc hoạch định chính sách tôn giáo được tốt hơn. Và đây cũng là lý do
cơ bản để tác giả chọn đề tài này làm Luận án tiến sĩ.
5
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của các tổ
chức chính trị - xã hội vào các quá trình chính sách công, trên cơ sở thực
trạng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với quá trình hoạch
định chính sách tôn giáo ở Việt Nam, luận án đề xuất các quan điểm, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
quá trình hoạch định chính sách tôn giáo.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong hoạch định chính sách nói chung và chính sách tôn giáo
nói riêng;
- Phân tích thực trạng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong quá trình hoạch định chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay;
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham
gia hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia việc
hoạch định chính sách tôn giáo.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 1990 đến nay.
- Về không gian nghiên cứu: Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, trực tiếp là của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham
gia việc hoạch định chính sách tôn giáo (cụ thể là với các bước của quá trình
hoạch định chính sách tôn giáo)
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
6
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo và công tác tôn giáo.
+ Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Mặt trận Dân
tộc Thống nhất Việt Nam, về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; về công tác tôn
giáo nói chung và việc hoạch định chính sách tôn giáo nói riêng.
+ Các quy phạm pháp luật (hiến pháp, luật, văn bản pháp quy) về chủ
quyền của Nhân dân; về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận trong việc tham gia
hoạch định, xây dựng chính sách tôn giáo…
+ Lý luận và phương pháp luận của khoa học chính trị, đặc biệt chú ý
nghiên cứu các lý thuyết và nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, các lý
thuyết về chính sách công, về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong
các quá trình chính sách công.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chính trị
học và các phương pháp liên ngành khác nhau, cụ thể:
+ Phương pháp phân tích chính sách công: Phương pháp này cho phép,
làm rõ các giai đoạn của chu trình chính sách: Lựa chọn vấn đề chính sách,
quyết định chính sách, thực hiện chính sách và đánh giá chính sách. Phương
pháp phân tích chính sách cũng cho phép đánh giá lợi ích các bên liên quan,
đặc biệt là lợi ích của các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo, tín đồ… trong một
chính sách tôn giáo. Phương pháp phân tích chính sách cũng cho thấy vai trò,
mối quan hệ, sự tương tác giữa các chủ thể hoạch định chính sách (Nhà nước)
và chủ thể tham gia hoạch định chính sách (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
Phương pháp phân tích chính sách còn cho phép đánh giá chất lượng, hiệu
quả (chính trị hoặc kinh tế) của chính sách tôn giáo, mà các chủ thể hoạch
định và tham gia hoạch định phải cân nhắc.
7
+ Phương pháp phân tích hệ thống và hệ thống chính trị. Phương pháp
này liên quan đến hàng loạt vấn đề của luận án, như: Hệ thống chính trị, trong
đó Mặt trận Tổ quốc là một bộ phận cấu thành; hệ thống chính sách công của
Việt Nam, mà chính sách tôn giáo là một chính sách, thậm chí là một chính
sách đặc thù. Ngoài ra đối tượng của chính sách là các tôn giáo cũng mang
tính hệ thống trong tổ chức và hoạt động của chúng. Chính sách không thể chỉ
tác động đến một khâu riêng rẽ nào của hệ thống tổ chức tôn giáo…
+ Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Luận án nghiên cứu sự
tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào quá trình hoạch định chính sách
tôn giáo từ năm 1990. Phương pháp lịch sự cho phép làm rõ diễn biến, sự phát
triển trong các chính sách tôn giáo ở Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ
quốc trong sự phát triển đó. Phương pháp logic cho phép luận án rút ra những
kết luận mang tính quy luật về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội nói
chung, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng trong các quá trình chính sách.
+ Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Thao tác của hai
phương pháp này có tính ngược nhau, giúp cho nghiên cứu sinh phân tích dữ,
liệu, thực trạng hoạch định chính sách, trên cơ sở đó tổng hợp, khái quát
thành những luận chứng, luận cứ phục vụ cho các kết luận nghiên cứu của
luận án.
+ Phương pháp thống kê: Thống kê những vấn đề có tính định lượng.
+ Phương pháp định lượng: Mặc dù có thể sử dụng các kết quả nghiên
cứu định lượng thứ cấp, nhưng chúng là những bằng chứng cho những lập
luận của luận án.
+ Phương pháp định tính: Nghiên cứu sinh sử dụng sự quan sát của
mình thông qua thực tiễn công tác, sử dụng kết quả các cuộc phỏng vấn sâu,
tọa đàm, hội thảo khoa học… phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án sẽ là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách
8
hệ thống về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quá trình hoạch
định chính sách tôn giáo. Vì vậy, luận án có những đóng góp mới sau:
- Xây dựng khung phân tích về vai trò của Mặt trận Tổ quốc, với tư
cách là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp xã hội tự nguyện tham gia
vào quá trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam;
- Làm rõ thực trạng tham gia của Mặt trận Tổ quốc vào quá trình hoạch
định chính sách tôn giáo ở Việt Nam;
- Đề xuất các quan điểm, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham
gia vào hoạch định chính sách và chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp những luận chứng, bổ sung
luận cứ cho việc nghiên cứu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với
việc hoạch định chính sách nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng ở Việt
Nam hiện nay. Đồng thời luận án cung cấp những gợi ý hoàn thiện chính sách
tôn giáo, gợi ý cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam; cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; cho việc đổi
mới, nâng cao chất lượng hoạt động hoạch định chính sách của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam nói chung và hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cũng là tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy
về chính trị học, tôn giáo học, chính trị học tôn giáo, chính sách công. Đặc
biệt, đây còn là những tài liệu mang tính luận cứ khoa học phục vụ cho những
cơ quan, ban ngành nghiên cứu, giảng dạy liên quan trực tiếp, gián tiếp đến
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, liên quan đến việc hoạch định chính sách tôn
giáo ở Việt Nam.
9
7. Câu hỏi nghiên cứu
- Với nhiệm vụ và chức năng của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tham gia như thế nào vào quá trình hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay?
- Hiệu quả tham gia vào quá trình hoạch định chính sách tôn giáo của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như thế nào?
- Những vấn đề đặt ra trong quá trình tham gia hoạch định chính sách tôn
giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là gì? Nguyên nhân của các vấn đề đó?
- Những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc tham
gia hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là gì?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng trong quá trình
hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Chất lượng, tính khả thi của chính sách tôn giáo ở Việt Nam, phụ
thuộc rất lớn vào năng lực tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá
trình hoạch định chính sách.
9. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1: Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài
Chương 2: Lý luận về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc
hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Thực trạng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch định
chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra
Chương 4: Quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch định chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay
10
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH
TÔN GIÁO VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Khi bàn về chính sách tôn giáo, chúng ta không thể bỏ qua các công
trình nghiên cứu về chính sách công, bởi thực chất chính sách tôn giáo là
chính sách công, vì thế nên bản chất, quy trình xây dựng chính sách... chính
sách tôn giáo tuân thủ theo quy định chính sách công. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu về quá trình hoạch định chính sách công dưới những khía cạnh
khác nhau.
Vấn đề chính sách đã được đề cập đến từ rất lâu trong các công trình
nghiên cứu của các học giả trên thế giới nhưng nghiên cứu chính sách với vai
trò là một khoa học hoàn chỉnh thì mãi đến giữa thế kỷ XIX mới thực sự bắt
đầu "khi mà khoa học chính trị đã có sự chuyển trọng tâm nghiên cứu từ triết
học chính trị sang nghiên cứu thể chế, chuẩn mực hành vi ứng xử của chính
phủ trong việc lựa chọn nội dung hoạt động để thỏa mãn nhu cầu đời sống của
cộng đồng". Tuy ra đời muộn nhưng khoa học chính sách là một lĩnh vực
nghiên cứu giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia. Trên
thế giới thì vậy, còn ở Việt Nam thì nghiên cứu về chính sách công thực sự là
một điều mới mẻ, đến cuối những năm 1990 nó mới xuất hiện những công
trình nghiên cứu đầu tiên về chính sách công..
Dưới ảnh hưởng nhà kinh tế học người Anh J. M. Keynes, khi cho rằng
nhà nước cần phải can thiệp vào thị trường nhằm tránh sự sụp đổ của nền kinh
tế tự do, thì vai trò của nhà nước theo học thuyết Keynes tăng lên đáng kể
trong hoạch định các chính sách điều tiết kinh tế. Thậm chí các đảng dân chủ
xã hội Tây, Bắc Âu còn coi học thuyết Keynes là nền tảng tư tưởng trong các
chính sách kinh tế và xã hội. Và về sau là P. Samuelson, với đề xuất nguyên
11
lý "hai bàn tay", nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa bàn tay nhà nước và bàn tay
thị trường trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Để giải quyết vấn đề này
cần phải có hệ thống công cụ phân tích, đánh giá, lựa chọn, đây là tiền đề
quan trọng cho sự phát triển của khoa học chính sách công hiện đại.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, trình bày những học thuyết, quan
điểm, cách tiếp cận khác nhau về chính sách công như các trào lưu: Lý thuyết
hành chính là quá trình ra quyết định của H. A. Simon; Lý thuyết chính sách
là sự cụ thể hóa các quyết định hành chính, có thể kể đến J. Dewey với tác
phẩm Logic, Lý luận của cuộc thẩm vấn (Logic, Theory of Inquiry - 1938), H.
D. Laswell với Khoa học chính sách (The Policy Sicences- 1951), hay F.
Morstein Marx với Chức năng xã hội của chính sách công (The Social
Function of Public Administration -1946); R. A. Dahl với Ai thống trị (Who
governs- 1961)...; lý thuyết hệ thống của D. Easton. Trong các tác phẩm như:
Hệ thống chính trị (The Political System -1971), Hệ thống phân tích đời sống
chính trị (A System Analysis of Political Life -1965), Khung khổ cho phân
tích chính trị (A Framework for Political Analysis -1965)...
Trường phái Lựa chọn công cộng (Public Choice Theory), xuất hiện
vào những năm 60 của thế kỷ XX, do nhà kinh tế học người Mỹ J. Buchanan
(ông đạt giải Nobel về kinh tế học năm 1986). J. Buchanan chịu ảnh hưởng
bởi quan điểm về "mô hình trao đổi tự nguyện của" Wicksell, ông coi diễn
biến chính trị như một phương tiện hợp tác để đạt được những lợi ích có đi có
lại. Ông cũng cho rằng kết quả của quá trình chính sách phụ thuộc vào chính
những nguyên tắc của chính sách, nên kết quả có thể đoán định trước được
theo quy luật nhân - quả.
Trên đây là một số trào lưu, lý thuyết công trình nghiên cứu chủ yếu.
Phần lớn những công trình nghiên cứu kể trên ở các góc nhìn nhận, đánh giá
toàn diện, hay từng mặt, mức độ sâu hay nông, về cơ bản đã phác hoạ được
bức tranh toàn cảnh với những đường nét đậm nhạt khác nhau về những vấn
12
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quá trình chính sách. Các công trình này cung
cấp khuôn khổ lý thuyết về chính sách công nói chung, hoạch định chính sách
công nói riêng. Tuy nhiên, qua khảo sát các công trình này không xây dựng khung
khổ lý thuyết cho chính sách tôn giáo. Mặt khác, quá trình chính sách công ở Việt
Nam nói chung và chính sách tôn giáo ở Việt Nam nói riêng là những quá trình
mang tính đặc thù, cần có cách tiếp cận thích hợp. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu vẫn
đang còn những khía cạnh cần phải tiếp tục trao đổi và giải quyết.
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu về hoạch định chính sách mới được đề cập
đến trong những năm gần đây, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
- Tài liệu hội thảo Nghiên cứu chính sách công do Viện Khoa học
chính trị tổ chức [166]. Tại hội thảo này các tác giả đã trình bày những vấn đề
cơ bản về khoa học chính sách và đánh giá quá trình hoạch định, thực hiện
chính sách công ở Việt Nam trên một số lĩnh vực cơ bản.
- Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công của Học viện
Hành chính [72]. Giáo trình đã đề cập đến các vấn đề như: Nhận thức về
chính sách công; hoạch định chính sách công (chỉ ra các bước, phương pháp,
tiêu chí đánh giá, nguồn lực...); tổ chức thực thi chính sách công; phân tích
chính sách công (các phương pháp, tiêu chí, nội dung)...
- Tác giả Văn Tất Thu, trong bài ''Bản chất, vai trò của chính sách
công'' đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước điện tử, đăng ngày 27/01/2017 cho
rằng: "Chính sách công được hoạch định bởi đảng chính trị nhưng do chính
phủ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện. Bản chất của chính sách công là
công cụ để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các
hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quá
trình phát triển thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển" [143].
- Tác giả Tạ Ngọc Hải, trong bài ''Chính sách công - Tiếp cận từ khoa
học tổ chức nhà nước'' đăng trên Website của Viện Khoa học Tổ chức nhà
nước đã trích dẫn ý kiến của tác giả Lê Chi Mai cho rằng "Cho đến nay trên
13
thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi
động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi, tuy vậy theo bà chính sách công có
những đặc trưng cơ bản nhất như: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà
nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà
còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách
công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã
hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách
có liên quan lẫn nhau" [63].
- Tác giả Phạm Văn Phong và Nguyễn Hữu Hoàng trong bài viết về "Vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chính sách công ở nước ta
hiện nay" đăng trên Tạp chí Thanh tra Việt Nam cho rằng ở Việt Nam khoa
học chính sách công là ngành khoa học non trẻ, với nhiều vấn đề mới vừa có
tính phổ quát vừa có những đặc thù mặc dù trên thế giới đây là vấn đề không
mới. Bài viết bước đầu luận giải về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với toàn bộ chu trình chính sách công ở nước ta hiện nay [116].
Trên đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà
nhóm tác giả đã tiếp cận. Các công trình này đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau, ở mức độ nhất định đã hệ thống hóa những vấn
đề lý thuyết cơ bản về chính sách công, đề cập đến thực trạng hoạch định
chính sách công ở Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Từ những
công trình nghiên cứu từ nước ngoài, trong nước, từ những vấn đề đặt ra từ
thực tiễn hoạch định chính sách công trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị
trường, nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế... những yêu cầu mới đối
với hoạch định chính sách công ở Việt Nam đang nổi lên như là một vấn đề
có tính tổng hợp từ lý thuyết, thực tiễn; từ giáo dục đến thực hành. Những
công trình nghiên cứu trên đây là tài liệu tham khảo quan trọng mà nhóm
nghiên cứu sẽ tiếp cận trong quá trình nghiên cứu.
Các nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam đã bước đầu phản ánh
14
tính đặc thù của các chu trình chính sách ở Việt Nam, như vai trò đặc biệt của
Đảng cộng sản Việt Nam, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các quá trình
chính sách, sự khác biệt của cách yếu tố đầu vào, các kênh diễn giải thông
tin... Tuy nhiên có ít công trình chuyên sâu về chính sách tôn giáo với tư cách
là một chính sách công quan trọng ở Việt Nam.
Về khía cạnh tôn giáo, chính sách tôn giáo, có thể thấy rằng, việc
nghiên cứu vấn đề này chủ yếu diễn ra trong thời gian 30 năm trở lại đây, sau
khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 về tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày
02/7/1998 của Bộ Chính trị Về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị
quyết số 25 NQ/TW ngày 12/3/2003 của ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX Về công tác tôn giáo; Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, số
18/2004/L/CTN, công bố ngày 29/6/2004; Luật tín ngưỡng, tôn giáo được
Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016. Các văn kiện trên đây thể hiện quan
điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo, tạo môi
trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo và công tác
tôn giáo, do đó tình hình tôn giáo nói chung đã có những chuyển biến mới
theo hướng tích cực hơn.
Việc nghiên cứu về tôn giáo, chính sách tôn giáo và các mô hình nhà
nước quản lý tôn giáo đang nổi nên như một chủ đề mang tính thời sự, thu hút
được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cá nhân và tổ chức trong xã hội như:
Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, nhà quản lý và các cơ quan
quản lý xã hội, các nhà nghiên cứu và các cơ quan nghiên cứu,...
Cuốn Về Tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo [167]. Sách đã giới
thiệu những quan điểm cơ bản của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí
Minh, Phiđen Castrô về tôn giáo. Tác phẩm trình bày một số tác phẩm của
một số nhà tôn giáo học trên thế giới như:
L. Feuerbach với tác phẩm "Bản chất chung của tôn giáo".
15
E. Durkheim với "Định nghĩa về hiện tượng tôn giáo và về tôn giáo".
Y. Lambert với "Tháp Babel - những định nghĩa tôn giáo".
S. Radhakrishnam với "Nhu cầu tôn giáo".
S.V Rojo với "Tôn giáo, thuốc phiện của nhân dân và sự phản kháng
chống lại khốn cùng thực tại. Các quan điểm của Mác và Lênin".
Cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam của tác
giả Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên) [161]. Sách bàn đến những vấn đề cơ bản
của tôn giáo; thái độ và phương pháp khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác,
Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về tôn giáo; phương pháp luận nghiên cứu
xã hội học tôn giáo; lý giải một số hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam
(Công giáo, Phật giáo...).
Cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của tác
giả Đặng Nghiêm Vạn [162]. Giới thiệu những vấn đề cơ bản về tôn giáo:
Định nghĩa tôn giáo trong lịch sử; yếu tố cấu thành một hình thức tôn giáo;
nhu cầu, vai trò của tôn giáo trong đời sống và một số đặc điểm, tình hình,
vai trò của tôn giáo Việt Nam; một số vấn đề cơ bản về chính sách tự do
tôn giáo ở Việt Nam.
Cuốn Nghiên cứu tôn giáo - Nhân vật và sự kiện của tác giả Đỗ Quang
Hưng [83]. Tác giả đã trình bày tương đối tổng thể các vấn đề liên quan đến
tôn giáo, từ vấn đề tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ý kiến của Lê Hồng
Phong, Nguyễn Văn Cừ về tôn giáo đến nhận thức của Nguyễn An Ninh, Đào
Duy Anh, Nguyễn Văn Nguyễn... về tôn giáo. Tác giả cũng đặt ra, gợi mở và
định hướng nhiều vấn đề thời sự về tôn giáo hiện nay như: Toàn cầu hóa tôn
giáo; tôn giáo và xã hội ở Việt Nam hiện nay; xu thế đa dạng hóa, hiện tượng tôn
giáo mới; quan hệ nhà nước và giáo hội; cách mạng và tôn giáo; hoạt động của
Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam; vấn đề "Tự do tôn giáo" - Nhân quyền ở
Việt Nam và một số vấn đề tôn giáo cụ thể liên quan đến Công giáo, lễ hội Công
giáo và Phật giáo Việt Nam trong hội nhập và toàn cầu hóa...
16
Liên quan trực tiếp đến đề tài, tác giả Đỗ Quang Hưng còn có công
trình Chính sách tôn giáo và Nhà nước pháp quyền [84]. Trong cuốn sách, tác
giả đã khẳng định: Chính sách tôn giáo là một chính sách công. Chính sách
tôn giáo ở Việt Nam đều thể hiện được hai yêu cầu là chuyên nghiệp và dân
chủ, "bằng cách tiếp cận chính trị học và khoa học về chính sách, chúng tôi cố
gắng làm rõ hơn bản chất, tính cách của chính sách tôn giáo hay nói một cách
khác, chính sách tôn giáo phải là một chính sách công. Đây cũng không chỉ là
vấn đề thuật ngữ mà còn hàm chứa những suy nghĩ về một mảng rất quan
trọng của lộ trình tiến tới "một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về tôn
giáo"" [84, tr.45]. Mới đây, trong công trình chuyên khảo Nhà nước thế tục
[85], tác giả Đỗ Quang Hưng đã phân tích quá trình ra đời, các mô hình nhà
nước thế tục trên thế giới và phân tích quá trình phát triển cũng như yêu cầu
mới của một nhà nước pháp quyền về tôn giáo và sức sống của nhà nước thế
tục ở Việt Nam.
Cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam [61]. Sách giới thiệu những tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật
giáo. Qua hoạt động cách mạng của Người đã thể hiện sự quan tâm và vận dụng
một cách sâu sắc di sản văn hóa Phật giáo trong sự nghiệp đoàn kết dân tộc,
giành độc lập cho dân tộc, đem lại tự do, no ấm cho mỗi người dân đất Việt.
Các sách giới thiệu phổ biến trí thức về nội dung những tôn giáo cụ thể,
như: Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam của Nguyễn
Thanh Xuân [171]; cuốn Phật giáo - Tri thức cơ bản của tác giả Nguyễn
Quốc Tuấn Nguyễn Văn Quý và Nguyễn Văn Thanh [152]; cuốn Đạo Tin
Lành - Tri thức cơ bản của tác giả Phạm Gia Thoan; cuốn Đạo Hồi - Tri thức
cơ bản của tác giả Nguyễn Bình; Sách Phật giáo Hòa Hảo - Tri thức cơ bản
của tác giả Bùi Thị Thu Hà; cuốn Đạo Cao Đài - Tri thức cơ bản của tác giả
Nguyễn Minh Ngọc; cuốn Đạo giáo - Tri thức cơ bản của tác giả Nguyễn
Mạnh Cường [30]...
17
Cuốn Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng,
Nhà nước Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Lữ [103], tác giả đã
nhìn nhận chính sách tôn giáo là "phương tiện, công cụ" của quản lý Nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo.
Cuốn sách kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chính sách, pháp luật về tôn
giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại của Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh (2016), Nxb Lý luận Chính trị. Cuốn sách là kết quả của
cuộc hội thảo lớn do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức nhằm
đánh giá, làm rõ thành tựu và hạn chế của chính sách, pháp luật về tôn giáo,
tín ngưỡng của nước ta từ năm 1990 đến nay. Trong đó có nhiều bài viết đề
cập đến quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo; chủ nghĩa xã hội và tôn giáo ở Việt
Nam; nhà nước pháp quyền và tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chính sách pháp
luật của Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay; những điểm mới trong dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo; vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phản biện chính sách, pháp luật về tôn giáo,
tín ngưỡng; phát huy nguồn lực - sức mạnh mềm của các tôn giáo trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc...
Trong khoảng thời gian hơn chục năm gần đây, Ban Tôn giáo Chính
phủ (Bộ Nội vụ); Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Ban Dân vận Trung ương, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh... đã thực hiện nhiều đề tài, nhiệm
vụ, đề án, dự án nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng: Nghiên cứu khái quát về
một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp ngành, nghiệm thu
năm 1992. Đề án công tác đối với đạo Cao Đài, đề tài nghiên cứu cấp ngành,
nghiệm thu năm 1993. Đề án công tác đối với Phật giáo Hòa Hảo, đề tài
nghiên cứu cấp ngành, nghiệm thu năm 1997. Đề án công tác đối với đạo Tin
18
Lành, đề tài nghiên cứu cấp ngành, nghiệm thu năm 1998. Đề án công tác tôn
giáo ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, đề án cấp nhà nước, nghiệm thu
năm 2003. Đề án đấu tranh chống truyền đạo trái pháp luật, đề án cấp nhà
nước, nghiệm thu năm 2004.
Một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu về tôn giáo, chủ trương, chính
sách tôn giáo và một số khía cạnh cụ thể liên quan đến tôn giáo: Luận án tiến sĩ
Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực
tiễn của tác giả Hồ Trọng Hoài, 1995; Luận án tiến sĩ Bước đầu vận dụng quan
điểm khoa học về tôn giáo để tìm hiểu vai trò Phật giáo ở Campuchia của tác
giả Khllot Thi Đa (Campuchia), 1995; luận án tiến sĩ Quan niệm của Nho giáo
về giáo dục con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người ở Việt
Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Nguyễn Thi Nga,
1999; luận án tiến sĩ Sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo của tác giả
Lê Văn Lợi, 1999; luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ
năm 1975 đến nay của tác giả Bùi Hữu Dược; luận án tiến sĩ: Tôn giáo và luật
pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Vân Hà;
luận văn cao học Hoàn thiện quản lý Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh hiện nay của tác giả Hà Thị Xuyên, 2011...
Nghiên cứu ngoài nước về vấn đề này hầu như rất ít vì hệ thống chính
trị các nước về nhiều khía cạnh có sự khác biệt với hệ thống chính trị Việt
Nam. Có một số báo cáo khảo sát nghiên cứu thực tiễn về công tác tôn giáo ở
nước ngoài của một số cơ quan chức năng ở trung ương có đề cập rất sơ lược
về vai trò của xã hội dân sự ở một số nước tham gia xây dựng, hoạch định
chính sách tôn giáo.
Đặc biệt, nội dung các bản báo cáo về nhân quyền và tự do tôn giáo của
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Nghị viện Châu Âu, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp
Quốc, các cá nhân và tổ chức quốc tế phi quan phương theo dõi về nhân
quyền… có tính chất phục vụ chính sách đối ngoại thiên vị, tiêu chuẩn kép
19
của các nước phương Tây, chủ yếu khai thác thông tin từ một số cá nhân là
chức sắc hoặc tín đồ tôn giáo cực đoan ở Việt Nam, mang đậm tính phê phán,
công kích đối với việc xây dựng, hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam
chưa được dân chủ, vai trò của khu vực ngoài Nhà nước và của chính các tôn
giáo tham gia vào quá trình xây dựng chính sách còn mờ nhạt, thiếu đồng
thuận. Bên cạnh những nội dung cực đoan, thiên vị, trong nội dung các bản
báo cáo này ở một mức độ nhất định đã đánh giá, công nhận sự tiến bộ, thay
đổi và cải thiện sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và đổi mới trong chính sách
pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam, nhất là sau khi pháp lệnh và luật về tín
ngưỡng, tôn giáo được ban hành.
Nhiều nghiên cứu, đánh giá đã đăng tải trên các trang mạng, blog của tổ
chức và cá nhân giới tôn giáo, trong đó có những mục liên quan đến vấn đề
nhân quyền, tôn giáo và nhân quyền, xây dựng một nhà nước dân chủ, đa
nguyên đa đảng..., do thiếu kiểm soát và ý kiến chủ quan, nên nội dung đa
phần cực đoan, thiên về phê phán, chống lại Nhà nước, chống lại chế độ chính
trị ở Việt Nam mà theo họ là đại diện cho chủ nghĩa vô thần.
Ở các viện nghiên cứu của Việt Nam đã có sự hợp tác nghiên cứu với
các đối tác nước ngoài như Viện Nghiên cứu tôn giáo đã kết hợp chủ yếu với
ba đối tác chính là Khoa Tôn giáo thuộc Cao đẳng Thực hành Paris, Pháp (từ
1999), với Viện Nghiên cứu so sánh tôn giáo thuộc Khoa Triết học, Đại học
Trung Sơn, Trung Quốc (từ 2003) và với Viện Liên kết toàn cầu (IGE) của
Mỹ (từ 2006) tổ chức nhiều cuộc hội thảo tại Hà Nội, Paris, Quảng Châu
bàn về đời sống tôn giáo ở các nước hữu quan, về mối quan hệ giữa nhà
nước và tôn giáo (chủ yếu là phương diện pháp luật) ở khu vực Đông Nam
Á, Pháp, Mỹ, Trung Quốc. Các cuộc hội thảo đã thu hút được sự quan tâm
của các học giả Việt Nam, châu Âu, Mỹ, Trung Quốc và các học giả trong
khu vực Đông Nam Á. Trong các cuộc hội thảo này có nhiều bài tham luận
phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp những tác động của tôn giáo vào đời sống
chính trị, xã hội, luật pháp, đạo đức của các quốc gia khảo sát. Tuy nhiên
20
những hợp tác nghiên cứu này mới dừng lại ở một số phương diện của tôn
giáo nói chung và không thể đề cập hết mọi khía cạnh tôn giáo, chính sách
tôn giáo thực tế ở Việt Nam.
Một số sách tiêu biểu như: Tôn giáo và đời sống hiện đại, tập 5 [140],
đã chọn một số bài của học giả người Pháp, người Nga, Trung Quốc phân tích
về đổi mới đường lối, chính sách tôn giáo ở Trung Quốc, mở đầu là chỉ thị số
19 năm 1982, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của Ủy ban tôn giáo
thuộc Chính hiệp Trung Quốc (tổ chức tương tự như Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam) và Cục tôn giáo thuộc Quốc Vụ viện Trung Quốc (Chính phủ). Đặc biệt
là trong bài "Kiểm soát tín ngưỡng, điều tiết tôn giáo ở Trung Quốc" của tác
giả Pittman Potter từ trang 113-149 đã khẳng định Cục tôn giáo (Quốc vụ
viện), Ủy ban tôn giáo (Chính hiệp) đã đưa ra 5 đặc điểm của tôn giáo, nhất là
đóng góp trong soạn thảo chỉ thị số 19 năm 1982 với các phương châm như:
Nới rộng tự do tôn giáo; công nhận 5 tôn giáo chính (không bảo hộ cho tín
ngưỡng); ưu tiên không tín ngưỡng, tôn giáo và quan điểm vô thần; quản lý
lãnh đạo tôn giáo, tu sĩ và trụ sở tôn giáo; cấm đảng viên theo tôn giáo và
tham gia sinh hoạt...
Cuốn Tôn giáo ở Trung Quốc - 100 câu hỏi và trả lời của tác giả Lữ
Vân do Trần Bạch Tuyết dịch [164], trong phần giới thiệu chung về tôn giáo ở
Trung Quốc có những câu hỏi trực tiếp nói về vai trò của các cơ quan, đoàn
thể trong hệ thống chính trị của Trung Quốc trong công tác tôn giáo, trong đó
có Ủy ban tôn giáo của Chính hiệp, mối quan hệ của Ủy ban với Chính phủ và
các tôn giáo như thế nào. Trong phần chính sách tôn giáo ở Trung Quốc đã
nói lên thể thức ban hành văn bản luật và dưới luật về tôn giáo, thủ tục,
nguyên tắc thực thi chính sách.
Ngoài ra là các sách viết về đời sống tôn giáo trên thế giới hiện nay như:
Psychology and Religion: An introduction, Michael Argyle (Tâm lý và
tôn giáo - giới thiệu), 2000 [190]. Cuốn sách giới thiệu một số vấn đề về tâm
21
lý tôn giáo. Gồm 4 chủ đề chính: 1- Tầm quan trọng của tôn giáo đối với
những nhà nghiên cứu về tâm lý tiên phong như Freud, Jung và Jame; 2 Hiệu lực tôn giáo được thể hiện trong hành vi của từng cá nhân và của nhóm;
3- Những hoạt động tôn giáo như thờ cúng, cầu khấn, nghi lễ; 4- Các nhà tâm
lý khám phá được ý nghĩa của sự thay đổi trong ton giáo, đặc biệt trong việc
hiểu tác động của các phong trào tôn giáo mới.
Religions et transformation de L'Europe. De Gilbert Vincent, De Jean Paul Willaime (Tôn giáo và những chuyển đổi ở Châu Âu), 1993 [194].
Cuốn sách này tập hợp một số bài viết bàn về tôn giáo và những chuyển đổi
xã hội ở Châu Âu. Chia làm 7 phần chính: 1- Những biểu tượng về lịch sử
và không gian ở châu Âu; 2- Việc xây dựng châu Âu theo cái nhìn của
những truyền thống tôn giáo khác nhau; 3- Cách giải quyết đạo đức của đề
nghị tôn giáo và những yêu cầu và chính trị xã hội; 4- Xã hội hóa tôn giáo và
việc tạo nên tình cảm của mình đối với châu Âu; 5- Những phương thức bao
hàm các thể chế tôn giáo trong việc kiến tạo châu Âu; 6- Châu Âu qua tấm
gương của những tôn giáo; 7- Tính thế tục và việc sắp xếp lại các quan hệ
giữa các nước và các tôn giáo.
De la religion à l'ethique, Francois- Andre Ismbert (Từ tôn giáo đến
đạo đức), 1992 [179]. Cuốn sách bàn về mối quan hệ giữa đạo đức và tôn
giáo. Cuốn sách gồm 4 chương chính. 1- Tình trạng Công giáo ở Pháp; 2Việc nhận thức về lý luận và phương pháp luận; 3- Đạo đức trong trạng thái
thế tục của xã hội chúng ta; 4 - Sự xuất hiện của đạo đức học.
The sociology of religion: Theoretical and comparative perspective.
Malcom B. Hamilton (Xã hội học về tôn giáo. Viễn cảnh về lý thuyết và so
sánh), 1995 [187]. Cuốn sách giới thiệu về xã hội học tôn giáo. Có các bài
sau: 1- Giới thiệu; 2- Tôn giáo và lý do; 3- Ma thuật; 4- Tôn giáo và sự xúc
cảm; 5- Phật giáo; 6- Tôn giáo và tư tưởng Karl Marx; 7- Bắt đầu một kỷ
nguyên; 8- Tôn giáo và tinh thần đoàn kết; 9- Ngày sinh của các vị thần; 10-