Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Mặt trận tổ quốc việt nam với việc hoạch định chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (393.03 KB, 27 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN THANH

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 931 02 01

HÀ NỘI - 2020


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. GS.TS ĐỖ QUANG HƢNG
2. GS.TSKH PHAN XUÂN SƠN

Phản biện 1:

..................................................................
..................................................................

Phản biện 2:

..................................................................


..................................................................

Phản biện 3:

..................................................................
..................................................................

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi

giờ

ngày

tháng

năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, có
ý kiến coi Việt Nam là "bảo tàng tôn giáo của thế giới". Trong quá khứ và
hiện tại, tôn giáo đã và đang có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá, tinh

thần, kinh tế, chính trị, xã hội,... của đất nước và khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Tôn giáo cũng là một nhân
tố góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc trong quá trình giao
lưu, hội nhập, phát triển và toàn cầu hoá, để quá trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam đạt đến mục tiêu "hòa nhập, không hòa tan".
Với chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo, đến nay đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo ở Việt Nam
đã được Nhà nước công nhận hoặc đăng ký hoạt động của tổ chức. Ngoài
ra, sự xuất hiện của các "hiện tượng tôn giáo mới" có xu hướng tăng lên.
Các hiện tượng tôn giáo mới có trường hợp lành mạnh, bình thường, nhưng
có không ít hiện tượng cực đoan, trục lợi, thậm chí phản văn hóa, gây nguy
hại đến an ninh trật tự và đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo... tuy nhiên
việc quy định trong chính sách tôn giáo đối với hoạt động của các hiện
tượng này còn chung chung, bất cập và cách ứng xử trong thực tiễn đối với
không ít sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng ở một số địa phương còn khác nhau.
Một điều đáng lo ngại đó là các thế lực chính trị cực đoan sẽ tiếp tục
tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống lại xu hướng phát triển tiến bộ của loài
người, thậm chí thúc đẩy xu hướng ly khai,... nhằm chia rẽ giữa các quốc
gia dân tộc, sự đoàn kết trong cộng đồng từng dân tộc trong đó có Việt
Nam. Trong bối cảnh này, đòi hỏi hệ thống chính sách, pháp luật về tôn
giáo cần được xây dựng, hoàn chỉnh để tăng cường được sự đoàn kết,
khoan dung giữa các tôn giáo và phát huy được vai trò, các giá trị và nguồn
lực của các tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ đổi mới, hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo
ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước quan tâm xây dựng và từng bước hoàn
thiện, với nhiều quan điểm mới tiến bộ, từng bước khắc phục những nhận
thức giáo điều, tả khuynh về tôn giáo. Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về
công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tôn giáo là



2

nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đồng bào các tôn giáo là một
bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện nhất quán
chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tự do không theo
tôn giáo của nhân dân; phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và
nguồn lực của các tôn giáo. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Luật tín ngưỡng, tôn
giáo ra đời năm 2016 là một bước phát triển mới trong công cuộc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Để xây dựng và thể chế hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng thành
Luật tín ngưỡng, tôn giáo có sự cố gắng không nhỏ của cả hệ thống chính trị
nước ta trong đó phải kể đến vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thông qua việc chủ động tham gia xây dựng, đề xuất, kiến nghị các
chính sách và sáng kiến pháp luật về tôn giáo sẽ góp phần quan trọng đảm
bảo cho các chủ trương, chính sách đó thể hiện đúng đắn, đầy đủ ý chí
nguyện vọng của các tôn giáo và đảm bảo quyền lợi chính đáng, hợp pháp
của các tôn giáo, qua đó củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Đáp ứng yêu cầu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Tuy nhiên, việc tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào quá
trình hoạch định chính sách tôn giáo nói chung vẫn đang đặt ra nhiều vấn
đề, như tính chủ động, tính hiệu quả của quá trình tham gia, năng lực của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các quá trình chính sách nói chung, chính
sách tôn giáo nói riêng...
Từ những lý do trên, chúng tôi thấy rằng việc triển khai Luận án với
chủ đề "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch định chính sách tôn
giáo ở nước ta hiện nay" là cần thiết. Phải nghiêm túc nghiên cứu một cách
có hệ thống để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sau đây xin gọi tắt là Mặt trận)
phát huy hơn nữa vai trò của mình vào việc hoạch định chính sách tôn giáo

được tốt hơn. Và đây cũng là lý do cơ bản để tác giả chọn đề tài này làm
luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của các


3

tổ chức chính trị - xã hội vào các quá trình chính sách công, trên cơ sở thực
trạng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với quá trình hoạch
định chính sách tôn giáo ở Việt Nam, luận án đề xuất các quan điểm, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong quá trình hoạch định chính sách tôn giáo.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong hoạch định chính sách nói chung và chính sách tôn
giáo nói riêng;
- Phân tích thực trạng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong quá trình hoạch định chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay;
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham
gia hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia việc hoạch định chính sách tôn giáo.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 1990 đến nay.
- Về không gian nghiên cứu: Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, trực tiếp là của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham

gia việc hoạch định chính sách tôn giáo (cụ thể là với các bước của quá
trình hoạch định chính sách tôn giáo)
4. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
+ Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về tôn giáo và công tác tôn giáo.
+ Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Mặt trận
dân tộc Thống nhất Việt Nam, về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân; về công tác tôn giáo nói chung và việc hoạch
định chính sách tôn giáo nói riêng.
+ Các quy phạm pháp luật về chủ quyền của Nhân dân; về Mặt trận và
vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận trong việc tham gia hoạch
định chính sách và chính sách tôn giáo…


4

+ Lý luận và phương pháp luận của khoa học chính trị, đặc biệt chú ý
nghiên cứu các lý thuyết và nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, các lý
thuyết về chính sách công, về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong
các quá trình chính sách công.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành chính trị học và các phương pháp liên ngành khác nhau,
cụ thể: Phương pháp phân tích chính sách công; phương pháp phân tích hệ
thống và hệ thống chính trị; phương pháp lịch sử và phương pháp logic;
phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp; phương pháp thống kê;
phương pháp định lượng; phương pháp định tính...
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án sẽ là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một
cách hệ thống về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc hoạch

định chính sách tôn giáo. Luận án có những đóng góp mới sau:
- Xây dựng khung phân tích về vai trò của Mặt trận Tổ quốc, với tư
cách là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp xã hội tự nguyện tham gia
vào quá trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam;
- Làm rõ thực trạng tham gia của Mặt trận Tổ quốc vào quá trình
hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam;
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia
vào hoạch định chính sách và chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp những luận chứng, bổ
sung luận cứ cho việc nghiên cứu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đối với việc hoạch định chính sách nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng
ở Việt Nam hiện nay. Cung cấp những gợi ý hoàn thiện chính sách tôn giáo,
gợi ý cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; cho việc nâng cao
hiệu quả hoạt động hoạch định chính sách và hoạch định chính sách tôn
giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về


5

chính trị học, tôn giáo học, chính trị học tôn giáo, chính sách công; là tài
liệu mang tính luận cứ khoa học phục vụ cho các cơ quan, ban, ngành
nghiên cứu, giảng dạy liên quan trực tiếp, gián tiếp đến công tác tôn giáo và
hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam.
7. Câu hỏi nghiên cứu

- Với nhiệm vụ và chức năng của mình, Mặt trận tham gia như thế nào
vào quá trình hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay?
- Hiệu quả tham gia vào quá trình hoạch định chính sách tôn giáo của
Mặt trận như thế nào?
- Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của nó? những vấn đề đặt ra
với Mặt trận trong hoạch định chính sách tôn giáo là gì?
- Những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
tham gia hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận là gì?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng trong quá trình
hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Chất lượng, tính khả thi của chính sách tôn giáo ở Việt Nam phụ
thuộc rất lớn vào năng lực tham gia của Mặt trận trong hoạch định.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách tôn
giáo và hoạch định chính sách tôn giáo
Ở Việt Nam việc nghiên cứu về chính sách công thực sự là một điều
mới mẻ, đến cuối những năm 1990 mới xuất hiện những công trình nghiên
cứu đầu tiên về chính sách công.
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu, trình bày những học
thuyết, quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về chính sách công như các trào


6


lưu: Lý thuyết hành chính là quá trình ra quyết định của H. A. Simon; Lý
thuyết chính sách là sự cụ thể hóa các quyết định hành chính, có thể kể đến
J. Dewey với tác phẩm Logic, Lý luận của cuộc thẩm vấn (Logic, Theory of
Inquiry - 1938), H. D. Laswell với Khoa học chính sách (The Policy
Sicences - 1951), hay F. Morstein Marx với Chức năng xã hội của chính
sách công (The Social Function of Public Administration -1946);...
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu về hoạch định chính sách mới được đề
cập đến trong những năm gần đây, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu
như: Tài liệu hội thảo Nghiên cứu chính sách công do Viện Khoa học chính
trị tổ chức năm 2001. Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công
của Học viện Hành chính, Nxb. KHKT năm 2008. Bài Bản chất, vai trò của
chính sách công đăng trên Tạp chí Tổ Chức nhà nước điện tử, đăng ngày
27/01/2017 của tác giả Văn Tất Thu, nguyên thứ trưởng Bộ nội vụ. Bài viết
về: Chính sách công - Tiếp cận từ khoa học tổ chức nhà nước đăng trên
Website của Viện Khoa học Tổ chức nhà nước của tác giả Tạ Ngọc Hải,
Viện Khoa học tổ chức nhà nước...
Việc nghiên cứu về tôn giáo, chính sách tôn giáo và các mô hình nhà
nước quản lý tôn giáo đang nổi nên như một chủ đề mang tính thời sự, thu
hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cá nhân và tổ chức trong xã hội
như: Các nhà quản lý và các cơ quan quản lý xã hội, các nhà nghiên cứu và
các cơ quan nghiên cứu,...
Cuốn "Về Tôn giáo" của Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Cuốn "Những
vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam" của tác giả Đặng Nghiêm
Vạn (Chủ biên), Cuốn "Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam" của tác giả Đặng Nghiêm Vạn. Cuốn "Nhà nước thế tục" của tác giả
Đỗ Quang Hưng, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2019. Liên quan trực
tiếp đến đề tài, tác giả Đỗ Quang Hưng còn có công trình "Chính sách tôn
giáo và Nhà nước pháp quyền", 2014, Nxb Đại học Quốc gia. Cuốn Tìm
hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt
Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Lữ (2011). Cuốn sách kỷ yếu Hội

thảo Khoa học Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt
Nam: 25 năm nhìn lại của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(2016). Một số đề tài, đề án liên quan đến chính sách tôn giáo do Ban Tôn


7

giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ); Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương, Viện Hàn lâm khoa học
xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai. Một
số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có chủ đề liên quan đến các tôn giáo và
chính sách tôn giáo...
1.1.2. Các công trình liên quan đến vai trò của Mặt trận với việc
hoạch định chính sách nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng
Ở nước ta hiện nay, nghiên cứu về vấn đề vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam nói chung và vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với hoạch định chính sách nói riêng hay cụ thể là hoạch định chính
sách tôn giáo thì còn rất khiêm tốn. Có thể kể đến một số công trình tiêu
biểu như sau:
Cuốn Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
của Nguyễn Đức Lữ và Nguyễn Thị Kim Thanh, Nxb Chính trị quốc gia,
2009 tại nội dung 3 về chủ trương, quan điểm công tác tôn giáo của Đảng
có nói đến quan điểm thực chất công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng và một số chủ trương với Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo
Hòa Hảo; vai trò của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng hệ
thống chính trị.
Cuốn Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề về
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Hồng Dương, Nxb Chính trị
quốc gia, 2012 đã nhấn mạnh đến quan điểm cả hệ thống chính trị làm công
tác tôn giáo, trong đó có nói đến trách nhiệm của Mặt trận. Trong vấn đề

đặt ra ở chương 4 khi nói về việc công nhận các tổ chức đạo Tin Lành có
nói đến vai trò của Mặt trận trong tham gia hoàn thiện chính sách.
Đây là những trang viết hiếm có ở thời điểm đó nói về vai trò của Mặt
trận trong xây dựng chính sách chứ chưa nói đến việc Mặt trận tham gia
hoạch định chính sách.
Cuốn Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện
nay (Tái bản có sửa chữa) của Phan Xuân Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2003 đã nêu bật phương thức thực hiện quyền dân chủ của nhân dân
lao động ở cơ sở và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của các đoàn
thể nhân dân trong đó có Mặt trận trong việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở.


8

Cuốn sách Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng sự đồng thuận xã hội
trong công cuộc đổi mới đất nước của tác giả Nguyễn Thị Lan, tác giả đã
nêu bật được vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc xây dựng sự
đồng thuận xã hội, đổi mới đất nước...
Sách "Một số vấn đề về tôn giáo và công tác tôn giáo của Mặt trận"
xuất bản năm 2000 mà tác giả luận án là người biên tập chính, cuốn "Kỷ
yếu hội thảo khoa học về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với công tác tôn giáo"
xuất bản năm 2007; Cuốn "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với công tác tôn
giáo" xuất bản năm 2010 bổ sung thêm những thông tin, chính sách pháp
luật mới liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đã được đề cập đến trong cuốn sách "Một số vấn đề
về tôn giáo và công tác tôn giáo của Mặt trận" xuất bản năm 2000…
1.1.3. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu và vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu
Qua tình hình tài liệu ở trên, vấn đề mà luận án phải giải quyết là:
Một là, mặc dù còn những khác biệt nhất định giữa các trường phái,

các quan điểm, nhưng nhìn chung các nghiên cứu đã làm rõ được nội hàm
của chính sách công, các giai đoạn của chu trình chính sách công, trong đó
hoạch định chính sách công là giai đoạn đầu, có vai trò quan trọng trong
quá trình chính sách. Chất lượng của chính sách phụ thuộc chủ yếu vào sản
phẩm hoạch định chính sách. Chức năng hoạch định chính sách thường
thuộc về nhà nước, tuy nhiên vai trò của các chủ thể tham gia hoạch định là
yếu tố nâng cao chất lượng của chính sách và tăng tính khả thi, tính khả quy
trách nhiệm giải trình của chính sách. Mức độ tham gia, hiệu quả và chất
lượng tham gia hoạch định chính sách phụ thuộc vào trình độ dân chủ, mô
hình hệ thống chính trị, mô hình chính thể.
Hai là, các nghiên cứu về tôn giáo thu hút nhiều nhà khoa học, các cơ
quan nghiên cứu. Tuy nhiên nghiên cứu chính sách tôn giáo trên thế giới
không nhiều. Riêng ở Việt Nam tình hình cũng tương tự. Các nghiên cứu ở
Việt Nam khẳng định nội dung của chính sách tôn giáo được phản ánh
trong chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà
nước… về cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của nhân dân và
yêu cầu quản lý của Nhà nước.


9

Ba là, các nghiên cứu hoạch định chính sách nói chung ở Việt Nam
tương đối nhiều, nhưng nghiên cứu về hoạch định chính sách tôn giáo còn
quá ít ỏi.
Bốn là, các nghiên cứu về Mặt trận, vai trò của Mặt trận trong hoạch
định chính sách, phối hợp với Nhà nước trong thực hiện chính sách nói
chung đã phong phú. Tuy nhiên, nghiên cứu về sự tham gia của Mặt trận
trong hoạch định chính sách tôn giáo lại thiếu vắng, không tương xứng với
hoạt động đó của Mặt trận trên thực tế. Đó là một khoảng trống mà luận án
phải lập đầy.

Chƣơng 2
LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH
SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
2.1.1. Khái niệm và phân loại chính sách công
- Khái niệm: Chính sách công là chương trình hành động có lựa chọn
của nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội hoặc cung cấp
những hàng hóa và dịch vụ công tới người dân.
- Phân loại chính sách công: Chính sách công được phân loại dựa
theo nhiều loại tiêu chí khác nhau, có ý nghĩa tương đối. Ví dụ chính sách
kinh tế (lĩnh vực), nhưng cũng có tính chất địa phương, dài hạn, ngắn hạn,
khai thác, sử dụng…
- Những yêu cầu đối với hoạch định chính sách công: Tính xã hội,
chính trị; tính khoa học; tính dân tộc; tính nhân loại; tính tiệm tiến; tính thể
chế; tính đại diện.
- Chu trình chính sách công: Giai đoạn thứ nhất: Quá trình hoạch
định chính sách. Giai đoạn hai: Quá trình thực thi chính sách. Giai đoạn
ba: Quá trình đánh giá tổng thể chính sách.
Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi quan tâm đi sâu vào tìm hiểu giai
đoạn thứ nhất là hoạch định chính sách công (chính sách tôn giáo).


10

2.1.2. Hoạch định chính sách công
Hoạch định chính sách là giai đoạn khởi đầu trong chu trình chính
sách công. Đây là bước đặc biệt quan trọng, là tiền đề để thực hiện chính
sách, để chính sách đi vào cuộc sống và mang lại kết quả cao.

Giai đoạn hoạch định chính sách gồm ba bước cơ bản: 1. Lựa chọn
vấn đề chính sách tôn giáo; 2. Quyết định chính sách tôn giáo; 3. Xây dựng
và ban hành chính sách tôn giáo. Trong mỗi một bước đó lại bao gồm rất
nhiều các bước nhỏ, cụ thể.
2.1.3. Nội dung, đặc điểm chính sách tôn giáo ở Việt Nam
- Nội dung của chính sách tôn giáo: Chính sách tôn giáo ở Việt Nam
chủ yếu thực hiện nguyên tắc, đường lối, quan điểm của đảng cầm quyền và
nguyên tắc Hiến định: Đảm bảo và bảo hộ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng
của mọi người; bình đẳng trước pháp luật giữa người theo tôn giáo và
không theo tôn giáo; đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào có tôn giáo với đồng bào
không theo tôn giáo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giúp các tôn giáo xây
dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, đồng hành cùng dân tộc, sống "tốt đời
đẹp đạo"; đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; phát huy các giá trị văn hóa, đạo
đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo tham gia quản lý xã hội, xay
dựng, phát triển và bảo vệ đất nước; các quy định pháp luật về tổ chức, sinh
hoạt, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng; đấu tranh với các thế lực thù địch lợi
dụng tôn giáo, tín ngưỡng.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu, theo nghĩa rộng: Chính sách tôn giáo ở
Việt Nam là tổng thể các quy định, quy tắc xử sự chung, các biện pháp trên
các lĩnh vực do Đảng, Nhà nước ban hành nhằm thực hiện quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có đạo
được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tôn giáo được
quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội
nhập quốc tế.
Theo nghĩa hẹp, chúng ta có thể định nghĩa: Chính sách tôn giáo của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể những quy phạm
pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội… của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng,



11

tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn
giáo được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội,
phát triển đất nước, hội nhập quốc tế.
- Đặc điểm chính sách tôn giáo của Việt Nam
+ Chính sách tôn giáo của Việt Nam chịu sự tác động, chi phối bởi
các điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
của Việt Nam;
+ Đối tượng hưởng thụ chính sách tôn giáo là đồng bào có đạo, là
những nhóm xã hội đặc thù, liên kết với nhau trên cơ sở niềm tin tôn giáo;
có các mối quan hệ tôn giáo không chỉ trong phạm vi địa phương, quốc gia
mà còn có cả quan hệ quốc tế, chịu sự chi phối của pháp luật và cả sự chi
phối về giáo lý, giáo luật, giáo hội có tính quốc tế;
+ Chính sách tôn giáo của Việt Nam vừa có tương thích với các quy1,
vừa có những quy định, quy tắc có tính dân tộc. Có chính sách ban hành áp
dụng chung đối với tất cả các tôn giáo, có chính sách áp dụng đối với một
tôn giáo cụ thể2, có loại chính sách không áp dụng đối với các tổ chức và cơ
sở tôn giáo3;
+ Chịu sự tác động, chi phối bởi đặc trưng của hệ thống chính trị nước
ta, trong đó công tác tôn giáo (bao gồm việc xây dựng, hoạch định chính
sách tôn giáo) được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Ngoài việc các cơ quan lãnh đạo của Đảng (Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban bí thư) ban hành các chủ
trương, đường lối, nghị quyết, kết luận, thông báo... về tôn giáo và chính
sách tôn giáo để các cơ quan Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật,
nhiều văn bản của Đảng, cơ quan lãnh đạo của Đảng hoặc những tổ chức
đảng được cấp có thẩm quyền ủy quyền có thể chỉ đạo, hướng dẫn các cơ

quan, tổ chức, địa phương giải quyết trực tiếp vấn đề tôn giáo4; có chính
1

Coi tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người, là quyền của mọi người chứ không chỉ là quyền của công dân;
những quy định nào trong pháp luật Việt Nam trái với các cam kết, quy định trong các công ước quốc tế mà Chính phủ
Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì thực hiện theo quy định của công ước quốc tế...
2
Ví dụ một số văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ về công tác đối với đạo Tin Lành,
Hồi giáo, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo...
3
Không thu thuế quyền sử dụng đất đối với đất sử dụng cho mục đích tôn giáo, tín ngưỡng.
4
Nhiều văn bản chỉ thị, kết luận, thông báo... có tính chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc văn bản do cơ quan,
tổ chức đảng được ủy quyền hướng dẫn (Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn MTTQVN...);


12

sách, văn bản chính sách mang tính nội bộ, không phổ biến rộng với các
cấp độ khác nhau;
+ Chính sách tôn giáo ở Việt Nam chịu sự tác động, chi phối nhất
định bởi các yếu tố lịch sử, chính trị và an ninh, quốc phòng5...
+ Chính sách tôn giáo của Việt Nam có sự kế thừa những truyền
thống lịch sử tốt đẹp của cha ông trong lịch sử.
2.1.4. Quy trình hoạch định chính sách tôn giáo ở Việt Nam
- Bước một: Lựa chọn vấn đề chính sách
+ Căn cứ để xác định vấn đề chính sách tôn giáo: Phải dựa nhiều vào
các bằng chứng như báo cáo nghiên cứu thực địa, các kết quả nghiên cứu
dựa trên đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, các tài liệu, số liệu...
+ Xác định đối tượng tác động của chính sách tôn giáo: Chính sách

tôn giáo thường có tác động đến nhiều đối tượng, song quan trọng nhất là
các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và người theo tôn giáo. Đây là những đối
tượng tương đối đặc biệt, thậm chí được coi là nhạy cảm trong một nhà
nước thế tục...
+ Xác định mục tiêu chính sách tôn giáo: Xác định mục tiêu của
chính sách là yếu tố quan trọng đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của chính
sách trong thực tế.
+ Xác định các nguồn lực trong hoạch định chính sách tôn giáo
+ Lợi ích các bên.
- Bước 2: Quyết định chính sách tôn giáo: Cơ quan hoạch định chính
sách quyết định được vấn đề chính sách tôn giáo (được chọn) để từ đó đi
vào xây dựng và ban hành chính sách tôn giáo.
- Bước 3: Xây dựng và ban hành chính sách tôn giáo
Việc xây dựng chính sách tôn giáo là việc đưa ra các tư tưởng chủ đạo
của chính sách tôn giáo phải được phát triển, đi liền với nó là các hành
văn bản, quy định, kết luận của Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo các tỉnh, thành phố được các cơ quan Đảng, Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác, lực lượng vũ trang, các tổ chức, cá
nhân liên quan khác triển khai trực tiếp vào cuộc sống.
5
Ngày nay vẫn còn sự mặc cảm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân về sự du nhập, truyền đạo của Công
giáo và đạo Tin Lành gắn với sự xâm lược nước ta của Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; sự mặc cảm của một bộ phận
chức sắc, tu sĩ, tín đồ tôn giáo với chủ nghĩa cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa do sự tuyên truyền xuyên tạc của các
thế lực thù địch: Cộng sản là vô thần, ý thức hệ cộng sản đối lập với ý thức hệ tôn giáo (hữu thần) như nước với lửa, cũng
như cách nhìn nhận và quan điểm tả khuynh với tôn giáo trước đây. Sự lợi dụng của Thực dân Pháp, phát xít Nhật và Đế
quốc Mỹ trước đây đối với một số tổ chức, thủ lĩnh của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo...


13

động phải được quyết định và trên cơ sở đó là chính sách tôn giáo được

đưa ra bằng các hình thức văn bản nghị quyết, chỉ thị, kết luận, thông báo,
luật, nghị định, quy định hành chính và được phê chuẩn bởi cơ quan có
thẩm quyền. Lựa chọn giải pháp tối ưu và ban hành chính sách tôn giáo
chính thức.
2.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TRONG HOẠCH ĐỊNH
CHÍNH SÁCH VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
2.2.1. Địa vị chính trị, pháp lý
Hệ thống chính trị nước ta về mặt tổ chức bao gồm: Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và 5 tổ chức chính trị - xã hội. Trong hệ thống đó, thực tiễn
lịch sử và pháp lý đã khẳng định vị trí quan trọng của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện
dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham
gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Điều 3 đã quy định về quyền và
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm:
1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân
chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.
2. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
Nhân dân.

4. Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.


14

5. Thực hiện giám sát và phản biện xã hội.
6. Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản
ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước.
7. Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân.
2.2.2. Các chế định về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hoạch định chính sách và chính sách tôn giáo
Quy định của Đảng cũng xác định trách nhiệm của Mặt trận và các tổ
chức chính trị - xã hội trong việc tham gia xây dựng, phản biện xã hội đối
với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; tập hợp tâm tư nguyện vọng và ý kiến, kiến nghị của Nhân dân
để phản ánh, góp ý xây dựng Đảng, Nhà nước... Vì vậy Mặt trận có vai trò
quan trọng trong việc hoạch định chính sách tôn giáo.
Trong các quy định của Nhà nước thể hiện qua Hiến pháp năm 2013
(Điều 9); Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015; Luật tín ngưỡng, tôn
giáo năm 2016 (Điều 4); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2020... đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc hoạch định chính sách, giám sát đối
với hoạt động của cơ quan Nhà nước (bao gồm cả cơ quan Lập pháp Hành pháp và Tư pháp) trong các khâu khác nhau, trong đó có quá trình
xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật và giám sát, phản biện xã hội đối
với các dự thảo chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tiểu kết chƣơng 2
Trong chương 2, luận án đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn liên quan đến chính sách tôn giáo và vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trong hoạch định chính sách tôn giáo. Luận án nhấn mạnh đến

các đặc điểm của chính sách tôn giáo ở nước ta vừa có tính phổ quát vừa có
tính đặc thù.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là một tổ chức liên minh
chính trị, liên hiệp xã hội rộng rãi nhất ở Việt Nam, là cơ sở chính trị của


15

Đảng và Nhà nước, là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân… có vai trò khách quan trong hoạch định chính sách nói chung, hoạch
định chính sách tôn giáo nói riêng. Vai trò đó thể hiện trong nhiều khía
cạnh cụ thể: Tham gia lựa chọn, đề xuất sáng kiến và quyết định vấn đề
chính sách; tham gia xây dựng và ban hành chính sách; tham gia phản biện
chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng...
Chƣơng 3
THỰC TRẠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. THỰC TRẠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI
VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Luận án đánh giá thực trạng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hoạch định chính sách tôn giáo tập trung ở 3 nội dung tiêu biểu là:
Lựa chọn vấn đề, đề xuất sáng kiến và quyết định nội dung chính sách tôn
giáo; xây dựng và ban hành chính sách tôn giáo; giám sát và phản biện xã
hội đối với dự thảo các chính sách về tôn giáo.
3.1.1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc lựa chọn vấn đề, đề
xuất sáng kiến và quyết định nội dung chính sách tôn giáo
Một số lựa chọn vấn đề, sáng kiến chính sách và quyết định nội dung
chính sách tôn giáo có dấu ấn vai trò chủ động đề xuất, xây dựng và tham

gia quyết định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiêu biểu như:
- Về xây dựng cốt cán phong trào và chính sách đối với cốt cán
phong trào;
- Về chính sách tăng cường vận động, đoàn kết các tôn giáo ở nước ta
hiện nay;
- Về việc đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của các nhóm sinh
hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tập trung6;
6

Đây là một vấn đề chính sách, một sáng kiến pháp luật mới do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ động đề xuất trong


16

- Về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo7;
- Về vấn đề phát huy vai trò, nguồn lực của các tôn giáo khi tham gia
thực hiện các chủ trương xã hội hóa của Đảng, Nhà nước;
- Về vấn đề truyền đạo của các tôn giáo8;
- Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang làm ăn, sinh sống
hợp pháp tại Việt Nam;
- Về việc quản lý các trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tôn giáo.
3.1.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quá trình xây dựng và
ban hành chính sách tôn giáo
Xây dựng và ban hành chính sách là hai công đoạn gắn liền với nhau
của chu trình chính sách công. Với chức năng nhiệm vụ của mình, thực
hiện sự phân công của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành
nghiên cứu, xây dựng Báo cáo tổng kết về quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước
ta trong tình hình mới và đề xuất chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn
giáo cần sửa đổi, bổ sung trong Cương lĩnh của Đảng (bổ sung năm 2011);

đóng góp và đề xuất nội dung chính sách về tôn giáo trong Hiến pháp năm
2013; Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tham gia Ban
soạn thảo và Tổ biên tập nhiều dự án pháp luật liên quan đến tôn giáo, tôn
giáo; tham gia góp ý, đề xuất, kiến nghị nhiều nội dung chính sách trong
các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị... của Đảng và văn bản quy phạm pháp
luật của Quốc hội, Chính phủ liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức
tiếp xúc, đối thoại, tập hợp ý kiến của các tổ chức và cá nhân các tôn giáo
đóng góp xây dựng các chính sách tôn giáo. Chủ trì đề xuất, khảo sát tình
hình, vai trò tôn giáo Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, tổ chức các hội nghị
toàn quốc, đánh giá, đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật cụ
thể để nhân rộng các mô hình tiêu biểu và phát huy nguồn lực của tôn giáo
trên các lĩnh vực mà tôn giáo có thế mạnh...
quá trình xây dựng dự án Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp
lệnh, đồng thời kiên trì đeo bám liên tục sau 7 năm để thể chế hóa vào Nghị định số 92 của Chính phủ.
7

Mặt trận đã đề xuất khi xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo cần phải làm rõ những vấn đề cơ bản về tín

ngưỡng tôn giáo và khắc phục những cách hiểu, nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ về tín ngưỡng tôn giáo...
8

Mặt trận là cơ quan đầu tiên đưa ra cách tiếp cận mới về vấn đề này và các đề xuất liên quan.


17

3.1.3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát, phản biện
xã hội đối với các dự thảo chính sách tôn giáo
Theo quy định của pháp luật, trong những năm qua Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đã bước đầu tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà

nước trong quá trình hoạch định chính sách chủ yếu với hình thức: Nghiên
cứu, xem xét các dự thảo văn bản luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư của
các cơ quan nhà nước (Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ;
Thủ tướng Chính phủ; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên
và Nhi đồng của Quốc hội; Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; cơ quan
quản lý nhà nước liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như: Bộ Nội vụ, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Tôn giáo Chính phủ...) có liên quan đến
tín ngưỡng, tôn giáo để xem các quá trình lập pháp và lập quy có đúng quy
định của pháp luật hay không.
Về nội dung các dự thảo văn bản lập pháp, lập quy của của cơ quan có
thẩm quyền nhà nước thì Mặt trận giám sát chủ yếu thông qua quá trình
tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập các dự thảo văn bản đó thì đại diện của
Mặt trận đóng góp ý kiến và Mặt trận sẽ có ý kiến chính thức bằng văn bản
trước khi cơ quan có thẩm quyền thông qua. Năm 2019, lần đầu tiên Mặt
trận thực hiện hình thức giám sát việc thực hiện chính sách tôn giáo là tổ
chức đoàn giám sát do Mặt trận chủ trì giám sát kết quả qua 2 năm thực
hiện Luật tín ngưỡng, tôn giáo đối với cơ quan quản lý nhà nước về tôn
giáo ở trung ương là Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ.
Đối với vấn đề phản biện xã hội, Đến năm 2006, chức năng này lần
đầu tiên được quy định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng và tiếp tục được khẳng định lại trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) và lần thứ XII của Đảng (năm 2016). Hiến
pháp năm 2013, tại Điều 9 đã thể chế hóa chức năng phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tiếp đó, ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị đã ban
hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 217QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị. Đến năm 2015, khi Luật Mặt


18


trận Tổ quốc Việt Nam được ban hành thay thế Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam năm 1999 thì vai trò phản biện xã hội, tính pháp lý của phản biện xã
hội với việc tư vấn, đề xuất, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được
quy định rõ ràng hơn. Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLTUBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cơ bản và chi
tiết để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát và phản biện xã hội trong
hoạch định chính sách nói chung và chính sách tôn giáo nói riêng.
Trong quá trình hoạch định chính sách tôn giáo, năm 2016, lần đầu
tiên Mặt trận tích cực tổ chức phản biện xã hội dự thảo chính sách tôn giáo,
đó là dự án Luật tín ngưỡng, tôn giáo một cách bài bản, theo quy trình. Qua
hội nghị phản biện xã hội đối với dự thảo Luật này, Đoàn Chủ tịch đã tổng
hợp và có văn bản số 2801/MTTW-BTT ngày 18/10/2016 về việc ý kiến
phản biện xã hội đối với dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo với 19 kiến nghị
gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu
12 kiến nghị của Đoàn Chủ tịch đưa vào sửa đổi, bổ sung dự thảo Luật để
trình Quốc hội thông qua vào ngày 18/11/2016.
Sau khi Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua, Chính
phủ được giao xây dựng nghị định quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam sau khi lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học trong Hội
đồng tư vấn về Tôn giáo, ý kiến của Mặt trận các tỉnh, thành phố và các ban
chuyên môn về tôn giáo, dân chủ pháp luật của Ủy ban Trung ương, Mặt
trận đã có văn bản đóng góp 13 ý kiến vào dự thảo Nghị định gửi Bộ Nội
vụ và Ban soạn thảo Nghị định. Tiếp đó, Ban Thường trực đã tổ chức hội
nghị phản biện xã hội đối với dự thảo lần cuối Nghị định của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật tín ngưỡng, tôn
giáo và có văn bản đóng góp 6 ý kiến phản biện xã hội đối với các nội dung
trong dự thảo Nghị định của Chính phủ. Nhiều ý kiến góp ý của Mặt trận đã

được Ban soạn thảo, Bộ Nội vụ và Chính phủ tiếp thu.


19

3.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÔN
GIÁO THỜI GIAN QUA
3.2.1. Ƣu điểm
- Mặt trận đã tích cực, chủ động tham gia hoạch định các chính sách
tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam với nhiều lựa chọn vấn đề chính sách được
đề xuất, nhiều sáng kiến chính sách, pháp luật được Đảng, Nhà nước tiếp
thu và đưa vào cuộc sống, qua đó góp phần quan trọng từng bước hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo
nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
Nhân dân, của mọi người.
- Với vai trò cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, việc tham gia
hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp
phần chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đồng bào
các tôn giáo;
- Mặt trận đã thể hiện và chứng tỏ được bản lĩnh và sự kiên trì đeo
bám, thuyết phục đối với cơ quan có thẩm quyền và đem lại hiệu quả cụ thể
trong xây dựng một số chính sách tôn giáo cụ thể.
- Phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, các hoạt động an sinh xã hội; tham gia đấu tranh với các thế lực thù
địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo.
- Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của Mặt trận
ở các cấp bước đầu đã được quan tâm sắp xếp, bố trí, bồi dưỡng, đào tạo và
nâng cao năng lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận trong
công tác tôn giáo và trong hoạch định chính sách tôn giáo.

3.2.2. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân
- Một số hạn chế, bất cập
+ Việc tham gia nghiên cứu, phát triển lý luận về tôn giáo, công tác
tôn giáo của hệ thống chính trị nói chung và của Mặt trận nói riêng có mặt
còn chậm và chưa theo kịp thực tiễn trong nước và quốc tế.
+ Việc Mặt trận kiến nghị, đề xuất và tham gia cùng các cơ quan chức


20

năng Nhà nước thể chế hoá một số chủ trương, chính sách tôn giáo thành
các văn bản quy phạm còn chậm, hoặc chưa đầy đủ, cụ thể.
+ Việc phân công, phối hợp giữa Mặt trận với các cơ quan Đảng, Nhà
nước và sự phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận với các tổ chức
thành viên trong hoạch định chính sách tôn giáo chưa thường xuyên.
+ Tính thuyết phục của một số ý kiến, đề xuất, phản biện chính sách
liên quan đến tôn giáo của Mặt trận chưa cao, chưa hiệu quả.
- Nguyên nhân của hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền và cơ quan
Đảng, Nhà nước, đặc biệt là của bản thân Mặt trận về vai trò, vị trí, chức
năng, nhiệm vụ của mình trong hoạch định chính sách tôn giáo còn chưa
đầy đủ, chưa sâu sắc, bị động, thậm chí coi nhẹ.
Thứ hai, việc thể chế hóa một số chủ trương thành chính sách pháp
luật còn chậm, có điểm chưa sát hợp thực tiễn, chưa đồng bộ và kịp thời,
gây khó khăn cho Mặt trận trong hoạch định và công tác tôn giáo.
Thứ ba, tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác tôn giáo của Mặt trận,
các đoàn thể chưa được quan tâm sắp xếp, bố trí tương xứng với vị trí, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Mặt trận.
Thứ tư, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để
chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng tiêu cực

đến hiệu quả tham gia hoạch định chính sách tôn giáo của Mặt trận.
3.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.3.1. Cần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tôn
giáo, nâng cao nhận thức của xã hội về lý luận, quan điểm của Đảng, Hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng.
3.3.2. Chưa kịp thời thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối
của Đảng về tôn giáo, tín ngưỡng; thái độ đối với tôn giáo, tín ngưỡng và
quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Chính sách tôn giáo chưa đồng bộ
với các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
3.3.3. Bộ máy và cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị
nói chung, của Mặt trận Tổ quốc nói riêng chưa thực sự đóng vai trò trung


21

tâm tham mưu, tư vấn về chính sách tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế.
3.3.4. Các vụ khiếu kiện liên quan đến tranh chấp đất đai có liên quan
đến tôn giáo vẫn tiếp tục với số lượng lớn, tính chất phức tạp.
3.3.5. Chính sách tôn giáo hiện nay chưa đủ tầm bao quát để quản lý
sự phát triển nhanh chóng, phong phú đa dạng của các “hiện tượng tôn giáo
mới”, cũng chưa có sự cụ thể hóa cần thiết cho phù hợp với vùng đồng bào
các tộc người thiểu số.
3.3.6. Chưa chú ý phát huy tốt vai trò quan trọng của các tổ chức và
chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong quản lý tôn giáo nói chung trong
việc tham gia đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo.
3.3.7. Chính sách tôn giáo chưa tạo được các điều kiện tốt cho cuộc
đấu tranh hiệu quả với các thế lực thù địch trong vấn đề “tự do tôn giáo”
trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Tiểu kết chƣơng 3

Ở chương này, tác giả đi sâu đánh giá thực trạng Mặt trận với việc
hoạch định chính sách trên ba nội dung tiêu biểu gồm: Mặt trận với việc lựa
chọn vấn đề, đề xuất sáng kiến và quyết định nội dung chính sách tôn giáo;
Mặt trận tham gia xây dựng và ban hành chính sách tôn giáo; Mặt trận tham
gia giám sát, phản biện xã hội đối với các dự thảo chính sách tôn giáo. Nhìn
chung, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc trong hoạch định chính sách tôn
giáo là hiệu quả, nhiều nội dung quan trọng, mới và sâu sắc được kiến nghị
từ Mặt trận Tổ quốc đều được các cơ quan có thẩm quyền trong hoạch định
chính sách tôn giáo tiếp thu, bổ sung vào chính sách. Tuy nhiên cũng còn
một số vấn đề sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc trong hoạch định chính
sách tôn giáo chưa thuyết phục được cơ quan soạn thảo. Trên cơ sở đánh
giá kết quả, ưu điểm, luận án đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế, bất
cập; đề xuất những vấn đề đặt ra làm cơ sở quan trọng để đề xuất các quan
điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạch chính sách tôn giáo của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở Chương 4.


22

Chƣơng 4
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
4.1. QUAN ĐIỂM
4.1.1. Chính sách tôn giáo phải đồng bộ với cách chính sách khác của
Nhà nước, phải phản ánh và là bộ phận của chính sách đại đoàn kết toàn
dân tộc
4.1.2. Chính sách tôn giáo phải phản ánh và đáp ứng nhu cầu khách
quan của con người về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh ngày càng
đa dạng

4.1.3. Chính sách tôn giáo ở Việt Nam phải đảm bảo sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của nhà nước và vai trò làm chủ của Nhân dân, trước hết
là vai trò làm chủ của đồng bào các tôn giáo
4.1.4. Chính sách tôn giáo phải phát huy được các giá trị văn hóa, đạo
đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo trong xây dựng, phát triển và bảo
vệ đất nước
4.1.5. Chính sách tôn giáo phải phát huy được vai trò của các cơ quan,
tổ chức trong hệ thống chính trị và vai trò của các tôn giáo chủ động, kịp
thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín
ngưỡng của các thế lực thù địch
4.2. GIẢI PHÁP
4.2.1. Đổi mới nhận thức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vai trò
của mình trong hoạch định chính sách tôn giáo
4.2.2. Kịp thời thể chế hóa và cụ thể hóa các chủ trương đường lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, đảm bảo tính đồng
bộ giữa chính sách tôn giáo với các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
4.2.3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam


23

trong giám sát và phản biện xã hội, tăng tính thuyết phục, nâng cao chất
lượng và hiệu quả tham gia của Mặt trận Tổ quốc trong hoạch định chính
sách tôn giáo
4.2.4. Bên cạnh thúc đẩy, đề xuất việc hoàn thiện bộ máy và cán bộ
làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị nói chung, Mặt trận Tổ quốc
cần hoàn thiện bộ máy công tác tôn giáo của riêng mình
4.2.5. Hoàn thiện chính sách đất đai, giải quyết cơ bản các vụ khiếu
kiện liên quan đến tranh chấp đất đai có liên quan đến tôn giáo
4.2.6. Nhanh chóng tạo lập các biện pháp chính sách nhằm quản lý

hiệu quả hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới”, ngăn chặn việc
truyền đạo trái pháp luật, có chính sách tôn giáo đặc thù đối với vùng các
tộc người thiểu số
4.2.7. Phát huy tốt vai trò, uy tín, ảnh hưởng của các tổ chức, chức
sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo trong quản lý hoạt động tôn giáo nói
chung trong việc tham gia đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề tôn giáo nói riêng
4.2.8. Thông qua kênh đối ngoại nhân dân Mặt trận Tổ quốc tham gia
tích cực vào cuộc đấu tranh với các thế lực thù địch trong vấn đề lợi dụng
“tự do tôn giáo” trên bình diện quốc gia và quốc tế
Tiểu kết chƣơng 4
Chương 4, luận án đề xuất 5 quan điểm cơ bản để nâng cao hiệu quả
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 8 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
Mặt trận với việc hoạch định chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay. Các
giải pháp này liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị,
các tôn giáo và nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan tới tôn giáo, tín ngưỡng.


×