Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

TIỂU LUẬN DƯỠNG SINH THEO TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.66 KB, 15 trang )

BÀI TIỂU LUẬN

DƯỠNG SINH THEO TÁC
PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI
KINH TỐ VẤN

Họ và tên : Nguyễn Ngọc Khánh
Lớp : cao học 10
Học viện: Y dược học cổ truyền Việt Nam

1


MỤC LỤC

I/ GIỚI THIỆU VỀ PHÉP DƯỠNG SINH VÀ TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN....................................3
II/ ĐẶC ĐIỂM THUẬT DƯỠNG SINH THEO HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN.....................................................3
1.

Thuật dưỡng sinh tinh thần.....................................................................................................................3

2.

Thuật dưỡng sinh ứng với khí hậu thời tiết.............................................................................................6

3.

Thói quen sinh hoạt trong dưỡng sinh của Nội Kinh...............................................................................9

4. Thói quen ăn uống trong dưỡng sinh của Nội kinh...................................................................................10
III| KẾT LUẬN...................................................................................................................................................15



2


I/ GIỚI THIỆU VỀ PHÉP DƯỠNG SINH VÀ TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI
KINH TỐ VẤN
“ Hoàng đế nội kinh tố vấn “ gọi tắt là “Nội kinh” còn gọi là “Bản kinh” là cuốn
sách y học nổi tiếng được xếp vào tứ đại kỳ thư của nền văn hóa Đông phương, đã có trên
5000 năm. Là bộ sách do vua Hoàng đế cùng sáu vị bầy tôi là : Kỳ Bá, Quy du khu, Bá
Cao, Thiếu Sư, Thiêú Du, Lôi Công lúc bình nhật mà vấn đáp biên tập lên .Sách không
chỉ tổng kết những vấn đề lớn của y học mà còn tổng kết thuật dưỡng sinh của thời kỳ
này.
“Hoàng đế nội kinh” quan niệm con người và thế giới tự nhiên là một chỉnh thể
thống nhất, sự thay đổi của thế giới tự nhiên ảnh hưởng lớn đến xã hội , con người và sức
khỏe, tuổi thọ con người. Thế giới tự nhiên đó theo Nội Kinh đó là : thiên , địa , tinh tú ,
ngũ vận lục khí, tứ thời, v....v . Sự biến hóa của tự nhiên đều tuân theo quy luật âm dương
, con người ai cũng trải qua ba quá trình: sinh trưởng, phát dục, và lão suy . Vì vậy , Nội
kinh cho rằng phải dựa vào quy luật sinh trưởng thu tàng của trời đất mà dưỡng sinh ,
nhưng để có thể cảm nhận được sự chuyển vần của vũ trụ cần phải giữ cho thần trí thanh
tịnh . Tinh thần thanh tĩnh, hình thể khoan thai mới có thể thọ lâu với trời đất .
Vậy dưỡng sinh theo Nội kinh như thế nào, xin hãy sang phần tiếp theo .

II/ ĐẶC ĐIỂM THUẬT DƯỠNG SINH THEO HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ
VẤN
1.

Thuật dưỡng sinh tinh thần
Trong thiên : “ Thượng cổ thiên chân luận “ có bàn :
“- Hoàng đế hỏi : Ta nghe rằng người thì thượng cổ tuổi tác có đến trăm tuổi mà


động tác vẫn không suy yếu, người thì nay tuổi mới nửa trăm mà động tác đều suy yếu.
Đó là vì thì thế khác nhau ư ? Hay là con người sắp mất đi ( sự hòa điệu Âm Dương)?
- Kỳ Bá đáp : “ Người thì thượng cổ đều biết đạo dưỡng, họ bắt chước theo lẽ
(biến hóa) của Âm Dương, hòa hợp được với thuật luyện tinh khí, ăn uống có điều độ,
3


thức ngủ theo lẽ thường, không lao động mệt nhọc 1 cách cẩu thả, do đó hình thể và thần
khí của họ đầy đủ để có thể sống trọn tuổi trời, trăm tuổi mới chết . Người thì nay thì
không thế, họ lấy rượu làm thứ uống, lấy sự cẩu thả làm lẽ thường, say sưa rồi giao hợp,
lấy sắc dục làm cho tinh khí bị hao kiệt, hao tổn đến chân khí, họ không biết giữ vững cái
chén đầy, không theo đúng sự thay đổi khí tiết bốn mùa để bảo dưỡng tinh thần, họ chỉ
muốn làm cho khoái cái tâm, làm nghịch lại cái vui chân thực, họ thức ngủ không điều
độ, do đó mà tuổi mới nửa trăm thì đã suy yếu vậy . Ôi ! Thì thượng cổ, bậc thánh nhân
dạy người dân dưới mình, (muốn cho họ) đều phải rõ về (tai hại) của hư tà, tặc phong,
muốn cho họ tùy theo thì tiết mà tránh tà khí, phải giữ lòng điềm đạm, hư vô, phải sống
đúng với chân khí mình . Tinh thần có giữ được bên trong thì bệnh làm sao có thể đến
được? Được vậy thì chí sẽ nhàn mà ít ham muốn, tâm được an mà không sợ sệt, hình thể
nhọc nhằn mà không mệt mỏi . Khí được theo với lẽ thuận, mọi việc theo đúng ý muốn
của mình và đều được toại nguyện . Nhờ vậy mọi người được ăn ngon, mặc theo ý muốn,
vui với tập tục nơi mình sống . Kẻ ở vùng cao hay thấp không ham muốn cái gì ngoài nơi
của mình ở . Nhờ vậy, ta gọi người dân này là “phúc” . Nhờ vậy, sự ham muốn không
làm mắt bị mệt, điều dâm tà không làm Tâm bị mê hoặc . Tất cả kẻ ngu, bậc trí, bậc hiền,
người đúng đắn không bị ngoại vật làm cho kinh sợ . Cho nên, ta gọi đó là hợp với Đạo .
Lý do tại sao những người này có thể sống đến trăm tuổi mà động tác không suy
yếu,đó là nhờ họ đã giữ được cái Đức của mình toàn vẹn, nên không bị nguy (tính mạng)
“Hoàng Đế hỏi : “Ta nghe bậc chân nhân thì thượng cổ chống giữ được với Thiên Địa,
nắm giữ được Âm Dương, hô hấp tinh khí, đứng vững để giữ được thần, cơ và nhục rắn
chắc. Cho nên họ sống quá tuổi thọ của Thiên Địa không có lúc chấm dứt, đó là do ở tu
dưỡng đúng Đạo mà được như vậy .

Thì trung cổ, có bậc chí nhân, giữ Đức được thuần, giữ Đạo được toàn, hòa được
với Âm Dương. điều được với tứ thì, tâm họ xa rời được những phiền toái của cuộc đời,
thân tránh khỏi bị phiền nhiễu bởi thế tục, tích chứa được cái tinh, bảo toàn được cái
thần, đi rong chơi trong cõi Trời Đất, nghe thấy trong cõi xa của tám phương, Đây chính

4


là phép làm cho tăng thêm tuổi thọ để được mạnh khỏe vậy, Những bậc này cũng sẽ có
thể quay về với các bậc chân nhân .
Thứ đến là các bậc thánh nhân, đứng được trong cái hòa của Trời Đất, theo được
cái lý của tám phương, thích ứng được với lòng ham muốn trong khoảng thế tục, không
có cái Tâm tức giận, sân si; Hành động của họ không muốn xa rời với cuộc đời, cử chỉ
họ không muốn trông vào nơi thế tục; Bên ngoài họ để hình thể mình bị lao nhọc bởi sự
việc, bên trong không có cái lo lắng về tư tưởng, lấy sự điềm tĩnh, vui vẻ làm nhiệm vụ,
lấy việc thực hiện cái Đạo là công lao; Hình thể họ không bị che lấp, tinh thần họ không
bị phân tán; Được vậy, họ cũng sẽ sống được trăm tuổi.
Thứ đến là có bậc hiền nhân, Họ bắt chước theo lẽ vận hành của Trời Đất, mô
phỏng theo cái tượng của mặt trời mặt trăng, sống theo sự thay đổi của Thiên vận, theo
đúng lẽ nghịch tùng của Âm Dương, phân biệt rõ sự thay đổi của bốn mùa; Họ theo đúng
được với nếp sống của người thượng cổ, thích hợp và đồng điệu với Thiên Đạo; Được
như thế, họ cũng có thể làm tăng tuổi thọ đến chỗ cao nhất “
 Ngay từ thiên đầu tiên của tác phẩm , người xưa đã nói về thuật dưỡng sinh , đề
cao phòng bệnh hơn chữa bệnh. Ý dưỡng thần trong lời Kỳ Bá rất rõ ràng : giữ lòng điềm
đạm vô tư , sống với chân khí của mình , tinh thần giữ bên trong thì bệnh không thể đến.
Những từ này tuy lời ít mà ý nhiều, kẻ hậu bối đọc cảm thấy rất mê hoặc nhưng để làm
theo thì mỗi người một ý , khó ai có thể thực hiện . Chân khí của mình là gì ? , cảm giác
trong lòng điềm đạm vô tư là như thế nào ? . Có rất nhiều ảo cảm và ảo tưởng trên thế
gian làm ta nhầm lẫn mà gán cho sự an yên điềm đạm vô tư mà các bậc chân nhân thời
thượng cổ có. Chúng ta không phải bậc Chân nhân để liên thông cảm ứng với âm dương

luật, không phải bậc chí nhân có khả năng giữ Đức thuần Đạo toàn , tâm không cuốn
theo những phiền toái của đời, không phải bậc thánh nhân thấy được cái hòa của trời đất
cái lý của tám phương , có ham muốn thế tục nhưng không có tâm tức giận sân si . Nhân
loại ngày nay độ nhạy cảm với biến hóa của đất trời đã không còn, chỉ có thể như bậc
hiền nhân mô phỏng lại mà bắt chước theo lẽ vận hành của trời đất, cách sống của người
5


Thượng cổ mà tuổi thọ cao một chút , đa phần đều là phàm nhân bị ảnh hưởng của thất
tình lục dục, chỉ muốn làm cho cái Tâm được khoái, hình thể được khoái lạc , chìm trong
bể dục chốn nhân gian, liên tục bị cuốn theo nhưng ngoại vật ngoại cảnh hào nhoáng .
Cái tôi cá tính được đề cao như một lý tưởng sống đúng đắn . Thực ra không ai còn hình
dung nổi chân khí của mình là cái gì , cái vui chân thực là cái gì (mà nhầm lẫn niềm vui
ấy là cái tâm khoái lạc với vạn hữu bên ngoài) . Bởi vậy Nội kinh là tác phẩm vẫn còn
nhiều bí ẩn chưa được giải đáp cho đến ngày nay là vì vậy .
Tuy nhiên có điểm chúng ta vẫn có thể học được trong Nội Kinh để dưỡng thần
đó là : ít suy nghĩ lo lắng, ít ham muốn , không bị mê hoặc hay kinh sợ bởi ngoại vật
không làm điều dâm tà , thuận với phong tục , biết đủ kết hợp với dưỡng sinh hình thể
không để hình thể mệt nhọc thì thần sẽ an ổn mà thọ cùng đất trời . Ai cũng có thất tình
( bẩy tình cảm) lục dục ( sáu ham muốn) . Thất tình lục dục bình thường thì có lợi mà
không hại đến sức khỏe. Nếu thất tình lục dục bất thường mất ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng
đến sức khỏe. Bởi tinh thần không điều hòa thì khí cơ thất thường hỗn loạn , hình thể từ
đó bị tổn thương. Nội kinh chỉ rõ : “ bi, ai sầu, ưu làm tâm động, tâm động thì làm lục
phủ dao động”, “ Giận tổn thương can, vui tổn thương tim , lo tổn thương phổi, suy nghĩ
quá tổn thương tỳ, kinh sợ tổn thương thận” . Như vậy chúng ta phải điều hòa không để
thất tình thái quá mà ảnh hưởng đến sức khỏe.

2.

Thuật dưỡng sinh ứng với khí hậu thời tiết

Về vấn đề này, Nội Kinh đã có hẳn một chương đề cập đến là thiên hai : “ Tứ Khí

điều thần luận “
“Ba tháng mùa xuân gọi là lúc phô bầy cái mới mẻ, Trời đất đều đang lúc sinh,
vạn vật được tươi tốt . Con người nên đi ngủ muộn và thức dậy sớm, đi bộ trong sân, xõa
tóc với dáng điệu hòa hoãn, tất cả nhằm làm cho cái chí với mình được sinh ra . Chúng
ta chỉ nên làm những hành động giúp cho sự sống (sinh) mà không nên làm những hành
động giết chết, nên cho mà không chiếm đoạt, nên thưởng thức mà không nên phạt ]. Đó
là chúng ta ứng với xuân khí, cũng là đạo ‘dưỡng sinh ‘ vậy . Nếu nghịch lại, sẽ làm
6


thương đến Can, đến mùa Hạ sẽ bị bệnh hàn, đó là vì xuân khí không ‘ phụng ‘ đủ khí
‘hạ trưởng ‘ cho mùa hạ .
Ba tháng mùa hạ gọi là thì của cây cỏ sum sê, tươi tốt, khí của Trời Đất giao
nhau, vạn vật đều được kết trái, con người nên đi ngủ muộn và thức dậy sớm, đừng trễ
lười vào những ngày hạ . Tất cả nhằm làm cho cái chí của mình đừng ‘nộ’, làm cho anh
hoa được chín đẹp . Phải để cho hạ khí trong người thoát bớt ra ngoài, giống như là nó
đi chơi ra ngoài một cách thích thú. Đó là chúng ta ứng với hạ khí, cũng là Đạo ‘dưỡng
trưởng’ . Nếu nghịch lại sẽ làm thương đến Tâm, sang mùa thu sẽ bị bệnh sốt rét, đó là vì
hạ khí không ‘phụng’ đủ khí ‘thu Thu’ cho mùa thu, mùa đông đến sẽ bị trúng bệnh .
Ba tháng mùa thu gọi là thời của vạn vật thịnh và hoa trái được chín, khí Trời trôi
nhanh, khí Đất sáng suả, Con người nên ngủ sớm và thức sớm, cùng gây hứng với gà .
Tất cả nhằm làm cho cái chí của mình được an tĩnh, làm cho tránh được khí tiêu sai (sát)
của mùa thu . Nên thu liễm Thần khí lại, làm cho chúng ta thích ứng được với khí dung
bình của mùa thu, đừng để cho chí của mình thoát ra ngoài, làm cho Phế khí được thanh,
đó là chúng ta thích ứng được với thu khí, cũng là Đạo “dưỡng thu” vậy . Nếu nghịch lại
sẽ làm thương đến Phế, mùa đông sẽ bị bệnh tiêu chảy, đó là vì thu khí không “phụng”
đủ khí “đông tạng” cho mùa đông .
Ba tháng mùa đông là thì vạn vật bế tạng, nước đóng băng, đất nứt nẻ, chúng ta

không nên làm nhiễu loạn Dương khí, nên ngủ sớm, dậy muộn, phải đợi có mặt trời rồi
mới dậy, tất cả đều làm cho chí của mình như núp như trốn, như có ý riêng tư, như đã có
được một cái gì . Chúng ta phải tránh lạnh tìm ấm, đừng để cho Dương khí thoát ra
ngoài bì phu, khiến cho chân khí bị hao tổn một cách nhanh chóng, đó là chúng ta thích
ứng được với đông khí, cũng là Đạo ‘dưỡng tạng. Nếu nghịch lại sẽ làm thương đến
Thận, đến mùa xuân sẽ bị bệnh ‘nuy quyết’, đó là vì đông khí không “phụng” đủ khí
“xuân sinh” cho mùa xuân .
Thiên khí trong sạch và sáng sủa . Thiên Đức ẩn tạng và vận hành không ngừng,
cho nên không cần phải đi xuống . Nếu Thiên khí (bộc lộ ra) thì mặt trời mặt trăng không
7


còn sáng và do đó mà tà khí len vào làm hại các không khiếu . Nếu Thiên khí bị bế tắc thì
Địa khí sẽ mất ánh sáng . Nếu vân và vụ không còn ‘tinh’ thì sẽ làm ảnh hưởng đến bên
trên làm cho bạch lộ không giáng xuống được . Nếu sự giao hòa giữa Thiên khí và Địa
khí không bộc lộ sáng tỏ thì sức sống của vạn vật không thi hóa được, do đó đa số các
danh mộc sẽ bị chết, ác khí sẽ phát dương rộng ra . Gió mưa không trúng tiết, bạch lộ
không rơi xuống thì cỏ và lúa sẽ không được tươi tốt . Gió dữ cuộn đến, mưa bạo ào rơi,
bốn mùa trong Trời Đất không còn giữ được điều hòa, sẽ làm thất đi cái Đạo Như vậy
cuộc sống chưa được nửa đường đã bị tuyệt diệt . Duy chỉ có bậc thánh nhân là theo
đúng với Thiên Đạo, vì thế họ giữ được thân mình không bị bệnh lạ, vạn vật không mất đi
lẽ sống, sinh khí không bị kiệt .
Sống nghịch lại với xuân khí, sẽ làm khí Thiếu dương không sinh, Can khí bị nội
biến . Sống nghịch lại với hạ khí, sẽ làm cho khí Thái dương không trưởng, Tâm khí bị
nội động . Sống nghịch lại với thu khí thì khí Thái Âm không thu, Phế khí bị tiêu mãn
Sống nghịch lại với đông khí thì khí Thiếu Âm không tạng, Thận khí bị độc trầm.
Ôi ! Âm Dương vận hành trong 4 mùa là cái căn (rễ), cái bản (gốc) của vạn vật.
Cho nên, bậc thánh nhân đến mùa xuân và mùa hạ thì dưỡng Dương, đến mùa thu và
mùa đông thì dưỡng Âm, đó là để theo đúng với cái căn và cũng để cùng với vạn vật
chìm nổi theo cánh cửa của việc sống chết .

Nếu sống nghịch lại với cái căn, đó là chặt đứt cái “bản”, là hủy hoại cái “chân”
vậy
Cho nên, Âm Dương vận hành trong 4 mùa là nơi chung thỉ của vạn vật, là cái
gốc của việc sống chết . Sống nghịch lại với Âm Dương thì tai và hại sẽ sinh ra, sống
thuận theo với Âm Dương thì những tật bệnh nặng không thể xẩy, đó gọi là ‘đắc Đạo’.
Đạo là con đường mà thánh nhân đi theo, kẻ ngu thì làm nghịch lại . Theo đúng
với Âm Dương thì sống, nghịch lại thì chết, theo đúng với Âm Dương thì trị (yên), nghịch
lại thì loạn . Xoay ngược cái thuận thành cái nghịch, gọi là ‘nội cách’ .
8


Cho nên, bậc thánh nhân không “trị : để ý, nghiên cứu” cái đã bệnh mà lo “trị”
cái chưa bệnh, không “trị” cái đã loạn mà lo “trị” cái chưa loạn, đúng với ý nghĩa trên
đã nói . Ôi ! Đợi khi bệnh đã thành rồi mới dùng thuốc, đợi khi loạn đã thành rồi mới trị
loạn, cũng ví như đợi khát (nước) rồi mới đào giếng, đợi lúc đánh nhau rồi mới đúc binh
khí, như vậy, cũng chẳng là muộn lắm sao?”
 Nội kinh quan niệm rằng âm dương bốn mùa là căn bản sinh tồn của vạn vật.
Quy luật : “ xuân sinh , hạ trưởng, thu thu, đông tàng “ , ứng thuận theo đó mà trong cơ
thể người khí cơ lên xuống, ngũ tạng thịnh suy . Vậy luận theo âm dương, con người
xuân hạ thì dưỡng dương, thu đông thì dưỡng âm. Dưỡng ở đây không chỉ là cách ngủ
nghỉ mà còn cả cách ăn mặc , cách điều tiết tinh thần, cách ăn uống sao cho phù hợp .
Nếu không thuận theo khí tiết chuyển dịch sẽ làm cho con người sinh bệnh , điều đặc biệt
là vì tứ thời có quy luật nên bệnh tật phát sinh cũng có quy luật , điều đó cũng thật là may
mắn vì ta có thể dựa vào đó mà biết thói sinh hoạt sai lầm ở đâu, khí nào trong cơ thể
không được phụng bồi đủ để từ đó chỉnh sửa mà bù đắp trước khi qua muộn. Tất cả đã
được nói rõ ở trên không cần nhắc lại.

3.

Thói quen sinh hoạt trong dưỡng sinh của Nội Kinh

Nội kinh cho rằng : “ Nhìn lâu tổn huyết, nằm lâu tổn khí, ngồi lâu tổn nhục, đứng

lâu tổn cốt, đi lâu tổn cân”.
 Đây là Ngũ Lao Sở Thương. Từ đó mà ta biết rằng, trong cuộc sống hàng ngày
không nên ở quá lâu một tư thế nào. Tuy nhiên tính chất công việc chuyên môn của ta có
thể cần phải làm một động tác quá lâu vậy phải làm thế nào đây? Có nên chuyển nghề?
Phép dưỡng sinh yếu lĩnh là điều hòa theo biến hóa của trời đất, vận hành của khí cơ .
Nếu công việc của ta phải ngồi lâu, ta cần bỏ thời gian vài phút để đứng lên đi lại, dùng
dược để dưỡng tỳ sinh cơ nhục, nếu ta phải nhìn lâu, ta cần vài phút để nhắm mắt dưỡng
thần , dùng dược để dưỡng can huyết , nếu ta đi lâu buổi tối nên ngâm chân nước nóng để
dưỡng bàn chân , nằm xoa bóp chân , dùng dược dưỡng can thận sinh cân, nếu ta đứng

9


lâu sau đó không cân khoảng thời gian dài hơn ngồi hoặc nằm để cốt phục hồi, dùng dược
dưỡng thận sinh cốt v...v. Không có vấn đề nào mà lại không có biện pháp giải quyết.

4. Thói quen ăn uống trong dưỡng sinh của Nội kinh.
Thiên hai hai “Tàng khí pháp thời luận” bàn luận về vấn đề ngũ vị trong ăn
uống hàng ngày và trong khi có bệnh như sau :
"Hoàng Đế hỏi: Hợp thân hình con người, bắt chước bốn mùa, năm hành để điều
trị… Thế nào là thuận, thế nào là nghịch, thế nào là đắc, thế nào là thất…? Xin cho biết
rõ.
Kỳ Bá thưa rằng: Năm hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Thay nhau qúi,
thiện, để biết chết sống, để quyết thành bại, và định cái khí của năm Tàng, cùng cái lúc
hơi bớt cái lúc nặng thêm... Rồi do đó dự tính khi chết và sống.
Hoàng Đế nói:Xin cho biết rõ căn nguyên...
Kỳ Bá thưa rằng: Can chủ về mùa Xuân, kinh khí do Túc Quyết âm thiều dương
chủ trị, ứng với hai ngày Giáp ất. Can khổ về sự cấp (tức thái quá), kíp ăn vị cam để cho

hoãn lại.
Tâm chủ về mùa hạ, kinh khí do thủ Thiếu âm Thái dương chủ trị, ứng với hai
ngày Bính Đinh. Tâm khổ về sự hoãn (chậm chạp tán mạn), kíp ăn vị toan để cho hậu lại.
Tỳ chủ về Trường hạ, kinh khí do Túc Thái âm Dương minh chủ trị, ứng với hai
ngày Mậu, Kỷ Tỳ thổ về sự thấp, kíp ăn vị khổ để cho ráo lại.
Phế chủ về mùa thu, kinh khí do Thủ Thái âm Dương minh chủ trị, ứng với hai
ngày Canh Tân, Phế, khổ về khí nghịch lên, kíp ăn vị khổ để cho tiết đi.

10


Thận chủ về mùa Đông, kinh khí do Túc Thiếu dương, Thái âm chủ trị, ứng với
hai ngày Nhâm Qúi, Thận khổ về sự táo (ráo), kíp ăn vị tân để cho nhuận, do đó khai
được tấu lý, sinh ra tân dịch và thông khí...
Bệnh ở Can cấm hóng gió (theo nghĩa đoạn trên này và cả dưới đây, chuyên nói
về sinh khắc, duyệt giả chú ý).Bệnh ở Can, sáng sớm tỉnh táo, chập tối nặng, nửa đêm
yên. Can khí muốn sơ tán, kíp ăn vị tân để cho tán; dùng vị tân để bổ, vị toan để tả.
Bệnh về tâm cấm ăn thức nóng, mặc áo nóng . Bệnh về Tâm, đúng trưa tỉnh táo,
nửa đêm nặng, sáng sớm yên. Tâm muốn nhuyễn (mềm mại), kíp ăn vị hàm để cho
nhuyễn, dùng vị hàm để bổ, vị cam để tả.
Bệnh về Tỳ cấm ăn thức có tính ấm, ăn no , và ở nơi ẩm mắc áo ướt. Bệnh về Tỳ,
lúc xế chiều tỉnh táo, lúc mặt trời mọc nặng, chập tối yên. Tỳ muốn được thư hoãn, kíp ăn
vị cam để cho thư hoãn, dùng vị khổ để tả, vị cam để bổ .
Bệnh về Phế cấm ăn uống thứ lạnh và mặc áo lạnh. Bệnh về Phế, chập tối tỉnh
táo, đúng trưa nặng, nửa đêm yên. Phế muốn thâu liễm, kịp ăn vị toan cho thâu liễm.
Dùng vị toan bổ, vị tân tả.
Bệnh về Thận cấm ăn các thức xào, nướng có tính nóng vào áo hơ (là) nóng.
Bệnh về Thận, nửa đêm tỉnh táo, gặp gió tứ qúi (Thìn, Tuất, Sửu, Ty) nặng, xế chiều
yên.Thận muốn kiên, kịp ăn vị khổ để cho kiên, dùng vị khổ để bổ, vị hàm để tả.
Phàm tà khí phạm vào người, lấy cái “thắng” để cùng thêm lên (Như Can Bệnh,

thêm lên về Canh, Tân v.v) gặp cái “sở bất thắng” thời càng nặng, gặp cái “sở sinh”
thời đứng bệnh. Gặp đúng vào bản vị của mình sẽ khỏi. Tất phải hiểu thấy cái mạch của
năm Tàng, mới có thể nói được lúc nhẹ, lúc nặng và dự đoán được cái thời kỳ sinh tử
Bệnh về Can, đau ở hai bên sườn, dẫn xuống Thiếu phúc, khiến người hay nói .
Can hư thời mắt lờ mờ trông không rõ, tai nghe không tỏ, hay sợ như sắp bị người bắt.
Nên lấy ở hai kinh mạch Quyết âm và Thiếu dương

11


Khí nghịch thời đầu nhức, tai điếc, mà sưng, nên bớt huyết đi (hoặc tả bớt)
Bệnh về tâm, trong hung đau, chi lạc ở hiếp đầy, dưới hiếp đau, khắp khoảng
xương vai, lưng đều đau, hai cánh tay cũng đau
Tâm hư thời hung phúc to ra, dưới hiếp và yêu cùng rút mà đau. Lấy ở hai kinh
mạch Thiếu âm, Thái dương, và trích huyết dưới lưỡi . Nếu bệnh biến, lại phải thích thêm
huyệt Âm khích cho ra huyết
Bệnh về Tỳ, mình nặng, cơ nhục nhão nát tê dại, chân không co lại được, lúc đi,
đau trong xương, dưới chân cũng đau . Tỳ hư thời bụng đầy, ruột sôi, xôn, tiết thức ăn
không đều. Nên lấy huyệt ở các kinh mạch Thái âm, Dương minh và Thiếu âm .
Bệnh về phế, suyễn, khái, nghịch khí, vai, lưng đau, hãn ra, cầu âm (xương khu),
vế, đầu gối, xương ống đều đau. Phế hư thời không thở được dài, tai điếc, cuống họng
khô. Lấy huyết ở ngoài kinh mạch Thái âm, Túc Thái Dương và bên trong quyết âm
Bệnh về thận, bụng to, ống chân sưng, suyễn và khái, mình nặng, lúc ngủ toát mồ
hôi, ghê gió. Thận hư thời trong bụng đau, đại phúc, tiểu phúc đều đau, quyết lãnh, ý tứ
không vui
Nên lấy huyết ở kinh mạch Thiếu âm và Thái âm
Can sắc xanh, nên ăn vị ngọt, ngạnh mễ, thịt bò, quả táo qùi... Đều thuộc về vị
ngọt .
Tâm sắc xích, nên ăn vị toan, tiểu đậu, thịt chó, quả mạn, rau cửu... Đều thuộc
về vị toan .

Phế sắc bạch, nên ăn vị khổ, lúa mạch, thịt dê, quả hạnh, rau giới (củ kiệu), đều
thuộc về vị khổ.
Tỳ sắc hoàng, nên ăn vị hàm , đại đậu, thịt lợn, quả lật, rau hoặc... đều thuộc về
vị hàm.
12


Thận sắc hắc, nên ăn vị tân, hoàng thử, thịt gà, quả đào, củ hành... đều thuộc về
vị tân .
Vị tân thời tán, vị toan thời thâu, vị cam thời hoãn, vị khổ thời kiên, vị hàm thời
nhuyễn .Các thứ thuốc có tính chất độc công trị bệnh tà . Năm giống lúa để chuyên về sự
nuôi năm Tạng .Năm thứ quả để giúp cho sự nuôi. Năm loài súc để giúp sự bổ ích . Năm
thứ rau để cho đầy đủ thêm. Khí với vị hợp lại để ăn và uống, sẽ bổ tinh và ích khí .Vậy
năm vị tân, toan, cam, khổ, hàm... đó đều có sự lợi ích, hoặc tán, hoặc thâu, hoặc cấp,
hoặc kiên, hoặc nhuyễn v.v.. Bốn mùa năm tạng mắc bệnh, đều theo sự cân dùng thích
nghi của năm tạng ".
 Con người muốn sinh tồn phải nhờ vào đồ ăn thức uống . Thủy cốc hay thuốc
đều có có hai phần khí và vị. Thanh khí là thứ vô hình chúng ta hấp thu được nhưng khó
ai có thể cảm nhận khí của thức ăn. Vị là thứ nuôi lớn âm huyết , con người lại nhận biết
rất tốt. Vậy nên trong dưỡng sinh vị của các loại thức ăn rất được chú ý , là tiêu chuẩn để
xác định một loại thức ăn có nên ăn hay không . Nội kinh cho rằng mỗi vị khác nhau đưa
dinh dưỡng thức ăn vào những tạng phủ khác nhau : toan vào can, tân vào phế , hàm vào
thận, khổ vào tâm, cam vào tỳ. Trong bào chế thuốc thường ứng dụng điều này để chế
thuốc vào đúng tạng mình muốn. Tuy nhiên sự quy loại ngũ vị theo ngũ hành này chưa đủ
để nói lên đặc điểm của ngũ vị do đó dẫn đến sự ứng dụng sai trong đời sống , vd như
thận hư gây suy thận , các thầy thuốc sao tẩm nhiều muối để bổ thận. Nội kinh trong điều
dưỡng cơ thể chỉ ra rằng quan trọng nhất là nắm bắt được hướng khí cơ vận động , Vị tân
thời tán, vị toan thời thâu liễm, vị cam thời làm khí hòa hoãn, vị khổ thời làm khí kiên ,
cứng, vị hàm thời làm khí mềm mại . Vậy nên can khí cấp thì dùng cam để hoãn nhưng
can khí uất lại dùng vị tân để tán , để bổ , nếu dùng vị toan lại là tả. Tả ở đây không phải

là làm cho bớt đi mà làm nghịch lại với hướng đi tự nhiên của can mộc. Hàng ngày đồ ăn
cũng nên ăn đồ cam ngọt để khí của can hòa hoãn. Khí của phế dễ nghịch , nghịch thì
cần vị khổ để tiết đi, nếu phế hư dễ bị tán vì tấu lý sơ hở cần ăn vị toan để miễn lại , vị
tân tán lại càng tả hơn. Để phế khí túc giáng hàng ngày nên ăn vị khổ. Tâm chủ huyết
mạch cần muốn nhuyễn Thận chủ cốt tủy muốn kiên vậy để tâm nhuyễn lại nên ăn vị hàm
13


, thận muốn kiên nên ăn vị khổ là vậy. Tuy nhiên hàng ngày để thận tốt lại nên ăn cay bởi
vị tân làm cho nhuận thông khí sinh tân dịch, tâm khỏe nên ăn vị toan để làm cho tâm khí
luôn tập trung nhanh nhẹn ( tâm khổ vì sự hoãn ) đặc biệt những người chậm chạp mất
tập trung.
Nội kinh trong thiên “Sinh khí thông thiên luận” viết: “Âm được sinh ra lấy
gốc ở ngũ vị; nhưng ngũ tạng thuộc Âm lại bị ‘thương’ cũng bởi ngũ vị . Vì thế, thức ăn
quá nhiều vị chua (toan), Can khí sẽ thịnh, Tỳ khí bị tuyệt . Thức ăn quá nhiều vị mặn
(hàm), khí của đại cốt bị lao thương, cơ nhục bị co ngắn lại, Tâm khí bị uất ức . Thức ăn
quá nhiều vị ngọt (cam), khí của Tâm làm cho suyễn và đầy, sắc mặt đen, Thận khí không
còn bình hành . Thức ăn quá nhiều vị đắng, Tỳ khí không còn nhu nhuận, Vị khí bị
trướng mãn . Thức ăn quá nhiều vị cay (tân), cân mạch bị bại hoại và buông lỏng, tinh
thần cũng bị tổn thương . Cho nên, nếu cẩn thận trong việc điều hòa ‘ngũ vị trong thức
ăn’, cốt tiết sẽ được ngay thẳng, cân mạch được nhu hòa, khí huyết được lưu thông, tấu
lý kín đáo, được vậy thì cốt khí được tinh cường . Mọi người nên cẩn trọng theo đúng với
phép ‘dưỡng sinh’ thì tuổi trời của mình sẽ được hưởng trọn”
 Trong ăn uống ta không tránh khỏi có sở thích này nọ, có một số món ăn
nhiều hơn bình thường, cũng có vị nào đó thích ăn đậm đà hơn người khác. Điều đó làm
cơ thể thiên lệch ảnh hưởng đến ngũ tạng . Trên đã ghi rõ việc ăn uống thái quá gây tổn
hại khí huyết cơ nhục cân cốt từ đó mà ảnh hưởng đến tạng phủ . Ăn chua vào can, can
mộc thịnh khắc tỳ thổ thì tỳ tuyệt, ăn mặn quá thì nhuyễn làm đại cốt ( cột sống) tổn
thương tức hại thận, còn hại cả tỳ ( cơ nhục co rút) tâm khí vì thận tổn thương không giao
tế mà trở nên uất ức. Ăn ngọt quá khí hoãn ,tâm khí thuộc hỏa tính mạnh mẽ nhanh nhẹn

vì tính hoãn mà chậm chạp , thận thủy lấn lên làm sắc mặt đen, tâm thận không còn bình
hành tiêu trưởng với nhau được. Thức ăn quá đắng làm tỳ quá ráo , không còn nhu nhuận,
không tiếp nhận thủy cốc từ vị làm vị trướng mãn. Thức ăn quá cay thì tán , cân không
chắc bền hại can , can chủ sơ tiết do đó tinh thần cũng bị tổn thương.

14


 phép dưỡng sinh khi ăn uống theo nội kinh chính là ăn đủ ngũ vị, không nên thái
quá , khi bị bệnh , trong cơ thể vốn có một hành đã yếu thì nên tùy theo tạng bị bệnh mà
chỉnh thức ăn cho phù hợp. Tránh ăn quá no nếu bị bệnh tại tỳ, ăn quá nóng nếu bệnh tại
tâm, không nên ăn đồ xào nướng nếu bệnh tại thận, không ăn quá lạnh nếu bệnh ở phế.
Nếu làm theo được chắc chắn tuổi trời sẽ được hưởng trọn.

III| KẾT LUẬN
Thuật dưỡng sinh theo Nội kinh tố vấn không chỉ coi trọng điều dưỡng thân thể
mà coi trọng hơn cả là điều nhiếp thần khí. Phép điều dưỡng phải tuân theo quy luật âm
dương ngũ hành , ngũ vận lục khí tứ thời bởi con người là một phần của vũ trụ và bị ảnh
hưởng của luật vũ trụ . Nếu làm được sẽ thọ hết tuổi trời của mình .

15



×