TẠ QUANG NGỌC
^
MỘT. SO VAN ĐELỸLƯẠN
CA THỰC TIEN VỂ NỘI LUẬT HÓA CÁC
i ) N G ƯỚC QUỐC TẾ VỂ QUYỂN CON
m NGƯÒI ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẶT HOC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TổNG HỢP LUND
KHOA LUẬT
TẠ QUANG NGỌC
■
■
MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN v ề
•
•
•
NỘI LUẬT HOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỂ QUYỂN
CON NGƯỜI ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYẼN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ VÀ s o SÁNH
MẢ SỐ: 603860
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
II
■
■
■
THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐAI HOC LŨẢĨ ha nôi
PH Ò N G G V c
----------—--------------------------------j J *
ọC
/1 I
1 I i
'
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. CHU HỔNG THANH
2. GS. TS. HANS - HEINRICH - VOGEL
HÀ NỘI - 2004
m
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
2. CƯQT
Công ước quốc tế
3. BLDS
Bộ luật dân sự
4. BLHS
Bộ luật hình sự
5. BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
6. ĐƯQT
Điều ước quốc tế
7. HTPL
Hệ thống pháp luật
8. NLPL
Năng lực pháp luật
9. QPPL
Quy phạm pháp luật
10. QCN
Quyền con người
ll.T A N D
Toà án nhân dân
12. VBPL
:
Vãn bản pháp luật
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................. 1
CHƯƠNG ỉ: C ơ SỞ LÝ LUẬN “NỘI LUẬT H OÁ” CÁC CÔNG ƯỚC
ư ố c TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI....................................................................6
I. Q uyền con người và công ước quốc tế về quyền con n g ư ờ i.........................6
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển quyền con người................................. 6
1.2. Khái niệm quyền con người và luật quốc tế về quyền con người....11
1.2.1. K hái niệm quyền con ng ư ờ i............................................................... 11
1.2.2. L uật quốc tế về quyền con người....................................................... 14
II. Q uan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, vấn đề nội luật
hoá các công ước quốc tế .......................................................................................... 15
2.1. Cơ sở lý luận về nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con ngưcd.......... 15
2.2. Sự cần thiết của nội luật hoá các công ước quốc tế về quyền con
người..........................................................................................................................23
2.3. Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người và vấn đề nội
luật hoá các CƯ Q T về quyền con n g ư ờ i..........................................................27
CHƯƠNG II: Q U Á TRÌN H NỘ I LUẬT HOÁ CÁC CỒNG ƯỚC QUỐC
T Ế V Ề Q U YỀN CO N NGƯỜI Ở VIỆT N A M ........................................................33
I. Sự hinh thành và phát triển hệ thống Pháp luật Việt Nam bảo đảm
thực hiện quyền con n g ư ờ i.......................................................................................33
1.1. Khái lược về quyển con người trong lịch sử dân tộc Việt nam từ
trước năm 1945 .......................................................................................................33
1.2 Sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm
quyền con người từ 1946 đến trước thời kỳ đổi m ới...................................... 35
a1.3.
Sự phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con
người từ năm 1986 đến n ay ..................................................................................41
1.4. Một số quan điểm về nội luật hoá các công ước quốc tế về quyền
con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện n ay .............................. 43
II. Thực trạng nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con người ở nước
ta hiện n a y ..................................................................................................................47
2.1. Nội luật hoá công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính tr ị..........47
2.2. Nội luật hoá các công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá............................................................................................................................ 62
2.3. Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình nội luật hoá các công
ước quốc tế về quyền con n g ư ờ i....................................................................... 74
2.4. N guyên nhân của những thành tựu và hạn ch ế về nội luật hoá các
công ước quốc tế về quyền con người..............................................................76
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NỘI LUẬT
HOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ BẢO ĐẢM QUYỀN c o n n g ư ờ i
TRONG SựN G H IỆP Đ ổ i MỚI ĐẤT n ư ớ c ............................................................. 82
3.1. Những quan điểm, chính sách của Đảng và N hà nước Việt Nam
về quyền con người trong sự nghiệp đổi mới đất n ư ớ c.................................82
3.2 Phương hướng bảo đảm thực hiện các công ước quốc tế về quyền con
người trong quá trình hoàn thiện hộ thống pháp luật Viột N am .......................86
3.3. M ột số giải pháp tiếp tục nội luật hoá các công ước quốc tế về
quyền con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước.......................................91
KẾT LUẬN......................................................................................................................96
DA NH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮ T.........................................................................98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT.... 102
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, QCN luôn mang giá trị nhân văn
cao quý, là mối quan tâm chung của nhân loại, cũng là một trong những vấn đề thiêng
liêng quan trọng trong đời sống ở mỗi chế độ chính trị - xã hội. Trong xã hội hiện đại,
QCN được coi là những vấn đề thiết yếu cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia, nó xuất hiện từ rất sớm và ngày càng được phát triển mở rộng hơn, nhất là
khi nền kinh tế thế giới phát triển trong xu thế hội nhập toàn cầu, việc bảo đảm thực
hiện tốt QCN đã và đang được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm sâu sắc.
Trong quá trình phát triển lịch sử, có nhiều quan điểm, nghiên cứu về QCN
(như: Hobbes, J J Rousseau, Montesquieu...). Với tư tưởng, xây dựng, các thiết chế,
các biện pháp nhằm thực hiện iốt hơn QCN, cho đến nay vẫn còn tồn tại những quan
điểm khác nhau trong nhận thức về QCN, về cơ chế đảm bảo QCN. Cho thấy QCN là
vấn đề nhạy cảm và phức tạp, trong đời sống cộng đồng quốc tế. Giữa các quốc gia có
chế độ chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội và truyền thống cũng như phong tục tập quán
khác nhau. Rất khó khăn trong việc tìm ra những quan điểm thống nhất về QCN.
Nhưng ở mỗi thời kỳ, trong quá trình thực hiện, các quốc gia đều ghi nhận QCN trong
HTPL của mình (như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776,
Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1789, Tuyên ngôn độc lập của
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945...)
Trong thế giới hiện đại sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ trên
thế giới diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đảm bảo thực hiện tốt
hơn QCN. QCN được xác định là một trong những nội đung trọng yếu của pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia. QCN không ngừng phát triển và mở rộng, nhất là sau
chiến tranh thế giới thứ 2 (ở những năm giữa thế kỷ 19) QCN đã được quy định trong
Luật quốc tế hiện đại, ở đó các cam kết quốc tế về QCN không chỉ được thực hiện ở
một số quốc gia mà còn được thực hiện ở tất cả các quốc gia thành viên. Trên cơ sở nội
luật hoá các Công ước quốc tế phù hợp với điều kiện của quốc gia mình. Mỗi quốc gia
nhằm vào việc đảm bảo cho QCN được thực hiện trong thực tế.
Quá trình thực hiện các quy định của pháp luật quốc tế về QCN cho thấy, không
2
phải tất cả các quốc gia đều có thể kv kết hoặc tham gia đầy đủ các Công ước quốc tế
về QCN. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cam kết quốc tế, mỗi quốc gia phải
căn cứ vào các điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội hay văn hoá, phong tục tập quán,
truyền thống... Nhằm thực hiện có hiệu quả các công ước quốc tế và đảm bảo quyền,
lợi ích dân tộc. Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là phải có sự chuyển hoá các công ước
quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà được thành lập, chúng ta đã từng bước quan tâm, ghi nhận QCN. Trong HTPL
cùng với sự phát triển mở rộng QCN ở HTPL trong nước, chúng ta luôn nỗ lực cố gắng,
tích cực tham gia các công ước quốc tế, nhằm từng bước phát triển và hoàn thiện pháp luật
về QCN, theo các chuẩn mực chung của quốc tế. Chúng ta đã nội luật hoá các QPPL quốc
tế vào HTPL trong nước , thông qua hoạt động sửa đổi bổ sung hoặc xây dựng, ban hành
các VBPL phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế.
Trong thực tiễn Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chú trọng phát triển, hoàn
thiện các cơ chế chính sách và pháp luật, phân tích ,đánh giá cũng như tạo các điều
kiện thuận lợi cần thiết, để đảm bảo QCN phù hợp với các công ước quốc tế trong điều
kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị văn hoá xã hội và các phong tục tập quán, truyền
thống của Việt Nam. Nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN đáp ứng hợp lý với xu
hướng phát triển kinh tế , khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực của đời sống nhân loại, rút ngắn khoảng cách, bất bình đẳng giữa các quốc
gia. Bảo vệ và thực hiện tốt QCN không còn là công việc riêng của quốc gia mà còn là
vấn đề mang tính toàn cầu. Do đó phải xem xét, nghiên cứu , rà soát hệ thống các
VBPL nói chung, từng bước hoàn thiện HTPL quốc gia. Tạo điều kiện thuận lợi để nội
luật hoá các điều ước quốc tế, nhất là đối với các công ước quốc tế về QCN, thực hiền
hội nhập khu vực và quốc tế, phù hợp với quy luật khách quan. Điều đó có ý nghĩa rất
quan trọng trong tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước, như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: "... chăm lo
cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện
các ĐƯQT về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia" [20, tr.134].
Để pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật về QCN được tôn trọng
3
và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Trong những năm qua (nhất là từ 1986 đến nay)
chúng ta đã từng bước nâng cao kỹ thuật lập pháp, ban hành và hoàn thiện các cơ chế,
thủ tục, thực hiện giám sát nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và
có hiệu quả, đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới, phù hợp
với các quy định của luật quốc tế, nhằm tôn trọng, bảo vệ QCN. Trong khi hiện nay
vẫn còn một số thế lực lợi dụng nhân quyền (trong luận văn sử dụng nhân quyền và
QCN được hiểu thống nhất như nhau) để phục vụ cho mục đích chính trị và can thiệp
vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nhất là đối với các quốc gia chậm hoặc đang
phát triển. Do đó, để đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia cần
thiết phải vận dụng và chuyển hoá các công ước quốc tế nói chung, cũng như công ước
quốc tế về QCN, trong quá trình xây dựng và ban hành HTPL quốc gia.
2. Tình hình nghiên cứu
Đến nay, QCN đã được nhiều tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm nghiên
cứu, có những công trình, bài viết, bài phát biểu và báo cáo của các quốc gia về việc thực
hiện QCN hiện nay như: ‘Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” trong lịch sử tư tưởng
về QCN của NERSESJANCE, V.S; Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và các QCN
trong thế giới hiện đại của KARTASHKIN.V.A; Hiện thực mới trên thế giới và QCN của
PENOUSKIN;...
Ở nước ta, QCN cũng được đề cập từ rất sớm. đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu, nh-ều bài viết của các nhà khoa học về QCN như: “QCN, quyền công
dân” của Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh, xuất bản năm 1993; “Tuyên ngôn
độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và một số vấn đề giá trị nhân quyền hiện đại cụa
PGS-T.S Chu Hổng Thanh; Sự phát triển Quyền dân sự và chính trị trong thời kỳ đổi
mới ở Việt Nam do GS-T.S Hoàng Văn Hảo làm chủ nhiệm đề tài; “ QCN, quyền công
dân” của GS-T.S Hoàng Văn Hảo và Chu Thành năm 2000; Việt Nam với vấn để QCN
của Luật gia Nguyễn Chí Dũng năm 1992... Tuy nhiên các công trình khoa học, các bài
viết đó đã đi nghiên cứu một cách tổng quát hoặc chuyên sâu về QCN, luận giải phân
tích, đánh giá các vấn đề về QCN dưới các giác độ khác nhau, nghiên cứu và đưa ra các
thiết chế bảo đảm QCN... đã có công trình đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa luật
quốc tế với luật quốc gia, nhưng chưa có công trình, bài viết nào đi sâu nghiên cứu toàn
4
diện và có hệ thống về vấn đề nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam
hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay” để
nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của minh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
QCN có phạm vi và nội dung rất rộng. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ,
tác giả không có tham vọng nghiên cứu tất cả các công ước quốc tế về QCN, mà chỉ
nghiên cứu việc nội luật hoá đối với các công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia. Trong đó sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu hai công ước đó là: “công
ước quốc tế vé các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hoá” là hai công ước được Đại hội đổng Liên hợp quốc thông qua
ngày 16/12/1966.
4. Mục đích nhiệm vụ của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích các quy định của pháp luật
quốc tế về QCN (Các quyền về dân sự và chính trị, các quyền về kinh tế, xã hội và văn
hoá) từ đó đưa ra những nhận thức về lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ các
luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc nội hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt
Nam, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện QCN ở nước ta
trong mối quan hệ với các công ước quốc tế về QCN. Vì vậy đề tài tập trung làm sáng
tỏ các vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình nội luật hoá
và thực hiện các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay;
- Rà soát, hệ thống hoá các VBPL Việt Nam quy định về QCN mà Việt Nam
tham gia ký kết hoậc phê chuẩn, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế với pháp luật
quốc gia;
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề nội luật hoá các Công ước
quốc tế về QCN ở nước ta hiện nay, những thành tựu đã đạt được và hạn chế còn tổn
tại, từ đó tìm kiếm các giải pháp, kiến nghị góp phần bổ sung và hoàn thiện các quy
định của pháp luật về QCN trong quá trình nội luật hoá.
5
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận Mac
Lênin. Đổng thời luận văn còn kết hợp các phương pháp như phân tích, thống kê, so
sánh, phương pháp lịch sử... để nghiên cứu đề tài.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ khái niệm "nội luật hoá" các công ước quốc tế, sự
cần thiết phải nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN.
- Luận văn phân tích quá trình hình thành và phát triển HTPL của Việt Nam
và thực trạng nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam hiện nay.
- Từ nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn và các quan điểm cơ bản của
Đảng và Nhà nước Viột Nam, luận văn xác định một số phương hướng chủ yếu và đề
xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nội luật hoá các công ước quốc tế về QCN
trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về nội luật hoá các Công ước quốc tế về QCN.
Chương II: Quá trình nội luật hoá các Công ước quốc tế về QCN ở Việt Nam.
Chương III: Phương hướng, giải pháp nội luật hoá QCN trong sự nghiệp đổi
mới đất nước.
6
CHƯƠNG I
_
.
_
2. t
A
A
_
_
_
_
_
Ạ ____________________________
C ơ SỞ LÝ LUẬN “NỘI LUẬT HOÁ” CÁC CÔNG ƯỚC
«
•
•
QUỐC TẾ VỂ QUYỂN CON NGƯỜI
I. QUYỂN CON NGƯỜI VÀ CÔNG ước QUỐC TỂ VỀ QUYỂN CON NGƯỜI
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển quyền con người
Nếu xem xét QCN từ góc độ lịch sử (qua các hình thái kinh tế, xã hội trong lịch
sử) thì QCN cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao, ngày càng phát triển cả về
chiều sâu và chiều rộng với nội dung phong phú, đa dạng.. . Đến nay QCN không chỉ
được xuất hiện từ những quan niệm, quan điểm của các nhà tư tưởng kinh điển vĩ đại,
nó còn được ghi nhận trong HTPL trong nước và pháp luật quốc tế. Vì vậy QCN đã và
đang trở thành mối quan tâm, những vấn đề mang tính toàn cầu trong đời sông của
cộng đồng nhân loại.
Mặc dù QCN có quá trình hình thành và phát triển gắn liẻn với lịch sử phát triển
của xã hội. Nhưng không phải khái niệm hay chế định về QCN được đề cập đến từ khi
xuất hiện loài người, mà nó chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp. Trong xã
hội ấy, nhu cầu đòi hỏi phải xác lập những sự bình đẳng trong xã hội giữa hai giai cấp
thống trị và bị trị đã đánh dấu sự hình thành QCN trong lịch sử. Từ đó đến nay các vấn
đề về nhân quyền liên tục phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ những tư tướng giải
phóng con người đến các cuộc cách mạng đã giành lại cho con người những quyền cơ
bản vốn có của họ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý ở các cấp độ khác nhau
(quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới). Chúng ta có thể phân tích sự hình thành và phát
triển các quyền của con người qua bốn giai đoạn cụ thể sau [1, tr.7-19].
*
Giai đoạn thứ nhất: (Giai đoạn xuất hiện tư tưởng về QCN). Trong thực tế tư
tưởng về QCN ra đời từ rất sớm, cùng với sự ra đời của Nhà nước. Bước đầu chỉ là
những quan niệm, tư tưởng và nhận thức sơ khai về QCN, ở thời kỳ này QCN đã dẩn
phát triển. Từ những tư tưởng đó, nó đã nhanh chóng được đề cập trong các đạo luật,
bộ luật ở xã hội cổ đại (như trong bộ luật La Mã cổ đại, Luật Manu, Luật Hamurabi...)
7
trong đạo luật của vua Babilon (Hoàng đế Hamurabi) thế kỷ 18 TCN đã ghi nhận: “Ta
thiết lập những điều luật này nhằm ngăn ngừa kẻ mạnh áp bức kẻ yếu”[l, tr.7]. Có thể
nói, bộ luật này tuy là công cụ phục vụ cho mục đích thống trị, nhưng phần nào đó nó
cũng đã chứa đựng được tư tưởng về bình đẳng, nhân đạo và dân chủ. Cũng trong giai
đoạn này, trong xã hội Trung Quốc cổ đại đã sớm xuất hiện quyền bình đẳng tự nhiên
của con người, quyền tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân đã được Mặc Tử đề cập
tới (478 - 392 TCN).
Đến thời Trung cổ, QCN tiếp tục phát triển. Với vai trò thống soái, can thiệp vào
các lĩnh vực chính trị xã hội của giáo hội, tôn giáo đã chi phối mọi hoạt động của đời
sống xã hội. Điều đó được thể hiện trong các học thuyết thần quyền của mình Thomas
Đa canh (1225 - 1274). Khi đề cập đến vấn đề con người ông cho rằng: “ Thần dân có
quyền sống, hôn nhân và sinh đẻ, nhà cầm quyền không thể xâm phạm” hay quan niệm
“quyền lực nhân dân tối cao" của nhà tư tưởng Arập Abum Ala Maari (973 - 1057) đã
đánh giá và đề cao vai trò của con người trong xã hội. Qua đó cho thấy, mặc dù ở thời
kỳ này, tư tưởng về QCN còn chưa phổ biến, dưới góc độ Nhà nước và pháp luật thì
chưa được phản ánh đầy đủ.
Nhưng khi chúng ta xem xét về nguồn gốc của tư tưởng nhân quyền thì ít nhiều
giữa các tư tưởng ở các giác độ khác nhau (tôn giáo, triết học và pháp luật) đã bước đầu
có sự kết hợp hài hoà. Mặt khác nó cũng đã thể hiện được nhu cầu, khát vọng của quần
chúng nhân dân trong xã hội về QCN, điều đó thể hiện là các tư tưởng, quan điểm này
đều liên quan, gắn bó với đời sống xã hội của con người, hướng tới tự do, nhân đạo và
đề cập đến một số yêu sách chính trị. Với sự xuất hiện các tư tưởng về QCN ở thời kỳ
này, mặc dù còn mang tính sơ khai, nhưng nó đã đặt nền móng quan trọng trong lịch sử
hình thành và từng bước phát triển QCN trong đời sống nhân loại.
VI vậy, như ở trên đã nêu, mặc dù quốc gia có những điều kiện kinh tế, chính tri
xã hội khác nhau, tổ chức bộ máy Nhà nước và nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước
cũng như các yếu tố khác có tác động ảnh hưởng sâu sắc đến việc đảm bảo nhân quyền
thì tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể của mỗi nước để chuyển hoá được các quy
định của pháp luật quốc tế vào HTPL trong nước, có thể hình thức chuyển hoá là khác
nhau (như chuyển hoá, tiếp nhận trực tiếp hoặc ban hành các quy định mới nhắc lại nội
dung của các CƯQT, hoặc sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật trong nước cho
8
phù hợp với CƯQT để tham gia công ước đó...).
*
Giai đoạn thứ hai: (Giai đoạn hình thành và hưng thịnh các tư tưởng học
thuyết về QCN)
Xã hội phong kiến ra đời đã xoá bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội mà ở
đó con người chỉ được coi là “công cụ biết nói”, mặc dù "trên thực tế, địa vị của người
nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ" [2, tr.87] quyền
con người không được bảo vệ thể hiện: "... ở đâu người nông dân cũng được đối xử
như một đổ vật, như một súc vật thô" [3, tr.471]. Chính vì vậy, Nhà nước phong kiến đã
đánh dấu một sự tiến bộ và phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên Nhà nước phong
kiến đã thiết lập HTPL phong kiến với những quy định khắt khe hà khắc, sự phân biệt
sâu sắc đẳng cấp cùng với điều kiện phát triển kinh tế, chính trị khép kín đã triệt tiêu,
kìm hãm sự phát triển QCN mọi quyền lực tập trung vào tay nhà vua "sự tuỳ tiện là
quyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tuỳ tiện" [4, tr.335] trong khi quyền tự
do, dân chủ của con người vẫn là những nhu cầu trực tiếp bức súc mà nhân loại vươn
tới. Vì vậy các cuộc đấu tranh chống lại giai cấp thống trị tiếp tục diễn ra. Với sự ra đời
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Tây âu, giai cấp tư sản ngày
càng lớn mạnh dương cao các khẩu hiệu về bình đẳng, tự do, dân chủ, bác ái... vì thế đã
nhanh chóng thu hút, tập hợp đông đảo các lực lượng tiến bộ xã hội tiến hành các cuộc
đấu tranh không khoan nhượng, chống lại chế độ chuyên chế phong kiến và các tầng
lớp thượng lun quý tộc, nhà thờ. Sự phục hưng và phát triển các giá trị nhân vãn ở thời
kỳ cổ đại đã mang lại thắng lợi cho cách mạng tư sản, một hình thái kinh tế xã hội mới
xuất hiện, hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn này QCN không chí
được thể hiện qua tư tưởng mà nó còn kế thừa, phát triển những tư tưởng tiến bộ thời kỳ
cổ đại thành các học thuyết pháp lý tự nhiên của giai cấp tư sản. Với những quan niệm
coi quyền này là quyền bẩm sinh của con người. Sự ra đời của Nhà nước và pháp luật
chỉ là sự thoả thuận thông qua ý chí của con người, xác lập nên mối quan hệ giữa Nhà
nước với công dân, những mối quan hệ giữa con người với con người. Từ đó phủ nhận
quan niệm cho rằng nguồn gốc của Nhà nước và pháp luật là do thượng đế, chúa trời
hay các tôn giáo, kinh thánh... tạo ra, quy định nên.
Những tư tưởng, quy định của pháp luật thời kỳ này vẫn còn có những hạn chế
9
nhất định, nhưng nó đã thể hiện những nội dung, tư tưởng tiến bộ góp phần cổ vũ, động
viên, thúc đẩy con người tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại sự ngự trị của vương
quyền và thần quyền đối với con người, phục hưng lại các giá trị nhân văn cao quý của
nhân loại theo tinh thần nhân đạo tư sản.
Đến thế kỷ 18, Monstesquieu, một trong những nhà tư tưởng khai sáng pháp đã
kế thừa và phát triển học thuyết về quyền tự nhiên của con người, trong tư tưởng của
Locke, theo ông "con người sinh ra vốn bình đẳng và cần phải được bảo vệ ở các chế
độ xã hội" và "Trong trạng thái tự nhiên, mọi người sinh ra bình đẳng" [5, tr.87].
Monstesquieu cũng như các nhà khai sáng Pháp đã cổ vũ cho cách mạng tư sản Pháp,
phủ nhận vai trò của thần quyền, giáo hội... ở thời kỳ trước đối với con người.
Đến thế kỷ 19 nhà duy tâm khách quan Hegel và các tư tưởng vĩ đại trong thời
kỳ này như John Locke, J.J Rouseau... tiếp tục kế thừa, phát triển các tư tưởng trước
đó để thiết lập, xây dựng các nguyên tắc cơ bản ban đầu về QCN, trách nhiệm của Nhà
nước phải bảo đảm quyền tự do của cá nhân, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân,
tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước (như cơ quan lập pháp,
hành pháp và tư pháp). Bởi vì con người sinh ra vốn là tự do và bình đẳng, vì vậy đòi
hỏi phải được bảo đảm những tự do bình đẳng đó cho con người.
Trong giai đoạn này, tự do, dân chủ, bình đẳng và bác ái... khòng chỉ là khẩu
hiệu mà phần nào nó đã bước đầu được gh nhận trong các vãn bản pháp lý như trong
đạo luật của Anh về các quyền (1689), Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) đã khẳng
định “Tất cả mọi người dàn đều sinh ra và có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống,
quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” [6, tr.96]. Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền
Pháp (1789) cũng như các vãn bản pháp lý khác của một sô' nước trên thế giới thời kỳ
này cũng tiếp tục khẳng định, ghi nhận và phát triển các QCN. Như vậy các tư tưởng
và các văn bản pháp lý trong giai đoạn này đã đánh dấu một bước tiến bộ phát triển vĩ
đại trong lịch sử phát triển QCN. Nhất là với việc ghi nhận QCN thành những chế
định trong các văn bản pháp lý, như Jacques Mourgon đã khẳng định: "không có
pháp luật thì không có quyền" [7, tr.ll] góp phần cống hiến cho nhân loại một trong
những giá trị nhân văn cao cả.
10
* Giai đoạn thứ ba: (Từ cuối thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ
hai - tư tưởng về QCN bị lắng chìm).
Sau khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản đã bộc lộ những tính chất
phản động của mình, từ bỏ ngọn cờ dân chủ, tự do, binh đẳng, bác ái mà họ đã giương
cao trong cuộc cách mạng trước đó. Vì thế các tư tưởng cũng như quy định về QCN
trong giai đạo này tạm thời chìm lắng. Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, cùng với những cuộc chạy đua vũ trang, tranh giành
lợi nhuận, sự phân biệt chủng tộc... đã đưa con người tới một thảm hoạ của hàng trăm
cuộc đấu tranh đẫm máu nổ ra khắp nơi trên thế giới. Các cuộc chiến tranh đi qua để
lại những hậu quả khủng khiếp cho nhân loại, hàng chục vạn mạng sống của con người
đã bị cướp đi, sự tàn phá, huỷ diệt môi trường sống vẫn còn ảnh hưởng nặng nề cho đến
ngày nay, bệnh tật, nghèo nàn, lạc hậu cũng là hậu quả tất yếu mà cuộc chiến đó đã để
lại cho con người... Như vậy, sau một thời kỳ QCN phát triển mạnh mẽ. QCN lại bị vi
phạm trong đời sống xã hội. lịch sử nhân loại lại một lần nữa chứng kiến sự lắng chìm
và lãng quyên vấn đề QCN.
* Giai đoạn thứ tư: (Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay - thời kỳ
phát triển của tư tưởng về QCN)
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đổng minh chống phát
xít đã giành thắng lợi. Song lực lượng tiến bộ trên thế giới cũng như nhân loại vẫn
kinh hoàng về hậu quả của các cuộc chiến tranh. Trước tình hình đó các quốc gia
nhận thức rằng QCN không chỉ bảo đảm ở phạm vi quốc gia mà cần phải được bảo
vệ trên phạm vi toàn cầu.
Nếu ở các giai đoạn trước, tư tưởng, quan điểm trong nhận thức về tự do, dân
chủ, bình đẳng của mỗi con người và vấn đề bảo vệ quyền cơ bản của con người đã
được đề cập, ghi nhận ở mức độ trong phạm vi các quốc gia. những chuẩn mực quốc tế
cần phải được ghi nhận thành những chế định pháp lý, trên cơ sở đó, để ràng buộc
trách nhiệm pháp lý đối với mọi quốc gia thì ở giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử.
cộng đồng quốc tế đã quan tâm và đảm nhận trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ nhân
quyền, đưa QCN vào thực hiện trong đời sống cộng đổng quốc tế. Với Hiến chương
Liên hợp quốc ngày 24 tháng 10 năm 1945 và Tuyên ngôn nhân quyền tháng 12 năm
11
1948 thể hiện nội dung về bảo vệ QCN không chỉ ở cấp độ quốc gia mà nó còn được
bảo vệ trên phạm vi toàn cầu. Những quyền tự do cơ bản của con người lần đầu tiên
được khẳng định trong các văn bản pháp lý quốc tế. từ đó đến nay, QCN đã không
ngừng được mở rộng và phát triển, Với hàng chục công ước quốc tế về QCN được các
quốc gia thừa nhận và cam kết thực hiện (như Công ước chống tội diệt chủng (1948),
Công ước chống phân biệt chủng tộc (1965), các công ước về tỵ nạn (1951), Công ước
về các quyền chính trị của phụ nữ (1952), Công ước về các quyền dân sự, chính trị của
con người và Công ước các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (1966) .... và các hiệp định,
hiệp ước hay nghị định thư về QCN được Liên hợp quốc thông qua trong những năm
gần đây, trong đó có những công ước thể hiện tính nhân đạo, ghi nhận tinh thần trách
nhiệm sự quan tâm tôn trọng và bảo đảm thực hiện QCN của cộng đồng quốc tế.
Như vậy, QCN đã được hình thành, kế thừa và phát triển qua các giai đoạn khác
nhau, từ chỗ chỉ được thể hiện trong tư tưởng, quan niệm về con người, QCN. Đến nay
nó đã được ghi nhận, phát triển mở rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại.
QCN cũng đã được đề cập đầy đủ và toàn diện hơn trong các văn kiện pháp lý quốc tế.
Các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ quốc tế đảm bảo thực hiện QCN đã được xác
lập, phù hợp với sự phát triển tiến bộ, đúng quy luật của thời đại. đáp ứng đưạc các nhu
cầu bức súc, những đòi hỏi của con người là phải tôn trọng những phẩm giá vốn có của
con người, quyền tự do, bình đẳng giữa con người với con người trong mỗi quốc gia,
khu vực và trên phạm vi toàn cẩu. Góp phần giữ vững an ninh hoà bình thế giới.
1.2. Khái niệm quyền con người và luật quốc tế về quyền con người.
1.2.1. Khái niệm quyền con người
Trong thực tiễn cũng như trên phương diện lý luận, QCN là một trong những
vấn đề nhạy cảm. Hiện nay QCN đã và đang được xác định là mối quan tâm hàng đầu
của mọi quốc gia và cộng đồng nhân loại. Trong lừng giai đoạn phát triển khác nhau
của lịch sử xã hội và cho đến nay luôn có các cuộc tranh luận với những quan điểm,
cách tiếp cận cũng như quan niệm khác nhau về QCN. Xác định khái niệm QCN là một
trong những khó khăn phức tạp tồn tại trong quá trinh hình thành, phát triển QCN. Đến
ngày nay, mặc dù trong luật quốc tế hiện đại, đã cố quy định những nguyên tắc cơ bản
về thực hiện các cam kết quốc tế nói chung và các cam kết quốc tế về QCN nói riêng
12
thì việc bảo đảm thực hiện QCN, quan niệm, nhận thức về nó vẫn luôn có những
khoảng cách và sự khác nhau, đôi khi mâu thuẫn, trái ngược nhau. Việc phân tích,
nghiên cứu về con người, QCN để nâng cao nhận thức từ đó có những quan điểm đúng
đắn trong nhìn nhận đối với QCN là một trong những vấn đề bức súc có tính thời đại.
Có nhận thức đúng đắn về QCN thì trên cơ sở đó chúng ta mới xác định được những
nội dung, điều kiện cần thiết để xây dựng những cơ chế, chính sách pháp luật trong
nước và quốc tế phù hợp với yêu cầu đấu tranh và bảo vệ con người. Trong thế giới
hiện đại, hoàn thiện HTPL trong việc bảo vệ QCN là rất cần thiết và cần được ưu tiên
hàng đầu.
Trong lịch sử, nhận thức về QCN xuất hiện từ rất sớm. nhưng khái niệm về QCN
phải đến thế kỷ 17, 18 mới được đề cập trong tư tưởng của các nhà tư tưởng nổi tiếng và
nó đã trở thành học thuyết về QCN. Trong thực tiễn QCN đã được các quốc gia nhanh
chóng tiếp cận, vì thế nó đã ưở thành vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị của mỗi
quốc gia và nhanh chóng được tiếp tục quốc tế hoá. Bởi vậy khái niệm QCN đến nay vẫn
vô cùng phức tạp ở phạm vi quốc gia, khu vực cũng như trên bình diện quốc tế. Các quan
niệm về QCN được thể hiện ỏ các khía cạnh khác nhau, trong các khía cạnh ấy, có khía
cạnh đề cập đến QCN trong xu thế tuyệt đối hoá giá trị tự nhiên, cho rằng “ Con người
thì đương nhiên phải có QCN, bản thân con người cũng là sản vật của tự nhiên sinh ra”
(2) và QCN là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người. Cũng trong quan niệm về giá trị
tự nhiên của QCN, nhưng ở thòi kỳ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã tác động
trực tiếp vào đòi sống xã hội thì QCN trở nên phức tạp hơn.
Bên cạnh những quan niệm này còn có nhiều quan niệm khác về nhân quyền
như có quan niệm nhấn mạnh về nội dung đạo đức của con người, có quan niệm lại đề
cao các bản tính vốn có của con người, coi tự do lằ là giá trị tối cao và phổ biến “ nhân
quyền cao hơn chủ quyền” “ nhân quyền không biên giới quốc gia”. Vì thế nhân quyền
là điểm xuất phát, cũng là đích cuối cùng là giá tri cao nhất trong mọi giá trị.... có thể
nói còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về QCN, có khi trái ngược nhau. Khái niệm
nhân quyền là một vấn đề phức tạp. nó luôn chứa đựng những yếu tố mâu thuẫn cả
trên thực tiễn cũng như lý luận. Bởi lẽ QCN vừa thể hiện những giá trị chung, phổ biến
lại vừa mang những giá trị đặc thù riêng biệt. Vừa trừu tượng lại vừa cụ thể... QCN thể
13
hiện những khả năng xu hướng và nhu cầu cần được xã hội thừa nhận và Nhà nước đảm
bảo thực hiện trong thực tiễn của đời sống xã hội.
V
Theo quan niệm chung hiện nay: "Quyền con người
là
những năng lực, nhu
cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại
được thể chế hoá bằng pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế [8, tr.26]
Từ những quan niệm khác nhau ở trên, chúng ta có thể hiểu tổng quát về khái
niệm QCN như sau: "QCN, khả năng tự nhiên và khách quan của con người, với tư
cách là con người và là thành viên trong xã hộị, được đảm bảo thực hiện bởi HTPL
iquốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế về các giá trị cao quý của con người trong
các quan hê về vật chất, văn hoá và tinh thần, các nhu cầu về tự do, phát triển"
QCN là khả năng của con người vì nó xuất hiện xu hướng, nhu cầu, quan niệm,
lợi ích, khát vọng và được xác định trong xã hội với những nội dung cụ thể. Trong
chuỗi quan hệ quyền - thực hiện quyền - bảo vệ quyền - kiểm soát quyền thì quyền mới
là thể hiện năng lực, lợi ích, ý trí...
QCN thể hiện khả năng tự nhiên và khách quan của con người, do con người
nắm giữ trong mối quan hộ với tự nhiên, xã hội, Nhà nước và với những cá nhân con
người khác. Mỗi con người sinh ra đã có những quyền bình đẳng, tự do, mưu cầu hạnh
phúc.
Con người tổn tại thực tế trong cuộc sống vừa với tư cách cá thể riêng biệt, vừa
với tư cách thành viên của cộng đồng xã hội, là cồng dân của một quốc gia, là thành
viên của nhóm, cộng đổng, hình thành nên xã hội loài người Fedeirico Mayer từng viết:
"Trong mỗi con người là duy nhất, song chỉ có một xã hội loài người” [1, tr.27].
QCN phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm truyền thống và
lịch sử quốc gia, được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận, điều chỉnh và luôn bị
hạn chế bởi các chế định pháp lý và đời sống thực tế. Bởi vì: "Quyền không bao giờ có
thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế
quyết định" [9, tr.36] QCN vừa cần đến nhà nước, xác nhận vai trò của Nhà nước trong
tổ chức xã hội, vừa đặt ra các yêu cầu hạn chế và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực từ
phía Nhà nước làm xâm hại đến QCN, "Quyền con người, quyền công dân khi được
14
Hiến pháp, luật ghi nhận trở thành độc lập với bất kỳ quyền uy nào kể cả cơ quan viên
chức Nhà nước cao nhất" [10, tr.50].
QCN phải được bảo vệ bằng pháp luật, được thể chế hóa trong pháp luật, là mục
đích của việc sử dụng pháp luật. Trong quan hệ với Nhà nước và pháp luật, nhân quyền
là mục tiêu còn Nhà nước và pháp luật là phương tiện, là công cụ thực hiện mục tiêu
đảm bảo QCN. Các QCN là các giá trị xã hội cần phải được quy phạm hoá bằng pháp
luật theo các yêu cầu xã hội khách quan. QCN là giá trị khách quan, vận động trong sự
ghi nhận của pháp luật một cách tất yếu, không thể tùy tiện "tặng cho", "ban phát",
cũng không thể "mở rộng" hay "thu hẹp" QCN theo ý trí chủ quan hoặc sự áp đặt hành
chính thuần tuý.
1.2.2. Luật quốc tế về quyền con người.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến chưa có những chế định cụ thể về
QCN ở trong HTPL quốc gia cũng như chưa hình thành HTPL quốc tế. Do đó QCN và
vấn đề bảo vệ con người chưa được đặt ra trong luật quốc tế. (Lúc này các QPPL quốc
tế điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực giữa các quốc gia ở
thời kỳ cổ đại và trung đại để giải quyết các vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, về chiến
tranh để thôn tính đất đai và nguồn nhân lực được thiết lập rất ít và giản đơn)
Cách mạng tư sản diễn ra dưới ngọn cờ tự do, dân chủ, bác ái và bình đẳng đã
giành được thắng lợi với sự tham gia đông đảo của nhân dân và các lực lượng tiến bộ xã
hội. Cách mạng tư sản đã để lại cho nhân loại những giá trị có ý nghĩa to lớn trong việc
bảo vộ nhân quyền. Đó là việc ghi nhận QCN bằng các chế định pháp lý cụ thể nhưng nó
đã thức tỉnh lương tri tiến bộ trên thế giới nhận thức và đấu tranh cho các quyền và tự do
cơ bản của con người. Tuy nhiên không được bao lâu, giai cấp tư sản đã phản động từ bỏ
ngọn cờ dân chủ, tự do, bình đẳng tiến bộ đó, để thực hiện mục đích chính trị của mình.
Vì vậy, QCN chỉ được ghi nhận trong pháp luật nhiều khi vẫn mang nặng tính hình thức.
Những khát vọng tự do và các quyền cơ bản của con người đã bị lắng chìm trong hai
cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc.
Đến những năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, đánh dấu bằng cách mạng tháng
mười Nga vĩ đại. QCN được xem xét và đề cập đến một cách khá toàn diện triệt để hơn
trong luật quốc tế hiện đại. Với tư tưởng của chủ nghĩa Mac Lênin quyền tự do cơ bản
15
của con người không những được ghi nhận mà nó còn được xem xét và bảo đảm thực
hiện trên cơ sở thực tiễn của các điều kiện kinh tế xã hội. Bằng những cơ chế chính
sách và chiến lược phát triển con người. QCN được ghi nhận trong HTPL quốc gia và
quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (như các quyền dân sự, chính trị,
quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, quyền của người già, trẻ em, quyền bình đẳng của
phụ nữ, quyền sống trong môi trường trong lành...) đã được cộng đổng quốc tế ghi
nhận bằng các văn kiện pháp lý quốc tế và các quốc gia thừa nhận cam kết bảo đảm
thực hiện. Như vậy, luật quốc tế hiện đại đã đặt con người vào vị trí trung tâm của xã
hội, QCN là mục đích của sự phát triển và trở thành tiếng nói chung của nhân loại
trong quá trình phát triển.
Tóm lại, QCN đã đã được đề cập đến từ thời cổ đại và trung đại, phát triển các
QPPL quốc tế trong thời kỳ cách mạng tư sản. Từ sau cách mạng tháng mười Nga đến
nay, luật quốc tế hiện đại đã ra đời và khẳng định vai trò vị trí của mình trong việc điều
chỉnh các mối quan hệ quốc tế nói chung và các quan hệ quốc tế về QCN nói riêng.
Nhằm đáp ứng các yêu cầu về hội nhập quốc tế, nội dung và nguyên tắc của luật quốc
tế về QCN đã phát triển mạnh mẽ trong HTPL quốc tế và quốc gia. Nhiều QPPL quốc
tế mới về vấn đề nhân quyền được thiết lập, nó đã điều chỉnh kịp thời các quan hệ về
vấn đề con người giữa các quốc gia, góp phần giữ vững ổn định hoà bình, an ninh thế
giới. Luật quốc tế về QCN đã tạo ra những chuẩn mực, khuổn khổ pháp lý để đảm bảo
thực hiện tôn trọng và bảo vệ QCN trên phạm vi toàn cầu.
IL QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA,
■
■
•
VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HOÁ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ.
■
•
2.1. Cơ sở lý luận về nội luật hoá công ước quốc tế về quyền con người.
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, nhất là trong những năm cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đã
tạo ra những chuyển biến lớn trong quan hộ quốc tế. Yêu cầu về hợp tác phát triển bền
vững và toàn cầu hoá đã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế, nhất là về
kinh tế, chính trị đã trở thành xu thế chung của thời đại. Với sự phát triển mạnh mẽ của
các quan hệ quốc tế, khoảng cách giữa các quốc gia đã được rút ngắn và tạo nên mối
16
quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, khu /ực và cộng đồng quốc tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ quốc tế, các QPPL quốc tế
cũng đã tăng lên đáng kể. Đặc biệt là các QPPL vềĐƯQT đã đặt ra vấn đề là mỗi quốc
gia sẽ áp dụng quy phạm ĐƯQT như thế nào chc phù hợp? Có thể áp dụng trực tiếp
ĐƯQT hay chỉ áp dụng khi ĐƯQT đó đã được ciuyển hoá thành QPPL trong nước?
Vấn đề này hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau cả về mặt lý
luận cũng như thực tiễn.
Để góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu ĐƯQT và pháp
luật quốc gia qua những khái niệm chung sau đây:
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do chủ thể của luật quốc tế thoả
thuận, ký kết, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm
dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Còn pháp luật quốc gia là hệ thống các QPPL, do Nhà nước đặt ra hoặc công
nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể của pháp luật [11, tr.7, 8]
Qua khái niệm trên chúng ta thấy rằng: ĐƯQT xác định những quy tắc xử sự
giữa các quốc gia trên phạm vi quốc tế, do vậy nó có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia
(khi tham gia ĐƯQT) và quốc tế. Còn pháp luật quốc gia chỉ có hiệu lực trong phạm vi
lãnh thổ của quốc gia. Vậy khi áp dụng các QPPL quốc tế có những điểm mâu thuẫn
với QPPL trong nưóc sẽ được xừ lý như thế nào, để đảm bảo cho ĐƯQT đó được tôn
trọng thực hiện đầy đủ?
Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các ĐƯQT được thực hiện theo quy định của Pháp
lênh về ký kết và thực hiện điều ưức quốc tế, cụ thể là “Trong trường hợp việc thực
hiện ĐƯQT đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành VBPL của CHXHCN Việt
Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình
kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành VBPL đó” (khoản 6 điều 11).
Ngoài ra trong các VBPL khác, thường có quy định mang tính công thức như
“Trong trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với
văn bản này thì áp dụng với các quy định của ĐƯQT đó”
Với những quy định như hiện nay, trong thực tiễn chúng ta chưa có quy định cụ
thể và thống nhất về vấn đề chuyển hoá các QPPL quốc tế vào trong các QPPL quốc
17
gia, do đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi lựa chọn và áp dụng sẽ rất lúng
túng, hoặc không đạt hiệu quả cao trong thực hiện ĐƯQT. Vì vậy vấn đề nội luật hoá
(hay chuyển hoá) các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng đã trở nên bức
súc trong thực tiễn áp dụng các QPPL quốc tế ...
Để khắc phục kịp thời những bất cập trong vấn đề này, thời gian qua đã có
nhiều cuộc hội thảo bàn luận đến các mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật
trong nước, trong đó đã đề cập đến vấn đề nội luật hoá các CƯQT, nhằm làm sáng tỏ
thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình áp dụng pháp luật quốc tế.
Trong đó đề tài : Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam và pháp
luật Việt Nam” do phó Giáo sư, tiến sĩ Hà Hùng Cường làm chủ nhiệm đã được triển
khai thực hiện. Đề tài đã quan tâm đến những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa
ĐƯQT và pháp luật Việt Nam; và nhắc đến việc chuyển hoá các quy phạm ĐƯQT vào
pháp luật trong nước khi quốc gia ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia, thảo luận về
chuyển hoá các quy phạm của ĐƯQT vào pháp luật quốc gia và thời điểm phát sinh
hiệu lực của ĐƯQT. Trong quá trình bàn luận đã có các loại ý kiến khác nhau về bản
chất của hành vi phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT như sau:
Ý kiến thứ nhất:
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia ký kết để quy định
các quyền và nghĩa vụ đối với các quốc gia, do đó nó khồng ràng buộc các cá nhân, tổ
chức của quốc gia ký kết. Để thực hiện các quyền và nghĩa vụ này đòi hỏi các quốc gia
phải chuyển hoá các QPPL quốc tế vào pháp luật quốc gia (xác định chuyển hoá là
trách nhiệm của mỗi quốc gia). Chỉ sau khi được chuyển hoá, ĐƯQT mới có hiệu lực
đối với cá nhân, tổ chức của quốc gia đó. Cách thức chuyển hoá được thực hiện bằng
phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành VBPL mới để "nội luật
hoá" các quy phạm của ĐƯQT.
THƯVlêN
TRƯONG ĐAI HOC LỦẬTHA NÒI
Ý kiến thứ hai:
PHONG G V
Sũ ỈT-----
Điều ước quốc tế có hiệu lực độc lập với pháp luật quốc gia, nhưng khi quốc
gia đã ký kết hoặc tham gia ĐƯQT thì quốc gia đã thể hiện ý chí của mình một
cách tự nguyện đối với việc thực hiện ĐƯQT đó. Hiệu lực của ĐƯQT và việc
chuyển hoấ là hai vấn đề khác nhau. Hiệu lực của ĐƯQT phát sinh theo các điều
18
kiện có hiệu lực của từng văn bản điều ước cụ thể, mà không phụ thuộc vào việc
quốc gia ký kết có thực hiện việc chuyển hoá hay không. Khi ĐƯQT có hiệu lực
đối với quốc gia ký kết, thì đương nhiên ràng buộc không chỉ quốc gia, mà còn ràng
buộc cả tổ chức và cá nhân của quốc gia đó. Không được chuyển hoá thì điều ước
vẫn có hiệu lực và việc không tận tâm thực hiện ĐƯQT đã ký kết sẽ dẫn đến trách
nhiệm pháp lý của quốc gia ký kết. Do đó, phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT không phải
là cách thức chuyển hoá ĐƯQT vào pháp luật quốc gia, mà là một trong những giai
đoạn của việc ký kết ĐƯQT [13, tr.12].
Trong thực tế, có một số ĐƯQT mà Nhà nước ta là thành viên không cần phải
chuyển hoá mà vẫn có hiệu lực như: Hiệp định tương trợ tư pháp, Hiệp định khuyến
khích và bảo hộ đầu tư... Tuy nhiên, có phần lớn những ĐƯQT chúng ta tham gia lại
đòi hỏi phải có sự chuyển hoá thông qua hoạt động sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành
VBPL mới như CƯQT về quyền trẻ em chúng ta dã chuyển hoá vào trong một VBPL
mới như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đồng thời nó còn được chuyển hoá
rải rác vào các VBPL khác (như BLHS, BLDS, Luật giáo dục. .
Qua đó cho thấy vấn
đề nội luật hoá rất phức tạp. Tuỳ thuộc vào tính chất, nội dung của mỗi ĐƯQT để xem
xét và quyết định có chuyển hoá hay không, hình thức chuyển hoá được thực hiện như
thế nào? để đảm bảo hiệu lực của ĐƯQT.
Theo ý kiến thứ nhất thì nội luật hoá được hiểu là sự chuyển hoá các quy định
của HTPL ở bên ngoài vào HTPL trong nước cho phù hợp với nhau, nhằm mục đích áp
dụng đồng bộ giữa hai hay nhiều HTPL với nhau. Nội luật hoá chính là sự chuyển hoá,
sự tiếp nhận và tạo ra sự phù hợp của HTPL trong nước với các QPPL quốc tế.
Như vậy, ĐƯQT khi được các chủ thể của luật quốc tế ký kết, phê chuẩn hoặc
tham gia thì tuỳ thuộc vào nội dung của nó. ĐƯQT có thể được áp dụng theo theo hình
thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
ở Việt Nam hiện nay vấn đề áp dụng ĐƯQT được thực hiện như sau:
1- Nếu nội dung của ĐƯQT không trái vói các quy định pháp luật trong nước
thì sẽ áp dụng trực tiếp (Chuyển hoá được coi như thực hiện ở giai đoạn quốc gia phê
chuẩn, ký kết ĐƯQT đó).
2. Nếu ĐƯQT không trái với các quy định của Hiến pháp, nhưng lại có nội
19
dung mâu thuẫn với đạo luật và các VBPL khác trong nước (các VBPL có giá trị pháp
lý thấp hơn Hiến pháp) thì ưu tiên áp dụng các ĐƯQT (ĐƯQT sẽ có hiệu lực cao hơn
so với đạo luật trong nước).
3.
Trong trường hợp ĐƯQT có mâu thuẫn với pháp luật quốc gia thì việc nội
luật hoá được thực hiện bằng hoạt động sửa đổi, bó sung hoặc ban hành VBPL mới (cụ
thể ban hành một văn bản luật, pháp lệnh... kịp thời cho phù hợp) để chuyển hoá các
QPPL trong ĐƯQT trở thành các QPPL trong HTPL quốc giaệvới quan điểm này đã
đề cập hoạt động nội luật hoá trong mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế với pháp luật
quốc gia. Trong đó xác định hiệu lực pháp lý của ĐƯQT cao hơn hiệu lực pháp lý của
pháp luật quốc gia và coi những điều ước quốc tê mà quốc gia đó ký kết, phê chuẩn
tham gia là một bộ phận cấu thành của HTPL trong nước. Đổng thời, đề cao tính tối
cao của Hiến pháp.
Tóm lại, nội luật hoá các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng đó là
hoạt động chuyển hoá, tiếp nhận các QPPL quốc tế vào HTPL quốc gia, theo những
nguyên tắc, chuẩn mực của luật quốc tế.
Trong thời đại ngày nay, việc tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng hội nhập
để phát triển là một yêu cầu khách quan. Thực tiễn trong những năm gần đây đã khẳng
định rõ điều này, khi quá trình quốc tế hoá các lĩnh vực trong đời sống của cộng đồng
nhân loại đang diễn ra mạnh mẽ, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Vì vậy,
mỗi quốc gia, trong tiến trình hội nhập quốc tế để đảm bảo được quyền, lợi ích quốc
gia và tuân thủ, thực hiện các nghĩa vụ trong cam kết của mình khi tham gia, phê
chuẩn, ký kết hoặc công nhận các ĐƯQT nói chung và các công ước quốc tế về QCN
nói riêng, đểu có những quan điểm, nhận thức trong việc lựa chọn các hình thức công
nhận, chuyển hoá các QPPL quốc tế vào HTPL trong nước.
Như vậy, nội luật hoá các ĐƯQT nói chung và các CƯQT về QCN nói riêng là
cần thiết. Tuy nhiên việc quan niệm, nhận thức và lựa chọn hình thức chuyển hoá nào
cho phù hợp còn tuỳ thuộc vào các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội cũng
như các yếu tố khác của mỗi quốc gia. Có như vậy các quốc gia mới “tìm kiếm” được
sự phù hợp, tạo ra cơ sở pháp lý đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc của luật quốc
tế cũng như các ĐƯQT mà quốc gia ký kết hoặc tham gia.
20
Vấn đề nội luật hoá (hay chuyển hoá) các 3PPL quốc tế trong các ĐƯQT nói
chung, cũng như CƯQT về QCN nói riêng, đã được đề cập trong quá trình hình thành và
phát triển của các CƯQT. Đến nay, có nhiều quan điểm cho rằng khi ĐƯQT được các
chủ thể của luật quốc tế tham gia, ký kết, hoặc phé chuẩn thì phải có hiệu lực thi hành
ngay đối với mỗi cá nhân, tổ chức ở mỗi quốc gia. Bởi vì những người ủng hộ quan niệm
này họ cho rằng ĐƯQT sẽ trở thành một bộ phận câu thành của HTPL quốc gia khi quốc
gia nào đó ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia công ưóc, vì thế nó có hiệu lực thi hành ngay
đối với quốc gia mà không cần phải thực hiện chuyển hoá bằng các hình thức ban hành
VBPL, các văn bản để hướng dẫn thực hiện, việc quốc gia ban hành hoặc quy định các
cơ chế để thực hiện là công việc nội bộ của quốc ga. Nếu CƯQT khi được các chủ thể
của luật quốc tế phê chuẩn, ký kết hoặc tham gia mà phải tiến hành nội luật hoá, thông
qua hoạt động ban hành VBPL thì nó sẽ tạo ra những trở ngại cho việc thực hiện về
ĐƯQT, làm chậm trễ quá trình thi hành, gây sức ỳ và không đảm bảo nguyên tắc của
luật quốc tế đối với việc thực hiện ĐƯQT. Mặt khác hoạt động ban hành văn bản sẽ gây
tốn kém về kinh phí và không thể hiện tính khoa học. Trong thực tiễn các quốc gia trong
quá trình gia nhập, phê chuẩn, ký kết ĐƯQT phải có trách nhiệm xem xét kỹ lưỡng, thận
trọng và cân nhắc, quyết định có gia nhập hay không để lựa chọn sao cho phù hợp với
các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia mình, phù hợp với các quy định
trong HTPL trong nước (đảm bảo lợi ích của quốc gia).
Có không ít ý kiến cho rằng về thứ bậc thì các QPPL quốc tế có hiệu lực pháp lý
cao hơn QPPL trong nước, hay nói cách khác ĐƯQT là một bộ phận cấu thành trong
HTPL quốc gia và có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp và cao hơn các VBPL khác ở HTPL
trong nước. Vì vậy không cần phải thực hiện nội luật hoá, khi quốc gia ký k ế t, phê
chuẩn hoặc tham gia thì CƯQT đó đương nhiên có hiệu lực (quốc gia phải có nghĩa vụ
thực hiện) hoặc họ quan niệm rằng nội luật hoá (chuyển hoá được thực hiện trong giai
đoạn đàm phán, thương lượng, thoả thuận).
Cũng có những ý kiến đề cập đến quá trình chuyển hoá các ĐƯQT theo hai hình
thức đó là áp dụng trực tiếp ĐƯQT nếu nội dung của điều ước này không có mâu thuẫn
với các quy định của pháp luật trong nước. Trong trường hợp ĐƯQT có những quy
định phức tạp, chứa đựng những mâu thuẫn nhất định với Hiến pháp thì sẽ áp dụng