1
“MẠNG HÓA” ĐỂ TRUYỀN HÌNH CÓ THỂ CẠNH TRANH
VỚI TRUYỀN THÔNG MỚI
Tóm tắt:
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của truyền thông mới đang đặt ra nhiều
thách thức cho truyền hình truyền thống, từ việc thay đổi thói quen xem truyền
hình của công chúng đến việc làm giảm lượng khán giả và doanh thu quảng cáo.
Tuy nhiên, với việc sở hữu nguồn tài nguyên phong phú nhất, truyền hình truyền
thống sẽ vẫn có chỗ đứng nếu kịp thời chuyển đổi trên nền tảng số và biết tranh thủ
các cơ hội mà truyền thông mới mang lại. Để làm được điều đó, truyền hình phải
được “mạng hóa” cả về nội dung, hình thức thể hiện, truyền dẫn phát sóng, quảng
bá chương trình và quảng cáo, kinh doanh nhằm tạo ra những tác phẩm phục vụ
được cả khán giả trên môi trường internet và di động.
Từ khóa: mạng hóa, truyền hình, truyền thông mới, mạng xã hội, cạnh tranh, khán
giả, doanh thu
1. Truyền thông mới và những thách thức đặt ra cho truyền hình
Sự phát triển bùng nổ của internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội và
công nghệ di động 3G, 4G những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đã tạo nên
một thế giới truyền thông mới, khác cơ bản so với truyền thông truyền thống. Các
kênh truyền thông mới ra đời như mạng xã hội (Facebook, Twitter, Youtube,…) và
báo đa phương tiện đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức tiếp nhận, chia sẻ và phản
hồi thông tin của công chúng.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đề cập tới một phương tiện
truyền thông mới hay một loại hình truyền thông mới cụ thể. “Truyền thông mới”
được nhắc đến ở đây là tổng hợp các kênh truyền thông cho phép công chúng tiếp
nhận, chia sẻ và phản hồi thông tin được lưu trữ trong các định dạng kỹ thuật số,
thông qua kết nối internet và di động. Các nội dung đó có thể đến từ báo in (phiên
bản điện tử - e-paper), báo điện tử (phiên bản di động - mobile), báo phát thanh
hay truyền hình (phiên bản trực tuyến, di động), nhưng cũng có thể là những nội
dung hoàn toàn mới được tạo ra bởi cộng đồng mạng xã hội và được chia sẻ rộng
rãi trên môi trường đó. Ngoài ra, các thiết bị công nghệ thông minh cũng cho phép
công chúng tương tác và tham gia vào quá trình xây dựng nội dung truyền thông.
2
Nói cách khác, “truyền thông mới” là quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin trên
nền tảng công nghệ số, thoát khỏi giới hạn của các định dạng truyền thông kiểu cũ
như báo giấy, sách, tạp chí, phát thanh, truyền hình, cho phép công chúng truy cập,
chia sẻ, phản hồi thông tin vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu.
Sự phổ cập của internet và thiết bị di động thông minh cùng với giá các gói
cước 3G nằm trong nhóm thấp nhất thế giới đã giúp cho cho truyền thông mới tại
Việt Nam có bước phát triển dài chỉ trong một thời gian ngắn. Theo số liệu của Bộ
Thông tin và Truyền thông, đến hết năm 2016, tỷ lệ người sử dụng internet ở nước
ta là 62,76% (tương đương khoảng 57 triệu người) và tỷ lệ thuê bao di động đạt
khoảng 131 thuê bao/100 dân.[1] Ở quy mô thế giới, bảng xếp hạng “Inclusive
Internet Index” của Economist công bố tháng 3/2017 cho thấy Việt Nam đang
đứng thứ 32 thế giới về độ phổ cập internet.[8] Với mạng xã hội lớn nhất toàn cầu
Facebook, Việt Nam hiện có khoảng 35 triệu người dùng, chiếm 1/3 dân số. Trong
bối cảnh đó, truyền hình truyền thống phải đối mặt với không ít thách thức mà
truyền thông mới đặt ra.
Một là, truyền thông mới thay đổi thói quen xem truyền hình của công chúng.
Ngày nay, rất hiếm gia đình hay cá nhân không sở hữu một phương tiện có thể
tương tác được (điện thoại, máy tính bảng, smart TV...). Từ chỗ bị động, hạn chế
kênh tiếp nhận thông tin, giờ đây, công chúng có thể chủ động tạo ra một, thậm chí
nhiều kênh thông tin của riêng mình.
Báo cáo về “Xu hướng đa nền tảng tại Việt Nam năm 2015” của Nielsen chỉ
ra rằng người Việt Nam xem video trực tuyến nhiều nhất Đông Nam Á với 24,7
giờ/tuần (tương đương hơn 3 ngày làm việc) và 92% người được hỏi nói rằng họ
xem video trực tuyến hàng tuần. Tỷ lệ xem video mỗi ngày cũng có sự gia tăng
đáng kể qua từng năm. Theo báo cáo này, trong 4 năm vừa qua, tỉ lệ xem video
trực tuyến mỗi ngày đã tăng từ 10% lên đến 64% trong số những người sử dụng
internet tại Việt Nam. Ngay cả khán giả ít quan tâm đến truyền hình nhất cũng đã
dành gấp đôi thời gian cho các video trực tuyến. Khoảng thời gian từ 20h00 đến
3
22h00 vốn được coi là khung giờ vàng của truyền hình cũng chính là khung giờ có
nhiều người xem video trực tuyến nhất.[7]
Hai là, truyền thông mới cạnh tranh khán giả với truyền hình. Theo “Báo
cáo thị trường truyền thông Việt Nam năm 2011” của TNS, trong khoảng thời gian
từ năm 2006 đến 2011, tỷ lệ người theo dõi truyền hình trên phạm vi cả nước đã có
sự sụt giảm khá rõ rệt ở mọi nhóm tuổi, trong đó, sự suy giảm mạnh nhất xảy ra ở
nhóm tuổi trung niên (35 - 44 tuổi). Năm 2006, thời gian xem truyền hình trung
bình của khán giả nhóm tuổi này là khoảng 245 phút, nhưng đến năm 2011 giảm
chỉ còn chưa tới 170 phút.[5] Bên cạnh đó, hiện nay, trước sức ép cạnh tranh, các
tờ báo in truyền thống và các trang mạng cũng đều phải bổ sung chức năng thông
tin bằng video. Vì thế, các đài/kênh truyền hình đang bị cạnh tranh khán giả dữ dội
hơn bao giờ hết.
Ba là, truyền thông mới hút dần quảng cáo của truyền hình. Trong khi quảng
cáo trên Facebook hay Youtube có thể nhắm chính xác đến những người dùng
thường xuyên dựa trên những đặc điểm cá nhân của từng người, thì các đài/kênh
truyền hình lớn thường lại biết quá ít về những khán giả của mình. Ở quy mô toàn
cầu, theo tổ chức quảng cáo Interactive Advertising Bureau (IAB) và công ty cung
cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn thuế hàng đầu thế giới PricewaterhouseCoopers
(PwC), năm 2016, doanh thu quảng cáo trực tuyến (trên máy tính, di động) đã vượt
doanh thu quảng cáo truyền hình. Cụ thể, quảng cáo kỹ thuật số đã thu được 72,5 tỷ
USD trong năm 2016, cao hơn mức 71,3 tỷ USD mà ngành công nghiệp quảng cáo
trên truyền hình thu được trong cùng năm. Dự báo, trong những năm tới, khoảng
cách giữa doanh thu quảng cáo trực tuyến và truyền hình sẽ còn tiếp tục được nới
rộng.[4] Còn tại Việt Nam, theo số liệu của Công ty TNS, doanh thu quảng cáo danh
nghĩa1 của toàn thị trường truyền hình năm 2016 giảm 27,89 triệu USD (tương
đương hơn 610 tỷ đồng) so với năm 2015. Trong đó, doanh thu của 10 kênh dẫn đầu
thị trường giảm 21,14 triệu USD (tương đương 465 tỷ đồng).
Doanh thu quảng cáo danh nghĩa là doanh thu tính bằng số lượng (spot) quảng cáo được đo lường tự động nhân
với đơn giá do đài/kênh truyền hình công bố. Doanh thu thực tế thường thấp hơn nhiều so với doanh thu danh nghĩa
do việc đặt chỗ quảng cáo theo GRP (nhà quảng cáo trả phí theo rating, nếu rating không đạt có thể sẽ không trả
phí). Đó là chưa kể các chính sách khuyến mại, giảm giá của đài/kênh truyền hình nhằm thu hút quảng cáo.
1
4
2. “Mạng hóa” - giải pháp để truyền hình có thể cạnh tranh với truyền thông
mới
Dù chịu sự cạnh tranh ngày một mạnh mẽ của truyền thông mới nhưng với
việc sở hữu nguồn tài nguyên phong phú nhất, truyền hình truyền thống vẫn sẽ có
chỗ đứng nếu kịp thời chuyển đổi trên nền tảng số và biết tranh thủ các cơ hội mà
truyền thông mới mang lại. Giải pháp chúng tôi đề cập ở đây là “mạng hóa” truyền
hình cả về nội dung, hình thức thể hiện, truyền dẫn phát sóng, quảng bá chương
trình và quảng cáo, kinh doanh.
Thứ nhất, về nội dung. “Mạng hóa” thể hiện ở việc các đề tài, câu chuyện
được bàn đến trong các chương trình phải gần gũi với các đề tài, câu chuyện đang
được cộng đồng mạng quan tâm. Thông qua môi trường mạng, người làm truyền
hình sẽ nhận định được đâu là các vấn đề đang được đề cập, thảo luận, thu hút
được sự chú ý nhiều nhất để điều chỉnh và triển khai các chương trình theo hướng
đó.
Ví dụ, những ngày tháng 3/2017, dư luận cả nước xôn xao về 3 nghi án ấu
dâm xảy ra tại Hà Nội, Vũng Tàu và TP HCM. Mối quan tâm lớn nhất của cả xã
hội vào thời điểm đó chính là vấn nạn ấu dâm. Điều đó đồng nghĩa, nếu các
chương trình của đài/kênh truyền hình nào tập trung vào các vấn đề xung quanh
nạn ấu dâm thì chắc chắn sẽ thu hút được đông đảo khán giả theo dõi. Đó là chưa
kể, sau khi phát sóng, nếu được đăng tải trên mạng xã hội, các chương trình này
cũng nhất định sẽ có nhiều người xem và chia sẻ.
Không chỉ các chương trình mang tính thời sự mới có thể “mạng hóa” về nội
dung mà ngay cả các bộ phim truyền hình cũng có thể áp dụng giải pháp này. Một
số bộ phim truyền dài tập rất thành công của VTV trong năm 2016 như Tuổi thanh
xuân hay Zippo, Mù tạt và em đã được thí điểm sản xuất theo kinh nghiệm của Hàn
Quốc là những minh chứng. Thay vì được sản xuất, “đóng gói” hoàn thiện trước
khi phát sóng, những tập cuối các các phim này đều để mở với nhiều cái kết khác
nhau. Căn cứ vào phản hồi và mong muốn của khán giả trên mạng xã hội, cái kết
nào được nhiều người ủng hộ nhất thì nhà làm phim sẽ kết phim theo hướng đó.
5
Thậm chí ở Hàn Quốc, các bộ phim giờ vàng của các đài KBS, SBS, MBC còn
được thực hiện theo phương thức vừa sản xuất vừa phát sóng (khoảng 2 tập/tuần)
để có thể điều chỉnh nội dung từng tập theo phản hồi của khán giả. Cách làm
chương trình dựa trên nhu cầu của khán giả như vậy rõ ràng sẽ hiệu quả hơn nhiều
so với việc “ép” khán giả phải theo dõi các chương trình được “đóng gói” từ trước
theo ý chí và quan điểm của nhà sản xuất.
Thứ hai, về hình thức thể hiện. Để thu hút các “công dân” của mạng xã hội,
những người làm truyền hình cần có các giải pháp về mặt thể hiện để làm mới các
chương trình sao cho phù hợp nhất với nhóm đối tượng này. Ví dụ, với các chương
trình tin tức, thay vì cách quay và dựng hình chỉn chu theo nguyên tắc truyền thống
“toàn - trung - cận”, nên thử nghiệm các cách quay và dựng hình mới, sử dụng
nhiều góc máy chủ quan, ưu tiên các cú máy động, quay một đúp… để tạo cảm
giác thật, nhằm làm cho những hình ảnh của tin tức truyền hình giống như hình
ảnh trong các video clip trên Youtube, giúp nhóm công chúng vốn quen với loại
hình ảnh này trên mạng cũng sẽ dễ xem ti vi truyền thống hơn.
Một cách thể hiện khác trong giải pháp “mạng hóa” là tăng sự tương tác với
khán giả và tạo cơ hội để khán giả được tham gia vào chương trình. Không chỉ là
đối tượng tiếp nhận thông tin, khán giả còn có nhu cầu phản hồi thông tin và chia
sẻ quan điểm, ý kiến của mình, đặc biệt là về các vấn đề nóng đang được nhiều
người quan tâm. Mạng xã hội sở dĩ có thể phát triển mạnh mẽ cũng chính là nhờ
đáp ứng được nhu cầu này của công chúng. Vì thế, để thu hút khán giả, các chương
trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình trực tiếp ở các thể loại phỏng vấn,
tọa đàm, phổ biến kiến thức, trò chơi… nên tích cực dành thời gian để khán giả
được nêu ý kiến, thắc mắc, chia sẻ thông tin, hình ảnh, câu chuyện của bản thân
thông qua việc gọi điện trực tiếp, nhắn tin tới chương trình hoặc bình luận trên
fanpage của chương trình. Điều này càng có ý nghĩa khi mà hiện nay, theo Nielsen,
90% người Việt Nam yêu thích sử dụng hai thiết bị cùng lúc và hầu hết đều thích
tương tác với các thiết bị truy cập internet khác ngay trong lúc họ đang xem ti vi,
bất kể họ ở nhóm tuổi nào.[7] Bữa trưa vui vẻ của kênh VTV6 là một trong những
chương trình thành công nhờ áp dụng cách thức này.
6
Thứ ba, về truyền dẫn phát sóng. “Mạng hóa” hiểu đơn giản là đưa tất cả các
chương trình lên mạng để khán giả có thể theo dõi thay vì phải lắp đặt các bộ thu
phát sóng truyền hình thông thường.
Trong các yếu tố quyết định một kênh hay một chương trình có được nhiều
người xem hay không thì khả năng tiếp cận kênh, chương trình đó của công chúng
được coi là điều kiện cần và đóng vai trò tiên quyết. Về mặt khách quan, khả năng
đó được quyết định bởi hạ tầng truyền dẫn, phát sóng. Hiện nay, ở rất nhiều khu đô
thị, khu chung cơ mới với số dân lên tới hàng vạn người, do sự độc quyền về cung
cấp các dịch vụ truyền hình cáp nên có những kênh truyền hình không thể đến với
khán giả nếu đi theo con đường truyền dẫn, phát sóng truyền thống. Nhưng với sự
ra đời của truyền hình trực tuyến và ti vi thông minh (smart TV), giờ đây, hạn chế
này đã được khắc phục. Việc “mạng hóa” khâu truyền dẫn, phát sóng giúp cho
truyền hình truyền thống vượt ra khỏi hạn định của những chiếc ti vi và đến với
nhiều khán giả hơn. Cũng chính phương thức phát sóng trực tuyến đã tạo cơ hội
cho khán giả xem được các chương trình yêu thích một cách dễ dàng hơn và góp
phần thu hút thêm nhiều khán giả trẻ đến với các chương trình truyền hình hơn.
Không chỉ giúp xóa đi ranh giới về không gian, “mạng hóa” còn giúp xóa đi
ranh giới về thời gian. Truyền hình internet giúp khán giả có thể xem lại chương
trình bất kỳ lúc nào họ muốn nhờ sự lưu trữ của các video trên mạng. Trước đây,
các chương trình truyền hình có một nhược điểm rất lớn là phần lớn chỉ phát sóng
một lần nên nếu khán giả nào bỏ lỡ thì sẽ không có cơ hội xem lại. Mức độ tác
động của các thông tin truyền hình vì thế cũng bị hạn chế. Nhưng giờ đây, nhờ
được lưu trữ trên môi trường mạng, các chương trình truyền hình có sức sống lâu
dài hơn và cũng tiếp cận được nhiều khán giả hơn. Trên các kênh Youtube của các
đài/kênh truyền hình, nhiều video được đăng tải từ nhiều năm trước nhưng đến nay
vẫn liên tục có lượng người xem mới.
Thứ tư, về phương thức quảng bá chương trình. Hiện nay, các hoạt động
quảng bá, giới thiệu chương trình của các đài/kênh vẫn chủ yếu vẫn phụ thuộc vào
chính các kênh sóng do đài/kênh sở hữu. Cách làm này nếu có hiệu quả thì cũng
chỉ thu hút được các khán giả trung thành hoặc thường xuyên. Vì thế, giải pháp cho
7
thời gian tới là các đài/kênh cần được mở rộng quảng bá trên các nền tảng, hạ tầng
khác ngoài phạm vi kênh sóng của mình (off-channel promotion). Trong đó, mạng
xã hội chính là kênh marketing quan trọng nhất cho các chương trình truyền hình,
giúp thu hút khán giả quay lại với ti vi, đặc biệt là khán giả trẻ - đối tượng đang
dành thời gian cho mạng xã hội nhiều gấp 4 lần cho ti vi.
Trong nghiên cứu được đăng trên Tạp chí khoa học Quản lý Công nghiệp và
Kinh doanh của Mỹ năm 2016, nhóm tác giả người Đài Loan Mei-Hua Cheng, YiChen Wu và Ming-Chih Chen khẳng định: “Có một mối liên hệ rõ ràng giữa tỷ lệ
rating truyền hình với lượng tương tác trên mạng xã hội như Facebook. Lượng
người dùng mạng xã hội post (đăng tải), like (thích), comment (bình luận), share
(chia sẻ)… về một chương trình càng nhiều thì rating chương trình đó càng cao.
Thậm chí, có thể thông qua mức độ quan tâm của người dùng mạng xã hội với một
chương trình nào đó để dự đoán trước tỷ lệ rating. Từ kết quả nghiên cứu này,
chúng tôi đề xuất các nhà quản lý cần thiết kế các hoạt động tương tác trong các
chiến dịch truyền thông của mình.”[2]
Biểu đồ 1: Mối tương quan giữa mạng xã hội và rating truyền hình
(Nguồn: Nielsen [6])
Trong khi đó, một khảo sát được thực hiện bởi Nielsen năm 2011 với một
series truyền hình tại Mỹ suốt từ khi chuẩn bị phát sóng cho đến khi kết thúc đã
8
cho thấy mối tương quan giữa sự lan tỏa trực tuyến của chương trình và rating của
chương trình ấy. Mối liên hệ này thể hiện rõ nhất ở đối tượng khán giả trẻ từ 18
đến 34. Theo đó, việc thiết kế các chiến dịch truyền thông và các hoạt động tương
tác trên mạng xã hội sẽ có hiệu quả tốt hơn khi được thực hiện trong khoảng thời
gian 4 tuần trước khi chương trình bắt đầu được phát sóng. Khi đó, chỉ cần mức độ
lan truyền thông tin về chương trình trên mạng xã hội tăng 9% đã giúp tăng rating
lên 1%.[6]
Chiến dịch truyền thông và các hoạt động tương tác có thể là các bài viết
giới thiệu về format chương trình mới, những người nổi tiếng, nhân vật sẽ tham gia,
hé lộ các tình tiết gay cấn, hấp dẫn hoặc các khoảnh khắc thú vị nơi hậu trường...
Đó cũng có thể là những cuộc thảo luận về một quan điểm, một phát ngôn, một
hành động trong chương trình được nhà sản xuất tạo ra để gây sự chú ý của công
chúng, lôi kéo họ tham gia và cho ý kiến.
Rất nhiều người có thói quen là sau khi tiếp nhận thông tin từ báo chí, truyền
hình, nếu thấy thông tin hay, hấp dẫn sẽ nhanh chóng chia sẻ trên các kênh truyền
thông xã hội. Theo cách đó, mạng xã hội giúp tập hợp các khán giả yêu thích
chương trình tham gia thảo luận và gián tiếp giúp quảng bá, lôi kéo thêm nhiều
người dùng mạng xã hội khác quan tâm đến chương trình và xem chương trình trên
truyền hình.
Thứ năm, về kinh doanh, quảng cáo. Hiện nay, nguồn thu chính của các
đài/kênh truyền hình là từ quảng cáo. Tuy nhiên, với việc doanh thu quảng cáo trên
truyền hình đang sụt giảm do sự cạnh tranh của quảng cáo trực tuyến, các đài/kênh
truyền hình cần phải tính đến việc mở rộng các hoạt động kinh doanh, quảng cáo
sang môi trường trực tuyến nhiều tiềm năng.
Thực tế, truyền thông mới cũng đang mở ra cơ hội tăng doanh thu cho các
đài/kênh truyền hình trên môi trường trực tuyến. Các sản phẩm truyền hình khi
được đưa lên internet thành các sản phẩm video trực tuyến không chỉ góp phần thu
hút thêm khán giả, quảng bá thương hiệu mà còn giúp mang lại một nguồn thu
không nhỏ cho đài/kênh truyền hình.
9
Nhưng để có thể tìm kiếm và gia tăng lợi nhuận hơn nữa, các đài/kênh
truyền hình không thể chỉ dừng lại ở việc đưa nguyên các tác phẩm phát sóng trên
truyền hình lên mạng. Khán giả qua mạng xã hội có đặc điểm tâm lý, nhu cầu
thông tin và thói quen xem tin riêng biệt, ví dụ, họ sẽ lướt tin rất nhanh, nên các
đài/kênh truyền hình cũng cần có đội ngũ biên tập viên riêng cho các thông tin
được đăng tải trên môi trường internet.
Không chỉ cạnh tranh với nhau, ti vi và internet còn là hai nền tảng hỗ trợ
nhau trong việc mang lại nguồn lợi đáng kể từ doanh thu quảng cáo cho các
đài/kênh truyền hình. Số liệu của Hệ thống đo lường khán giả truyền hình
VIETNAM-TAM (do Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai) cho thấy rõ mối liên
hệ giữa mức độ ưa thích của khán giả đối với các kênh truyền hình truyền thống và
kênh Youtube của chính đài/kênh truyền hình đó trên mạng xã hội.
Biểu đồ 2: Số lượng đăng ký và số lượt xem các kênh Youtube hàng đầu
tại Việt Nam tính đến hết quý 1 năm 2017 (Nguồn: VIETNAM-TAM [9])
10
Biểu đồ 3: Thứ hạng các kênh truyền hình có rating cao nhất
quý 1 năm 2017 khu vực Hà Nội và TP HCM (Nguồn: VIETNAM-TAM [9])
Các biểu đồ 2 và 3 cho thấy các kênh truyền hình được ưa thích nhất hiện
nay cũng chính là các kênh có lượng người đăng ký (suscriber) và lượng người
xem (view) cao nhất trên Youtube. Điều này đồng nghĩa, với việc đầu tư sản xuất
các chương trình có chất lượng cao, cho dù trên nền tảng truyền hình truyền thống
hay internet, các đài/kênh truyền hình vẫn sẽ luôn được khán giả tìm đến và nhờ đó
mà có được doanh thu quảng cáo.
Trong một tương lai không xa, khi các hãng đo lường mở rộng việc đo khán
giả sang các mạng xã hội như Facebook hay Twitter thì các đài/kênh truyền hình
cũng sẽ có thêm cơ hội tăng doanh thu từ quảng cáo trực tuyến. Lúc đó, việc
“mạng hóa” truyền hình sẽ càng có ý nghĩa./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ TT&TT (2017): Báo cáo Tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ năm
2017
( />2. Cheng, M.-H., Wu, Y.-C. and Chen, M.-C. (2016) Television Meets Facebook: The
Correlation between TV Ratings and Social Media. American Journal of Industrial and Business
Management, 6, 282-290
3. Vũ Quang Hào (2017): “Mạng hóa truyền hình” - Cách để TV truyền thống thu hút khán giả
( />4. IAB internet advertisnig revenue report 2016 full year results ( />5. Kantar Media (2012): Báo cáo thị trường truyền thông Việt Nam 2011
6. Nielsen (2011): The Relationship between Socical Media Buzz and TV Ratings
( />7. Nielsen (2016): Xem video trực tuyến - Thói quen thường nhật của người Việt,
( />8.
The
Inclusive
Internet:
Mapping
Progress
2017
( />9. Truyền hình: từ tivi nhìn sang internet ( />