Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm việt nam thực trạng và hướng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.67 MB, 103 trang )


B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

B ộ T ư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------

s/ ^

------------

^ ĩít t íỉ r()ù n ũ á e h

PHÁP LUẬT VẼ KINH DOANH BÁO HIẾM VIỆT NAM




THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN






Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 50515

LU ẬN
V Ă N TH Ạ■ C SỸ LU ẬT


HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu

HÀ NỘI NĂM 2001


LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn Tiến s ĩ Luật học Nguyén Am H iểu - Vụ phó
Vụ Pháp luật dán sự và kinh tế Bộ Tư pháp đ ã tận tình hướng dẫn, giúp
dỡ tôi hoàn thành Luận vãn “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt
Nam, thực trạng và hướng hoàn thiện ”
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đ ại học Luật, các
giáo sư, tiến s ĩ đã trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết không ch ỉ cho
việc chuẩn bị luận văn.
Cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ đế tôi
hoàn thành luận vãn này.
TH Á I VĂN CÁC H


CAM ĐOAN

Luận văn “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt Nam, thực trạng và
hhướng hoàn thiện” được tác giả nghiên cứu trong một thời gian dài dưới sự hướng
ddẫn trực tiếp của Tiến sĩ Luật học Nguyễn Am Hiểu - Vụ phó Vụ Pháp luật Dân sự
vvà Kinh tế Bộ Tư pháp, có tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu của
nnhiều.tác giả trong và ngoài nước. Song các quan điểm, ý kiến mà tác giả đưa ra là

hhoàn toàn độc lập và không sao chép từ bất kỳ công trình nào trước đây.
Các tài liệu tham khảo được liệt kê trong phần cuối cùng của Luận văn.

np

s

„ _• 2

Tác giả

THÁI VĂN CÁCH
H ọc viên Cao học L uật Pháp - Việt
Khóa I - Đ ai hoc L uât H à N ôi


MỤC
LỤC
*


PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I:

MỘT s ố VÂN ĐỂ CHƯNG
VỂ KINH DOANH BẢO HlỂM

1. Khái niệm, vai trò của kinh doanh bảo hiểm
2. Sự khác nhau giữa bảo hiểm thưưng mại

và bảo hiểm xã hội
3. Quá trình hình thành văn bản pháp luật
về kinh doanh bảo hiểm

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỂ PHÁP LUẬT
KINH DOANH BẢO HlỂM
1. Doanh nghiệp bảo hiểm
1.1. Loại hình doanh nghiệp
1.2. Tài chính đối với
doanh nghiệp bảo hiếm
2. Các tổ chức và cá nhân trung gian bảo hiểm
2.1. Môi giới bảo hiểm
2.2. Đại lý bảo hiểm
3. Các nguyên tắc cơ bán vê hoạt động kinh doanh bảo hiểm
3.1. Giấy phép
3.2. Mua bảo hiểm tại Việt nam
3.3. Bảo hiểm bắt buộc


?

4. Hợp đồng bảo hiểm
4.1. Khái niệm và đặc điểm của Hợp đổng bảo hiểm

53

4.2. Hình thức của Hợp đồng bảo hiểm

56


4-3. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm và các bên liên quan

58

4.4. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm

59

4.4.1. Về đối tượng bảo hiểm

61

4.4.2. Về số tiền bảo hiểm

62

4.4.3. Phạm vi trách nhiệm bảo hiểm

64

hay điều kiện bảo hiểm
4.4.4. Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

66

4.4.5. Về thời hạn bảo hiểm

68

4.4.6. Về mức phí bảo hiểm và


69

phương thức đóng phí bảo hiểm
4.5. Chấm dứt hiệu lực của hợp đổng bảo hiểm

70

4.6. Hơp đổng bảo hiểm vô hiệu

73

CHƯƠNG ffl:

MỘT s ố NHẬN XÉT CHUNG VỂ PHÁP LUẬT
KINH DOANH BẢO HlỂM
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

1. M ột Số nhận xét chung về Pháp luật

76

kinh doanh bảo hiểm
2. Hướng hoàn thiện Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

88

KẾT LUẬN

92


TÀI LIỆU THAM KHẢO

94


3

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của để tài
Từ sau Đai hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, với việc nước ta
chuyến sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cũng như các
lĩnh vực kinh tế khác, hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã phát triển nhanh
chóng và đang trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống kinh tế xã hội.
Trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp tham gia hoạt
động kinh doanh bảo hiểm ngày càng đông, số lượng các dịch vụ, sản phẩm
bảo hiểm ngày càng đa dạng và phong phú kể cả bảo hiểm nhân thọ và phi
nhân thọ. Chỉ tính riêng lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đến tháng 6 năm 2001 đã
có tới gần 40 sản phẩm, gần 2 triệu hợp đổng đã được ký kết với số tiền bảo
hiểm lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gắn vói mọi mặt của đời sống kữih tế
xã hội, việc phát triển hay đi xuống của bảo hiểm đều tác động sâu sắc đến
hoạt động kinh tế cũng như đời sống của các đối tượng tham gia bảo hiểm.
Chính vì vậy kinh doanh bảo hiểm cần phải được kiểm soát hết sức chặt chẽ và
phải được điều chỉnh bằng luật pháp, để hoạt động này phát triển lành mạnh
phục vụ cho công cuộc phát triển và xây dựng đất nước. Mặc dù kinh doanh
bảo hiểm còn rất mới mẻ, nhưng Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật vể hoạt động này. Pháp luật về kinh doanh bảo hiẽm đã được đưa vào
chương trình giảng dạy của một số trường Đại học và Cao đẳng, đặc biệt là

trường đại học Luật Hà nội. Việc nghiên cứu các văn bản pháp luật Việt Nam
về kinh doanh bảo hiểm là hết sức cần thiết, có tác dụng thiết thực cho hoạt
động lập pháp cũng như tuyên truyền pháp luật và giảng dạy tại các trường đại
học cũng như cao đẳng và góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm.


4

2. Tình hình nghiên cứu
Bảo hiểm đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, vì
vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu vể bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm ở
ngoài nước, ớ Việt Nam tuy hoạt động bảo hiểm bảo hiểm còn hết sức mới
mẻ nhưng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về mặt kỹ thuật bảo hiểm,
chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về pháp luật kinh
doanh bảo hiểm.

3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm bao gồm một hệ thống các quy phạm
pháp luật được ban hành tại các Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định và Thông tư. Vì
vậy mục tiêu đặt ra cho quá trình nghiên cứu luận văn là xem xét một cách
tổng quát, toàn diện các văn bản pháp luật, đối chiếu với thực tiễn kinh doanh
bảo hiểm để rút ra những vấn đề cần bổ sung và hoàn thiện. Pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm cần phải được hoàn chỉnh, trên cơ sở tiếp thu một cách có
chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp ỉuật của các nước có điều kiện tương
đổng với nước ta, nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam với đinh hướng
phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm là một ĩĩnh vực rất rộng
điều chỉnh nhiều hoạt động bảo hiểm khác nhau, nhiều vấn đề khác nhau từ
việc thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, khả năng tài chính của doanh nghiệp,

các chế định về hợp đổng bảo hiểm, trung gian bảo hiểm, quản lý Nhà nước về
bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm. Vì thế việc nghiên cứu
chỉ xin được giới hạn trong phạm vi những vấn đề chung nhất của pháp luật
kinh doanh bảo hiểm. Luận văn sẽ không đi sâu vào việc tìm hiểu phân tích
những vấn đề mang tính kỹ thuật chuyên ngành mà có những văn bản pháp
luật đề cập, không nghiên cứu về tổ chức, chức năng nhiệm vụ của cơ quan


5

quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Điều này không có nghĩa là luận
văn chỉ xem xét, nghiên cứu một cách chung chung mà nhiểu vấn để sẽ được
phân tích chi tiết xuất phát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và qua nghiên
cứu ]ý luận, pháp luật kinh doanh bảo hiểm của một số nước trên thế giói, ví
dụ như các chế định về công ty bảo hiểm tương hỗ, trung gian bảo hiểm.

4. Co sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật kinh doanh bảo hiểm
gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội vì vậy ít nhiều các văn bản
pháp luật mang dấu ấn của thời kỳ đó, dù các nhà làm luật khi xây dựng các
văn bản pháp luật đã nhìn thấy hướng phát triển của hoạt động này và đưa vào
các văn bản ý đổ mang tính định hướng. Nghiên cứu và phân tích các văn bản
pháp luật phải được nhìn nhận m ột cách biện chứng khoa học.
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, bên cạnh việc phân tích các văn
bản pháp luật áp dụng vào thực tiễn kinh doanh, luận văn sẽ áp dụng phương
pháp luật so sánh để phân tích. Ngoài ra, luận văn còn áp dụng các phương
pháp lịch sử, lồgic và tổng hơp các phương pháp khác.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn những đóng góp của Luận văn
Hoạt động bảo hiểm còn hết sức mới mẻ, và mặc dù đã được giảng

trong các chưong trình giảng dạy tại các trường đại học Luật, các trường Đại
học và Cao đẳng khác nhưng với một thời lượng hết sức khiêm tốn, chưa có
công trình khoa học lớn nào nghiên cứu tổng thể về vấn đề này. Vì vậy việc
nghiên cứu pháp luật kinh doanh bảo hiểm đã góp phần làm sáng tỏ hơn một
số vấn đề mà hệ thống lý luận của khoa học pháp ]ý nói chung và lý luận của
pháp luật kinh doanh bảo hiểm nói riêng. Bên cạnh đó, c iC văn bản pháp luật
về kinh doanh bảo hiểm sẽ được đánh giá và nhìn nhận xuất phát từ thực tiễn
và xu hướng phát triển của nền kinh tế, điều này trong một chừng mực nhất


6

định sẽ làm phong phú hơn hệ thống lý luận pháp luậi về kinh doanh bảo
hiểm.
Nghiên cứu pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng sẽ chỉ ra những
điểm không phù hợp với thực tiễn kinh doanh cần hoàn thiện, cần bổ sung góp
phần tạo ra môi trường pháp lý chuẩn mực và lành mạnh hon, thúc đẩy hoạt
động bảo hiểm ngày càng phát triển phục vụ đời sống kinh tế, xã hội, nhất là
trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt nam hiện nay.

6.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu ịham khảo, luận văn

gồm 3 phần chính:
Chương I:

M ột sỏ vấn đề chung về kinh doanh bảo hiểm


Chưong này sẽ đề cập tới:
- Khái niệm, vai trò và quá trình hình thành pháp luật bảo hiểm
- Sự khác nhau giữa bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội.
- Sự hình thành các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Chương II: Thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Chương này gồm các phần:
- Doanh nghiệp bảo hiểm
-T ổ chức, cá nhân trung gian bảo hiểm
- Các nguyên tắc hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Hợp đồng bảo hiểm:
+ Chủ thể của hợp đổng và các bên liên quan,
+ Nội dung của hợp đồng,
+ Hợp đồng vô hiệu.
Chương III:

Một sô nhận xét chung và hướng hoàn thiện


7

Chưong I
MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỂ KINH DOANH BẢO HlỂM

1. Khái niệm, vai trò của kinh doanh bảo hiểm
Chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ cuộc sống của
mình là ước mơ của con người từ thế hệ này qua thế hệ khác. Con người bằng
tài năng của mình đã "bay" vào khoảng không, đã khám phá những bí mật của
thiên nhiên, nhưng thiên nhiên vẫn luôn là điều bí ẩn gây cho con người biết
bao thiệt hại khôn lường. Cuộc đấu tranh với thiên nhiên luôn diễn ra, bằng
nhiêu cách khác nhau. Tuy vậy, con người chỉ hạn chế được tác hại của thiên

nhiên chứ không thể loại trừ vĩnh viễn được mối hiểm toạ từ thiên nhiên. Các
thí dụ gần đây nhất:
* Tháng 11/1997 cơn bão số 5 (Linda) đổ bộ vào các tỉnh Miền Nam
nước ta gây hậu quả nghiêm trọng: 788 người chết, 1.142 người bị thương,
2.541 người mất tích, 3.675 tàu các loại bị chìm hoặc mất tích, thiệt hại tính
bằng tiền lên tới trên 7.200 tỷ đồng.
* Theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 1999 thiên tai đã gây ra lụt lớn
tại một số tỉnh của Trung Quốc. Nước sông Hoàng Hà đã làm ngập nhiều
vùng rộng lớn và cuối trôi trên 100.000 ngôi nhà, trên 25 triệu người không có
nhà ở, trên 3.600 người bị chết. Đây là trận lụt lớn nhất tại Trang Quốc từ 50
năm trở lại đây.
* Hồi 5 giờ 46 phút ngày 17/1/1995, trận động đất lớn đã xảy ra tại
thành phố cảng Côbê của Nhật, Trung tâm động đất tại khu vực Hangshin gây
thiệt hại lớn làm 5.502 người chết 394.440 ngôi nhà bị sập hoặc thiệt hại. Số


8

tiền mà các công ty bảo hiểm phải chi bồi thường cho những người bị nạn lên
tới trên 1.200 tỷ Yên (l).
*

Theo Liên hợp quốc, mỗi năm trên thế giới xảy ra hàng nghìn trận

bão, lốc, sóng thần, lụt và động đất, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người,
thiệt hại về tài sản là hết sức lớn.
Bên cạnh đó, ngày nay khi con người đạt được những thành tựu vô cùng
quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học thì con người cũng lại phải đối mặt
với chính những thành tựu khoa học của minh, ví dụ tai nạn do các phương
tiện cơ giới gây ra.

Theo thống kê ,hiện nay trên thế giới, cứ trung bình 2 giây lại xảy ra
một vụ tai nạn giao thông. Chí tính riêng tại Việt Nam, theo Ưỷ ban an toàn
giao thông Quốc gia 6 tháng đầu năm 2001, cả nước đã xảy ra 12.366 vụ tai
nạn giao thông, làm 5.022 người bị chết, 14.101 người bị thương, trung bình
mỗi ngày có 27 người bị chết.
Hàng năm trên thế giới xảy ra khoảng 7.000 vụ tai nạn lớn nhổ trên
biển, làm hàng nghìn tàu với số lượng rất lớn về hàng hóa bị chìm, thiệt hại
tính bằng tiền có thể mua lương thực nuôi cả lục địa đen.
Máy bay được coi là phương tiện giao thông nguy hiểm nhất. Các loại
máy bay hiện đại như Boeing (Mỹ), Concorde (Anh + Pháp), TƯ đều có máy
bay lâm nạn. Năm 1999 là năm kinh hoàng của các hãng hàng không lớn trên
thế giới; nhiều vụ tai nạn lớn đã xảy ra đến mức Anh và Pháp phải tuyên bố
dừng bay loại máy bay siêu tốc hiện đại Concorde để kiểm tra . Mới đây nhất,
đêm 3/7, một vụ tai nạn máy bay thảm khốc đã xảy ra tại vùng Iracutxcơ của
Nga. Chiếc máy bay TƯ154 khởi hành từ thành ìíhố Ecaterinbua đi

ITieo số liệu của Ưỷ ban phòng chôn í! lụt hão Trung ương, Báo Nhan (iãn sỏ ra ne ày 25/11/1995 "Động đất
tai Nhật Bán".


9

Vladivoxtoc đã bị mất lái khi bay trên không phận vùng Iracutxcơ và bốc cháy
làm toàn bộ 133 hành khách và phi hành đoàn 10 người bị thiệt m ạng(2).
Ngay cả phương tiện hiện đại Ìihư tàu du hành vũ trụ của Mỹ
Challenger sau 1 ] giây bay vào khoảng không cũng bị nổ tung làm 7 phi hành
gia thiệt mạng, thiệt hại lên tới trên 6 tỷ Đôla Mỹ.
Đứng trước những thảm họa ấy, con người ngoài việc nghiên cứu để có
các giải pháp kỹ thuật ngăn ngừa, đồng thời phải tìm các khả năng về tài chính
để khắc phục hậu quả thiệt hại. Để khắc phục hậu quả do thiên tai và tai nạn

bất ngờ gây ra, nhằm ổn định đời sống và phát triển sản xuất, người ta sử dụng
nhiều hình thức khác nhau:
T ự bảo hiểm: Mỗi một gia đình, một cơ quan, đơn vị tiết kiệm lập một
quỹ riêng, có thể bằng tiền hoặc hiện vật phòng khi gặp hiểm họa, bị thiệt hại
thì dùng quỹ riêng đó để chi dùng. Biện pháp này giúp các gia đình, các doanh
nghiệp chủ động khắc phục hậu quả thiệt hại một cách nhanh nhất, nhưng lại
không hiệu quả và xét về mặt kinh tế cả ở góc độ vi mô lẫn vĩ mô. Thiên tai và
tai nạn thường xảy ra bất ngờ và mức độ thiệt hại thì không dự đoán trước
được. Như vậy cả hai khía cạnh thời gian lẫn mức độ đều không thể biết trước
để tích lũy dự phòng, dự phòng bao Ìihiêu và bao giờ thì chi dùng. Nếu mọi
gia đình, cơ quan, xí nghiệp đều có một quỹ riêng theo hình thức này sẽ dẫn
đến việc ứ đọng vốn, vật tư; xét về mặt xã hội thì tính cộng đồng dần mất đi vì
với việc tự bảo hiểm, khi khó khăn, nhà ai người ấy lo, tính tương trợ không
còn.
Quỹ dự trữ tập trung của Nhà nước: bất kỳ Nhà nước nào, để ổn
định trật tự xã hội trong trường hợp thiên tai, địch họa, đều phải có quỹ dự trữ
tập trung, cả bầng tiền và hiện vật. Tuy nhiên quỹ dự trữ tập trung chỉ được sử
dụng trong các trường hợp thiên tai ở phạm vi rộng, thiệt hại lớn. Nhà nước sử

(2) V iện N ghiên cứu Tài chính, Tlióng tin pluu vụ lãnli đạo, tháng 3/2001; Tin nhanh TTXVN số ra ngày
5/7/2001;
Thông báo của ƯBAT giao thông quốc gia.


10

dụng quỹ này để cứu đói, giải quyết tức thì hậu quả thiên tai. Quỹ dự trữ tập
trung không thể giải quyết cho những vụ tai nạn nhỏ lẻ của từng gia đình, đơn
vị hoặc xí nghiệp, trong khi những vụ tai nạn nhỏ thì lại diễn ra thường xuyên,
ở mọi lúc, mọi noi và hậu quả tích tụ thì lại rất lớn như trường hợp tai nạn giao

thông trong toàn quốc kể trên. Quỹ dự trữ tập trung của Nhà nước xét về mặt
nào đó không cơ động.
K in h doanh bảo hiểm : Đây là hình thức bảo hiểm hiệu quả nhất, có
thể khắc phục được những khiếm khuyết của hai hình thức bảo hiểm kể trên
và nó đặc biệt quan trọng trong việc bổ sung, hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm tập
trung của Nhà nước trong việc giải quyết hậu quả của thiên tai, địch hậu. Hình
thức bảo hiểm này không chỉ giải quyết được hậu quả của thiên tai trong phạm
vi rộng m à nó còn giải quyết được các vụ tai nạn nhỏ lẻ, phân tán.
K inh doanh bảo hiểm là dịch vụ tài chính, do các doanh nghiệp bảo
hiểm tiến hành; quỹ bảo hiểm được thành lập từ sự tham gia của những người
có nhu cầu bảo hiểm về con người, tài sản và trách nhiệm dân sự. Khoản tiền
mà người tham gia bảo hiểm đóng cho doanh nghiệp gọi là phí bảo hiểm. Phí
bảo hiểm là m ột khoán rất nhỏ chỉ bằng một vài phần trăm, thậm chí phần
nghìn so với trị giá tài sản được bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm sẽ được
doanh nghiệp bảo hiểm bổi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm.
Việc sử dụng quỹ bảo hiểm do các doanh nghiệp lập ra không chỉ năng
động khi có sự cố cả ỏ' diện hẹp, đon lẻ lẫn diện rộng, còn mang tính chất
cộng đồng rất cao vì đây là sự đóng góp của nhiều người để giúp một người
hay nhiều người khi bi hoạn nạn. Bảo hiếm còn mang tính quốc tế thông qua
hoạt động tái bảo hiểm nên cũng có sự đóng góp của cộng đồng quốc tế, nhất
là khi có thảm họa tự nhiên. Xét về mặt kinh tế, cá nhân, tổ chức tham gia bảo
hiểm có lợi không chí tiết kiệm được khoản chi dự phòng, mà còn kế hoạch
hóa được khoản chi vì với mức phí mà doanh nơhiệp bảo hiểm .tính toán, người


11

tham gia bảo hiểm biết trước năm đó mình sẽ chi là bao nhiêu;'khác với tự bảo
hiểm là không biết chi bao nhiêu và lúc nào. Xét về mặt xã hội, với sự đóng

góp của nhiều người, khoản phí bảo hiểm nhàn rỗi sẽ được doanh nghiệp bảo
hiểm đầu tư trở lại cho hoạt động kinh tế để sinh lời và góp phần thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế; các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm, bên cạnh
việc được bổi thường khi gặp rủi ro, còn được hưởng gián tiếp nguồn lợi thứ
hai này.
Ngày nay, kinh doanh bảo hiểm đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong
nển kinh tế thế giới với doanh số gần 2.000 tỷ Đôla Mỹ mỗi năm. Ba châu lục
đứng đầu chiếm hơn 96,8% thị trường thế giới là:
- Bắc Mỹ: 37,8%
-C h âu Âu: 31,1%
- Châu Á: 25,9%
Năm nước có doanh thu bảo hiểm đứng đầu thế giới là: (so với doanh
thu phí bảo hiểm toàn cầu)
- Mỹ: 34,4%
-N h ật: 21,8%
- Anh: 8,1%
- Đức: 7,4%
- Pháp: 5,4%
Ở những nước này tổng doanh thu phí bảo hiểm chiếm khoảng 1114,5% GDP (3).
Tại Việt Nam, kinh doanh bảo hiểm được hình thành ở Việt Nam từ
năm 1964 với sự ra đời của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Cho
đến trước năm 1993, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn rất sơ khai, chỉ có duy
nhất Bảo Việt tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo cơ chế Nhà nước
độc quyền. Nhằm đổi mới hoạt độns kinh doanh bảo hiểm cho phù hợp với
(3) C hiến lược p hát triển của Tổng cống ty Bào hiểm Việt N am , tháng 7/2001, “đáiih giá thị trường”


12

hướng đổi mới nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngày

18/12/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo
hiểm. Đến tháng 6/2001 đã có 16 doanh nghiệp báo hiểm với nhiều loại hình
khác rihau: doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty liên doanh,
Công ty 100% vốn nước ngoài; trên 18.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, 40
văn phòng đại diện của các công ty báo hiểm nước ngoài. Nhiều loại hình bảo
hiểm mới đã được m ở rộng để đáp ứng các nhu cầu bảo hiểm của các tổ chức
và dân cư.
Kết quả kinh doanh báo hiểm của các doanh nghiệp đạt mức tăng
trưởng đáng kể. Tốc độ tăng trưởng bình quân về doanh thu phí bảo hiểm đạt
trên 25% trong giai đoạn 1994-2000, từ 741 tỷ đổng năm 1994 lên 2.850 tỷ
đổng năm 2000(4).
Việc mở rộng hoạt động bảo hiểm thương mại đã góp phần hạn chế rủi
ro, giảm bớt thiệt hại tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham
gia bảo hiểm, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước thông qua công
tác bổi thường thiệt hại, trả tiền bảo hiểm với tổng số tiền bổi thường bình
quân hàng năm là 900 tỷ đổng, trong đó có những vụ bổi thường thiệt hại lớn
như vụ tai nạn m áy bay của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam rơi tại
Phnôm-pênh với số tiền bồi thường khoảng 25 triệu Đôla Mỹ, thiệt hại do cơn
bão số 5 xảy ra tại các tỉnh Nam bộ tháng 11/1997 số tiền bổi thường lên tới
gần 60 tỷ đồng.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm , bên cạnh việc nộp cho ngân sách
Nhà nước mỗi năm trên 150 tỷ đổng đã tạo lập một kênh huy động vốn có
hiệu quả để đầu tư trở lại cho nền kinh tế: đến năm 2000, tổng số vốn đầu tư là
2.843 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đầu tư bình quân là 184% năm.
Mặc dù thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển
rihaiih chóng và ổn định, nhưng quy mô của thị trường bảo hiểm Việt Nam

'4) C h iến lược p hát triển củ a T ổ n g cồng ty Báo hiếm Viẹi Nam , tháng 7 / 2 ơ ) l , “đánh giá thị irường’



13

còn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội
nhập quốc tế. Tổng doanh thu phí bảo hiểm mới đạt 0,58% GDP trong khi tỷ
lệ này tại các nước trong khu vưc khoảng từ 3-5% GDP(6).
Theo luật kinh doanh bảo hiểm “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiếm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở bên mua bảo hiểm,
đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bổi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm ”.
Kinh doanh bảo hiểm là m ột dịch vụ tài chính mà ở đó người bảo hiểm
bán các cam kết của mình cho người m ua bảo hiểm, người được bảo hiểm chỉ
được nhận sự phục vụ khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, có nghĩa là khi có thiên
tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm hoặc đến hạn trả
tiền bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ. Có thể nói bảo hiểm là “sự đảo ngược
của chu trình kinh tế” vì khác với việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá khác,
người mua trả tiền và được nhận ngay hàng hoá, sản p h ẩ n thậm chí được nhận
hàng trước khi trả tiền (mua hàng trả chậm) nhưng trong kinh doanh bảo hiểm
thì hoàn toàn ngược lại, người được bảo hiểm phải trả tiền trước rồi mới được
nhận dịch vụ (sự phục vụ) và chỉ được nhận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm chứ
không phải bất kỳ người tham gia bảo hiểm nào cũng được Iihận tiền bảo
hiểm.
Theo luật Anh quốc, hoạt động kinh doanh bảo hiểm rộng rãi hơn,
phạm vi điều chỉnh của Luật bảo hiểm Anh lộng hơn (Điều 95 Luật bảo hiểm
Anh). Theo Luật bảo hiểm Anh thì hoạt động kinh doanh báo hiểm còn bao
gồm: “Ký kết và thực hiện hợp đổng bảo lãnh, trái phiếu thực hiện, trái phiếu
hành chính, trái phiếu trung thực, trái phiếu tập quán hay các hợp đồng bảo

p 1(11 ( 'hiến lược phát triển củ a T ổng công ty Báo hiểm V iệt N am , tháng 7/2001, "đ án h giá thị trường”



14

lãnh tương tự theo cách kinh doanh mà không phải ký kết ngẫu nhiên trên cơ
sở theo một khoản phí bảo hiểm, trừ người ký kết và thực hiện là ngân hàng”.
Ký kết và thực hiện dịch vụ mà bảo hiểm là một phẩn dịch vụ đó là: hợp đổng
hoàn vốn, hợp đồng quản lý đầu tư quỹ hưu trí (không phải là các quỹ vì lợi
ích của nhân viên, người lao động và người phụ thuộc).
Trong kinh doanh bảo hiểm thì sự kiện bảo hiểm và quyền lợi được bảo
hiếm là những yếu tố quan trọng hình thành nên quan hệ bảo hiểm. Theo Luật
kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì sự kiện bảo hiểm là "sự kiện khách quan
do các bên thoả thuận hoặc pháp luật qui định, mà khi sự kiện đó xảy ra thì
doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền cho người thực hiện hoặc bồi thường cho
người được bảo hiểm” .
Bên bán bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) và bên mua bảo hiểm có
thể thoả thuận về sự kiện bảo hiểm, nghĩa là những rủi ro mà người bảo hiểm
thường cam kết ví dụ như tai nạn dẫn đến thương tích, ốm đau phải nằm viện,
bệnh tật phải phẫu thuật và mọi rủi ro dẫn đến tử vong. Những trường hợp mà
pháp luật qui định chủ yếu đối với các loại hình bảo hiểm bắt buộc, ví dụ như
trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và trong các loại hình
bảo hiểm mà nhà nước ban hành qui tắc bảo hiểm như báo hiểm tai nạn thân
thể học sinh.
Nhằm tránh việc trục lợi bảo hiểm bằng các hành vi cá cược hay lừa
đảo, Luật kinh doanh bảo hiểm quy định “quyền lợi có thể được bảo hiểm” là
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền nghĩa
vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.
Người tham gia báo hiếm phải có “quyền lợi bảo hiểm” đối với đối
tượng báo hiểm, đó là điều kiện tiên quyết để ký kết hợp đổng và để hợp đổng
bảo hiểm có hiệu lực. Khi họp đổng bảo hiểm được xác lập, nếu xảy ra sự kiện

báo hiểm, vào thời điểm đó. người tham gia bảo hiểm phải tiếp tục có lợi ích
bảo hiểm mói có đủ tư cách đẻ đòi doanh nghiệp báo hiểm bổi thường. Luật


[5

kinh doanh bảo hiểm quy đinh:"Quyển lợi có thể được bạo hiểm là quyền sở
hĩai, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền nghĩa vụ nuôi
dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm". Quy định này của Pháp
luật nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng bảo hiểm để trục lợi bảo hiểm như đánh
bạc hay cá cược, làm giàu bất chính. Một người không có bất kỳ quyền lợi nào
đối với đối tượng được bảo hiểm, nhưng lại tự ý mua bảo hiểm cho tài sản hay
sinh mạng cho người khác rồi nhận tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
hoặc tác động để xảy ra sự kiện bảo hiểm để lấy tiền bảo hiểm mà không bị
thiệt hại gì. Hành vi này không những trái pháp luật mà còn trái với các chuẩn
mực đạo đức xã hội. Như vậy quy định của Pháp luật còn góp phần ngăn ngừa
người tham gia bảo hiểm cố ý hủy hoại đối tượng bảo hiếm để được nhận tiền
bổi thường. Mặt khác, quy định này còn đảm bảo nguyên tắc bồi thường trong
bảo hiểm tức là không m ột người nào được phép thu lợi từ một tổn thất được
bảo hiểm.
Về cơ bản, quyền lợi được bảo hiểm phát sinh dựa trên các căn cứ sau
đây:
- Quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người yêu
cầu đối với đối tượng của hợp đổng bảo hiểm. Nói cách khác, đó là quyền về
tài sản trong trường hợp bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dãn sự.
- Quyền về nhân thân trong hợp đổng bảo hiểm C011 người. Chẳng hạn,
mọi người đều có quyền bảo hiểm cho tính mạng của chính bản thân mình
- Quyển và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ huyết thống, thân thích gần
gũi. Ví dụ bố mẹ mua bảo hiểm cho con.
Do đối tượng bảo hiểm khác nhau, các căn cứ làm phát sinh quyền lợi

được báo hiểm là khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Việc xác
định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người là hết sức cần
thiết; bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân người mua bảo


16

hiểm; Vợ hoặc chồng, con, cha, mẹ của người mua bảo hiểm; Người có quan
hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và cấp dưỡng.
Trong các trường hợp khác, quyền lợi bảo hiểm cũng hình thành nếu có
quan hệ huyết thống thân thích và được sự đồng ý bằng văn bản của người có
nhu cầu.
Quyền lợi có thể bảo hiểm phải là quyền lợi hợp pháp. Mặc dù có quan
hệ huyết thống, nhưng không phải là mọi quan hệ. Quyền lợi hợp pháp là phải
được pháp luật thừa nhận. Những lợi ích phi pháp không được bảo hiểm. Đổng
thời quyến lợi bảo hiểm phải là quyền lợi xác định được, nó thể thực hiện được
chứ không phải là suy đoán chủ quan. Nếu là quyền lợi về tài sản phải xác
định được bằng tiền.
Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 (Marine Insurance Act) quy định về
quyển lợi bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hải như sau:
1- Theo những quy định của Luật này, mọi người có liên quan đến một
hành trình đường biển đều có một quyền lợi bảo hiểm;
2- Đặc biệt, một người có liên quan đến một hành trình đường biển khi
họ có bất kỳ mối quan hệ nào họp pháp hoặc công bằng đối với hành trình
hoặc đối với bất kỳ tài sản bảo hiểm nào chịu rủi ro trong cuộc hành trình đó;
Kết quả là người ấy có thể có lợi nếu tài sản bảo hiểm được an toàn hoặc đến
bến đúng hạn hoặc có thể bị thiệt hại đo tài sản bảo hiểm bị tổn thất hay bị lưu
giữ hoặc có thể chịu trách nhiệm về những tổn thất đó".
Mặc dù từ tháng 8 năm 1996 trở lại đây, trước tiên là Tổng Công ty Bảo
hiểm Việt Nam (Bảo Việt), kế sau đó là các Công ty bảo hiểm như Prudential

(Anh), Công ty báo hiểm Quốc tế Mỹ AIA, Công ty bảo hiểm Chinfon
Manulife, Công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Minh-CMG, triển khai các loại
hình bảo hiểm Nhân thọ tại Việt Nam và đang thu được những kết quả hết sức
khả quan nhưng những khái niộm về bảo hiểm nhân thọ vẫn còn rất xa lạ đối
với đại đa sô dân chúng Việt Nam.Các loại hình bảo hiểm nhân thọ nói chung


17

là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc
chết. Trong các loại nghiệp vụ bảo hiểm nhãn thọ, bảo hiểm sinh kỳ là bảo
hiếm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định,
theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thoả thuận trong hợp
đổng bảo hiểm. Bảo hiểm tử kỳ là bảo hiểm cho từng trường hợp người được
bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả
tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời
hạn thoả thuận hơp đổng bảo hiểm. Bảo hiểm hỗn họp là bảo hiểm kết hơp bảo
hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ. Còn Bảo hiểm trọn đời là bảo hiểm cho
trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời diểm nào trong suốt
cuộc đời của người đó. Bảo hiểm trả tiền định kỳ là bảo hiểm cho trường hợp
người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, sau thời hạn đó doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thoả
thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Nhằm phân biệt giữa bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự, các loại bảo
hiểm về sinh mạng và sức khoẻ con người theo hình thức ngắn hạn vẫn được
gọi là bảo hiểm phi nhân thọ. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm thì: "Bảo hiểm
Phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các
nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ,"
Điều 5 Luật bảo hiểm Vương quốc Thái Lan, ở cả hai đạo luật bảo hiểm

Nhân thọ và Phi nhân thọ, đều đưa ra những quy định về các loại hình bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.
Đạo luật bảo hiểm của Cộng hoà Singapore giành chương I bao gồm 2
điều 8 khoản để phân định loại hình bảo hiểm. Luật bảo hiểm Singapore qui
định: “nếu cơ quan Tiền tệ Singapore (cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm
Singapore) có cơ sở để cho rằng bất kỳ hoạt động kinh doanh nào mà doanh
nghiệp bảo hiểm tiến hành tuy đang thuộc vể một loại bảo hiểm hay nghiệp vụ


18

bảo hiểm nhất định nhưng cần phải được coi là một loại hình bảo hiểm khác
hay nghiệp vụ bảo hiểm khác, cơ quan tiền tệ Singapore có quyền yêu cầu xếp
loại bảo hiểm hay nghiệp vụ bảo hiểm đó vào loại bảo hiểm hay nghiệp vụ bảo
hiểm thích hợp” .

2. Sự khác nhau giữa kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm xã hội
Đối với bất kỳ một chế độ xã hội nào, để ổn định trật tự xã hội, tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể, Nhà nước đều ban hành các chế độ đảm bảo xã hội
như chính sách đối với những người có công với đất nước, với những người tàn
tật, già cả, không nơi nương tựa và đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
đối với những người làm công ăn lương và một số đối tượng khác.
ở Việt Nam, bên cạnh các chính sách đảm bảo xã hội khác, ngay tò khi
mới thành lập, Nhà nước ta đặc biệt chú trọng tới chính sách bảo hiểm xã hội
cho những người lao động hưởng lương.
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách nhằm đáp ứng các nhu
cầu tối thiểu của người lao động khi ốm đau, thai sản, bị tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, khi về hưu và tử tuất. Trong khi đó, bảo hiểm thương mại
nhằm đáp ứng những nhu cầu cao hơn về bảo hiểm của người lao động được
các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành với mục đích sinh lời. Quyền được

hường bảo hiểm xã hội là một trong những quyền cơ bản của người lao động
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định "... Nhà
nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế
độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn
lương, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với
người lao động".
Theo quy định của Điểu lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị
định số 12/CP ngày 26/1/1965 của Chính phủ, thì đối tượng của bảo hiểm xã


19

hội chỉlà con người. Điều 3 Điều lệ Bảo hiểm xã hội quy định, các đối tượng
phảiáp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm:
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nirớc;
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên;
- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doaiìh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài; khu chế xuất, khu công nghiệp; trong các cơ quan, tổ chức
nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước
quốc tế mà Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
định khác.
- Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lượng vũ trang;
- Người giữ các chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trọng các cơ quan quản
lý Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện.
- Công chức, viên chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành
chính sự nghiệp, người làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung

ương đến cấp huyện..."
Như vậy, pháp luật về bảo hiểm xã hội cũng chỉ điều chỉnh có giới hạn
đối tượng bảo hiểm là con người. Các đối tượng không phát sinh quan hệ lao
động như nông dân, thợ thủ công... phát sinh quan hệ lao động nhưng ở những
xí nghiệp, công ty có dưới 10 lao động cũng không tham gia quan hệ bảo hiểm
xã hội.
Trong khi đó đối với kinh doanh bảo hiểm, theo Điều 573 của Bộ luật
Dân sự thì "đối tượng của Bảo hiểm bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm
dân sự và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật". Trong kinh doanh
bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm rộng hơn so với bảo hiểm xã hội. Ngay cả đối


20

tượng con người, kinh doanh bảo hiểm bảohiểm cả cho những tốitượng
nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và



họcsinh,sinh viên. Mọi ầng lớpdân

cư, không phân biệt ngành nghề lao động, giới tính, địa vị công tá: nếu có nhu
cầu và khả năng đóng phí bảo hiểm đều được tham gia bảo hiểm.
Về phạm vi bảo hiểm, điều 2 Điều lệ bảo hiểm quy định cá: chế độ bảo
hiểm xã hội trong khuôn khổ các rủi ro sau:
- C hế độ trợ cấp ốm đau,
- Chế độ trợ cấp thai sản,
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
- Chế độ hưu trí,
- C hế độ tử tuất".

Trong khi đó, đối với kinh doanh

bảo hiểm, điều 575 Bộ luật Dân sự

quy định: "Sự kiện bảo hiểm là sự kiện

khách quan, do các bêr thỏa thuận

hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra, thì bên bảo hểm phải trả
tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm".
Về mức đóng bảo hiểm xã hội, Điều lệ bảo hiểm xã hội quyđịnh:
- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng qiứ tiền lương
của những người tham gia bảo hiểm xã hội trong đơn vị, trong đó 10% để chi
các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu
trí và tử tuất.
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảo
hiểm xã hội đối với người lao động.
- Các nguồn khác.
Cả điều 576 Bộ luật Dân sự và khoản 11 điều 3 Luật kinh doanh bảo
hiểm đều quy định: "Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bêr. mua bảo hiểm phải
đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên


21

thỏa thuận trong hợp đổng bảo hiểm". Các doarứ nghiệp bảo hiểm ký kết hợp
đồng bảo hiểm với các đối tượng có nhu cầu bảo hiểm và tự thu phí bảo hiểm,
quản lý quỹ.

Cả hai loại bảo hiểm xã hội và kinh doanh bảo hiểm đều do Chính phủ
thống nhất quản lý (điều 41 Điều lệ bảo hiểm xí hội và Điều 121 Luật kinh
doanh bảo hiểm). "Bộ Tài chính chịu trách nhiện trước Chính phủ thực hiện
quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm (khoải 2 điều 121 Luật kinh doanh
bảo hiểm) và "Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ
thực hiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội".
Như vậy, phí bảo hiểm xã hội là một khoản hay tỷ lệ ấn định được Pháp
luật quy định, trong khi đó phí bảo hiểm thương mại đa phần do các doanh
nghiệp định ra căn cứ vào khả năng có thể xảy ra rủi ro đối với đối tượng được
bảo hiểm và phí bảo hiểm có thể thương lượng.
Một điểm khác biệt hết sức căn bản giữa bẳo hiểm xã hội và bảo hiểm
thương mại là trong quan hệ bảo hiểm xã hội có mối quan hệ trực tiếp giữa
người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội. Người sử dụng lao động
có trách nhiệm trong việc đóng bảo hiểm xã hội (15%) trích tiển lương của
người lao động để đóng bảo hiểm xã hội (5%), xuất trình tài liệu hồ sơ và
cung cấp thông tin; người sử dụng lao động có quyền (điều 44).
Ngoài ra theo Điều lệ bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động còn có
quyền:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ
bảo hiểm xã hội;
- Khiếu nại với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan bảo
hiểm xã hội có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội".

Người sử dụng lao động chỉ có quyến và nghĩa vụ nhưng không phải là
người được hưởng quyển lợi trong báo hiếm xã hội. Trong kinh doanh bảo
hiếm cho dù việc thu xếp hợp đổng bảo hiểm có thể thông qua bên thứ ba là


×