1
Cơ sở lý thuyết
1.1
Khái niệm
Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều mục đích khác (Tổ chức
du lịch thế giới WTO).
Phát triển du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu
cầu về hiện tại của du khách và người dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và
tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai (Tổ chức du lịch thế giới
WTO).
1.2
1.2.1
Đặc điểm, tính tất yếu và lợi ích của phát triển du lịch bền vững
Đặc điểm của phát triển du lịch bền vững
Đảm bảo được các vấn đề bền vững về môi trường, văn hoá xã hội và kinh tế.
• Về mặt kinh tế - xã hội: đảm bảo đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho
người lao động, góp phần nâng cao mức sống người dân và ổn định về mặt xã hội, đồng thời bảo
•
tồn các giá trị về văn hoá xã hội.
Về mặt tài nguyên và môi trường: sử dụng tài nguyên một cách hợp lý đảm bảo sự bảo tồn đa
dạng sinh học, không có những tác động tiêu cực đến môi trường, đảm bảo khả năng đáp ứng
nhu cầu của các thế hệ tương lai.
1.2.2
Tính tất yếu của phát triển du lịch bền vững
Là một ngành kinh doanh tổng hợp và phức tạp, ngành du lịch không thể không quy hoạch
và phát triển đồng bộ, hài hòa ở tất cả các khía cạnh.
Các yếu tố tạo thành sản phẩm của nghành du lịch là sự kết hợp của cả tài nguyên có khả
năng phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và hoàn toàn không thể phục hồi cũng như các tài
nguyên xã hội, nhân văn và tài nguyên tự nhiên. Do đó, nếu không đảm bảo việc khai thác hợp lý
và hiệu quả các tài nguyên này, sản phẩm du lịch sẽ mất đi tính hấp dẫn, thậm chí, bị hủy hoại.
Mức sống của con người nói chung đang được nâng lên rất nhanh, trình độ văn hoá xã hội
ngày càng được cải thiện. Vì thế, nhu cầu của khách du lịch cũng như xã hội nói chung về du lịch
ngày càng nhiều và đòi hỏi chất lượng cao hơn, phong phú hơn.
1
1.2.3
Lợi ích của phát triển du lịch bền vững
Đối với nhà cung cấp sản phẩm du lịch
- Tăng thêm lượng khách hàng: phát triển du lịch bền vững sẽ giúp cho nhà cung cấp có thêm
nhiều loại hình, sản phẩm du lịch hơn, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của thêm nhiều khách du
lịch, và nhờ đó, tiếp cận được với nhiều khách hàng tiềm năng hơn và có thể thu được lợi nhuận
lớn hơn.
- Giảm được rủi ro trong kinh doanh: do tính chu kỳ sống của sản phẩm du lịch và điểm du lịch
nên khi phát triển du lịch bền vững, tuổi thọ của các điểm du lịch sẽ được tăng lên. Điều này
giúp cho nhà cung cấp yên tâm hơn khi mở rộng quy mô hoạt động và góp phần giảm rủi ro
trong kinh doanh.
Lợi ích cho khách du lịch
- Khách du lịch có thể được tiếp cận và khám phá, nghiên cứu về các nền văn hoá, phong tục tập
quán lâu đời trường tồn qua thời gian, được chiêm ngưỡng, khám phá các phong cảnh, cảnh quan
tự nhiên, hoang sơ được tu bổ hợp lý, kết hợp với các công trình văn hoá, lịch sử cổ kính và hiện
đại.
- Được sử dụng các sản phẩm và du lịch tốt hơn với chi phí thấp hơn: nhờ tính hiệu quả của du lịch
bền vững.
Lợi ích cho điểm du lịch
- Bảo tồn được các giá trị về lịch sử, văn hóa và cảnh quan thiên nhiên: Ban quản lý của các điểm
du lịch có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ cho các đơn vị kinh doanh và khách du lịch, từ đó thu
lợi nhuận và tiếp tục đầu tư để cải tạo và nâng cấp, bảo vệ cho khu du lịch.
- Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân địa phương, nâng cao kinh tế địa phương.
1.3
Quan điểm của Việt Nam về phát triển du lịch bền vững
Ngày 3/8/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 2714/QĐ-
BVHTTDL phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025,
định hướng đến năm 2030”. Trong đó đã xác định tầm nhìn chiến lược trong phát triển sản phẩm
du lịch của Việt Nam là: “Phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam có giá tị gia tăng cao, đảm bảo
tính bền vững và cạnh tranh cao”.
Điều này cho thấy, ngành du lịch Việt Nam đang ngày càng quan tâm tới việc phát triển du
lịch một cách bền vững và hiệu quả. Phát triển du lịch chất lượng, đặc sắc, đa dạng, đáp ứng
được các nhu cầu và thị hiếu của khách du lịch trong và ngoài nước, nhưng quyết không đánh
đổi các giá trị về môi trường, văn hóa xã hội, phát triển du lịch “xanh”, tôn trọng yếu tố tự nhiên
và văn hóa địa phương. Giới chức du lịch nhiều địa phương Việt Nam đã đề ra các chiến lược
2
phát triển du lịch bền vững cho điểm đến của vùng như Hà Giang, Vịnh Hạ Long, Hoàng Su Phì,
Cù Lao Chàm …
Đặc việt, vấn đề về phát triển du lịch bền vững đã được đưa vào nghị trình của APEC 2017
tổ chức tại Đà Nẵng. Tại đây, lãnh đạo các quốc gia APEC đã đưa ra Tuyên bố Đà Nẵng, trong
đó có nội dung về phát triển du lịch bền vững. Các nhà Lãnh đạo các nền kinh tế APEC “cam kết
thúc đẩy du lịch bền vững, và xem xét khả năng phát triển du lịch ở các vùng sâu vùng xa như
một phần quan trọng của các chiến lược tăng trưởng kinh tế APEC và tăng cường kết nối con
người. Chúng tôi quyết tâm hoàn thành mục tiêu đạt được 800 triệu khách du lịch đến khu vực
APEC vào năm 2025”.
Nhìn vào Tuyên bố này có thể nhận thấy rõ cam kết và tầm nhìn của các nhà Lãnh đạo các
nền kinh tế APEC về vai trò của du lịch cũng như tầm quan trọng của phát triển du lịch theo
hướng bền vững. Đồng thời du lịch được lồng ghép và nhìn nhận là một thành phần quan trọng
trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của APEC. Đây là nền tảng để du lịch, với vai trò là một
ngành kinh tế tổng hợp, phát huy tối đa hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế ở các nền kinh tế APEC nói chung và Việt Nam nói riêng.
3
2
2.1
Tổng quan về du lịch bền vững ở Singapore
Vài nét về tình hình du lịch ở Singapore.
Du lịch là ngành công nghiệp chính ở Singapore, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.
Tổng cục Du lịch Singapore (Singapore Tourism Boarđ - STB) là một cơ quan năng động và hoạt
động hết sức hiệu quả, đưa đất nước Singapore trở thành một trong những điểm đến du lịch hấp
dẫn nhất trên thê giới. Dịch vụ và du lịch tăng trưởng 6,9% trong doanh thu bán lẻ. Sau những
ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoàng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 - 1998 và dịch SARS năm
2003, du lịch Singapore đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất. Theo thống kê của Tổng
cục du lịch Singapore năm 2005, thu nhập từ du lịch của du khách quốc tế đến Singapore đạt
10,8 tỷ SGD. Toàn đất nước Singapore đang hướng tới mục tiêu Du lịch năm 2015 tăng gấp đôi
lượng khách du lịch nước ngoài (17 triệu lượt so với 8 triệu lượt năm 2004), tang gấp ba doanh
thu từ du lịch (30 tỷ SGD so với 10 tỷ SGD năm 2004) và tăng thêm 100 nghìn việc làm cho cho
ngành du lịch. Chính phủ Singapore hử trợ 3 tỷ SGD (1,2 tỷ USD) cho các chương trình hành
động nhằm mục tiêu Du lịch năm 2015 này. Đất nước này đã thực sự (rở (hành một thú đô du
lịch như mục tiêu mà Singapore đặt ra năm 1996 cho thế kỷ 21.
2.2
Tình hình phát triển du lịch của Singapore hiện nay
Mỗi năm lượng khách du lịch quốc tế đến đều gấp hơn 3 lần dân số. Theo số liệu cập nhật
ngày 5/1/2018 của tổng cục du lịch Singapore, 10 tháng đầu năm 2017 có 14,453,302 lượt khách
quốc tế đến. Cụ thể hơn, trong 2 quý đầu năm 2017, số lượt khách quốc tế đến đạt 8,5 triệu, tăng
4% so với cùng kì năm 2016; thu nhập từ du lịch (tourism receipts) đạt 12,7 tỷ đô Sing, tăng 10
% so với cùng kì năm 2016; doanh thu từ buồng phòng khách sạn ước tính đạt 1,6 tỷ đô Sing,
giảm 1,6% so với cùng kì năm 2016.
Nguồn: Biểu đồ được vẽ từ số liệu tổng hợp từ báo cáo hàng năm của Tổng cục du lịch
Singapore đăng trên website www.stb.gov.sg
Thu nhập từ du lịch từ năm 2015 đến 2016 tăng mạnh. Số liệu của thu nhập từ du lịch
trong những năm gần đây được thể hiện trên biểu đồ sau:
4
Nguồn: Biểu đồ được vẽ từ số liệu tổng hợp từ báo cáo hàng năm của Tổng cục du lịch
Singapore đăng trên website www.stb.gov.sg
5
Doanh thu từ dịch vụ buồng phòng khách sạn (gazetted hotel room revenue)
Nguồn: Biểu đồ được vẽ từ số liệu tổng hợp từ báo cáo hàng năm của Tổng cục du lịch
Singapore đăng trên website www.stb.gov.sg
So sánh với một số nước khác về số lượt khách quốc tế đến, có thể nhận thấy rằng tuy là
một đất nước nhỏ bé, ít tài nguyên và chưa hẳn đã có nhiều lợi thế để phát triển du lịch nhưng
Singapore đã chứng tỏ được sức hút du lịch của mình. Số lượt khách quốc tế đến của Singapore
luôn lớn hơn gần gấp đôi so với Việt Nam, khá tương đương với Nhật Bản, và dĩ nhiên vẫn thấp
hơn một đất nước có nhiều điều kiện phát triển du lịch như Thái Lan.
Nguồn: Vẽ trên số liệu từ worldbank, bản cập nhât 19/01/2018
Theo thống kê của tổng cục du lịch Singapore, trên 50% khách du lịch quay trở lại du lịch
Singapore sau chuyến du lịch đầu tiên của mình đến đất nước này. Như vậy, có thể nói du lịch
Singapore ngày càng phát triển ổn định và chất lượng, làm hài lòng khách du lịch.
2.3
Tài nguyên du lịch Singapore
Qua một quá khứ lâu dài làm thuộc địa, Singapore đã thừa hưởng được một nền văn hoa
giàu có từ Trung Quốc, Ân Độ và Ả Rập. Đất nước này cũng nổi tiếng bởi mõi trường trong
lành, sạch sẽ và những chương trình báo tổn vãn hoa, bão tổn thiên nhiên. Bên cạnh đó, việc
tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ chính thức ở đây khiến du khách cảm thấy dễ dàng tiếp
cận với người dân địa phương khi đi tham quan, mua sắm... Hệ thống giao thông tuyệt vời ở
Singapore không chỉ phục vụ người dân mà thực sự đem lại sự thuận tiện cho du khách với hệ
thông làu điện MRT (Mass Rapid Transit) kết nối tất cả các điếm du lịch.
Với diện tích chỉ 699,1 km2, cả đất nước nằm gọn trong một thành phố nhưng tại
Singapore, lượng khách du lịch luôn gấp đôi số dân bản địa (năm 2005, dân số quốc gia này chỉ
có 4,4 triệu người nhưng lượng khách du lịch quốc tế lên tới 8.942 triệu du khách). Singapore
hấp dẫn du khách bởi vô vàn các điểm du lịch thú vị, các trung tâm mua sắm lộng lẫy và hàng
6
loạt các lễ hội của người Singapore, người Hoa, người Mã Lai, Ấn Độ, Ả Rập. Quận Orchard
Road với rất nhiều điểm mua sắm và khách sạn được coi là trung tâm du lịch của Singapore.
2.3.1
Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Vị trí địa lý, khí hậu và địa hình.
Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ
khác. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor cùa Malaysia - một con đường nhân
tạo có tên là Đường nối Johor - Singaporc ờ phía Bắc, băng qua eo biến Tebrau. Chỗ nối thứ hai
là Tuas. một cầu phía Tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau Ubin và Senlosa là
những đảo lớn nhất của Singapore. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukii Timah với độ cao
166 m. Tuy vậy Singapore lại là một hòn đảo có vị trí chiến lược, là cửa ngõ giao thương của khu
vực Đông Nam Á, thuận lợi cả về đường biển, đường bộ và đường hàng không.
Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước
lân cận. Nhờ đó, diện tích đất nước Singapore đã tăng từ 581,1 km2 ở thập niên 1960 lên 697,25
km2 ngày nay và có thể sẽ tăng thêm 100 km2 nữa đến năm 2030.
Singapore có khí hậu nhiệt đới ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại
khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và lượng nhiều. Nhiệt độ thay đối trong
khoáng 22 độ C đến 34 độ C. Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90 % vào buổi sáng và 60 %
vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ
thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 độ C và cao nhất là 37,8 độ C. Nền nhiệt độ cùa Singapore
tương tự như Việt Nam. Thích hợp để phát triển một hệ sinh vật phong phú và các loại hình du
lịch biển thú vị.
Tài nguyên sinh vật và nguồn nước
* Nguồn nước: Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của
Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa
rào cung cấp khoảng 50 % lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ
nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái
chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.
7
* Hệ sinh vật: về đời sống thực vật, phần lớn Irong diện tích 164 ha của khu bảo tổn thiên
nhiên Bukil Timah và Trung Calchment được bao phú bới thảo mộc nguyên sinh. Đó là những
khu rừng nguyên sinh còn sót lại tại Singapore. Ngoài ra, còn khoảng 500 ha rừng đước dọc theo
bờ phía Bắc Kranji, Sungei Loyang và Sungei Tampines... cùng một vài hòn đảo nhở ngoài khơi
như Pulau Ubin, Pulau Tekong... Ngoài những khu rừng nguyên sinh kể trên, đất đai Singapore
được bao phủ bởi những loài thảo mộc thuộc đại Trung sinh, nhiều nơi được khẩn hoang dành
cho việc canh tác.
Động vật: hươu, nai, chốn bay, thằn lần bay, hàng ngàn loài chim... Nổi tiếng nhất trong số
các khu bảo tổn kể trên là Bukit Timah. Một thành Phố nhỏ bé như Singapore lại là một trong hai
thành phố trên thế giới có có khu rừng mưa nhiệt đới nguyên sinh nằm trong khu vực thành phố,
khu bảo tồn thứ hai trên thế giới nằm ở thành phố Rio de Janeiro, Brasil. Tham quan khu rừng
này, du khách có thể ngắm nhìn những loài chim, bướm đẹp tuyệt, những chú sóc. Khỉ và vượn
cáo biết bay và loài thực vật hình nắp ấm ăn côn trùng...
2.3.2
Tài nguyên du lịch nhân văn
Tại đất nước Singapore, du lịch luôn được đầu tư phát triển và nhiều hình thức thu hút
khách du lịch mới ra đời dựa vào lài năng sáng tạo của con người. Đất nước này không được
thiên nhiên ưu đãi như các quốc gia khác nhưng bằng chính tài năng của người dân nơi đây, các
công trình du lịch nhân tạo vẫn thu hút được một lượng du khách khổng lồ.
Nền văn hóa hấp dẫn độc đáo
Singapore là quốc gia có nền lịch sử, văn hóa và đặc điểm thú vị của người Peranakan, một
dân tộc ra đời từ sự pha trộn giữa tổ tiên người Hoa và người Mã Lai của họ, lại chịu nhiều ảnh
hưởng của người Bổ Đào Nha và Người Hà Lan. Du khách thường tham quan vùng đất của
người Peranakan lại Katone ở Singapore để tìm hiểu về những phong tục phức tạp và thưởng
thức các món ăn độc đáo của người Peranakan. Phần đông người Singapore là người Trung Hoa,
vì vậy Chinatown là nơi quan trọng để thưởng lãm một ngôi đền Trung Hoa và ăn những món ăn
làm từ ếch và rắn còn sống. Tại khu Geylang Serai, một ngôi làng của người Mã Lai, để phục vụ
du khách, người dân bàn địa thường tổ chức một sự kiện văn hóa của cộng đồng người Mã Lai,
như đêm chủ đề hôn lễ của người Mã Lai. Ở khu Little India, Singapore hiện lên với một sự pha
trộn phong phú của quang cảnh và hương vị. Các loại gia vị kỳ lạ tràn ngập các con đường nhỏ
bé nhưng đông người qua lại. Những người thích mạo hiểm có thể tham dự một cuộc đua nhỏ có
8
tên gọi là Amazing Race và giải thưởng là một hình xăm henna bằng mực lá móng không gây
đau đớn.
Việc giữ gìn và duy trì các khu vực sinh sống của các dân tộc như Chinatown của người
Trung Quốc, Litle India của người Ân Độ, Geylang của người Mã Lai, Holland Víllage của
người Hà Lan... khiến Singapore rất phát triển về mảng du lịch văn hóa. Trước đây, những năm
60, 70 của thế kỷ 20, Singapore đã dùng chiến dịch "Instant Asia" để nhấn mạnh một ưu thế: chỉ
cần đến Singapore, bạn có thể cảm nhận được cả châu Á.
Các lễ hội và hoại động văn hoa sôi nổi độc đáo
Có đến 7.000 sự kiện diễn ra trong một năm. Singapore tràn ngập không khí lễ hội suốt
năm từ Lễ hội hoa đăng đêm Giáng sinh, lễ hội mua sắm tại các chương trình siêu khuyến mãi,
các cuộc diễu hành ăn mừng như đám rước Chingay. các sự kiện giải trí quốc tế cho đến các cuộc
so tài thế thao ngoạn mục. Các lễ hội cổ truyền hấp dẫn người tham dự không những bằng cánh
quan và những màn trình diễn mà còn bằng các món ăn của mình, ăn mừng Tết Âm lịch Trung
Hoa bằng cách tung lên không trung món Yu Sheng (gỏi cá sông) để mang đến sự phồn thịnh và
sức khỏe hoặc gây ấn lượng cho du khách bàne một m à n trình diễn ngoạn mục với ánh sáng và
hoa thơm, kẹo và thức ăn khi Little India trở thành trung tâm của ngày lễ Deepavali, lễ hội anh
sáng.
Những điếm tham quan thú vị nhất có thế kể tới tại Singapore vườn Trung Hoa và công
viên Bờ Đông. Đây là hình ảnh thu nhỏ nhưng hết sức sống động về Trung Hoa cổ xưa. Vườn
được xây dựng từ năm 1975 theo thiết kế cùa một giáo sư nổi tiếng đến từ Đài Loan, mô phỏng
theo lối kiến trúc và phong cách cung đình phương Bắc Trung Quốc. Sau khi đi tham quan khắp
thành phố. du khách có thể nghỉ ngơi ở công viên Bờ Đông. Đây là công viên nằm bên phái đại
lộ East Coast, với bãi biển và phong cảnh đẹp. Ở đây, người ta cũng tổ chức các chương trình
giải trí hấp dẫn phục vụ du khách vào dịp cuối tuẩn như chơi trò chơi thể thao: Golf, quần vợt,
các trung tâm thể thao dưới nước và trung tâm bơi thuyền East Coast.
Văn hóa ẩm thực
Singapore được xem là thủ đô ẩm thực của châu Á. Người dân Singapore rất đam mê ăn
uống. Hầu hết các góc phố ở trên quốc đảo này đều có thể tìm thấy rất nhiều các loại món ăn, dù
nóng hay nguội, vào bất cứ giờ nào trong ngày hay đêm. Văn hóa ẩm thực của Singapore là sự
9
pha trộn của các mùi vị thức ăn từ khắp nơi trên thế giới: món ăn Trung Quốc, Malay, Ấn Độ,
Paranakan và còn rất nhiều món ăn của các dân tộc khác. Món ăn Singapore còn thể hiện sự đa
dạng văn hóa độc đáo cùa đất nước này cũng như về sự đan xen và chuyển hóa lẫn nhau của từng
nét văn hóa. Cho dù món ăn bất nguồn từ Ấn Độ, Trung Quốc hay những nước khác trong khu
vực và có thể vẫn mang cái tên cũ nhưng chúng đều được Singapore hóa trở thành món ăn đặc
trưng. Thêm vào đó, Singapore cũng có những quy định cực kỳ nghiêm ngặt trong việc chuẩn bị
thức ăn và vệ sinh công cộng. Những món ăn nổi tiếng ở Singapore có thể kể đến là canh sườn
heo Bak Kut The, hủ tiếu xào cay Char Kway Teow, bánh trứng cà rốt, thịt nướng xiên Satay, cua
sốt tiêu. Ngoài ra Singapore còn có một số món ăn hấp dẫn như: Cua chiên ớt, Cari đầu cá, cơm
gà Hải Nam, Salad trộn rau quả Rojak, Laska
Điểm tham quan thú vị độc đáo
Singapore đã xây dựng một loạt các điểm tham quan thú vị độc đáo giúp du khách có thể
bơi lội vui đùa với các chú cá mập, được ăn tối với đười ươi và khám phá các loài sinh vật sống
về đêm trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Chỉ ngay ở phía Nam của Singapore có hòn
đảo du lịch Sentosa với những bãi biển hoang sơ, những điểm tham quan lịch sử như pháo đài
Siloso. Chương trình ẩm thực Gourmet Safari Exprcss tại Sở thú Singapore được du khách quốc
tế đánh giá là rất độc đáo. Thêm vào đó, việc tham gia bữa điểm tâm cùng các chú chim trong
khung cành lộng lẫy của nhà nghi Flamingo tại vườn chim Jurong cũng cung cấp cho du khách
những trải nghiệm mới lạ.
Nghệ thuật bố ích độc đáo
Trình diễn nghệ thuật phục vụ du khách cũng là một thế mạnh đặc biệt của đất nước
Singapore. Nhiều màn trình diễn ấn tượng đẳng cấp thế giới đã được tổ chức tại Esplanade - nhà
hát trên Vịnh, điểm đến nghệ thuật trình diễn hàng đầu của đất nước này. Các màn biểu diễn
riêng có thể được sắp xếp tại Esplanade's Roof Terrance, phục vụ bánh mì canape và rượu
champagne. Nhà hát này có thể tổ chức đa dạng các loại hình nghệ thuật từ phương Đông sang
phương Tây hấp dẫn du khách quốc tế, từ opera Bắc Kinh, nhạc kịch Broadưay, vũ balê Bolshoi
cho đến Kerala Kathakali. Tại Bảo tàng văn minh châu Á, các hãng du lịch Singapore cũng cung
cấp nhiều chương trình ẩm thực tiếp đón khách với chủ đề Peranakan thỏa mãn nhiều nhu cầu
khác nhau của du khách. Một hình thức nghệ thuật độc đáo được du khách nhiều nước ưa thích là
10
chương trình hòa nhạc Opera Quảng Đông. Du khách sẽ được mặc những bộ trang phục lộng lẫy
sắc màu của các nghệ sĩ Opera và được trang điểm như những diễn viên Opera.
2.4
Phát triển du lịch bền vững Singapore
Singapore đã không ngững nỗ lực để tạo ra hình ảnh du lịch hấp dẫn du khách với
“Singapore đất nước sạch và xanh”. Bên cạnh việc trồng rất nhiều cây xanh, có chính sách dành
đất để có những khu vườn thực vật rộng 52 ha nơi có vườn lan quốc gia với 3.000 loài hoa phong
lan, vườn chim Jurong, đảo Sentosa,... và phần đất hai bên của tất cả các con đường, phố đều
nằm trong ngút ngàn của 3 tầng thực vật quanh năm xanh mướt, thì Singapore còn cho ra nhiều
đạo luật liên quan đến môi trường và các biện pháp thi hành các chế tài dân sự, hành chính và
hình sự. Bảo vệ môi trường được đề cao ở mọi lúc, mọi nơi, trên cơ sở nâng cao dân trí, rèn
luyện ý thức nghiêm túc chấp hành pháp luật cho người dân; xử lý nghiêm các trường hợp vi
phạm, kể cả người nước ngoài.
Năm yếu tố tạo thành công cho du lịch Singapore tóm lược bằng 5 chữ A trong tiếng Anh
là: Thắng cảnh (Attractions); Tiếp cận thuận lợi (Accessibility); Tiện nghi (Amenities); Dịch
vụ hỗ trợ (Ancillary services); và Sự điều chỉnh (Adjustment).
Để đạt được 5 A, Singapore tập trung thực hiện 5 giải pháp chủ yếu sau:
Một là hoạch định và tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển du lịch phù hợp từng thời kỳ,
có chủ đề cụ thể: Chiến lược Du lịch Singapore năm 1968, có chủ đề phát huy công sức, trí tuệ
của người dân quốc đảo tham gia quy hoạch đảo du lịch Sentosa. Chiến lược phát triển du lịch
năm 1986 với chủ đề bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa. Chiến lược phát triển du lịch
năm 1993, chủ đề là phát triển các sản phẩm du lịch mới. Chiến lược Du lịch 21 năm 1996,
chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với chủ đề
“Nhà vô địch du lịch Singapore”. Năm 2005, Singapore xây dựng Chiến lược “Du lịch 2015”,
với chủ đề phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ
nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát
triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm
trọng tâm của du lịch… Chiến lược phát triển du lịch năm 2012 của Singapore với chủ đề “Địa
giới du lịch 2020”, đầu tư 300 triệu đô la Singapore để tổ chức các sự kiện du lịch, 340 triệu đô
la phát triển sản phẩm du lịch, 265 triệu đô la phát triển nguồn nhân lực du lịch; phấn đấu năm
11
2015 đón 17 triệu lượt khách quốc tế, thu nhập du lịch 30 tỷ đô la Singapore và tạo ra 250.000
việc làm.
Hai là đầu tư lớn và thường xuyên tu bổ danh thắng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Từ
giữa những năm 80 của Thế kỷ trước, Chính phủ Singapore đầu tư hàng trăm triệu đô la nâng
cấp các danh thắng, khu nghỉ dưỡng, di tích văn hóa và lịch sử, tạo cho du khách ở Singapore
hàng tuần vẫn không thấy thiếu chỗ tham quan. Trên đảo du lịch Sentosa nhỏ bé, du khách đi cả
ngày không chán để tận hưởng không khí tuyệt vời của các khu nghỉ đẳng cấp cao (Sijori Resort,
The Sentosa Resort & Spa, Shangri-La’s, Rasa Sentosa Resort); Khu thủy cung huyền diệu
(Underwater World), Tháp Carlsberg; Khu nhạc nước ( Musical Fountain ); Khu trượt xe cảm
giác mạnh (Sentosa Luge); Sân gôn (Sentosa Golf Club); Khu biểu diễn Cá heo (Dolphin
Lagoon); Vườn Bướm và Côn trùng; Triển lãm Hình ảnh Singapore; Tháp Sư tử biển. Singapore
tập trung xây dựng quốc đảo trở thành trung tâm triển lãm và hội nghị hàng đầu châu Á, trung
tâm dịch vụ và giải trí bậc nhất.
Ba là tạo sự tiếp cận điểm đến thuận lợi nhất: Du khách đi lại rất thuận tiện đến các điểm
trên quốc đảo Singapore nhờ hệ thống tàu điện ngầm hiện đại và an toàn. Xe buýt, xe con và xe
taxi chạy tốc độ rất cao, nhưng hầu như không có tai nạn giao thông, nhờ hệ thống đường sá tốt,
tính tự giác cao của người tham gia giao thông và hệ thống đèn đường hiện số bố trí hợp lý. Cơ
sở vật chất kỹ thuật hàng không được quan tâm đầu tư để kích cầu du lịch quốc tế. Sân bay
Changi liên tục được bầu chọn là sân bay tốt nhất thế giới, mới được đầu tư 1,8 tỷ đôla
Singapore để nâng cấp. Chính sách cởi mở về thị thực, miễn thị thực du lịch đối với du khách
quốc tế là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp quốc đảo sư tử phát triển du lịch.
Singapore có quan hệ ngoại giao với 175 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã miễn thị thực cho du
khách của 143 quốc gia. Thủ tục xuất nhập cảnh được cải tiến liên tục, thuận tiện. Nhà hàng ăn
uống, cửa hàng trong sân bay hoạt động nhộn nhịp hơn cả trong quốc đảo.
Bốn là kết hợp nhiều hoạt động, liên kết các loại hình du lịch để tích hợp hình thành loại
hình du lịch độc đáo tạo sức thu hút du lịch và sự sôi động mới: Loại hình du lịch BTMICE
(Business Traveller, Meetings, Incentives, Conventions and Exhibitions) được hình thành bởi các
hoạt động du lịch gắn với du lịch thương mại, gặp gỡ, khen thưởng, hội nghị và triển lãm để tạo
sôi động mới một cách liên tục và mang lại nguồn thu chính cho Du lịch Singapore. Singapore
xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc
12
dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển
trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du
lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix),
Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng
hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát
triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch. Từ năm 1971, quốc
gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục
phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ
xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ
đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á. Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay
với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân
để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ
các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec
Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo. Đến năm 1996,
SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh
vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh
vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là
người đi du lịch công vụ. Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch
MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia.
Năm là Điều chỉnh sản phẩm, giá cả và đầu tư quảng bá du lịch kịp thời: Bằng nhiều cơ
chế linh hoạt, Singapore không ngừng làm mới sản phẩm du lịch; điều chỉnh chính sách giá như
giảm giá vé máy bay, giá phòng khách sạn, giá vé vào cửa... Singapore hạ thuế suất nhập khẩu
nhiều mặt hàng cao cấp xuống 0%, thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng cho du khách mua hàng ở
Singapore mang ra, nên đã kích thích được nhu cầu mua sắm của du khách và tăng lượng khách
đến Singapore, hàng năm đã có thêm thu nhập từ “xuất khẩu tại chỗ” trên 15 tỷ đôla Singapore.
Singapore phấn đấu trở thành một trung tâm mua sắm của khu vực. Hàng năm, Singapore đầu tư
hàng tỷ đôla Singapore để quảng bá du lịch. Là trung tâm tài chính, kinh tế của khu vực Đông
Nam Á, của châu Á và thế giới, Singapore đặc biệt có thế mạnh trong phát triển du lịch MICE.
Hiện có hơn 7 nghìn Công ty đa quốc gia trên thế giới đặt văn phòng đại diện tại Singapore góp
phần quảng bá du lịch Singapore.
13
2.5
2.5.1
Nguyên nhân Singapore đạt được phát triển du lịch bền vững
Hoạch định chính sách
Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến
lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du
lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch”
(năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch
2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).
Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục
các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong
Glam, sông Singapore.
Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản
phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát
triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển
nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức
của người dân về du lịch…
Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho
sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến
lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch,
chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
Trong “Du lịch 2015” (năm 2005), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với
phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch
“phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch,
nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch
chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch…
Trong “Địa giới du lịch 2020” năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các
sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát
triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2
14
tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30
tỷ đô Sing.
2.5.2
Phát triển du lịch đô thị bền vững
Vào những năm 1980 của thế kỷ trước, chính phủ Singapore đã đặt trọng tâm vào việc phát
triển ngành du lịch như một biện pháp để đa dạng hóa cơ cấu nền kinh tế Singapore. Tới ngày
nay, du lịch đã đóng góp một phần quan trọng vào GDP của Singapore, đóng vai trò then chốt
trong các vấn đề về việc làm và hoạt động kinh doanh buôn bán. Tuy nhiên, Singapore luôn gặp
một sự cạnh tranh lớn từ chính các quốc gia trong khu vực với những khu nghỉ dưỡng ven biển
sang trọng, thơ mộng hay các cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Hầu hết hoạt động du lịch của
Singapore đều xoay quanh hoạt động “du lịch đô thị”.
Xác định được điều này, Chính phủ Singapore đã tiến hành xây dựng các cơ sở hạ tầng cần
thiết, từ hệ thống sân bay, giao thông vận tải tới cơ sở lưu trú, các công viên giải trí, … với sức
chứa lớn, đặt mục tiêu trở thành “kinh đô du lịch của thế giới”. Tuy nhiên, môi trường đô thị vốn
không phù hợp để thiết kế các hoạt động du lịch cho một lượng lớn du khách. Điều này đặt ra
nhiều gánh nặng lên môi trường đô thị cũng như vấn đề về văn hóa quốc gia.
Chính từ thách thức này, Singapore đã đề ra hướng đi phát triển du lịch đô thị bền vững.
Hoạt động du lịch bền vững trong bối cảnh đô thị của Singapore sẽ hướng tới giải quyết các vấn
đề tiêu cực của du lịch mang lại lên môi trường, cơ sở hạ tầng, di lịch sử, … Từ đó đạt được ba
tiêu chí bền vững là:
Kinh tế bền vững: Các nguồn lợi kinh tế từ hoạt động du lịch đủ để bù đắp hoặc lớn hơn
các chi phí, bất tiện phát sinh do quá tình phát triển du lịch.
Xã hội bền vững: Cộng đồng có thể hấp thụ được các hệ quả của việc phát triển du lịch
như đông người, ô nhiễm tiếng ồn, …
Văn hóa bền vững: Khả năng kế thừa và tiếp nối các truyền thông văn hóa của dân tộc.
Một ví dụ điển hình cho những triết lý trên chính là sự phát triển hoạt động du lịch gắn liền
dòng sông Singapore, chảy dài từ phía cửa sông tới cầu Kim Seng, bao phủ diện tích lên tới 82
ha.
Vào những năm 1950, nhu cầu phát triển và mở rộng lớn của Singapore đã gây nhiều áp
lực cho dòng sông, khiến dòng sông bị rơi vào tình cảnh ô nhiễm nặng nề. Thời gian đó, dòng
15
sông bị ô nhiễm hóa chất của các ngành tiểu thủ công nghiệp, chứa đầy phế thải xây dựng và
đồng thời là nguồn nước phục vụ cho các hoạt động canh tác nông nghiệp. Thời kỳ này, sông
Singapore đơn thuần được sử dụng cho mục đích kinh tế, bỏ mặc các tiềm năng về mặt sinh thái.
Cho tới năm 1977, Chính quyền thành phố đã nhận ra được những giá trị về mặt du lịch
của dòng sông nên đã tiến hành cải tạo dòng sông này. Mọi hoạt động xả thải đều bị cấm, hoạt
động vận tải đường sông bị hạn chế xuống mức tối đa và tiến tới loại bỏ gần như hoàn toàn vào
năm 2002. Chính phủ đã giao đề án phát triển du lịch ven sông Singapore cho 2 cơ quan chính
phủ là STB và URA quản lý và phát triển. Với tôn chỉ đứa sông Singapore trở thành một điểm du
lịch thú vị, họ đã tiến hành xây dựng các hệ thống căn hộ cao cấp, khách sạn, nhà hàng, khu mua
sắm dọc hai bờ sông, cho lắp đặt các hệ thống chiếu sáng, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, các
câu lạc bộ hoạt động về đêm, …
Những chính sách phát triển du lịch ven sông Singapore tới nay đã chứng minh tính hiệu
quả của mình khi trở thành một điểm đến phổ biến của không chỉ du khách quốc tế mà của chính
người dân Singapore. Tuy nhiên quá trình phát triển này phần nào chưa đáp ứng được 3 tiêu chí
về phát triển bền vững của mình thể hiện ở một số điểm sau:
Về tính bền vững kinh tế, hiệu quả về hoạt động du lịch không được như kỳ vọng. Chỉ có
khoảng 26% các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động ven dòng sông có trên 50% khách hàng tới
từ hoạt động du lịch và đặc biệt là 63% số lượng khách hàng họ phục vụ là khách nội địa. Ngoài
ra, việc phát triển tuyến du lịch ven sông đã đạt được những thành tựu lớn về mặt cơ sở hạ tầng
khi đã xây dựng và phát triển được hệ thống nhà hàng, khách sạn, địa điểm vui chơi giải trí hiện
đại. Nhưng việc phát triển này đã gây tác động lớn tới hoạt động kinh tế truyền thống và cuộc
sống của chính người dân bản địa. Ngành tiểu thủ công nghiệp ven sông đã bị ảnh hưởng nặng
nề, người dân không có khả năng làm kinh tế tại khu vực này do hệ thống cơ sở hạ tầng đều được
cho thuê với giá tương đối cao. Việc phát triển nhanh chóng này còn làm mất đi nhiều giá tị
truyền thống của dòng sông, khiến nó mất đi tính đặc trưng của người dân Singapore và trở nên
ít khác biệt hơn so với các tuyến du lịch ven sông ở Anh, Úc, Áo, …
Về tính bền vững xã hội, vấn đề chính nằm ở việc di dời người dân sinh sống ven sông
trước khi tiến hành hoạch định lại sự phát triển của dòng sông. Họ được chuyển tới sinh sống ở
những khu vực khác và họ không được sống gần bạn bè lâu năm, người thân, … gây ảnh hưởng
trong chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, việc phải rời khỏi dòng sông khiến họ phải tìm công việc
16
mới. Nếu như trước đây kế sinh nhai của họ là việc lái thuyền chở khách, chở hàng trên sông thì
giờ họ phải tìm một công việc hoàn toàn xa lạ và khả năng của họ nhiều khi không đáp ứng được
các tiêu chuẩn công việc.
Về tính bền vững văn hóa, khi phát triển dòng sông, chính quyền địa phương đã có ý thức
trong việc xây dựng các bảo tàng, quảng trường biểu diễn và các tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên
các công trình này lại hướng tới việc quảng bá và giới thiệu các nét đặc trưng của văn hóa châu
Á nói chung thay vì là văn hóa về đời sống, sinh hoạt của người dân Singapore. Nhiều người dân
Singapore khi được khảo sát về các bảo tàng ven sông đều cho rằng nó chưa thể hiện được chiều
sâu và sự phức tạp của văn háo địa phương, ngay cả khi nó là một điểm đến phổ biến của khách
du lịch cũng như nơi ngoại khóa cho học sinh trong vùng.
2.5.3
Một số chính sách khác
Để thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững, Singapore còn có những chính sách cụ
thể. Một số chính sách Singapore đã thực hiện như:
-
Về việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, chính phủ đã đưa ra những chính sách bảo vệ các khu
rừng rất nghiêm ngặt để du lịch sinh thái rừng phát triển nhưng vẫn đảm bảo không bị nguy hại
-
và suy giảm
Có chính sách về việc giữ động vật ở sở thú, đặc biệt các động vật có nguy cơ tuyệt chủng, và
-
thả con của những loài vật đó trở lại với môi trường tự nhiên dưới các chương trình khác nhau.
Về bảo vệ môi trường chung, Singapore có những quy định rất khắt khe như: không vứt rác bừa
bãi trên vỉa hè và đường phố, nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền 1000$ sing, nếu tiếp tục tái phạm mức
phạt sẽ được tăng lên từ 2.000-5.000$ sing cùng với đó là ánh mắt thiếu thiện cảm của người
dân, không được ăn kẹo cao su, nếu như ăn kẹo cao su sẽ bị phạt 1000 dollar và phải lao động
công ích trong 10 giờ (nếu phản đối sẽ bị phạt roi), Singapore không hưởng ứng việc hút thuốc
lá, chỉ được hút thuốc ở khu vực cho phép, nếu hút thuốc ở những nơi bị cấm sẽ bị phạt 500$
Singapore. Những quy định này đã góp phần làm nên một đất nước Singapore nổi tiếng xanh –
-
sạch – đẹp bậc nhất thế giới, từ đó thu hút nhiều hơn khách du lịch.
Luật lệ giao thông ở Singapore cũng rất nghiêm ngặt, mang lại sự an toàn hơn, làm cho khách du
lịch cũng yên tâm hơn khi tham gia giao thông ở Singapore, góp phần thu hút khách du lịch hơn.
Một số quy định đáng chú ý như: luôn sử dụng vạch cho người đi bộ để qua đường, nếu vi phạm
sẽ bị phạt từ 1000$ đến 6 tháng tù giam, luôn phải thắt dây an toàn khi đi ô tô, v.v...
17
Còn rất nhiều các chính sách khác của Singapore tạo nên một đất nước xanh sạch đẹp và
văn minh, làm nền tảng để du lịch Singapore ngày càng phát triển bền vững.
18
3
Phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm của Singapore
3.1
3.1.1
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên về phát triển du lịch
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Việt Nam
Bộ phận đất liền có diện tích 329.297 km2, đứng thứ 56 về diện tích so với các nước trên
thế giới, đứng thứ tư về diện tích so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, sau Inđônêxia,
Mianma và Thái Lan. Phía bắc phần đất liền giáp Trung Quốc có đường biên giới dài
hơn 1.400km, phía tây giáp Lào có đường biên giới dài 2.067 km và giáp Cam-pu-chia với
đường biên giới dài 1.080 km, phía đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 3.260 km.Bộ
phận đất liền nước ta nằm trong toạ độ địa lý: 8º27’ – 23º23’, vĩ độ Bắc 102º08’ – 109°28’ kinh
độ Đông. Bộ phận lãnh hải có diện tích rộng trên 1 triệụ km2,bao gồm nội thuỷ, lãnh hải, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, rộng 200 hải ly tính từ đường cơ sở. Dưới phần nước
biển là phần thềm lục địa.
Vị trí địa lý nước ta gần như ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, khoảng cách từ Hà Nội
đến thủ đô Ran-gun của Mi-an-ma là 1,220km, đến Băng Cốc, Viên Chăn, Pnôm Pênh, Xin-gapo còn gần hơn khoảng cách này nên thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển du lịch với các nước
trong khu vực.
Nước ta có địa hình đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích đất liền, chủ yếu là đồi núi thấp,
núi có độ cao trên 2.000m chỉ chiếm có 1% diện tích. Cấu tạo địa chất của địa hình núi nước ta
gồm đá vôi, đá badan, đá hoa cương, đá gơ nai, đá sa phiến thạch… Trong đó, địa hình đá vôi
chiếm khoáng 50.000km phân bố ở nhiều nơi. Với ảnh hưởng của các quá trình địa chất, địa
mạo, địa hình đá vôi đã tạo ra nhiều phong cảnh đẹp. Theo điều tra chưa đầy đủ cho thấy ở nước
ta có khoảng 400 hang động đá vôi, không những có phong cảnh đẹp, hấp dẫn du khách mà còn
có giá trị về mặt địa chất, lưu giữ các giá trị văn hóa, tài nguyên du lịch có giá trị. Đặc biệt Vịnh
Hạ Long với một quần thể các đảo đá vôi đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế
giới.
Sự kết hợp giữa khí hậu, sinh vật, thuỷ văn và địa hình đã tạo cho các vùng núi có phong
cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tham quan.
Địa hình đồng bằng khá bằng phẳng, bao gồm: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu
Long và các đồng bằng ở Duyên hải miền Trung. Các đồng bằng là yếu tố tự nhiên quan trọng
19
cho việc hình thành, nuôi dưỡng phát triển, các nền văn hoá, văn minh ở nước ta, thuận lợi cho
việc phát triển các loại hình du lịch sông nước, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá….
Việt Nam có đường biển lên tới 3.260km, tính trung bình cứ 100km2 diện tích thì có 1km
bờ biển, trong khi trên thế giới trung bình 600km2 thì mới có 1km bờ biển. Địa hình bờ biển
nước ta có nhiều cửa sông, vũng vịnh, thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng. Đây là điều kiện
quan trọng để hình thành và phát triển nhiều thương cảng – thành phố biển như Hải Phòng, Vũng
Tàu, Đà Nẵng…Thềm lục địa nông và rộng, biển ấm. Nhiệt độ trung bình của nước biển từ 25 –
28°c, vùng biển phía bắc vào mùa đông nhiệt độ nước biển hạ thấp hơn do ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc. Độ mặn trung bình của nước Biển Đông là 34‰, về mùa mưa độ mặn là 32‰ và
mùa khô là 35‰. Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển
lặn biển…
Việt Nam có đường biển lên tới 3.260km, tính trung bình cứ 100km2 diện tích thì có 1km
bờ biển, trong khi trên thế giới trung bình 600km2 thì mới có 1km bờ biển. Địa hình bờ biển
nước ta có nhiều cửa sông, vũng vịnh, thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng. Đây là điều kiện
quan trọng để hình thành và phát triển nhiều thương cảng – thành phố biển như Hải Phòng, Vũng
Tàu, Đà Nẵng…Thềm lục địa nông và rộng, biển ấm. Nhiệt độ trung bình của nước biển từ 25 –
28°c, vùng biển phía bắc vào mùa đông nhiệt độ nước biển hạ thấp hơn do ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc. Độ mặn trung bình của nước Biển Đông là 34‰, về mùa mưa độ mặn là 32‰ và
mùa khô là 35‰. Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển
lặn biển…Biển nước ta còn có gần 4.000 hòn đảo trong đó có một số quần đảo xa bờ như Trường
Sa, Hoàng Sa… và nhiều đảo lớn có giá trị về du lịch như Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà…
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm từ 23 – 27°C, lượng mưa
trung bình năm từ 500 – 2000mm, độ ẩm trung bình trên 80%, bức nhiệt xạ là 130 kcl/cm2 khí
hậu có sự phân hoá theo mùa, rõ nhất là sự phân hóa lượng mưa, có tới 90% lượng mưa tập trung
từ tháng 4 đến tháng 10. Miền Bắc và miền Nam thường mưa nhiều vào tháng 6- 9. Miền Trung
mưa nhiều vào tháng 9 – 12. Do đó thường gây ra lũ lụt, lở đất gây khó khăn cho hoạt động du
lịch. .
20
3.1.2
Tài nguyên và thế mạnh du lịch
Điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá... đã tạo cho Việt Nam có tiềm năng du lịch
phong phú, đa dạng. Việt Nam có bờ biển dài, nhiều rừng, núi với các hang động tuyệt đẹp,
nhiều công trình kiến trúc cổ và nhiều lễ hội đặc sắc.
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm
rất đẹp và thuận lợi cho khai thác du lịch mà không phải quốc gia nào cũng có. Các bãi tắm nổi
tiếng từ bắc đến nam có thể kể đến như Trà Cổ, Hạ Long, Ðồ Sơn, Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò,
Thiên Cầm, Lăng Cô, Ðà Nẵng, Nha Trang, Cà Ná, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên, Phú Quốc…
Ðặc biệt vùng biển Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên được UNESCO hai lần công nhận là
Di sản Thiên nhiên thế giới vào các năm 1994 và 2000 bởi những giá trị ngoại hạng mang tính
toàn cầu về cảnh quan thiên nhiên và địa chất, địa mạo. Hiện nay, vịnh Hạ Long nằm trong danh
sách 28 ứng cử viên lọt vào vòng chung kết của cuộc vận động bầu chọn “7 kỳ quan thiên nhiên
mới của thế giới”. Bên cạnh đó, 3 vịnh là Hạ Long, Nha Trang, Lăng Cô được công nhận là
thành viên của Câu lạc bộ Các vịnh đẹp nhất thế giới.
Ngoài ra, nhiều bãi biển và đảo được các hãng thông tin, tạp chí, cẩm nang du lịch uy tín
trên thế giới bình chọn với các danh hiệu ấn tượng và hấp dẫn khách du lịch như: biển Đà Nẵng
từng được tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn là một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh vào năm
2005; bãi Dài ở Phú Quốc năm 2008 đã đứng đầu trong số 5 bãi biển đẹp và sạch trên thế giới
trong cuộc bình chọn dài ngày mang tên "Hidden Beaches" của hãng tin ABC News; Côn Đảo là
một trong những điểm đến ấn tượng nhất Đông Nam Á năm 2010 do tạp chí New York Times
chọn. Đặc biệt, năm 2011 Côn Đảo nằm trong top 20 hòn đảo bí ẩn nhất thế giới do tạp chí du
lịch Travel and Leisure (Mỹ) bình chọn và là 1 trong 10 hòn đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới để
hưởng một kỳ nghỉ lãng mạn do cẩm nang du lịch quốc tế Lonely Planet (Anh) bầu chọn.
Là quốc gia trong vùng nhiệt đới, nhưng Việt Nam có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang
dáng dấp ôn đới như những đô thị nhỏ ở châu Âu như: Sa Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Bà Nà, Ðà
Lạt... Các điểm nghỉ mát này thường ở độ cao trên 1000 m so với mặt biển. Thị trấn Sa Pa hấp
dẫn với những biệt thự cổ kính và những công trình hiện đại nằm xen giữa các vườn đào và hàng
sa mu xanh ngắt. Đặc biệt, tuyến đường Sa Pa nằm trong danh sách 10 con đường mòn tuyệt vời
nhất khắp thế giới dành cho du khách thích đi bộ nhẹ nhàng vào ban ngày do nhà xuất bản sách
hướng dẫn du lịch Lonely Planet công bố. Con đường này sẽ đưa bạn hòa nhập vào cuộc sống
21
bản địa giữa những cánh đồng lúa bậc thang và các ngôi làng gần đó. Hơn nữa, những thửa
ruộng bậc thang tuyệt đẹp trải dài theo những sườn núi, quanh co theo những cung đường nơi
đây đã được tạp chí Travel and Leisure của Mỹ công bố là một trong 7 thửa ruộng bậc thang đẹp,
kỳ vĩ nhất Châu Á và thế giới. Thành phố Ðà Lạt là nơi nghỉ mát lý tưởng nổi tiếng với rừng
thông, thác nước và vô số loại hoa. Khách du lịch tới Ðà Lạt còn bị quyến rũ bởi những âm
hưởng trầm hùng, tha thiết của tiếng đàn Tơ rưng và cồng chiêng Tây Nguyên trong những đêm
văn nghệ.
Ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu nhiều vùng tràm chim và sân chim, nhiều khu rừng quốc
gia nổi tiếng với những bộ sưu tập phong phú về động thực vật nhiệt đới như: Vườn quốc gia
Cúc Phương ở Ninh Bình, Vườn quốc gia Cát Bà ở Hải Phòng, Vườn quốc gia Côn Ðảo ở Bà
Rịa-Vũng Tàu... Trong đó vùng tràm chim Tam Nông (Ðồng Tháp), nơi có chim sếu đầu đỏ sinh
sống, trở thành trung tâm thông tin về sếu được tài trợ bởi quỹ quốc tế về bảo tồn chim. Vườn
Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với những giá trị đặc sắc về lịch sử hình thành trái đất, lịch sử
địa chất, địa hình, địa mạo,cảnh quan kì vĩ, huyền bí, tính đa dạng sinh học cùng với giá trị văn
hóa – lịch sử đặc sắc, đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003.
Hệ thống hang động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang động Hoàng gia Anh (BCRA)
đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế giới với 4 điểm nhất: có các sông ngầm dài nhất, có
cửa hang cao và rộng nhất, những bờ cát rộng và đẹp nhất, những thạch nhũ đẹp nhất. Đặc biệt,
hang Sơn Đoòng nằm trong quần thể hang động này được các nhà khoa học và thám hiểm công
nhận là hang kỳ vĩ nhất hành tinh. “Có cả rừng trong hang, đủ lớn để chứa được một tòa nhà
chọc trời tại New York. Còn điểm kết của hang là bất tận.” - Đó là những dòng đánh giá về hang
Sơn Đoòng, trên tạp chí National Geographic.
Bên cạnh đó, tính đến năm 2011, Việt Nam được UNESCO công nhận 8 "Khu dự trữ sinh
quyển thế giới", đó là: Vườn Quốc gia Cát Tiên (nay là Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai) (2001),
Rừng ngập mặn Cần Giờ ở thành phố Hồ Chí Minh (2000), Quần đảo Cát Bà ở thành phố Hải
Phòng (2004), Châu thổ sông Hồng (vùng đất ngập nước ven biển thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nam
Định, Ninh Bình) (2004), Ven biển và biển đảo Kiên Giang (2006), miền Tây Nghệ An (2007),
Cù Lao Chàm ở Hội An - Quảng Nam (2009), và Mũi Cà Mau ở tỉnh Cà Mau (2009).
Nguồn nước nóng, nước khoáng thiên nhiên ở Việt Nam rất phong phú như suối khoáng
Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình), suối khoáng nóng Bang (Quảng
22
Bình), suối khoáng Hội Vân (Bình Ðịnh), suối khoáng Dục Mỹ, Tháp Bà (Nha Trang), suối
khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối khoáng nóng Bình Châu - Hồ Cốc (Bà Rịa – Vũng Tàu)…
Những vùng nước khoáng nóng này đã trở thành những nơi nghỉ ngơi và phục hồi sức khoẻ được
nhiều khách du lịch ưa chuộng.
Với bề dày lịch sử 4.000 năm, Việt Nam còn giữ được nhiều di tích kiến trúc có giá trị
trong đó còn lưu giữ được nhiều di tích cổ đặc sắc với dáng vẻ ban đầu như: Chùa Một Cột,
Chùa Kim Liên, Chùa Tây Phương, Ðình Tây Ðằng và Ðình Chu Quyến (Hà Nội), Tháp Phổ
Minh (Nam Định), Chùa Keo (Thái Bình), Chùa Bút Tháp và Ðình Bảng (Bắc Ninh), Tháp
Chàm (các tỉnh ven biển miền Trung) và kiến trúc cung đình Huế.
Tính đến 7/2011, trong số hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng
cảnh ở Việt Nam, đã có hơn 6000 di tích cấp tỉnh, hơn 3000 di tích và danh thắng đã được xếp
hạng di sản văn hóa quốc gia, 10 di tích quốc gia đặc biệt. Ngoài 2 di sản thiên nhiên thế giới ở
trên, UNESCO đã công nhận 5 điểm di sản văn hóa thế giới: Khu di tích Hoàng thành Thăng
Long - Hà Nội, Thành nhà Hồ, Quần thể di tích Cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp
Mỹ Sơn; 6 di sản thế giới phi vật thể: Nhã nhạc - nhạc cung đình Việt Nam, Không gian văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên, Quan Họ Bắc Ninh, Ca Trù, Hát Xoan Phú Thọ và Hội Gióng ở đền
Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội); 2 di sản tư liệu thế giới: Mộc bản triều Nguyễn và Bia tiến sĩ
Văn Miếu (Hà Nội); và Cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên của Mạng lưới Công viên địa
chất toàn cầu (GGN - Global Geopark Network). Trong tương lai, một số di sản văn hóa và thiên
nhiên khác sẽ tiếp tục được lập hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận.
Ngoài ra, hàng chục triệu di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia có giá trị đang được bảo quản
và trưng bày tại hệ thống 125 bảo tàng phân bổ ở mọi miền đất nước. Đồng thời, các lễ hội,
phong tục tập quán, nghệ thuật trình diễn, làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực,
trang phục truyền thống… của cộng đồng 54 dân tộc đều đã và đang trở thành những tài nguyên
du lịch quan trọng.
3.1.3
Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, tuy nhiên, hiện tại du lịch nước ta vẫn
đang gặp nhiều thách thức lớn như: Ô nhiễm về môi trường, các sản phẩm du lịch chưa có nhiều
tính sáng tạo, du lịch còn làm ăn manh mún, tạm thời, dịch vụ còn nhiều bất cập.
23
Du lịch Việt Nam còn gặp không ít khó khăn và thách thức như: Trong giai đoạn đầu của
sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực. Khả
năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng còn rất hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du
lịch trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến
chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du
lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo,
ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là mùa cao điểm...
Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được
nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc,
ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch
thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Công tác xúc tiến quảng bá còn
nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh
chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch.
Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế, cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt
Nam tại các thị trường mục tiêu.
Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính
chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, do vậy
chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Thêm vào đó,
nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém rất lớn. Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác
phát triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua, nhưng so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp của
ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp về kỹ
năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết toàn cầu.
Ngoài ra, các dự án phát triển du lịch tại Việt Nam vẫn còn gây ra nhiều tác động tiêu cực
tới môi trường tự nhiên. Điểm hành như dự án xây khu nghỉ dưỡng cao cấp tại bán đảo Sơn Trà
với hàng loạt sai phạm nghiêm trọng vẫn ngang nhiên tiến hành xây dựng trong đất thuộc phạm
vi vườn quốc gia. Hay việc tập đoàn FLC xây dựng khu nghỉ dưỡng khách sạn tại bờ biển Quy
Nhơn chắn cửa biển gây ra nhiều bức xúc cũng như ảnh hưởng tới hoạt động săn bắt của ngư dân
trong vùng. Đặc biệt là dự án xây dựng cáp treo thám hiểm hang Sơn Đòong – hang động lớn
24
nhất thế giới, được UNESCO công nhận và đề nghị cần được bảo tồn một cách nghiêm ngắt vì
tính chất đa dạng sinh học hiếm có. Xong vẫn nhiều doanh nghiệp trình bày các đề án xây dựng
tuyến cáp treo gây nguy hiểm tới hệ sinh thái thậm chí và sập kết cấu hàng.
3.2
3.2.1
Bài học kinh nghiệm từ hoạt động phát triển du lịch bền vững của Singapore
Học tập mô hình phát triển du lịch đô thị bền vững
Ở Việt Nam, tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, … đều có những hệ
thống sông lớn, hệ thống kênh rạch chảy dọc thành phố, mang một tiềm năng phát triển du lịch
rất lớn. Tuy nhiên các hệ thống sông này một số đang trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do
hoạt động xả thải của các hộ kinh doanh ven sông, dẫn đến không tận được các tiềm năng.
Ở Hồ Chính Minh, chính quyền thành phố đã tiến hành cải tạo và vệ sinh môi trường đối
với tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, tiến hành mở tuyến du lịch đường sông với sông Sài Gòn.
Ở Hà Nội cũng đã có tuyến du lịch dọc dòng sông Hồng. Tuy nhiên các hoạt động này vẫn mang
tính nhỏ lẻ, thiếu sự quy hạch cụ thể dẫn đến manh mún nhỏ lẻ.
Vì vậy, để khai thác tối đa những tiềm năng du lịch, chính quyền du lịch cần thành lập các
ủy ban, đơn vị chuyên trách tiến hành quy hoạch. Chúng ta nên học tập theo 3 triết lý về phát
triển du lịch đô thị bền vững bao gồm kinh tế bền vững, xã hội bền vững và văn hóa bền vững
vào công tác quy hoạch. Cụ thể:
Để đạt được tiêu chí kinh tế bền vững, các đô thị cần tiến hành cải tạo và nghiêm cấm mọi
hành vi xả thả làm ô nhiễm các tuyến sông. Ở Hà Nội điển hình là dòng sông Tô Lịch, một tuyến
sông chạy dọc qua nhiều vùng của thành phố nhưng đã từ lâu ở trong tình trạng ô nhiễm hết sức
nghiêm trọng, mặc dù thành phố đã có những dự án cải tạo nhưng không thành công. Bên cạnh
đó, cần có những giải pháp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề hay ngành công
nghiệp xung quanh. Ví dụ, sông Tô Lịch có chảy qua khu vực gần làng sản xuất giày Thượng
Đình nổi tiếng. Việc cải tạo dòng sông phải song hành với việc giải quyết nguồn nước thải từ
làng giày này một cách hiệu quả như xây dựng nhà máy xử lý, … thay vì tiến hành cấm xả thải
đơn thuần sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất tại đây.
Đối với tiêu chí xã hội bền vững, thay vì tiến hành tái định cư hoàn toàn đối với các hộ gia
đình, hộ kinh doanh ở lên cận. Thành phố có thể tính đến các giải pháp như chuyển đổi hình thức
kinh doanh của các hộ lân cận dòng sông. Từ đó sẽ hạn chế được các hệ quả của việc di dời sang
25