LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong xu thế giao lưu và hội nhập, Việt Nam trở thành điểm đến của bè bạn
năm châu. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam về nhiều mặt, trong đó có sự
phát triển của ngành du lịch.Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) là một trong những địa
phương có sức thu hút đặc biệt đối với khách du lịch trong và ngoài nước, với bề dày văn
hoá, lịch sử, với việc sở hữu nhiều di tích nổi tiếng, đồng thời cũng là nơi có tốc độ phát
triển kinh tế, văn hố rất nhanh so với những địa phương khác trong cả nước.Kể từ năm
2000 - năm đầu tiên của Chương trình hành động quốc gia về du lịch đến nay, ngành du
lịch ở Tp.HCM có sự phát triển vượt bậc với những thế mạnh và những cơ hội đến từ
nhiều phía. Tuy nhiên, ngành du lịch của thành phố từng được mệnh danh là “Hịn ngọc
Viễn Đơng” này cũng tồn tại nhiều điểm yếu và tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng đến sự
phát triển của ngành. Từ ý nghĩa và hiệu quả của phương pháp phân tích SWOT trong
thực tiễn, chúng em thử vận dụng mơ hình phân tích SWOT vào việc phân tích tình hình
phát triển du lịch ở Tp.HCM hiện nay với mong muốn đề xuất những giải pháp hữu
hiệu nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành du lịch ở một trong những trung
tâm văn hoá, kinh tế, chính trị lớn của Việt Nam với đề tài:”Phân tích SWOT năng lực du
lịch Tp.Hồ Chí Minh trong xu hướng tồn cầu hóa và địa phương hóa du lịch”.
1.
LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH SWOT
1.1. Định nghĩa
Phân tích SWOT là cơng cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi
tình huống đối với bất cứ đề án kinh doanh nào. SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái
đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm
yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức). SWOT cung cấp một cơng cụ phân
tích chiến lược, rà sốt và đánh giá vị trí, định hướng trong việc lập kế hoạch kinh doanh,
xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch
vụ ... . Trong đó, điểm mạnh và điểm yếu được xem là những “yếu tố chủ quan” (môi
trường bên trong), còn cơ hội và nguy cơ là các “yếu tố khách quan” (mơi trường bên
ngồi).
Ở nhiều tài liệu khác, SWOT có những cái tên tương tự như: ma trận, mơ hình hay phân
tích SWOT. Tên gọi có phần khác nhau nhưng đều là một.
1.2. Nguồn gốc
Mơ hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 cơng ty có doanh thu
cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện nghiên cứu Standford,
Menlo Park, California, trong thập niên 60-70 của thế kỷ XX, nhằm mục đích tìm ra
ngun nhân vì sao nhiều cơng ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch.
Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts. Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert
Stewart và Birger Lie. Việc Du Pont lập kế hoạch kinh doanh dài hạn vào năm 1949 đã
khơi mào cho một phong trào “tạo dựng kế hoạch” tại các cơng ty. Cho tới năm 1960,
tồn bộ 500 cơng ty được tạp chí Fortune bình chọn đều có “Giám đốc kế hoạch” và các
“Hiệp hội các nhà xây dựng kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp”, hoạt động ở cả Anh
quốc và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tất cả các công ty trên đều thừa nhận rằng các kế hoạch dài
hạn này không xứng đáng để đầu tư cơng sức bởi khơng có tính khả thi, chưa kể đây là
một khoản đầu tư tốn kém và có phần phù phiếm.
Năm 1960, Robert F. Stewart thuộc Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California,
đã tổ chức một nhóm nghiên cứu với mục đích tìm hiểu q trình lập kế hoạch của doanh
nghiệp nhằm tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc
hoạch định, điều mà ngay nay chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý”.
Cơng trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, từ 1960 đến 1969 với hơn 5000 nhân viên làm việc
cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty,
tổ chức. Và sau cùng, nhóm nghiên cứu đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều
hành doanh nghiệp hiệu quả. Tiến sĩ Otis Benepe đã xác định ra “Chuỗi logic”, hạt nhân
của hệ thống như sau:
•
Values (Giá trị)
•
Appraise (Đánh giá)
•
Motivation (Động cơ)
•
Search (Tìm kiếm)
•
Select (Lựa chọn)
•
Programme (Lập chương trình)
•
Act (Hành động)
•
Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3).
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, khơng thể thay đổi giá trị của nhóm làm việc
hay đặt ra mục tiêu cho nhóm làm việc, vì vậy nên bắt đầu bước thứ nhất bằng cách yêu
cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của công ty. Nhà kinh doanh bắt đầu hệ thống này
bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều tốt và xấu cho hiện tại và tương lai. Những
điều tốt ở hiện tại là Những điều hài lòng (Satisfactory), và những điều tốt trong tương lai
được gọi là Cơ hội (Opportunity); những điều xấu ở hiện tại là Sai lầm(Fault) và những
điều xấu trong tương lai là Nguy cơ (Threat). Công việc này được gọi là phân tích SOFT.
Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại Dolder Grand,
Zurich, Thụy Sĩ năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F thành chữ W và từ đó
SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT.
Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt động của công
ty Erie Technological Corp. ở Erie Pa. Kể từ đó, q trình này đã được sử dụng thành
công rất nhiều lần ở nhiều doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Và tới năm 2004, hệ thống này đã được phát triển đầy đủ, khung phân tích SWOT được
trình bày dưới dạng một ma trận lưới, gồm 4 phần chính: Strengths, Weaknesses,
Opportunities và Threats. SWOT đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt các
vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn hàng năm
của doanh nghiệp mà không cần dựa vào các cố vấn bên ngồi.
1.3. Vai trị và ý nghĩa
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định
dạng SWOT dưới một trật tự logic dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và đưa ra quyết
định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định.
Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói
quen hoặc theo bản năng.
Hơn nữa, SWOT cịn có thể được áp dụng phân tích tình hình của đối thủ cạnh tranh.
SWOT phù hợp không chỉ đối với đề án kinh doanh trong nước mà cịn vơ cùng hữu
dụng trong việc lập đề án kinh doanh vươn ra tầm quốc tế.
2.
PHÂN TÍCH SWOT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở TP.HỒ CHÍ
MINH
2.1.
Đặc điểm thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10′ – 10°38′ Bắc và 106°22′ – 106°54′ Đơng, phía
bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh
Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An
và Tiền Giang[9]. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội
1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đơng 50 km theo đường
chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một
đầu mối giao thơng quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các
tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:
-
Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.
Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.
Cực Nam là xã Long Hịa, huyện Cần Giờ.
Cực Đơng là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
Thành phố Hồ Chí Minh có tiềm năng đa dạng và phong phú để phát triển du lịch. Trước
hết vị trí địa lý của Thành phố thuận lợi để kết nối về du lịch với các địa phương trong
nước và nước ngồi. Thành phố Hồ Chí Minh là cửa ngõ để đến vùng Đông, Tây Nam
bộ, Nam Trung bộ và các vùng khác của Việt Nam.
Ngoài ra Thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm gần các trung tâm du lịch lớn của Đông
Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Singapore,… ) có khả năng nối tour với các láng giềng để
hình thành những chương trình du lịch hấp dẫn. Từ các thị trường trọng điểm (Nhật, Đài
Loan)… đến Thành phố Hồ Chí Minh bằng đường hàng khơng thuận tiện và mất ít thời
gian.
Thành phố Hồ Chí Minh cịn có cảng biển để đón tàu du lịch lớn, hệ thống đường sơng
nối liền các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sang tận Campuchia, đường sắt dẫn đến
các tỉnh miền Trung, miền Bắc và Trung Quốc, mạng lưới đường bộ nội thành và liên
tỉnh ngày càng được mở rộng và nâng cấp.
2.1.2. Khí hậu, thời tiết
Thành phố nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo. Lượng bức
xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 kcal/cm2/ năm, nắng trung bình 6,8 giờ/ ngày. Nhiệt độ
trung bình năm khoảng 27,50C. Biên độ trung bình giữa các tháng trong năm thấp là điều
kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển quanh năm của động thực vật. Ngồi ra,
thành phố có thuận lợi là không trực tiếp chịu tác động của bão lụt.
Quanh năm hai mùa mưa nắng, mưa thì chợt đến, chợt đi, nắng thì khơng q nóng gắt,
nên thời điểm nào ở thành phố Hồ Chí Minh cũng có thể là mùa du lịch.
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây
Nam và Bắc – Ðơng Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6
m/s, vào mùa mưa. Gió Gió Bắc – Ðơng Bắc từ biển Đơng, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào
mùa khơ. Ngồi ra cịn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng
3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng khơng
có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm khơng khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa
(80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%). Bình qn độ ẩm khơng khí đạt 79,5%/năm
2.1.3. Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức
đóng góp GDP lớn cho cả nước. Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả
nước .
Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và
trung tâm đối với vùng Nam Bộ. Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong
vùng(KTTĐPN) và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ.
Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư
được ban hành. Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án đầu tư
nước ngoài trên cả nước. Năm 2015, đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá so với năm
2014, 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn 577 triệu USD, tăng
4,5% về số dự án và 43,7% về vốn đầu tư. Có 145 dự án tăng vốn với số vốn điều chỉnh
tăng 330 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 907 triệu USD, tăng
7,7%. Bên cạnh đó, có 5 dự án đầu tư ra nước ngồi có tổng vốn là 29,1 triệu USD.Thành
phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhà nước, mặc dù gặp
nhiều khó khăn song thu ngân sách của thành phố vẫn không ngừng tăng.
Về thương mại, dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước. Kim
ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của cả nước. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ
USD, tăng 26,1% so với năm 2014 (nếu không tính dầu thơ, kim ngạch xuất khẩu tăng
17%). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngồi tăng 23,5%. Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 21,1%, nếu loại trừ yếu tố biến
động giá, tăng 11,4%. Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400
chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối. Khu vực dịch vụ tăng
trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất – kinh doanh và phục
vụ đời sống dân c. Năng suất lao động của các ngành dịch vụ nói chung là 66,12 triệu
đồng/người/năm (giá trị gia tăng) trong đó năng suất lao động của Thương mại là 51,6
triệu đồng/người/năm (bằng 78% năng suất lao động ngành dịch vụ).
Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh, chưa bao giờ thành phố Hồ Chí Minh
đón nhiều du khách như năm 2015. Lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố trên 2
triệu lượt, tăng 27% so với năm 2014. Cơng suất sử dụng phịng của các khách sạn 3 đến
5 sao đạt 75%, tăng 9,5%. Doanh thu ngành du lịch đạt 13.250 tỷ đồng, tăng 23%. Công
tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao
chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền hình, tăng cường và nâng cao
hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu vực và các thị trường trọng
điểm. Triển khai chương trình xét chọn và cơng nhận 100 điểm mua sắm đạt chuẩn du
lịch. Đến nay, có 142 khách sạn được xếp hạng, trong đó 35 khách sạn 3 đến 5 sao với
5.740 phòng và 346 doanh nghiệp lữ hành đủ điều kiện kinh doanh.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố
dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính – tín dụng. Doanh
thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu tồn quốc. Năm
2015, các hoạt động tín dụng – ngân hàng tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu
sản xuất – kinh doanh. Nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt 170.890 tỷ đồng, tăng
23,1% so với năm 2014. Dư nợ tín dụng 164.600 tỷ đồng, tăng 32,3%; Nhiều dịch vụ tín
dụng hiện đại được đưa vào ứng dụng, mạng lưới thanh tốn thơng qua thẻ ATM được
mở rộng. Về thị trường chứng khốn, đã có 30 công ty cổ phần, 01 công ty quản lý quỹ
niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh; tổng vốn cổ phần
niêm yết trên 1.600 tỷ đồng; trong đó có 17 cơng ty cổ phần đã niêm yết có trụ sở tại
thành phố, chiếm 55% về số công ty niêm yết và 75% về vốn của các cơng ty niêm yết.
Có 14 cơng ty chứng khoán hoạt động trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh, doanh số giao dịch đạt 31.000 tỷ đồng, trong đó giao dịch cổ phiếu 8.000 tỷ đồng;
giao dịch trái phiếu 23.000 tỷ đồng.
Trong tương lai thành phố phát triển các ngành kinh tế chủ lực, là địa phương đầu tiên tập
trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, các
ngành công nghệ cao … vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du lịch của cả nước với hệ thống
cảng biển phát triển. Việc hình thành các hệ thống giao thông như đường Xuyên Á,
đường Đông Tây … sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thành phố tăng trưởng mạnh mẽ.
Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh ln khẳng định vai trị là
một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước và
cũng là vùng động lực cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn Nam Bộ và cả
nước theo chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí
Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến,
xây dựng đến du lịch, tài chính… Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm
33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần cịn lại là khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần cịn lại, cơng
nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.
Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị,
chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành
phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm
thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza… Mức tiêu thụ
của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và
gấp 1,5 lần thủ đơ Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh, có mã
giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Tồn thành phố chỉ có 10% cơ sở cơng nghiệp có trình độ cơng nghệ hiện đại. Trong đó,
có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất,
14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy… có
trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá
tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp… cũng gây khó khăn cho
nền kinh tế. Ngành cơng nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại
hiệu quả kinh tế hơn.
2.1.4. Xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trị trung tâm giáo dục – đào tạo chất
lượng cao của mình. Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo
chiều hướng ngày càng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước;
loại hình đào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư. Số lượng trường đại
học và cao đẳng trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế.
Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã
có trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở. Trình độ dân trí ngày càng
được nâng cao. Sở GDĐT TPHCM đã đón nhận cờ lưu niệm và quyết định cơng nhận
hồn thành phổ cập giáo dục THCS do Bộ GDĐT trao tặng và trở thành địa phương đầu
tiên trong cả nước đạt được chuẩn này. Trong năm 2015, ngành giáo dục và đào tạo tiếp
tục củng cố thành quả phổ cập tiểu học và trung học cơ sở; đã có thêm 3 quận đạt chuẩn
phổ thơng trung học (quận 1, quận 3, quận Bình Thạnh), nâng số các quận đạt phổ cập
trung học là 5 quận. Kỳ thi tốt nghiệp các cấp được tổ chức an toàn và đạt kết quả tốt .
Ngành giáo dục tăng cường đầu tư xây dựng trường lớp với tổng vốn đầu tư là 1.021 tỷ
cho năm học mới. Có 928 phịng học mới được đưa vào sử dụng.
Chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ đã tuyển chọn được 264 ứng viên; đã đưa đi học
được 194 ứng viên, các ứng viên cịn lại đang hồn tất thủ tục và bồi dưỡng ngoại ngữ.
Đã có 20 thạc sĩ, tiến sĩ tốt nghiệp về công tác ở thành phố.
Theo thống kê, số giáo viên và học sinh phổ thông của thành phố chỉ chiếm một tỷ lệ vừa
phải của cả nước thì số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng, THCN, CNKT của
thành phố ngày cành chiếm một tỷ lệ rất cao, điều này chứng tỏ thành phố là một Trung
tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của cả nước và đã thu hút được một số lượng lớn
sinh viên từ mọi miền đất nước về học mỗi năm.
Thành phố Hồ Chí Minh có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật vừa đông về số lượng
( hàng chục ngàn người), vừa được đào tạo rất đa dạng từ các nguồn khác nhau, có đủ
trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới.
Hiện nay, Thành phố đã xây dựng xong các chương trình mục tiêu và nội dung nghiên
cứu triển khai khoa học – công nghệ giai đoạn 2010 – 2016; đề xuất xây dựng chương
trình nghiên cứu cơ bản; kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW của Ban Bí
thư Trung ương về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học; tổng kết,
đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu khoa học – cơng nghệ 30 năm của 17 chương trình
nghiên cứu triển khai khoa học – cơng nghệ; triển khai chương trình Robot Công nghiệp,
xúc tiến xây dựng kế hoạch triển khai hỗ trợ bộ đội Trường Sa.
Với những thành tựu đã đạt được, cùng với thế mạnh về nguồn nhân lực khoa học kỹ
thuật, Thành phố đã trở thành Trung tâm đào tạo , khoa học kỹ thuật và chuyển giao cơng
nghệ của vùng và cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là Trung tâm y tế lớn nhất nước
ta với số lượng cơ sở y tế được trang bị ngày càng hiện đại cũng như đội ngũ cán bộ y tế
có trình độ cao nhiều nhất nước.
2.2.
Phân tích SWOT
2.2.1 Điểm mạnh - S
-
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của VN, nơi hội tụ nhiều dịng chảy
văn hố.
-
Giao thơng: Nằm ở vị trí “vàng”, là đầu mối giao thơng quan trọng của Việt Nam và
Đông Nam Á với hệ thống giao thông thuận lợi, có tiềm năng phát triển du lịch đường
thuỷ.
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thơng của cả miền Nam bao gồm đường sắt,
đường bộ, đường thủy và đường khơng. Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1A, đường
sắt Thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương.
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách trung tâm thành phố 7km, là sân bay lớn nhất
nước với hàng chục đường bay nội địa và quốc tế. Có các đường bay nội địa từ Tp. Hồ
Chí Minh tới Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nha Trang,
Phú Quốc, Pleiku, Quy Nhơn, Rạch Giá, Vinh.
Tp. Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km, cách Tây Ninh 99km, Biên Hòa (Đồng Nai)
30km, Mỹ Tho 70km, Vũng Tàu 129km, Cần Thơ 168km, Đà Lạt 308km, Bn Ma
Thuột 375km.
-
Có tài ngun du lịch phong phú: nhiều di tích lịch sử văn hố, nhiều khu vui chơi giải
trí, hệ thống chùa chiền, có tiềm năng du lịch sinh thái (Khu dự trữ sinh quyển cần Giờ,
Vườn cị Thủ Đức,...); có nhiều làng nghề truyền thống, có ưu thế phát triển du lịch làng
nghề.
Nơi đây là một vùng đất gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc kể từ khi
thực dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với sự kiện đó, cảng Nhà
Rồng và Bảo tàng Hồ Chí Minh là một di tích quan trọng, thu hút nhiều khách du lịch
trong và ngoài nước.
Các di tích cách mạng khác như địa đạo Củ Chi, hệ thống các bảo tàng, nhà hát, nhà văn
hoá, các cơng trình kiến trúc thời Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần đây thành phố
đã đầu tư nhiều khu du lịch như Thanh Đa, Bình Qưới, nhiều khu vui chơi giải trí như
Đầm Sen, Kỳ Hồ, cơng viên Nước, Suối Tiên,... đã thu hút và hấp dẫn du khách. Hiện
nay, thành phố đang tiến hành tôn tạo các di tích lịch sử, các cơng trình kiến trúc cổ, đầu
tư cho hệ thống bảo tàng, khôi phục nền văn hoá truyền thống kết hợp với tổ chức các lễ
hội, khơi phục văn hố miệt vườn, làng hoa để phát triển một cách vững chắc ngành du
lịch của thành phố.
Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơng trình
kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ thống
các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên...), hệ
thống các nhà thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thơng Tây Hội, Thủ Đức...). Nhìn chung, một
trong những đặc trưng văn hoá của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn - Gia Định, nơi hội tụ
nhiều dòng chảy văn hoá, là "cơ cấu kiến trúc" Việt - Hoa - châu Âu. Một nền văn hố kết
hợp hài hồ giữa truyền thống dân tộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hố
phương Bắc và phương Tây.
-
Có nền ẩm thực phong phú, đa dạng các món ăn (Âu – Á).
Có cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch khá tốt, có tiềm năng phát triển du lịch MICE.
MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch
khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. MICE - viết tắt của Meeting (hội
họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm).
Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event. Bởi vậy các đồn khách
MICE thường rất đơng (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour
bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở
khách sạn 4 - 5 sao, dịch vụ cao, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu
cầu…). MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở
các nước.
Năm 2001, tồn Thành phố có 187 doanh nghiệp lữ hành đăng ký hoạt động thì đến năm
2010 đã tăng thêm thành 655 doanh nghiệp. Trong đó lữ hành quốc tế là 337 doanh
nghiệp (chiếm 42,1% so với cả nước) và lữ hành nội địa là 318 doanh nghiệp (chiếm
38%) (Nguyễn Cao Trí, 2011). Trong 20 doanh nghiệp lữ hành hàng đầu Việt Nam năm
2011 thì đã có đến 7 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và 5 doanh nghiệp lữ hành nội địa
đóng tại Thành phố.
Để thỏa mãn nhu cầu lưu trú của mọi loại khách, các doanh nghiệp Thành phố đã xây
dựng hệ thống khách sạn từ 1 đến 5 sao nhiều nhất nước (Xem Bảng 2). Mặc dù tổng số
lượng khách đến TPHCM đứng sau Hà Nội nhưng khả năng cung cấp phòng tất cả các
hạng đều lớn hơn Hà Nội từ 0,7 đến 10 lần. Trong danh sách khách sạn 4 và 5 sao đoạt
giải thưởng du lịch Việt Nam thì đã có trên 50% đóng tại TPHCM. Số liệu trên đã thể
hiện sự đi đầu về chất lượng cũng như số lượng trong cơ sở vật chất du lịch của Thành
phố.
Trong 8 tháng đầu năm 2015, lượng khách quốc tế đến TPHCM đạt khoảng 2,83 triệu
lượt, tăng 5% so với cùng kỳ, trong đó số lượng khách kết hợp công việc tăng khoảng
60%.
2.2.2. Điểm yếu – W
-
Quản lý du lịch chưa tốt; các dịch vụ du lịch chưa phong phú. Dân số quá đông, dân nhập
cư chiếm tỉ lệ lớn, khó quản lý, cịn hiện tượng chèo kéo, chặt chém khách du lịch nước
ngoài.
-
Cơ sở hạ tầng chưa quy hoạch, nâng cấp tổng thể; hệ thống cấp thoát nước cũ kỹ thường
ngập lụt; đường sá hẹp, hệ thống giao thông công cộng kém, ý thức giao thông của người
dân chưa cao, nạn kẹt xe kéo dài.
Q trình đơ thị hóa của thành phố phát triển rất nhanh chóng, trong khi đó cơng tác quản
lý qui hoạch, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng – xã hội cịn q nhiều bất cập. Nhiều
cơng trình dựng thi công chậm trễ, chất lượng kém, làm phát sinh những vấn đề xã hội
bức xúc như nạn kẹt xe, ngập lụt vào mùa mưa, đường xá dơ bẩn, sản xuất gây ô nhiểm
môi trường càng nặng…làm hạn chế tốc độ phát triển du lịch của TP.
Thiếu bãi đỗ xe;chưa chọn được địa điểm để quy hoạch thành khu phố đi bộ ở quận 1;
tour du lịch tham quan khu phố Đông y quận 5 kết hợp với nhà hàng thực dưỡng vẫn
chưa thể hoàn thành, dù đã khởi động cách đây nhiều năm
Các di tích lịch sử văn hóa chưa được mở rộng phát triển thành điểm du lịch với qui mô
lớn. Công tác đầu tư trùng tu tơn tạo các di tích đã xuống cấp chậm được thực hiện.
-
Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng (quá nhiều xe máy, hệ thống xử lý rác và chất thải
cơng nghiệp, y tế chưa tốt).
-
Cịn nhiều tệ nạn xã hội (chèo kéo khách, nạn cướp giật, ma tuý, mại dâm), gây cảm
giác bất an cho khách du lịch.
-
Sản phẩm du lịch văn hóa cịn nghèo nàn về cả nội dung và hình thức, khu vui chơi giải
trí về đêm bị giới hạn thời gian.
Có sản phẩm triển khai chậm như chương tình nghệ thuật phục vụ du lịch chưa nhận
được sự phố hợp đúng mức của Sở Văn Hóa Thơng tin, hay đề án khu phố Phạm Ngũ
Lão gặp khó khăn trong việc thu thập thơng tin từ địa phương
-
Nguồn nhân lực thành phố không thiếu nhưng thiếu nguồn nhân lực chất lượng, hướng
dẫn viên quốc tế tiếng hiếm Ý, Tây Ban Nha…vẫn còn thiếu nhiều.
-
Các lễ hội cũng chưa tạo nên được tính đặc thù mang tầm vóc quốc tế do vốn đầu tư chưa
đúng mức, thiếu tính sáng tạo cũng như sụ quảng bá xúc tiên vẫn chưa được đẩy mạnh
rộng khắp.
-
Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm chưa cao.
2.2.3. Cơ hội - O
-
VN gia nhập các tổ chức quốc tế, hội nhập sâu rộng
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài mở rộng thị trường sản xuất, kinh doanh ở TPHCM.
Hội nhập AEC là bước ngoặc đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách tồn diện của các
nền kinh tế Đơng Nam Á, tạo ra một thị trường chung, giàu tiềm năng với hơn 600 triệu
dân và tổng GDP hơn 2.000 tỷ USD. Cơ hội rõ nhất là tăng cường thu hút khách du lịch,
lan tỏa sức hấp dẫn và định vị thương hiệu trong khu vực ASEAN thông qua phát huy vị
thế, tiềm năng, chất lượng, tính đa dạng, độc đáo của bộ sản phẩm du lịch của TP. Hồ Chí
Minh
-
Nhiều du khách quốc tế chọn VN làm điểm đến để tìm hiểu đất nước, con người và văn
hoá VN
Theo Trip Adviser thành phố Hồ Chí Minh được xếp thứ 15 trong 25 điểm đến Châu Á
được khách du lịch quốc tế ưa thích).
TPHCM liên tục được các tạp chí du lịch, hãng lữ hành quốc tế đưa vào danh sách gợi ý
các điểm du lịch hấp dẫn. Theo chỉ số các thành phố điểm đến toàn cầu năm 2015
(Global Destination Cities Index) của MasterCard công bố, TPHCM lọt vào danh sách 10
thành phố phát triển nhanh nhất về du lịch. Trước đó, trong danh sách Top 50 thành phố
an toàn nhất cho du khách đến tham quan năm 2015 của tạp chí The Economist (Anh),
TPHCM cũng được xếp ở vị trí thứ 48.
-
Tiếng Việt và ngành Việt Nam học được thế giới quan tâm, lượng người nước ngoài đến
học tiếng Việt và ngành Việt Nam học ngày càng tăng.
-
Loại hình du lịch MICE phát triển trên thế giới và xâm nhập vào Việt Nam. Các quốc gia
trong khu vực có xu hướng chọn TPHCM tổ chức du lịch MICE.
Du lịch không chỉ để đáp ứng nhu cầu tham quan, khám phá và nghỉ dưỡng mà cịn để
tìm kiếm đối tác, phát triển việc kinh doanh... Đây là lý do hình thành loại hình du lịch
MICE (Meeting - hội họp; Incentive - Khen thưởng; Convention - Hội nghị; Exhibition Triển lãm). Đây là loại hình DU LỊCH TỔNG HỢP nên đồn khách MICE thường rất
đông và đặc biệt mức chi tiêu cao gấp sáu lần so với du lịch thông thường.Việc TPHCM
trở thành “điểm nóng” về du lịch MICE sẽ thu hút một lượng lớn các cuộc họp quốc tế và
khách du lịch với số lượng ngày càng tăng, điều này sẽ tạo ra nguồn thu đáng kể cho tất
cả các nghành liên quan của TPHCM. Trong khi đó, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
cùng với sức hút trong thu hút đầu tư, TPHCM hứa hẹn sẽ thu hút một lượng lớn các
cuộc họp, hội thảo quốc tế, và theo đó khách du lịch loại hình này cũng ngày càng tăng.
-
Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch
Các chương trình xúc tiến quảng bá cho du lịch thành phố như lễ hội áo dài (tháng 3),
chương trình ngày hội du lịch TPHCM nhằm kích cầu du lịch nội địa (tháng 4), liên hoan
ẩm thực đất phương Nam (tháng 5), lễ hội trái cây Nam bộ (tháng 6). Hội chợ du lịch
quốc tế (tháng 9), liên hoan món ngon các nước (tháng 12) và một số hoạt động xúc tiến
du lịch ở một số thị trường như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Đơng Âu, Indonesia...góp
phần đưa du lịch thành phố HCM đến với khách du lịch nhiều hơn
2.2.4. Thách thức - T
-
Phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh về phát triển du lịch MICE như: Singapore, Hàn
Quốc,... trong khi cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch MICE chưa tốt, dịch vụ và sản phẩm du
lịch chưa phong phú, chiến lược quảng bá du lịch chưa mạnh.
-
Cịn nhiều thơng tin và hình ảnh khơng đẹp trên các phương tiện truyền thơng nước
ngồi (an ninh trật tự, vệ sinh an tồn thực phẩm, ...), làm mất đi hình ảnh thân thiện về
Tp.HCM, khiến khách nước ngoài e ngại khi chọn tour du lịch Tp.HCM.
-
Tình hình suy thối kinh tế thế giới nói chung và trong nước nói riêng cũng là nguy cơ
đáng quan ngại cho sự phát triển du lịch ở Tp.HCM.
-
Đất nước hội nhập, tham gia nhiều tổ chức cũng gây ra nhiều thách thức cho du lịch
thành phố HCM. Đó là cạnh tranh trong q trình tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng du
lịch toàn cầu, thể hiện ở hạ tầng, nhân lực. dịch vụ đạt chuẩn,..Trong đó vấn đề giá thành
sản phẩm cao so với các nước trong khu vực cũng là một rào cản làm giảm tính cạnh
tranh của thành phố
-
Thách thức về nguồn nhân lực ngành du lịch
Mỗi năm, TP.HCM đón hàng triệu lượt khách quốc tế và con số này tăng lên hàng năm.
Tuy nhiên, do nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế về ngoại ngữ, kĩ năng nghiệp vụ…
khiến nhiều đơn vị ngành Du lịch không khai thác hết được nguồn lợi du lịch từ khách
nước ngoài. Theo khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị
trường lao động TP.HCM tại các công ty du lịch và lữ hành Thành phố có tới 30% - 45%
hướng dẫn viên du lịch, điều hành tour và 70% - 85% nhân viên lễ tân nhà hàng không
đạt chuẩn về ngoại ngữ. Nhất là những ngoại ngữ không phổ biến như Pháp, Nhật, Đức,
số hướng dẫn viên thông thạo những ngoại ngữ này chỉ chiếm khoảng 5-12%. Tại nhiều
khách sạn trên địa bàn TP.HCM, đặc biệt là các khách sạn cao cấp như Sheraton,
Caravell, New World... đều gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên giỏi ngoại ngữ.
trình độ ngoại ngữ hạn chế, kỹ năng nghiệp vụ thiếu, khiến chúng ta không khai thác hết
được nguồn lợi du lịch từ khách nước ngoài. Mặt khác, nếu không giỏi ngoại ngữ, những
nhân viên trong ngành du lịch cũng khó làm trịn bổn phận, chứ chưa nói đến việc giúp
người nước ngồi hiểu về văn hóa Việt và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam với bạn
bè quốc tế. Thiếu nhân lực có trình độ ngoại ngữ, kĩ năng nghiệp vụ tốt khiến một số đơn
vị du lịch bỏ lỡ nhiều cơ hội trong việc thu hút du khách quốc tế tham gia sử dụng dịch
vụ du lịch tại Việt Nam.
3.
NHỮNG CHIẾN LƯỢC CƠ BẢN CỦA SWOT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
NGÀNH DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG XU HƯỚNG
TỒN CẦU HĨA VÀ ĐỊA PHƯƠNG HÓA
3.1. Chiến lược SO (Strengths – Opportunities) - Đây là chiến lược dựa trên ưu
thế của ngành du lịch TP. HCM để tận dụng các cơ hội thị trường.
3.1.1. Phát triển du lịch làng nghề
Tp. HCM có khoảng vài trăm làng nghề thủ công khác nhau với những thế mạnh chính là
những sản phẩm thủ cơng độc đáo kết tinh từ bàn tay tài hoa của những người thơ được
truyền từ bao thế hệ. Nhưng để các làng nghề gắn kết cho những tour du lịch cần có sự
đột phá từ các cơ quan chức năng và các làng nghề cũng như các nhà làm tour du lịch để
những sản phẩm truyền thống, những sản phẩm du lịch hấp dẫn trong mắt du khách trong
và ngồi nước.
Tp. HCM có thể học tập mơ hình “Mỗi làng nghề một sản phẩm” (OTOP: One Tambon
One Product) của các nước châu Á (Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan,…). Mỗi
làng nghề một sản phẩm khơng có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có
kỹ năng, văn hóa, truyền thống... riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng
của làng nghề trong sản phẩm. Thái Lan là quốc gia tiêu biểu áp dụng và triển khai linh
hoạt mơ hình này và đạt được thành cơng đáng nể phục. Nếu áp dụng tốt mơ hình OTOP,
ngành du lịch Tp. HCM sẽ vừa duy trì được các nghề thủ công truyền thống của địa
phương, vừa phát triển được mơ hình du lịch làng nghề, đem lại thêm thu nhập cho người
dân. Để làm được điều này cần có sự xây dựng, đóng góp từ các cấp chính quyền cùng
với các ban ngành liên quan, qua đó các sản phẩm du lịch không chỉ được biết đến bởi
khách hàng trong nước mà còn xâm nhập được vào thị trường quốc tế. Các sản phẩm của
OTOP sẽ được sàng lọc, phân loại dựa theo 4 tiêu chí: Có thể xuất khẩu với giá trị thương
hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; đảm bảo tiêu chuẩn hóa và có tính đặc biệt. Theo đó,
tính đặc biệt là mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Đây là sự khác biệt, tạo điểm
nhấn cho mỗi sản phẩm, nhất là với những địa phương có lợi thế phát triển du lịch. Các
sản phẩm này nên được chú trọng về giá trị nghệ thuật và phù hợp với thị hiếu của du
khách. Hầu hết du khách khi đi du lịch ít khi mua các sản phẩm có kích thước và trọng
lượng lớn. Họ thường có xu hướng mua các sản phẩm vừa và nhỏ, độc đáo, lạ mắt, có giá
trị nghệ thuật để làm đồ lưu niệm hoặc làm quà cho người thân. Các làng nghề cần tìm
hiểu nắm bắt được nhu cầu này của khách du lịch để tạo ra các sản phẩm phù hợp. Khi
khách du lịch và người tiêu dùng đến thăm quan địa phương áp dụng mơ hình OTOP,
ngồi việc nhìn thấy các sản phẩm được bày bán trên kệ, họ có thể biết thêm về bối cảnh
lịch sử của mỗi sản phẩm, quá trình sản xuất, câu chuyện bên lề về sản phẩm đó, lối sống
và tập quán riêng của cộng đồng, từ đó, tạo sự hấp dẫn thu hút du khách và giá trị gia
tăng cho mỗi sản phẩm, thay vì chỉ thấy mức giá niêm yết trên sản phẩm đó. Một loại
hình quảng bá giới thiệu các sản phẩm làng nghề khá thut hút và hiệu quả hiện nay là
những tour du lịch một ngày làm nghệ nhân OTOP, đưa khách đến thăm các làng nghề để
họ tận mắt quan sát và làm thử các sản phẩm OTOP. Đi kèm với đó chúng ta cung cần cải
thiện một số vấn đề đi kèm như cơ sở hạ tầng, giao thông hay phong cách phục vụ,…
Ngoài ra, ngành du lịch Tp. HCM nên tổ chức Lễ hội làng nghề thường niên. Lễ hội này
không những được tổ chức như một cơ hội cho các làng nghề (giới thiệu sản phẩm mới,
tổ chức thi tay nghề và tôn vinh nghệ nhân làng nghề, trao đổi kinh nghiệm) mà còn phải
tổ chức như một sự kiện du lịch để thu hút khách đến tham quan (như Lễ hội Tre
Damyang hay Lễ hội Hansan Mosi của Hàn Quốc). Song song đó là thành lập Bảo tàng
làng nghề – nơi lưu giữ và giới thiệu những tinh hoa của sản phẩm OTOP Việt. Đây sẽ là
điểm tham quan “đắt giá” đối với du khách, đồng thời là hình thức quảng bá du lịch hữu
hiệu.
3.1.2. Phát triển mạng lưới du lịch đường thuỷ/ du lịch sinh thái/ du lịch nhà vườn
Tp. HCM có hệ thống kênh rạch chằng chịt với gần 100km đường sơng chảy vịng quanh
thành phố là thế mạnh để phát triển du lịch đường thuỷ. Với thực trạng du lịch đường
sông như hiện nay, du lịch đường sơng của thành phố cịn chưa phát triển được là do 3
vấn đề chính là: Thiếu quy hoạch cụ thể về bến bãi, cầu tàu; môi trường ô nhiễm; cuối
cùng là hạn chế về thiết kế và quảng bá sản phẩm.Thành phố cần có quy hoạch rõ ràng về
bến bãi, cầu phà cho tàu thuyền neo đậu cùng những chính sách cho nhà đầu tư tham gia
cũng như nạo vét lại một số đoạn kênh và chống xả rác. Khi đó thì các doanh nghiệp sẽ
tích cực tham gia vào phát triển sản phẩm du lịch. Ngành du lịch nên đầu tư phương tiện
ghe thuyền vận chuyển khách du lịch City tour trên sông rạch một cách chuyên nghiệp,
với những trang thiết bị hiện đại, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho du khách. Với những
City tour này, khách du lịch sẽ được tham quan, ngắm phong cảnh thành phố đồng thời
được thưởng thức những chương trình ca nhạc truyền thống Nam bộ và ẩm thực đặc sắc
đất phương Nam.
Một số quận huyện ngoại thành của Tp.HCM (Quận 9, Thủ Đức, Cần Giờ,...) có tiềm
năng phát triển du lịch sinh thái hoặc du lịch nhà vườn. Hiện nay, Khu dự trữ sinh quyển
Cần Giờ là khu du lịch đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và khách du lịch.
Nhưng ngành du lịch thành phố cần phải có chính sách đầu tư hợp lý, có định hướng để
phát triển thành khu du lịch sinh thái với đa dạng các loại hình sản phẩm du lịch: du lịch
nghỉ dưỡng, du lịch khám phá (văn hóa, ngành nghề, tự nhiên). Các điểm du lịch sinh
thái/ nhà vườn như Vườn cò Thủ Đức,vườn cò Hồng Ký, vườn Thiên Thanh,... (Quận 9)
đã được đầu tư bước đầu và trở thành những điểm tham quan, nghỉ ngơi cuối tuần cho
khách du lịch địa phương và các tỉnh lân cận, nhưng sự đầu tư cịn mang tính kinh doanh
tự phát theo hộ gia đình nên chưa mang lại hiệu quả du lịch cao. Ngành du lịch Tp. HCM
nên có những dự án lớn, đầu tư đồng bộ để phát triển du lịch theo hướng này. Chẳng hạn
như xây dựng những ‘countryside resort’ (khu nghỉ dưỡng đồng quê) mang đặc trưng
vùng sông nước, mở những khu ẩm thực khẩn hoang, đầu tư hệ thống ghe thuyền phục vụ
du khách một cách chuyên nghiệp, với đội ngũ những người làm công tác du lịch có
nghiệp vụ chuyên môn cao (thiết kế và giới thiệu sản phẩm mới, cung cấp thông tin về du
lịch, điều hành, hướng dẫn, phục vụ chuyên nghiệp...).
3.1.3. Phát triển du lịch MICE
Thời gian qua, du lịch MICE tại Tp. HCM đã phát triển khá nhanh, đem lại nguồn thu lớn
nhưng cịn thiếu tính chun nghiệp, bài bản, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
Trở ngại lớn nhất để phát triển du lịch MICE của Tp. HCM là về cơ sở vật chất và nguồn
nhân lực du lịch vì lượng khách mỗi chuyến du lịch MICE thường rất đơng (có khi lên
đến vài nghìn người), và là đối tượng khách “cao cấp”.
Theo đánh giá của các chuyên gia WTO về du lịch MICE Việt Nam thì trước hết, Tp.
HCM nên thành lập Tổ chức xúc tiến phát triển MICE (MICE Bureau). Sau đó, rất quan
trọng, thành phố cần đầu tư mạnh vào xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ khách
MICE. Cụ thể thì thành phố cần phải có những hệ thống khách sạn đạt chuẩn quốc tế;
trung tâm hội chợ triển lãm, hội nghị đủ lớn (với sức chứa ít nhất vài ngàn người); hệ
thống giao thơng nội thành;…Để phục vụ cho những tour du lịch lớn và cao cấp như
MICE, ngành du lịch thành phố phải có một nguồn nhân lực du lịch có trình độ nghiệp vụ
cao, chuyên nghiệp. Tp. HCM cần đầu tư triệt để cho lĩnh vực này bằng cách tuyển chọn
đội ngũ nhân viên du lịch với những tiêu chuẩn cao, mở các lớp đào tạo nghiệp vụ trong
nước và gửi đi đào tạo ở nước ngồi. Thành phố cũng phải tìm cách cải thiện cả những
dịch vụ nhỏ nhất làm du khách phàn nàn như dịch vụ cung cấp quà lưu niệm, người bán
hàng rong, tài xế taxi,…Hơn nữa, ngoài việc định hướng phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ
sao cho phù hợp cịn khơng thể thiếu cơng tác quảng bá du lịch. Thành phố nên có những
hỗ trợ, định hướng cho các công ty du lịch thực hiện kế hoạch chinh phục, hấp dẫn khách
hàng và công ty đối tác.
3.2. Chiến lược WO (Weaks – Opportunities) - Đây là các chiến lược dựa trên khả
năng vượt qua các điểm yếu của ngành du lịch để tận dụng cơ hội thị trường.
3.2.1. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý thành phố đối với hoạt động du lịch
Đây là vấn đề rất quan trọng, mang ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của ngành du
lịch. Quản lý du lịch tốt, Tp.HCM sẽ có một mơi trường du lịch an tồn, thân thiện và văn
minh, khơng cịn nạn cướp giật, chặt chém, chèo kéo khách du lịch, nhất là du khách
nước ngồi. Thành phố nên tăng cường cơng tác chỉ đạo để đảm bảo thực hiện tốt các nội
dung, chỉ tiêu phát triển du lịch được phê duyệt trong chiến lược và quy hoạch, chú trọng
các chỉ tiêu phát triển các địa bàn trọng điểm.
3.2.2. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành du lịch
Trong đầu tư du lịch thì đầu tư cho cơ sở hạ tầng để phục vụ phát triển du lịch có yếu tố
quan trọng đảm bảo thúc đẩy phát triển du lịch, đặc biệt là tạo điều kiện thu hút khách du
lịch và cải thiện điều kiện dân sinh cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện
chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch, đồng thời chú trọng lồng ghép đầu tư hạ tầng
với du lịch với các chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội; trong giai đoạn tới cần
chú trọng đầu tư vào các khu điểm du lịch trọng điểm để tạo đà bứt phá. Bên cạnh đó
thành phố nên xây dựng, mở rộng hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, những
điểm tham quan độc đáo, hiện đại mang đặc trưng văn hoá Việt Nam.
3.2.3. Khắc phục tình trạng ơ nhiễm mơi trường
Ngành du lịch thành thố cần khắc phục tình trạng ơ nhiễm môi trường - nỗi ám ảnh đối
với người dân Tp. HCM hiện nay bằng nhiều giải pháp như: đầu tư xây dựng hồ sinh học,
nâng cấp hệ thống thoát nước; san lấp/nạo vét kênh rạch; xây dựng hệ thống xử lý rác và
nước thải công nghiệp; lắp đặt hệ thống phân loại và xử lý rác sinh hoạt; chuyển một số
xí nghiệp, cơ sở sản xuất ra ngoại thành; và đặc biệt là xử phạt thật nghiêm những tổ
chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường,…
3.2.4. Quản lý chặt chẽ vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
Đây là vấn đề mà ngành du lịch cần quan tâm hàng đầu. Vì nếu để xảy ra ngộ độc thực
phẩm cho thực khách, khơng những uy tín của nhà hàng bị ảnh hưởng mà uy tín của
ngành du lịch cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, thành phố cần khuyến cáo và quản lý chặt chẽ
việc sử dụng nguồn thực phẩm an tồn, cũng như quy trình xử lý rau củ quả, thực phẩm
tươi sống an toàn trước khi chế biến ở các nhà hàng, quán ăn; đồng thời xử lý nghiêm
những cơ sở chế biến thực phẩm khơng an tồn. Ngồi ra, lãnh đạo ngành du lịch thành
phố cũng cần lưu ý các công ty du lịch trong việc ký kết hợp đồng với nhà hàng trong các
tour trọn gói. Vì một số công ty không quan tâm đến chất lượng bữa ăn của khách mà vì
lợi nhuận nên ký hợp đồng với những nhà hàng kém chất lượng, để lại ấn tượng không
tốt về ẩm thực Việt Nam cho khách, nhất là khách nước ngoài. Họ quên rằng khách du
lịch là những nhà tiếp thị hiệu quả nhất.
3.3. Chiến lược ST (Strengths – Threats) - Đây là các chiến lược dựa trên ưu
thế của ngành du lịch Tp.HCM để tránh các nguy cơ của thị trường.
3.3.1. Tích cực xây dựng kế hoạch tổ chức roadshow và tham gia các Hội chợ du lịch
quốc tế.
Roadshow (biểu diễn lưu động) là một trong những xu hướng quảng cáo đang được sử
dụng phổ biến hiện nay, nhằm giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá hoạt động văn hoá, thể
thao và du lịch, tạo hiệu ứng cao về mặt hình ảnh và ghi nhớ. Tổ chức roadshow là chiến
lược quảng bá thương hiệu Du lịch thành phố Hồ Chí Minh ra thế giới rất hiệu quả,
nhằm tìm kiếm các nhà cung cấp, các đối tác trong ngành công nghiệp du lịch MICE.
Đây cũng là cơ hội để đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác du lịch của thành phố tiếp
cận, giao lưu với các chuyên gia hàng đầu về du lịch, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ du
lịch.
Hội chợ du lịch quốc tế là sự kiện du lịch quốc tế lớn được tổ chức thường niên nhằm thu
hút sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch, hãng lữ hành quốc tế đến từ: Australia,
Nhật, Thái Lan, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Hongkong (Trung Quốc), Kazakhstan...
để cùng giao lưu học hỏi, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh du lịch outbound và
inbound. Hội chợ du lịch quốc tế cũng là ngày hội dành cho người tiêu dùng du lịch trong
nước, với các hình thức khuyến mãi, giảm giá ưu đãi đặc biệt cho chương trình tour du
lịch nước ngồi từ các doanh nghiệp du lịch tham gia sự kiện.
3.3.2. Phát huy hiệu quả của “Liên hoan Ẩm thực Đất Phương Nam”.
Liên hoan Ẩm thực Đất Phương Nam là sự kiện du lịch – văn hóa ấn tượng được tổ chức
định kỳ hằng năm tại thành phố Hồ Chí Minh với mục đích xây dựng thêm sự kiện du
lịch – văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng là dịp để Ngành du lịch Thành Phố
tôn vinh và giới thiệu đến du khách trong nước và quốc tế các giá trị văn hóa ẩm thực của
Việt Nam nói chung và của vùng đất Phương Nam nói riêng.
Qua từng kỳ liên hoan, ẩm thực Đất Phương Nam khơng chỉ là một hoạt động văn hố
quy tụ ẩm thực các vùng miền, mà qua đó đem lại khơng gian ẩm thực sinh động giúp du
khách cảm nhận chân thực nhất về văn hoá ẩm thực từng vùng miền khắp đất nước. Tại
Liên hoan, rất nhiều hoạt động diễn ra như: chế biến và phục vụ ẩm thực đặc trưng các
vùng miền, biểu diễn nghệ thuật chế biến thức ăn, pha chế nước uống; các hội thi, và hoạt
động văn hóa, văn nghệ đặc sắc phục vụ du khách.
Những sáng tạo trong hình thức tổ chức hoạt động này sẽ vừa tơn vinh các giá trị văn hóa
ẩm thực Việt nói chung và vùng đất phương Nam nói riêng, nhằm xố đi ấn tượng khơng
tốt về thực phẩm Việt Nam, vừa là cách thu hút khách quốc tế đến với Việt Nam.
3.3.3. Áp dụng chính sách “bình ổn giá” cho du lịch
Tình hình suy thối kinh tế của thế giới nói chung và trong nước nói riêng cũng là nguy
cơ đáng quan ngại cho sự phát triển du lịch ở Tp.HCM. Vì vậy, ngành du lịch cần cân
nhắc giữa cung và cầu, giữa thu và chi, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách khi đăng ký
tour, nhất là khách du lịch trong nước. Trong đó, “bình ổn giá” có chương trình hỗ trợ
khách hàng và cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty du lịch là phương án tối ưu, tạo
được niềm tin và sự an tâm cho khách. Như vậy, ngành du lịch sẽ duy trì được lượng
khách ổn định dù thị trường tài chính có biến động.
3.4. Chiến lược WT (Weaks – Threats) - Đây là chiến lược dựa trên khả năng vượt
qua hoặc hạn chế tối đa các điểm yếu của ngành du lịch TPHCM để tránh các nguy
cơ/rủi ro đến từ bên ngoài.
3.4.1. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch
Do nhu cầu của khách du lịch ngày càng đa dạng, và do cuộc cạnh tranh quyết liệt trong
việc thu hút khách, Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng nên thường
xun tiến hành việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới để sản phẩm du lịch ngày
càng trở nên đa dạng. Ngay trong cùng một nhóm sản phẩm, cơ cấu các loại sản phẩm
cũng cần phong phú. Chẳng hạn, đối với dịch vụ lưu trú, tuỳ theo sở thích và khả năng
thanh tốn, khách du lịch có nhiều lựa chọn về loại phịng hoặc loại hình lưu trú, họ có
thể lựa chọn một loại phịng ngủ nào đó tại khách sạn cao cấp, hoặc tại khu vực cắm trại,
hoặc tại nhà dân... Tour du lịch thiết kế theo nhiều loại khác nhau, có thể là tour chuyên
đề (du lịch văn hố, du lích sinh thái, du lịch hội thảo, du lịch mạo hiểm . .) hoặc tour
tổng hợp, tour mở ...Ngay tại một cơ sở kinh doanh, các dịch vụ cũng được đa dạng hoá.
Tại một khách sạn, ngồi dịch vụ lưu trú cịn có các dịch vụ khác như: dịch vụ ăn uống
với nhiều loại hình nhà hàng, dịch vụ hội nghị, dịch vụ giải trí, dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ chăm sóc trẻ em, bán hàng lưu niệm,... Sự đa
dạng hoá sản phẩm du lịch được thực hiện không chỉ ở cách tạo ra các dịch vụ riêng lẻ
mới, mà còn tạo rạ các sản phẩm trọn gói mới, chẳng hạn, phát triển loại hình du lịch
MICE. Sự đa dạng hố dịch vụ khơng những đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch,
mà còn thu hút được nhiều đối tượng tham gia cung ứng các loại sản phẩm, giải quyết
được nhiều việc làm, tăng lợi ích kinh tế cho thành phố.
3.4.2. Nâng cao nhận thức của người dân về văn minh du lịch
Đây là hành động cần thiết nhằm chấn chỉnh tình hình du lịch hiện nay đồng thời hướng
tới xây dựng thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện của đội ngũ cán bộ, nhân
viên người lao động làm việc trong ngành du lịch và các ngành liên quan đến du lịch, góp
phần tạo ấn tượng tốt đẹp với du khách khi đến thành phố Hồ Chí Minh.
Cần nhấn mạnh đến vai trò của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch.
Quy tắc về ứng xử đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải có đạo đức nghề nghiệp, luôn vui vẻ,
thân thiện, niềm nở; không phân biệt đối xử, không đeo bám, chèo kéo, làm phiền khách
du lịch; công khai, rõ ràng và bán đúng giá niêm yết.
Ngoài ra, trang phục của người dân phải đảm bảo lịch sự và phù hợp. Về ứng xử, phải có
tinh thần u nước và lịng tự hào dân tộc, tơn trọng truyền thống văn hóa, phong tục tập
qn của người dân địa phương, khơng nói lời thơ tục, thiếu văn hóa, sử dụng có kiểm
sốt bia, rượu và các loại đồ uống có cồn… Đặc biệt, người dân và khách du lịch phải có
ý thức bảo vệ mơi tường, không vứt rác hoặc khạc nhổ bừa bãi…
LỜI KẾT
Du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói”, khơng chỉ mang lại nguồn lợi về
kinh tế cho đất nước mà cịn góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với bè bạn năm châu,
rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian giữa Việt Nam với thế giới. Với những thế
mạnh vượt trội so với các thành phố khác trong nước và trong khu vực, Tp.HCM – nơi
từng được mệnh danh là “Hịn ngọc Viễn Đơng”, có nhiều cơ hội phát triển ngành du lịch
với đa dạng các loại hình du lịch, trong đó du lịch MICE, du lịch mua sắm, du lịch sinh
thái và du lịch văn hóa sẽ là những loại hình du lịch chính, đầy triển vọng trong tương
lai. Để ngành du lịch Tp.HCM đáp ứng được u cầu “tồn cầu hố” và “địa phương
hố” và hồn thành “sứ mạng cao cả” của mình - là ngành kinh tế mũi nhọn góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, lãnh đạo thành phố, lãnh đạo ngành du
lịch, các chuyên gia du lịch, các nhà đầu tư... phải xây dựng những chiến lược phát triển
tồn diện cho ngành du lịch, trong đó cần chú ý: phát huy thế mạnh - nắm bắt cơ hội –
khắc phục điểm yếu – ngăn chặn/hạn chế nguy cơ. Ngồi ra, một yếu tố khơng kém phần
quan trọng nữa là làm sao để việc quảng bá hình ảnh Thành phố Hồ Chí Minh – Việt
Nam ra thế giới và mời gọi thế giới đến với mình phải nằm trong ý thức của mỗi công
dân đã và đang sống và làm việc ở Tp.HCM, trong đó có tất cả chúng ta.