TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
BÀI TẬP LỚN
MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI 3: “ Vốn lưu động ròng là gì? Nhà quản lý tài chính có thể
ứng dụng chỉ tiêu này cho những quyết định tài chính nào? Và vận
dụng ra sao? Vốn lưu động ròng âm có phải là một tín hiệu không
tốt về tình hình tài chính của doanh nghiệp? Tại sao? Cho Ví dụ
minh họa.
Lớp:
Tài chính doanh nghiệp1(119)_4
Nhóm thực hiện (4):
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2019
BÀI LÀM
I. Vốn lưu động ròng là:
Vốn lưu động ròng là phần chênh lệch giữa nguồn vốn thường xuyên với
giá trị tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn.
Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn của chủ sở hữu hoặc nợ dài hạn
khác mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong một thời gian dài hơn một
năm.
Tài sản cố định là tài sản như là một tư liệu lao động chuyên dùng trong
sản xuất có giá trị lớn và tham gia vào các chu kỳ sản xuất của công ty
và đem lại lợi nhuận cho công ty.
Tài sản đầu tư dài hạn là tài sản dùng không được sử dụng vào kinh
doanh sản xuất của công ty nhưng vẫn đem lại lợi nhuận cho công ty. Là
tài sản mà công ty sẽ bỏ vốn ra hiện tại và đem lại lợi ích lâu dài.
II. Nhà quản lý tài chính ứng dụng chỉ tiêu này cho những quyết
định tài chính:
1, Tính nợ ngắn hạn :
Nợ ngắn hạn là những khoản cần thanh toán trong thời hạn một năm.
Chúng bao gồm khoản phải trả, nợ dồn tích và các khoản vay ngắn hạn
phải trả.
+ Bảng cân đối kế toán nên thể hiện tổng nợ ngắn hạn. Nếu không có,
hãy sử dụng thông tin có trong bảng cân đối để tìm tổng này bằng cách
cộng dồn các tài khoản nợ ngắn hạn được liệt kê.
+ Ví dụ: Chúng có thể gồm "khoản phải trả và dự phòng", "thuế phải
trả" và "nợ ngắn hạn".
Câu hỏi ứng dụng: “Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn hay không ? (Hay nói cách khác thì doanh nghiệp có thể
dùng tài sản ngắn hạn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn hay
không?)
Trả lời: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có thể trang trải các
khoản nợ ngắn hạn.
⇨
VLĐR âm: Doanh nghiệp dùng nguồn vốn NH để tài trợ cho đầu tư DH.
2. Tính tài sản ngắn hạn:
Tài sản ngắn hạn là tài sản mà doanh nghiệp có thể chuyển đổi thành
tiền mặt trong thời gian một năm. Chúng bao gồm tiền mặt và các tài
khoản ngắn hạn khác.
Ví dụ: Các khoản phải thu, chi phí trả trước và tồn kho.
+ Thông thường, bạn có thể tìm thấy thông tin trên trong bảng cân đối kế
toán của công ty - tài liệu này nên có mục tổng tài sản ngắn hạn.
+ Nếu bảng cân đối kế toán không bao gồm tổng tài sản ngắn hạn, hãy
kiểm tra từng dòng của bảng cân đối. Cộng tất cả tài khoản đáp ứng định
nghĩa tài sản ngắn hạn để có được tổng cần tìm.
Câu hỏi ứng dụng: “DN đủ vốn DH tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn
thừa để tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn thì:
a. TSDH của doanh nghiệp có được tài trợ vững chắc bằng nguồn vốn
dài hạn hay không?
⇨
VLĐR dương: Toàn bộ TSDH được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn
b. Khá nguy hiểm vì khi hết hạn vay thì phải tìm nguồn vốn khác thay
thế.
c. Nếu tình trạng này liên tục xảy ra thì sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ
bị đe doạ có thể đẩy tới tình thế là bán tài sản cố định.
3. Tính vốn lưu động
Đây chỉ là phép trừ cơ bản. Lấy tổng tài sản ngắn hạn trừ tổng nợ ngắn
hạn.
+ Ví dụ: Giả sử một công ty có tài sản ngắn hạn là 1 tỷ đồng và nợ ngắn
hạn là 480 triệu đồng. Vốn lưu động của công ty sẽ là 620 triệu đồng.
Với tài sản ngắn hạn hiện có, công ty có thể thanh toán mọi khoản nợ
ngắn hạn và đồng thời, còn tiền mặt để phục vụ những mục tiêu khác.
Công ty có thể dùng tiền mặt cho các hoạt động kinh doanh hoặc thanh
toán nợ dài hạn. Nó cũng có thể được dùng để trả lợi tức cho cổ đông.
Nếu nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, kết quả cho thấy vốn lưu
động bị thiếu hụt. Thiếu hụt vốn lưu động là dấu hiệu cảnh báo công ty
đang có nguy cơ vỡ nợ. Trong tình huống này, công ty có thể sẽ cần đến
những nguồn tài chính dài hạn khác. Đó có thể là dấu hiệu cho thấy công
ty đang gặp rắc rối và có lẽ, không là lựa chọn đầu tư tốt.
+
I
Vận dụng vốn lưu động:
1. Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của công ty
Công ty cần phải phân tích chính xác các chỉ tiêu tài chính của kỳ trước,
những biến động chủ yếu trong vốn lưu động, mức chênh lệch giữa kế
hoạch và thực hiện về nhu cầu vốn lưu động ở các kỳ trước. Tiếp đó, dựa
trên nhu cầu vốn lưu động đã xác định, công ty cần lên kế hoạch huy
động vốn: xác định khả năng tài chính hiện tại của công ty; số vốn còn
thiếu; so sánh chi phí huy động vốn từ các nguồn tài trợ để tài trợ để lựa
chọn kênh huy động vốn phù hợp, kịp thời, tránh tình trạng thừa vốn,
gây lãng phí hoặc thiếu vốn làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của
công ty, đồng thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
Khi lập kế hoạch vốn lưu động, công ty phải căn cứ vào kế hoạch vốn
kinh doanh đảm bảo cho phù hợp với tình hình thực tế thông qua việc
phân tích, tính toán các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của kỳ trước cùng với
những dự đoán về tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tăng trưởng
trong năm tới và những dự kiến về sự biến động của thị trường.
2. Chủ động khai thác và sử dụng nguồn vốn kinh doanh và vốn lưu
động
Trong điều kiện doanh nghiệp hoạt động được chủ yếu bằng các nguồn
vốn huy động từ bên ngoài thì để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, công
ty nên linh hoạt tìm các nguồn tài trợ với lãi suất phù hợp.
2.1 Một số nguồn công ty có thể xem xét huy động như:
Vay ngân hàng: Trong những năm gần đây, đứng trước nhu cầu đòi
hỏi về vốn thì đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng. Nguồn vốn tín
dụng ngân hàng thực chất là vốn bổ sung chứ không phải nguồn vốn
thường xuyên tham gia và hình thành nên vốn lưu động của công ty. Mặt
khác, công ty cũng nên huy động nguồn vốn trung và dài hạn vì việc sử
dụng vốn vay cả ngắn, trung và dài hạn phù hợp sẽ góp phần làm giảm
khó khăn tạm thời về vốn, giảm một phần chi phí và tăng lợi nhuận. Tuy
nhiên, để huy động được các nguồn vốn từ ngân hàng thì công ty cũng
cần phải xây dựng các phương án kinh doanh, các dự án đầu tư khả thi
trình lên ngân hàng, thanh toán các khoản nợ gốc và lãi đúng hạn, xây
dựng lòng tin ở các ngân hàng.
+
Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Đây là hình thức hợp tác mà qua đó
các doanh nghiệp không những tăng được vốn cho hoạt động kinh doanh
mà còn học tập được kinh nghiệm quản lý, tiếp thu được tiến bộ khoa
học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
+
Vốn chiếm dụng: Thực chất đây là các khoản phải trả người bán,
người mua trả tiền trước, các khoản phải trả khác. Đây không thể được
coi là nguồn vốn huy động chính nhưng khi sử dụng khoản vốn này công
ty không phải trả chi phí sử dụng, nhưng không vì thế mà công ty lạm
dụng nó vì đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chỉ có thể chiếm dụng
tạm thời.
+
2.2 Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời và chủ động vốn trong kinh
doanh, công ty cần phải thực hiện các biện pháp sau:
+ Xây dựng chiến lược huy động vốn phù hợp với thực trạng thị trường
và môi trường kinh doanh của từng thời kỳ.
+ Tạo niềm tin cho các nơi cung ứng vốn bằng cách nâng cao uy tin của
công ty: ổn định và hợp lý hóa các chỉ tiêu tài chính, thanh toán các
khoản nợ đúng hạn…
+ Chứng minh được mục đích sử dụng vốn bằng cách đưa ra kết quả
kinh doanh và hiệu quả vòng quay vốn trong năm qua và triển vọng năm
tới.
+ Đối với công tác sử dụng vốn: Khi thực hiện công ty phải căn cứ vào
kế hoạch huy động và sử dụng vốn kinh doanh đã lập làm cơ sở để điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế tại công ty. Nếu phát sinh nhu
cầu bất thường, công ty cần có kế hoạch chủ động cung ứng kịp thời
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, tránh tình trạng phải
ngừng sản xuất do thiếu vốn kinh doanh. Nếu thừa vốn, công ty phải có
biện pháp xử lý kịp thời nhằm đảm bảo phát huy thế mạnh, khả năng
sinh lời của vốn.
+ Để có kế hoạch huy động và sử dụng vốn sát với thực tế, nhất thiết
phải dựa vào thực trạng sử dụng vốn trong kỳ và đánh giá điều kiện
cũng như xu hướng thay đổi cung cầu trên thị trường.
3. Tăng cường công tác quản lý các khoản phải thu, hạn chế tối đa
lượng vốn bị chiếm dụng
Với những khách hàng mua lẻ với khối lượng nhỏ, công ty tiếp tục thực
hiện chính sách “mua đứt bán đoạn”, không để nợ hoặc chỉ cung cấp
chiết khấu ở mức thấp với những khách hàng nhỏ nhưng thường xuyên.
Với những khách hàng lớn, trước khi ký hợp đồng, công ty cần phân loại
khách hàng, tìm hiểu kỹ về khả năng thanh toán của họ. Hợp đồng luôn
phải quy định chặt chẽ về thời gian, phương thức thanh toan và hình
thức phạt khi vi phạm hợp đồng.
Một số điểm cần lưu ý khác:
+ Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ, tiến hành sắp xếp các khoản phải
thu theo thời gian. Như vậy, công ty sẽ biết được một cách dễ dàng
khoản nào sắp đến hạn để có thể có các biện pháp hối thúc khách hàng
trả tiền. Định kỳ công ty cần tổng kết công tác tiêu thụ, kiểm tra các
khách hàng đang nợ về số lượng và thời gian thanh toán, tránh tình trạng
để các khoản thu rơi vào tình trạng nợ khó đòi.
+ Công ty nên áp dụng biện pháp tài chính thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và
hạn chế vốn bị chiếm dụng như chiết khấu thanh toán và phạt vi phạm
quá thời hạn thanh toán.
+ Nếu khách hàng thanh toán chậm thì công ty cần xem xét cụ thể để
đưa ra các chính sách phù hợp như thời gian hạn nợ, giảm nợ nhằm giữ
gìn mối quan hệ sẵn có và chỉ nhờ có quan chức năng can thiệp nếu áp
dụng các biện pháp trên không mạng lại kết quả.
+ Khi mua hàng hoặc thanh toán trước, thanh toán đủ phải yêu cầu
người lập các hợp đồng bảo hiểm tài sản mua nhằm tránh thất thoát,
hỏng hóc hàng hóa dựa trên nguyên tắc “giao đủ, trả đủ” hay các chế tài
áp dụng trong ký kết hợp đồng.
4. Có biện pháp sử dụng có hiệu quả vốn bằng tiền tạm thời nhàn
rỗi
Phân tích cho thấy, vốn bằng tiền của một công ty nhập khẩu sô-cô-la
chiếm tỷ trọng tương đối lớn (22,37% vốn lưu động). Chính vì vậy việc
tổ chức quản lý và sử dụng vốn bằng tiền có ý nghĩa quan trọng đối với
hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hiệu quả sử dụng vốn
nói riêng. Trong năm 2008, lượng tiền của công ty tập trung chủ yếu tại
ngân hàng (1 tỉ 510 triệu chiếm tỷ trọng 92,6%). Với số tiền gửi ngân
hàng lớn như vậy, công ty đã đánh mất cơ hội đầu tư cho các hoạt động
khác hứa hẹn nhiều lợi nhuận như kinh doanh tài chính, bất động sản…
5. Quản lý hàng tồn kho, giảm thiểu chi phí lưu kho
+ Việc hàng tồn kho trong năm còn nhiều, tỷ trọng tương đối cao trong
tổng vốn lưu động cho thấy lượng hàng hóa mua cũng như ký gửi tại các
đại lý còn nhiều. Việc hàng tồn kho trong quá trình chưa đến tay người
tiêu dùng có nhu cầu và chuyển giao quyền sở hữu thì việc mất mát,
hỏng hóc, thất thoát vốn là không tránh khỏi. Các công ty nên làm gì
trong trường hợp này?
+ Lập kế hoạch cho hoạt động kinh doanh trên cơ sở tình hình năm báo
cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng, quý. Kiểm tra chất lượng số hàng
hóa khi nhập về. Nếu hàng kém chất lượng thì phải đề nghị người bán
đền bù tránh thiệt hại cho công ty.
+ Bảo quản tốt hàng tồn kho. Hàng tháng, kế toán hàng hóa cần đối
chiếu sổ sách, phát hiện số hàng tồn đọng để xử lý, tìm biện pháp để giải
phóng số hàng hóa tồn đọng để nhanh chóng thu hồi vốn.
+ Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường hàng hóa. Từ đó
dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc nhập khẩu và lượng hàng
hóa trong kho trước sự biến động của thị trường. Đây là biện pháp rất
quan trọng để bảo toàn vốn của công ty.
6. Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn
lưu động
+ Xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ ở những thị trường đang có
nhu cầu thông qua công tác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị hiếu của
khách hàng.
+ Thực hiện phương châm khách hàng là thượng đế, áp dụng chính sách
ưu tiên về giá cả, điều kiện thanh toán và phương tiện vận chuyển với
những đơn vị mua hàng nhiều, thường xuyên hay có khoảng cách vận
chuyển xa.
+ Tăng cường quan hệ hợp tác, mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh
công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường, nắm bắt thị hiếu của khách hàng
đồng thời thiết lập hệ thống cửa hàng, đại lý phân phối tiêu thụ trên diện
rộng.
+ Hiện nay, hàng hóa của công ty được thực hiện tiêu thụ chỉ qua các đại
lý là chính. Để mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thúc đẩy tiêu thụ ngày càng
phát triển, công ty phải từng bước xây dựng hệ thống nhiều cửa hàng
phân phối của riêng mình để cùng với các đại lý hiện nay đẩy nhanh tốc
độ bán hàng. Làm được như vậy chắc chắn khả năng tiêu thụ của công ty
sẽ tăng lên và tỷ suất lợi nhuận thu được sẽ cao hơn, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mình.
+ Tuy nhiên, việc mở rộng các đại lý cần chú ý đến vấn đề thanh toán
của các đại lý này. Thông thường ở các đại lý thường xảy ra tình trạng
chậm thanh toán, cố tình dây dưa công nợ để chiếm dụng vốn của công
ty, vì vậy công ty cần đặt ra kỷ luật thanh toán chặt chẽ, tốt nhất là phải
có tài sản thế chấp, yêu cầu các đại lý thiết lập hệ thống sổ sách, chứng
từ đầy đủ. Định kỳ công ty sẽ tiến hành kiểm tra, nhằm phát hiện kịp
thời các sai phạm. Nếu làm tốt sẽ được hưởng bằng cách tăng tỷ lệ hoa
hồng, cho hưởng chiết khấu, ngược lại sẽ bị phạt.
7. Có biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra
+ Những rủi ro bất thường trong kinh doanh như: nền kinh tế lạm phát,
giá cả thị trường tăng,… là những yếu tố khó dự đoán trước. Vì vậy, để
hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy ra, công ty cần phải thực
hiện các biện pháp phòng ngừa để khi vốn kinh doanh nói chung và vốn
lưu động nói riêng bị hao hụt, công ty có thể có ngay nguồn bù đắp, đảm
bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục. Cụ thể, các biện
pháp mà công ty có thể áp dụng là:
+ Mua bảo hiểm hàng hóa đối với những hàng hóa đang đi đường cũng
như hàng hóa nằm trong kho.
+ Trích lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự
phòng giảm giá hàng bán tồn kho.
+ Việc công ty tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững chắc, một
tấm lá chắn tin cậy về kinh tế, giúp công ty có điều kiện về tài chính để
chống đỡ có hiệu quả mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không
ảnh hưởng nhiều đến vốn lưu động.
+ Cuối kỳ, công ty cần kiểm tra, rà soát, đánh giá lại vật tư hàng hóa,
vốn bằng tiền, đối chiếu sổ sách kế toán để xử lý chênh lệch.
IV. Vốn lưu động âm có phải là tín hiệu tốt hay không?
Nếu vốn lưu động ròng < 0 (tức NVTX – TSCĐ&ĐTDH <0) nghĩa là
NVTX không đủ để tài trợ cho TSCĐ&ĐTDH, sự thiếu hụt này được bù
đắp bằng một phần nguồn vốn tạm thời hay nợ ngắn hạn. Cân bằng tài
chính trong trường hợp này không tốt vì doanh nghiệp luôn chịu áp lực
về các khoản nợ ngắn hạn. Doanh nghiệp cần phải có những điều chỉnh
dài hạn để tạo ra một cân bằng mới theo hướng bền vững.
Tuy nhiên để đánh giá cân bằng tài chính trong dài hạn, ta cần phải xem
xét vốn lưu động ròng trong chuỗi thời gian thì mới dự toán những khả
năng triển vọng về cân bằng tài chính trong tương lai. Nếu vốn lưu động
ròng giảm và âm trong dài hạn thì mức độ an toàn và bền vững tài chính
của doanh nghiệp càng giảm, vì doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn
tạm thời để tài trợ TSCĐ. Doanh nghiệp sẽ gặp áp lực về thanh toán
ngắn hạn và có nguy cơ phá sản nếu không thanh toán đúng hạn và có
hiệu quả kinh doanh thấp.
VLĐR Tăng chưa chắc đã là VLĐR giảm chưa hẳn là dấu
dấu hiệu tốt
hiệu không thuận lợi
✓ VLĐR tăng do tăng nguồn vốn ✓ VLĐR giảm khi cơ cấu nguồn
dài hạn, do nợ DH tăng, đặc biệt vốn vẫn đảm bảo an toàn
nợ dài hạn lớn hơn VCSH
✓ VLĐR tăng do phải bán bớt tài
sản DH cần cho hoạt động sản
xuất kinh doanh
V. Áp dụng phân tích:
Đơn vị tính: ( đồng)
Khoản mục
Khoản mục
Năm 2007
Năm 2008
Biến động
ST
TL
Tài sản ngắn 179,079,163,90 410,325,459,6 231,246,295,785 2.29
hạn
0
85
Tiền và các 44,423,027,953 30,533,213,38 -13,889,814,573 0.69
khoản tương
0
đương tiền
Các khoản
đầu tư tài
chính ngắn
hạn
14,055,000,000 196,055,000,0 182,000,000,000 13.95
00
Các khoản 30,318,114,546 88,974,345,55 58,656,231,007
phải thu ngắn
3
hạn
2.93
Hàng tồn kho 86,850,781,794 86,639,874,16
6
-210,907,628
1.00
Tài sản ngắn 3,432,239,607 8,123,026,586
hạn khác
4,690,786,979
2.37
Nợ ngắn hạn 141,006,182,09 109,178,724,1 -52,381,855,883 0.70
7
08
VLĐR
38,072,981,803 301,146,735,5 263,073,753,774 7.910
77
Trong 2 năm VLĐR>0 , như vậy BBC có khả năng chi trả các khoản
nợ ngắn hạn, Năm 2008 VLĐR khá lớn, tăng 263,073,753,774 tương
đương với 7.910 lần so với năm 2007. Đây là một sự thay đổi lớn trong
VLĐR, nó ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền của BBC.
VLĐR tăng là do:
+ Tăng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ( năm 2008 tăng 13.95 lần
so với năm 2007). Khoản mục này tăng là do công ty đã lấy tiền mặt để
gửi kỳ hạn tại ngân hàng.
+ Tăng các khoản phải thu ngắn hạn, đồng thời giảm hàng tồn kho
Doanh nghiệp bán hàng tốt nhưng khách hàng chậm thanh toán
+ Tăng tài sản ngắn hạn khác
+ Giảm nợ ngắn hạn xuống còn 109,178,724,108 tương đương với giảm
0.7 lần tài sản dài hạn của BBC được tài trợ vững chắc bởi nguồn vốn
dài hạn.Thực tế cho thấy, Trong năm 2008 BBC đã phát hành một lượng
lớn cổ phiếu (4,650,000) cho cổ đông chiến lược là Lotte Confectionery
Hàn Quốc, nâng vốn điều lệ của BBC tạo điều kiện thuận lợi để triển
khai các dự án lớn.
Như vậy VLĐR của BBC tăng, đây là dấu hiệu thuận lợi. Nó chứng tỏ
BBC có sức mạnh tài chính trong ngắn hạn khá dồi dào.