BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ NAM THẮNG
VẤN Đ Ể THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO Đ Ộ N G
TR O N G VIỆC NÂNG CAO HIỆU Q UẢ TH ựC THI BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM
C huyên ngành: Luật K inh tế
M ã số:
5.0511
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS Nguyễn Hữu Viện
HÀ NỘI NĂM 2001
Qôi xin ehản thành cảm. đtt thầy íịitiú OíạuỊỊỈn.
'ĩĩô ữ iL (OĨÂM I,
ạ iẩ & uU J h iă t íự m , e ứ a th u ầ ụ . c à g iá &
e ủ a tv ư ò n ụ đ ạ i h ọ e . M u ậ t W>ol Q iệ if e á ti b ạ n . đ ề n ự .
kháa tm eáa đềnạ. nghiệp đã tậ n tìn h ạiủp đỡ đ ể tồ i
hoàn, thành bần. luận, aăn nàụ !
Qáa giả
VÙĨLQĩxun. Q,'hắng.
MỤC LỤC
■
■
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN THANH TRA
1.1 Thanh tra
1
1.2 So sánh khái niệm thanh tra với kiểm tra
1
1.3 Phúc tra
3
2. THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM
2.1 Khái niệm về Thanh tra Nhà nước về lao động
4
2.2 Hệ thống tổ chức của thanh tra N hà nước về lao động ở Việt Nam
5
2.3 Số lượng thanh tra viên
6
2.4 Nhiệm vụ và thẩm quyền của Thanh tra N hà nước về lao động
7
3. VAI TRÒ CỦA THANH TRA LAO ĐỘNG TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM
8
Chương II
THỰC TRẠNG CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG ở VỈỆT NAM
■
■
■
■
■
1.THỰC TRẠNG VỀ Tổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC
VỀ LAO ĐỘNG
1.1 Tổ chức của Thanh tra Nhà nước về lao động
11
1.2 Hoạt động của Thanh tra Nhà nước về lao động
16
2.
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THựC HIỆN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG TẠI MỘT s ố DOANH NGHIỆP ở VIỆT NAM
2.1 Đặc điểm chung về các doanh nghiệp ở Việt Nam ảnh hưởng đến việc
2.2 K ết quả thực hiện Pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp
qua hoạt động thanh tra N hà nước về lao động
2.3 Tinh hình vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
ở các doanh nghiệp thông qua hoạt động của thanh tra
nhà nước về lao động
2.4 Tác động, hiệu quả của hoạt động thanh tra nhà nước
về ỉao động trong việc nâng cao hiệu quả thực thi bộ luật lao động
Chương III
NHỮNG YÊU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CỦA
THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1. NHỮNG YÊU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÊN HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG
CỬA THANH TRA LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1.1 Các quy định về tiêu chuẩn của thanh tra viên lao động
1.2 TỔ chức và thẩm quyền của Thanh tra Nhà nước về lao động
1.3. Sự phối hợp với các cơ quan nhà nước khác trong công tác thanh tra
2. NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Tổ CHỨC THANH TRA NHÀ NƯỚC
VỀ LAO ĐỘNG ĐỂ THựC THI c ó HIỆU QUẢ BỘ LUẬT LAO ĐỘNG
2.1 Giải pháp liên quan tới pháp luật
2.2 Các giải pháp về tổ chức, hoạt động của Thanh tra N hà nước về lao động
2.3. Những giải pháp khác
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
BỐ CỤC CỦA ĐỂ TÀI
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bộ luật Lao động của Việt Nam được Quốc hội thông qua vào tháng 6 năm 1994 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995. Nội dung chủ yếu của Bộ luật
quy định về các điều khoản liên quan đến việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc
nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và các điều kiện lao động k h ác.... Trong 6 năm
qua, nhiều những vấn đề liên quan đến việc đảm bảo thực thi các quy định của Bộ
luật Lao động chưa được đáp ứng kịp thời. Vi phạm pháp luật lao động xảy ra
thường xuyên, tình trạng người sử dụng lao động không thực hiện đúng các quy định
về quyền và lợi ích cho người lao động phổ biến ở nhiều doanh nghiệp.
Với m ục đích nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Bộ Luật lao động, hoạt động của
Thanh tra N hà nước về lao động tập trung vào những mục tiêu là:
•
Đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật lao động về các tiêu chuẩn lao
động cơ bản.
•
Tăng cường an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ sức khoẻ, ngăn chặn bệnh nghề
nghiệp cho người lao động.
•
Thúc đẩy sự phát triển hài hòa các quan hệ lao động, khuyến khích phát triển tổ
chức Công đoàn cơ sở, tăng cường giải quyết tranh chấp bằng đối thoại và hòa
giải.
•
Tăng cường hoạt động theo cơ chế 3 bên ( Nhà nước, người sử dụng lao động và
người lao động)
Trên thực tế, thông qua hoạt động của Thanh tra Nhà nước về lao động đã phát hiện
và xử lý nhiều vi phạm pháp luật lao động ở các doanh nghiệp, đặc biệt là các vi
phạm về ch ế độ tuyển dụng, thực hiện hợp đồng lao động, vi phạm về tiêu chuẩn an
toàn và vệ sinh lao động...
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của Thanh tra Nhà nước về lao động
trong nền kinh tế đang chuyển đổi (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa) còn bộc lộ nhiều hạn chế. Sự biến động và thay đổi về cơ chế quản lý ỉao
động đặt ra những thách thức mới cho tổ chức và hoạt động của Thanh tra N hà nước
vể lao động ở V iệt Nam. Hơn nữa, các quy định của Bộ luật Lao động và các văn
bản hướng dẫn thi hành Bộ luật về Thanh tra N hà nước về lao động còn thiếu và
chưa đồng bộ, dẫn đến làm giảm hiệu quả của Thanh tra N hà nước về lao động.
Những yếu tố đó đã tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực thi Bộ luật
Lao động.
Xuất phát từ nhận thức nói trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Vấn đ ề Thành tra
N hà nước về lao động trong việc nâng cao hiệu quả thực thi Bộ luật Lao động ở Việt
N arrì\ V iệc nghiên cứu đề tài này là để đánh giá vai trò, thực trạng của tổ chức
Thanh tra N hà nước về lao động, đổng thời đưa ra những giải pháp hữu ích trong
việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra N hà nước về lao động góp phần thực
hiện tốt các quy định của Bộ luật Lao động.
Cũng cần nói thêm rằng, trong khoa học pháp lý, vấn đề thanh tra Nhà nước về lao
động trong việc nâng cao hiệu quả thực thi Bộ luật Lao động là một nội dung mới,
chưa được tác giả nào nghiên cứu. Trong phạm vi của đề tài này, tác giả chỉ mong
m uốn đưa ra được m ột bức tranh tổng quan về vai trò và thực trạng của Thanh tra
N hà nước về lao động trong hệ thống quản lý lao động, cũng như những ảnh hưởng,
tác động của nó đến quá trình thực thi Bộ luật Lao động. Để từ đó đưa ra được những
giải pháp hoàn thiện công tác Thanh tra Nhà nước về lao động nhằm từng bước nâng
cao hiệu quả thực thi Bộ luật Lao động ở Việt Nam.
2. M ục tiêu nghiên cứu của đề tài
N ghiên cứu đề tài " Vấn đ ề Thanh tra N hà nước về lao động trong việc nâng cao
hiệu quả thực thi Bộ luật Lao động ở Việt N am " nhằm đáp ứng những yêu cầu về lý
luận cũng như thực tiễn sau đây:
•
Nâng cao khả năng thực thi các quy định của pháp luật Lao động thông qua việc
nghiên cứu, đổi mới tổ chức hoạt động của Thanh tra Lao động ờ Việt Nam
•
Đưa ra những giải pháp hữu ích trong việc hạn chế cũng như xử lý các vi phạm
pháp luật Lao động ở các doanh nghiệp thông qua hoạt động của Thanh tra lao
động, phát triển hài hoà các quan hệ lao động, nâng cao năng suất, chất lượng lao
động để thúc đẩy nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn mở
lông quan hệ kinh tế, đầu tư nước ngoài, hoạt động thương mại... với các quốc
gia trong khối ASEAN và thế giới.
•
Cung cấp các thông tin cần thiết về các quy định của pháp luật Lao động và việc
thực thi những quy định đó kể từ khi ban hành Bộ luật Lao động, đáp ứng phần
nào mục tiêu hoàn thiện các quy định của Bộ Luật Lao động, đặc biệt là những
quy định về Thanh tra N hà nước về lao động ở Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
•
Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao
động, những quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động, kết quả khảo
sát về hiện trạng của tổ chức Thanh tra lao động, quá trình thực thi các quy định của
Bộ luật Lao động tại m ột số doanh nghiệp thông qua hoạt động của Thanh tra Nhà
nước về lao động.
•
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tại một số sở lao động - Thương binh Xã hội, một số doanh
nghiệp trên địa bàn cả nước.
- Thời gian: Từ 1997 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
•
Phương pháp thống kê.
•
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
1.6 Bố cục của lu ận văn: Gồm 3 chương:
- Chương 1 - Những vấn đê' chung về Thanh tra N hà nước về lao động
- Chương 2 - Thực trạng của Thanh tra Nhà nước về lao động trong quá trình thực
thi Bộ luật Lao động
-
Chương 3 - Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Thanh tra Nhà
nước về lao động và giải pháp hoàn thiện công tác Thanh tra N hà nước về lao
động đ ể thực thi có hiệu quả Bộ luật Lao động ở Việt N am
1
Chương I
NHỮNG VẤN Đ Ề CHUNG VỂ THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THANH TRA
1.1 Thanh tra
Thanh tra là m ột trong những chức năng thiết yếu của công tác quản lý nhà nước,
được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền, nhân đanh quyền ỉực nhà nước nhằm xem
xét đánh giá hoạt động của đối tượng quản lý, từ đó có sự tác động thích hợp để đối
tượng quản lý hoạt động đúng hướng, đạt được m ục tiêu m à Nhà nước đã đặt ra.
Hai hướng chủ yếu của hoạt động thanh tra ở nước ta hiện nay là:
Thứ nhất : H oạt động thanh tra hướng vào các đối tượng bị quản lý, bao gồm công
dân, cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội... Hoạt động thanh tra không tách rời
m à như m ột khâu, m ột giai đoạn của quản lý, diễn ra thường xuyên, liên tục hàng
ngày, hàng giờ và trong quá trình hoạt động nó sử dụng quyền hạn của người quản lý
(chẳng hạn quyền xử phạt hành chính...). Nội dung của hoạt động thanh tra này là
thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của N hà nước trên từng lĩnh vực quản
lý.
T hứ hai: H oạt động thanh tra hướng vào việc kiểm soát bản thân hoạt động của các
cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, bảo đảm cho nó thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của m ình theo đúng quy định của pháp luật. Nội dung chủ yếu của
hoạt động thanh tra này là xem xét trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước
(các Bộ, ngành, địa phương), việc thực hiện chức trách, công cụ của cán bộ, công
chức N hà nước, phát hiện để xử lý những vi phạm về nghĩa vụ hành chính, điều
chỉnh kịp thời những bất hợp lý trong quá trình điều hành và quản lý của bộ máy nhà
nước. Khi tiến hành hoạt động thanh tra này thì những hành vi vi phạm thường được
xử lý bằng các biện pháp kỷ luật hành chính (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương,...)
1.2 So sánh khái niệm thanh tra vói kiểm tra: Kiểm tra theo nghĩa chung nhất là:
"Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét " (Từ điển tiếng Việt). Kiểm tra là
2
m ột khái niệm rất rộng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau để chỉ các hoạt động
có tính chất và mức độ khác nhau. Tuy nhiên có thể chia làm hai loại:
T h ứ nhất: K iểm tra mang tính chuyên môn kỹ thuật, chẳng hạn : kiểm tra chất lượng
sản phẩm, kiểm tra độ an toàn của m áy móc thiết bị, kiểm tra sức khoẻ...
T h ứ hai: K iểm tra hướng vào hành vi của con người, vào hoạt động của các cơ quan,
tổ chức. Chẳng hạn hoạt động kiểm tra của Nhà nước đối với việc chấp hành pháp
luật cửa cơ quan, tổ chức, công đân; hoạt động kiểm tra của các tổ chức ; đoàn thể
đối với các thành viên của mình trong viẹc chấp hành điều lệ của tổ chức đó...
Những hoạt động kiểm tra này không dừng lại ở việc xem xét, đánh giá m à có mục
đích là tìm ra các biện pháp tác động làm cho hoạt động của đối tượng bị kiểm tra
phát triển đúng định hướng của người kiểm tra. Như vậy theo một nghĩa chung nhất
thì ngay cả trong các hoạt động thanh tra, giám sát, kiểm toán... cũng bao hàm cả
việc kiểm tra.
Trong hoạt động quản lý, kiểm tra được xem xét như là biện pháp, m ột khâu của quá
trình quản lý và thường không tách rời hoạt động thanh tra. Giữa kiểm tra và thanh
tra có những điểm chung về chủ thể (chủ thể quản lý), đối tượng (đối tượng quản lý),
m ục đích (nhằm nâng cao hiệu quả quản lý). Tuy nhiên giữa hoạt động kiểm tra và
thanh tra có những điểm khác nhau:
-
Kiểm tra có tính thường xuyên liên tục và là một khâu bắt buộc đối với mọi hoạt
động quản lý, kể cả những hoạt động hết sức đơn giản, diễn ra hàng ngày, hàng
giờ. Trong khi đó thanh tra hướng vào những vụ việc phức tạp hơn, khi thấy cần
phải tiến hành kiểm tra một cách tỷ m ỷ nên thanh tra thường là hoạt động toàn
diện hơn, sâu sắc hon đối với một vấn đề,một hoạt động hay m ột lĩnh vực mà
N hà nước thấy cần tập trung để có sự chấn chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý trong từng thời kỳ, đổng thời kết luận thanh tra có hiệu lực bắt buộc
thi hành. H oạt động thanh tra thường đòi hỏi thời gian đài hơn so với hoạt động
kiểm tra.
-
Kiểm tra có thể là hoạt động tự kiểm tra của chủ thể đối với công việc của chính
m ình,còn hoạt động thanh tra thì có sự độc lập tương đối giữa chủ thể và đối
tượng thanh tra.
3
1.3 P h ú c tr a : Là việc xem xét lại kết luận thanh tra của Đoàn thanh tra hoặc thanh
tra viên (khi thanh tra độc lập) đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra khi
có căn cứ cho rằng kết luận thanh tra đó không chính xác, không khách quan hoặc
phát hiện có tình tiết mới.
Việc phúc tra được tiến hành là để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của
kết luận thanh tra, đổng thời xem xét lại nội dung vụ việc đã được thanh tra, qua đó
uôn nắn, sửa chữa những sai sót của kết luận thanh tra, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra. Tuy nhiên
không phải tất cả m ọi vụ việc được thanh tra đều bị xem xét lại theo trình tự, thủ tục
phúc tra m à hoạt động này chỉ được tiến hành khi có căn cứ nhất định theo quy định
của pháp luật.
-
Có căn cứ cho rằng kết luận thanh tra không chính xác, không khách quan (thông
qua việc khiếu nại của đối tượng thanh tra, tố cáo của cá nhân có liên quan, yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện công tác quản lý Nhà nước về
thanh tra...), được thể hiện ở những đánh giá, nhân xét, kết luận, kiến nghị mà
Đ oàn thanh tra hoặc Thanh tra viên đưa ra trong kết luận thanh tra không phù
hợp với quy định của pháp luật và những tình tiết khách quan của vụ việc được
thanh tra.
-
Phát hiện có tình tiết mới : Là những tình tiết làm thay đổi cơ bản nội dung kết
luận thanh tra m à Đ oàn thanh tra hoặc Thanh tra viên không biết được khi ra văn
bản kết luận thanh tra, ví dụ: Phát hiện ra m ột văn bản, tài liệu phủ nhận giá trị
của các văn bản m à Đ oàn thanh tra hoặc Thanh tra viên sử dụng khi làm chứng
cứ cho kết luận thanh tra.
Viéc phúc tra được lập theo quyết định phúc tra của cơ quan Nhà nước có thẩm
qipền ban hành.
Cùig với việc kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của kết luận thanh tra, Đoàn
phic tra cũng đồng thời xem xét lại nội dung vụ việc được thanh tra. Song phúc tra
khóng phải là xem xét lại toàn bộ nội dung đã được thanh tra. Thông thường, phạm
vi ]>húc tra chỉ giới hạn ở việc xem xét lại những nội dung trong kết luận thanh tra
m à đối tượng thanh tra khiếu nại, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu hoặc tình
4
tiết m à trong quyết định phúc tra coi là mới. Phạm vi này được cụ thể hoá trong
quyết định phúc tra của cơ quan N hà nước có thẩm quyền và Đ oàn phúc tra buộc
phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động phúc tra.
2. THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM
2.1 KHÁI NIỆM
Công ước số 81 ngày 19/7/1974 của Tổ chức Lao động Q uốc tế đã đưa ra khái niệm
Thanh tra lao động. Tại điểm a, khoản 1 Đ iều 3 của Công ước quy định chức năng
chính của hệ thống Thanh tra lao động là:
" Đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật có liên quan đến các điều kiện
lao động và bảo vệ người lao động trong khi làm việc, như các điều
khoản
liên quan đến thời giờ làm việc, tiền lương,an toàn, sức khoẻ và phúc lợi, việc
tuyển dụng lao động trẻ em, lao động vị thành niên, và các vấn đề có liên
quan khác, tới m ột chừng mực m à các quy định đó có thể được thi hành bởi
các Thanh tra viên lao động;"
Đ iều
185 Bộ luật Lao động
đã phản ánh tinh thần của Công
ước khi đưa ra định
n ghĩa về Thanh tra N hà nước về lao động là
Thanh tra lao động
Thanh tra an toàn lao động
Thanh tra vệ sinh lao động
>
Thanh tra lao động là thanh tra có chức năng, nhiệm vụ thanh tra việc thực
hiện các quy định của pháp luật lao động về việc làm , tiền lương, bảo hiểm xã
hội, thời giờ làm việc nghỉ ngơi... và các quy định có liên quan đến thực hiện
hợp đồng lao động.
>
Thanh tra an toàn lao động là thanh tra có chức năng, nhiệm vụ thanh tra việc
thực hiện các quy định của pháp luật lao động về an toàn lao động (như quy
định về trang cấp bảo hộ lao động, kiểm tra thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt
về an toàn lao động, huấn luyện an toàn lao động cho người lao động, điều tra
tai nạn lao động...)
>
Thanh tra vệ sinh lao động là thanh tra có chức năng và nhiệm vụ thanh
tra
việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động về điều kiện và tiêu chuẩn
5
vệ sinh lao động (như tiêu chuẩn về tiếng ổn, bụi, ánh sáng, không khí, mức
độ độc hại của các hóa chất...đối với người lao động trong doanh nghiệp),
ở đây cũng cần lý giải thêm rằng tại sao Bộ luật Lao động chỉ dùng khái niệm
Thanh tra N hà nước về lao động mà không dòng khái niệm Thanh tra lao động.
Nguyên nhân là vì Thanh tra Nhà nước về lao động ở Việt Nam là cơ quan thuộc hệ
thống các cơ quan hành pháp, thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y
tế. Còn trong Công ước số 81 chỉ đưa ra khái niệm Thanh tra lao động là bởi nó
không chỉ đề cập đến cơ quan Thanh tra lao động thuộc Bộ máy nhà nước mà bao
gồm cả các tổ chức cung cấp dịch vụ tư nhân về thanh tra lao động, ở một số nước,
Chính phủ đứng ra thuê tư nhân cung cấp dịch vụ thanh tra lao động, tư nhân được
tiến hành thanh tra lao động tại m ột số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp đặc
thù, nhất là về thanh tra an toàn lao động. Điều này gần giống với hoạt động kiểm
toán ở nước ta hiện nay.
2.2 HỆ THỐNG Tổ CHỨC CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM
Theo quy định tại Điều 185 của Bộ luật Lao động, Thanh tra nhà nước về lao động
bao gồm: Thanh tra Lao động, Thanh tra an toàn lao động và Thanh tra Vệ sinh lao
động. Ba chức năng của Thanh tra Nhà nước về lao động đã được giao cho Bộ Lao
động - Thương binh Xã hội và Bộ Y tế ở cấp trung ương và 61 Sở Lao động- Thương
binh Xã hội và 61 Sở Y tế ở cấp tỉnh, thành phố đảm nhiệm.
2.2.1 Bộ Lao động - Thương binh Xã hội và các Sở Lao động - Thương binh Xã
hội
Tại Bộ Lao động - Thương binh Xã hội, Thanh tra lao động được đặt trong bộ phận
thanh tra chính sách lao động và xã hội. Thanh tra an toàn lao động được đặt riêng
trong bộ phận thanh tra an toàn và bảo hộ lao động, c ả hai bộ phận này đều được đặt
dưới sự quản lý của một Thứ trưởng.
Tại Bộ Lao động - Thương binh Xã hội và 61 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội,
Thanh tra nhà nước về lao động có 2 bộ phận:
•
Cơ quan Thanh tra lao động được đặt trong Thanh tra chính sách Lao động- Xã
hội, Thanh tra chính sách Lao động- Xã hội có chức năng thanh tra việc thực
hiện các quy định của nhà nước vê lao động, các chính sách về thương binh liệt
6
sỹ, người có công với cách m ạng và các chính sách xã hội khác m à ngành lao
động, thương binh xã hội được giao quản lý.
•
Cơ quan Thanh tra an toàn lao động là đơn vị Thanh tra kỹ thuật an toàn trực
thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có chức năng thanh tra việc chấp
hành các quy định về an toàn lao động
Tại Sở Lao động - Thương binh Xã hội cả thanh tra lao động và thanh tra an toàn lao
động đều được đặt trong Bộ phận thanh tra của Sở bao gồm cả thanh tra chính sách
xã hội.
2.2.2 Bộ Y tê
Tại Bộ Y tế, cơ quan Thanh tra vệ sinh lao động thuộc Thanh tra Y tế, đứng đầu bởi
một Chánh thanh tra về Y tế. Các bộ phận đảm nhiệm công việc có tính chất khác
nhau, gồm: Thanh tra y tế (gổm cả vệ sinh nói chung) và Thanh tra vệ sinh lao động.
Tuy nhiên chỉ có thanh tra vệ sinh lao động là thuộc Thanh tra N hà nước về lao
động, điều này đã được quy định trong Công ước số 81 m à Việt N am đã tham gia ký
kết và quy định tại Điều 185 Bộ luật Lao động.
Tại Sở Y tế, Chánh thanh tra chịu trách nhiệm về tất cả các bộ phận của thanh tra y
tế trong tỉnh/ thành phố bao gổm thanh tra vệ sinh lao động.
2.3 SỐ LƯỢNG THANH TRA VIÊN
Theo nguồn thông tin mới nhất có được về số lượng thanh tra viên lao động ở Việt
Nam được đưa ra từ kết quả khảo sát theo chương trình của Dự án VIE/97/003 của
Bộ Lao động - Thương binh và X ã hội thực hiện thì tổng số thanh tra viên lao động ở
V iệt Nam tính đến tháng 11 năm 1999 là 312 người trong đó 47 người làm việc tại
Bộ Lao động - Thương binh X ã hội và 265 người còn lại rải rác khắp 61 tỉnh thành
của cả nước. Trong 312 thanh tra viên này, có 180 thanh tra viên là thanh tra chính
sách lao động (và cả thanh tra chính sách xã hội), 83 người là thanh tra viên về an
toàn lao động và 49 người vừa là thanh tra chính sách lao động xã hội vừa là thanh
tra an toàn lao động. Hơn nữa, Thanh tra lao động còn phải đảm nhiệm nhiệm vụ
thanh tra về chính sách xã hội, giải quyết khiếu nại tố cáo của người lao động.
Thêm vào đó, không phải tất cả 312 người đều được trao quyền hạn pháp lý để hoạt
động như những thanh tra viên, m ột số người hầu như chỉ làm việc hành chính. Trên
thực tế, số lượng các thanh tra viên được trao quyền hạn đầy đủ và tham gia vào hoạt
7
động thanh tra (thường xuyên xuống thanh tra tại các doanh nghiệp) giảm m ột cách
đáng kể so với con số 312, và có thể chỉ còn ở mức 100 người.
Ngoằi ra còn có 77 thanh tra viên về vệ sinh lao động trong hệ thống của Bộ Y tế và
Sở Y tế.
2.4 NHIỆM VỤ VÀ THAM q u y ề n c ủ a th a n h t r a n h à n ư ớ c v ề l a o đ ộ n g
Nhiệm vụ Thanh tra nhà nước về lao động được quy định tại Điều 186 Bộ luật lao
động, bao gồm:
1. Thanh tra việc chấp hàah các quy định về ỉao động, an toàn lao động và vệ sinh
lao động.
2. Điều tra tai nạn lao động và các vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh lao động.
3. Xem xét, chấp thuận các tiêu chuẩn an toàn lao động, các giải pháp an toàn lao
độngtrong các luận chứng kinh tế, kỹ thuật, các đề án thiết kế; đăng ký và cho
phép đưa vào sử dụng những m áy móc, thiết bị, vật tư cso yêu cầu nghiêm ngặt
về an toàn lao độngthuộc danh mục do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy
định.
4. Giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người lao động về vi phạm pháp luật lao
động.
5. Quyết định xử lý các vi phạm pháp luật lao động theo thẩm quyền của m ình và
kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý
của các cơ quan đó.
Điều 187, Bộ luật lao động quy định thanh tra viên lao động có quyền:
1. Thanh tra, điều tra những nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra được giao bất cứ
lúc nào mà không cần báo trước.
2. Yêu cầu người sử dụng lao động và những người có liên quan khác cung cấp tình
hình và tài liệu liên quan đến việc thanh tra, điều tra.
3. Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật lao động theo
quy định của pháp luật
4. Quyết định tạm đình chỉ việc sử dụng máy móc, thiết bị, nơi làm việc có nguy cơ
gây tai nạn lao động, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường lao động và chịu
8
trách nhiệm về quyết định đó, đồng thời báo cáo ngay cho cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, số lượng các
doanh nghiệp thuộc các thành phần của kinh tế Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc
biệt là các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo thống kê, hiện nay số lượng doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ
luật lao động vào khoảng trên 40.000 doanh nghiệp sử dụng hơn 7 triệu lao động.
Trong đó có 2.200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 5.280 doanh nghiệp nhà
nước và trên 33.120 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (chỉ tính doanh nghiệp sử dụng
trên 10 lao động).
(Nguồn thu thập từ Trung tâm thông tin, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Từ năm 1995 đến hết năm 1999, Thanh tra lao động thuộc Bộ và các Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã tiến hành thanh tra khoảng 4.700 doanh nghiệp, tức là
bình quân 1 năm chỉ có khoảng 920 doanh nghiệp được thanh tra trong tổng số hơn
40.000 doanh nghiệp trên địa bàn cả nước.
3. VAI TRÒ CỦA THANH TRA LAO ĐỘNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM (*)
Đối với doanh nghiệp, Thanh tra N hà nước về lao động là thước đo đánh giá về hiệu
quả của việc thực thi pháp luật lao động. Cách phân chia chức năng, vai trò và nhiệm
vụ cùa Thanh tra Nhà nước về lao động là những minh chứng rõ ràng về sự thay đổi,
bao gồm cả những thay đổi về cơ chế quản lý lao động ở các doanh nghiệp. Điếu này
có thể được chứng minh bằng tình hình thực tế ở Việt N am cuối những năm 90 của
thế kỷ trước.
Trong cơ chế k ế hoạch hoá tập trung, tất cả các cơ quan, tổ chức và các doanh
nghiệp đều được huy động để thực hiện k ế hoạch. K ế hoạch là luật pháp đối với đại
diện của nhà nước, người lao động và bộ phận quản lý doanh nghiệp. Sau khi thực
hiện chính sách "đổi mới ", " mở cửa" đa dạng hoá các thành phần kinh tế đã kéo
theo việc thành lập những tổ chức mới của người lao động và người sử dụng lao
động, với các doanh nghiệp mới ra đời hoặc những doanh nghiệp nhà nước được cổ
phần hóa, " luật chơi " không thể giống như những quy tắc của hệ thống nhà nước
kiểm soát như trước kia. Các giám đốc doanh nghiệp phải được công nhận là những
9
người có toàn quyền trong việc quản lý doanh nghiệp. Việc các tổ chức công đoàn
cơ sở ở doanh nghiệp hạn chế can thiệp vào lĩnh vực này ngày càng trở nên rõ ràng.
Nhưng người lao động phải được bảo vệ và Nhà nước đóng vai trò đảm bảo việc tuân
thủ luật pháp.
Ý thức được rằng sự thành bại của những xã hội hiện đại phụ thuộc vào cách họ giải
quyết những vấn đề m ấu chốt như mối quan hệ giữa việc làm , tiền công, tiền lương,
điều kiện làm việc, giáo dục, sức khoẻ..., Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội luôn
cho rằng m ục tiêu tạo việc làm mới, không ngừng cải thiện điều kiện và môi trường
làm việc, tăng thu nhập cho người lao động phải được đặt lên hàng đầu. Coi đó là
m ục tiêu chiến lược lâu dài. K hông làm được điều này có thể dẫn tới những triệu
trứng của sự bất ổn định, những điều có thể thấy rất rõ không chỉ ở Việt Nam mà
còn ở những nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Thêm vào đó, việc ban hành Bộ luật Lao động năm 1995 đã đánh dấu m ột bước
ngoặt lớn trong sự phát triển của hệ thống pháp luật về lao động, thích ứng với sự ra
đời của quan hệ lao động mới trong nền kinh tế thị trường - quan hệ hợp đồng lao
động.
M ặc đù đã có những nỗ lực lớn lao trong sáu năm qua (từ 1995 đến 2001), nhưng ở
Việt Nam trong quá trình xây đựng Luật vẫn chưa có đủ những văn bản pháp luật về
lao động phù hợp để điều chỉnh 2 loại quan hệ đặc thù, đó là: Q uan hệ hai bên giữa
người lao động và người sử dụng lao động, cũng như quan hệ ba bên: Nhà nước,
người lao động, người sử dụng lao động trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày
càng phát triển. N gay cả những quy định cơ bản của Bộ luật Lao động và nhiều văn
bản hướng dẫn thi hành Bộ luật vẫn còn tồn tại một khối lượng lớn những quy định
rườm rà, lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện thực tế. Thêm vào đó, xu hướng
toàn cầu hoá cũng phần nào ảnh hưởng, tác động xấu đến quan hệ lao động.
(*) Việc tổng hợp, phân tích nội dung này một phần là kết quả của những thông tin thu thập
được từ các đoàn công tác, đặc biệt là các hoạt động hợp tác kỹ thuật do TỔ chức lao động
quốc tế(ỈLO ) tiến hành ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi, từ một số chuyến đi thực
địa tại các doanh nghiệp và cơ quan thanh tra lao động địa phương.
10
T ất cả những vấn đề này làm nảy sinh m ột bối Cính hoàn toàn mới cho Thanh tra
N hà nước về lao động ở Việt Nam: trước hết, hệ hống quản lý lao động này được
trao một quyền hạn mới m à trước đây chưa có - qiyền xử phạt hành chính các hành
vi vi phạm pháp luât lao động, đồng thời phải gánh vác những trách nhiệm mới từ cả
bảo
hai phía có nghĩa là pháp luật
phải được ban hành để vệ người lao động và việc
thực hiện phải được các cơ quan nhà nước cũng như người sử dụng lao động bảo
đảm.
Những yếu tố khác nảy sinh trong nền kinh tế thị tiường như thất nghiệp và lao động
dôi dư do cơ cấu lại doanh nghiệp, sản phẩm kém cạnh tranh, thu nhập và lợi tức
giảm, đã dẫn đến tình trạng người lao động buộc phải làm việc ở những điêu kiện và
môi trường lao động không đảm bảo, bất kể mối nguy cơ ra sao, thiếu hệ thống luật
pháp đồng bộ, cơ chế hay kiến thức phù hợp để kiểm soát việc thực thi pháp luật lao
động. Tất cả những yếu tố đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật
lao động ở các doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi Thanh tra N hà nước về lao động cần
phải thực hiên tốt vai trò của m ình - vai trò giám sát, phát hiện, ngăn ngừa và xử lý
vi phạm pháp luật lao động.
ở m ột số nước đang phát triển thuộc khối ASEAN, cơ quan thanh tra lao động độc
lập do Chính phủ điều hành. Theo cơ chế này, thanh tra N hà nước về lao động không
chỉ đơn giản thực hiện chức năng thanh tra việc thi hành pháp luật lao động m à còn
tư vấn và cung cấp thông tin, nhằm nâng cao hiểu biết về pháp luật lao động cho
người lao động và người sử đụng lao động, phối hợp xử lý những vụ việc tranh chấp
lao động xảy ra giữa người lao động và người sử dụng lao động. Đặc biệt, những
việc này được thực hiện thông qua cơ chế ba bên và hai bên.
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể thấy được vai trò và tầm quan trọng của
Thanh tra N hà nước về lao động trong việc đảm bảo thực thi pháp luật ỉao động ở
các doanh nghiệp trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường. Thanh tra Nhà
nước về lao động cần được kiện toàn, củng cố và phát triển cả về chất và lượng để
hoạt động như m ột trong những “ cánh tay” của ngành quản lý lao động ở Việt Nam.
11
Chương II
THỰC
CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
■ TRẠNG
■
■
TRONG QUÁ TRÌNH THựC THI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM
■
1.
■
■
■
■
THỰC TRẠNG VỀ T ổ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG C Ủ A THANH TRA
■
■
■
■
NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1.1 TỔ CHỨC CÙA THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1.1.1 Về số lượng thanh tra viên lao động
N hững thông tin thu được trong quá trình tổng hợp (từ các báo cáo hoạt động thanh
tra của các S ở Lao động - Thương binh và Xã hội và Sở Y tế, từ kết quả thực hiện D ự
án VIEI97I003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 1998-2000), cho thấy
số lượng thanh tra viên trên toàn quốc quá ít để thực hiện m ột cách hiệu quả chức
năng của mình. Số lượng thanh tra viên tại 7 tỉnh thành được khảo sát có số lượng
doanh nghiệp và số lao động lớn nhất trong cả nước sẽ phản ánh thực trạng đó.
Bảng 1: Số lượng thanh tra viên thực tế tại 7 tỉnh
TT
TỈNH/ THÀNH PHỐ
SỐ LƯỢNG THANH TRA
SỐ LƯỢNG THANH TRA
LAO ĐỘNG VÀ AN TOÀN LĐ
VỆ SINH LAO ĐỘNG
1
Hà Nội
10
4
2
H à Tây
7
3
3
Hải Phòng
9
4
4
Q uảng Ninh
7
3
5
Đà Nãng
6
1
6
Tp. Hổ Chí M inh
10
1
7
Đồng Nai
7
1
56
17
Cộng
Tại m ột số địa phương chưa có thanh tra vệ sinh lao động chuyên trách mà
là
thanh tra Sở Y tế, phụ trách thanh tra các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Sở Y tế,
trong đó có thanh tra vệ sinh lao động
12
Qua những con số nêu trên, ta thấy rằng số lượng các thanh tra viên là quá ít so với
số lượng các doanh nghiệp tại địa phương cần phải tiến hành thanh tra. Nếu so sánh
tổng số doanh nghiệp tại 7 tỉnh là 15.596 doanh nghiệp, tổng số thanh tra viên là 73
thì tỷ lệ thanh tra viên trên doanh nghiệp là 1/214, nếu doanh nghiệp phải được
thanh tra cả 3 lĩnh vực thì m ột nhóm thanh viên gồm 3 loại hình phải thực hiện thanh
tra tại 642 doanh nghiệp. VI thế, chỉ có một số lượng rất nhỏ các doanh nghiệp
(5,3% ) được thanh tra. (Xem bảng 5 tại Trang 20)
Tóm lại, số lượng thanh tra viên về lao động hiện nay tại 7 tỉnh nêu trên còn rất thấp.
Đây là thực tế và cũng là tình trạng chung trên toàn quốc. Với số lượng thanh tra
viên quá ít như th ế chắc chắn sẽ là m ột yếu tố quan trọng làm giảm hiệu quả của
thanh tra nhà nước về lao động. Điều đó có nghĩa là hoạt động của thanh tra nhà
nước về lao động vẫn còn chưa đóng góp nhiều vào công tác quản lý nhà nước về lao
động, và dĩ nhiên sẽ làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật lao động.
1.1.2 V ề trình độ của thanh tra viên
Để thực hiện hiệu quả hoạt động thanh tra nhà nước về lao
động, thanh tra viên cần
phải hội tụ 3 loại năng lực khác nhau nhưng có liên quan với nhau, đó là:
-
N ăng lực pháp luật: đó là thẩm quyền của thanh tra viên do pháp luật quy định,
theo quyết định bổ nhiệm hoặc từ sự uỷ quyền cụ thể.
-
N ăng lực chuyên môn: đó là tổng hợp những hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm đã
được tích luỹ của thanh tra viên, bao gồm:
+ Những hiểu biết chi tiết về pháp luật nói chung và pháp luật về lao động nói
riêng;
+ K hả năng hướng dẫn việc tuân thủ pháp luật;
+ H iểu biết chuyên m ôn trong những lĩnh vực chuyên trách như cơ khí, hoá
chất, xã hội học công nghiệp.
+ H iểu biết về quan hệ kinh tế và lao động;
+ H iểu biết về quan hệ và mối tương quan xã hội;
+ Khả năng phân tích quy trình lao động và phát hiện các hiện tượng có vấn
đề.
-
Năng lực cá nhân : đó là cách thức thanh tra viên sử dụng năng lực pháp luật và
năng lực chuyên môn như;
13
+ Khả năng quan hệ con người;
+ Khả năng kích thích và thuyết phục người khác;
+ Khả năng tạo dựng lòng tin và hợp tác với người khác;
+ Khả năng phòng ngừa và giải quyết các tình huống...
Bởi vậy, trình độ chuyên môn, năng lực chuyên m ôn của thanh tra viên là một trong
những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động thanh
tra nhà nước về lao động.
1.1.2.1 Trình độ học vấn và chuyên ngành được đào tạo của thanh tra viên
N ếu xét về mặt văn bằng, trình độ học vấn của thanh tra viên đáp ứng được yêu cầu
công tác của họ. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận dưới góc độ thực tiễn thì kiến thức của họ
cần phải được nâng cao hơn nữa, có thể là thông qua các khoá đào đạo. Thanh tra
viên cần phải được bổ sung và cập nhật thường xuyên hơn những kiến thức cần thiết
phục vụ cho công tác thanh tra, đặc biệt là thanh tra về an toàn và vệ sinh lao động.
Bảng 2. Trình độ của Thanh tra viên
Thanh tra
TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN
SỐ lượng
Tỷ lệ
73
92,38%
Cao đẳng
1
1,27%
Sau đại học
4
5,08%
Trung cấp
1
1,27%
79
100%
Số lượng
Tỷ lệ
Số người có 1 chuyên ngành
69
87,34%
Số người có 2 chuyên ngành trở lên
10
12,66%
Tổng
79
100%
Đại học
Tổng
SỐ LƯỢNG CHUYÊN NGÀNH
Nguồn: Báo cáo của một số sở Lao động-Thương binh Xã hội năm 2000
M ột lý do khác nữa về sự cần thiết phải nâng cao trình độ chuyên môn của các
Thanh tra viên là trình độ học vấn chuyên ngành của các thanh tra không đồng nhất.
14
Mặc dù số thanh tra chính sách lao động chiếm 41,77% trong tổng số 79 thanh tra
viên nhưng số người tốt nghiệp chuyên ngành luật chỉ chiếm 19,57% trong tổng số
79 người này. Ngoài ra, số người tốt nghiệp 2 chuyên ngành trở lên chỉ chiếm tỷ lệ
rất thấp (12,66%).
Bảng 3 Theo chuyên ngành của thanh tra viên
CHUYÊN NGÀNH
PHÂN BỔ THEO s ố LƯỢNG BẰNG
TỶ LỆ
CHUYÊN NGÀNH
Kỹ thuật
30
32,61%
Kinh tế
18
19,57%
Pháp luật
18
19,57%
Y
11
11,96%
Lao động
8
8,70%
Khác
7
7,61%
Tổng
92 (*)
100%
Nguồn: Báo cáo của một s ố Sở Lao động-Thương binh Xã hội năm 2000
1.1.2.2 Trình độ nghiệp vụ thanh tra của thanh tra viên
Khi đánh giá, xem xét trình độ của thanh tra viên, trước hết chúng ta cẩn phải xem
xét đến trình độ nghiệp vụ của họ. Theo kết qua tổng hợp thông tin, 87,34% thanh
tra viên đã qua các lớp đào tạo về nghiệp vụ thanh tra, trong đó 65,82% được tào tạo
với thời gian dưới 3 tháng, số còn lại là trên 3 tháng. Như vậy, có m ột số thanh tra
viên chưa được đào tạo nghiệp vụ thanh tra, đồng thời, số người được đào tạo một
cách bài bản, kỹ lưỡng còn rất ít. Điều này cho thấy m ặt nghiệp vụ thanh tra của các
thanh tra viên còn nhiều hạn chế.
1.1.2.3 Trình độ ngoại ngữ của thanh tra viên
Một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên trình độ của thanh tra viên, đó là
trình độ ngoại ngữ. Chỉ có 5,13% thanh tra viên có khả năng sử dụng tương đối
(*) Con sô'này là số lượng các bằng cấp chuyên môn của 79 thanh tra viên, trong dó có
một sô'người có 2 bằng chuyên môn trở lên.
15
thành thạo ngoài ngữ, 23,08% có trình độ khá, 51,28 % có trình độ trung bình và
20,51 % không biết ngoại ngữ. Những con số này cho thấy rằng trình độ ngoại ngữ
của thanh tra viên hiện nay còn nhiều hạn chế, nó ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu
các kiến thức chuyên môn mới, đến khả năng nghiên cứu các tính năng, tình trạng
của m áy m óc, thiết bị ngoại nhập, ảnh hưởng đến việc tiếp xúc và làm việc tại doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngay cả như tại Đồng Nai, nơi có mật độ các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất cao nhưng có tới 50% thanh tra viên
không biết ngoại ngữ, con số này ở Tp Hồ Chí M inh là 25%, Hà Tây là 66%, Quảng
Ninh là 33,33%.
1.1.2.4 Trình độ tin học của thanh tra viên
Chỉ có 3,08% thanh tra viên có khả năng tương đối tốt về tin học, những người có
trình độ cơ bản chiếm 48,1%, 18,99% người có trình độ tin học trung bình, 29,11%
không biết sử dụng m áy vi tính (ở Hà Nội, con số này là 31,25%, Tp Hồ Chí m inh là
37,5%).
Những con số này phản ánh sự hạn chế về trình độ của thanh tra viên trong những
lĩnh vực cần thiết và cơ bản, phục vụ cho công việc của họ. Với trình độ ngoại ngữ
và tin
học như thế, các thanh tra viên cần phải được đào tạo bài bản và chuyên sâu
hơn nữa để thích ứng với nhiệm vụ của họ trong bối cảnh nền kinh tế đang trong tiến
trình toàn cầu hoá.
Từ những thông tin và sự tổng hợp, phân tích nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy
m ột hiện thực về trình độ chung của thanh tra viên. Cơ bản trình độ chuyên môn của
thanh tra viên hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu công việc, tuy vậy số lượng mới chỉ
đạt hơn 52% , tức là gần m ột nửa số thanh tra viên còn lại khó có thể đạt được yêu
cầu.
Trình độ chuyên môn của thanh tra viên cũng chính là m ột biểu hiện của tính hiệu
quả của thanh tra nhà nước về lao động. Chúng ta có thể ghi nhận là phần lớn các
thanh tra viên đã có trình độ học vấn cơ bản là đại học, m ột số người có trình độ trên
đại học. H ầu hết các thanh tra viên đã qua các lớp đào tạo nghiệp vụ trước khi đảm
nhận công việc và đã tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra. Tuy nhiên, vẫn
còn những m ặt hạn chế như m ột số thanh tra viên chưa có trình độ đại học, chưa
được đào tạo nghiệp vụ thanh tra trước khi làm thanh tra viên, số thanh tra viên có
16
trình độ chuyên m ôn trong hai lĩnh vực trở lên còn chiếm tỷ lệ rất thấp. Vẫn còn một
tỷ lệ đáng kể thanh tra viên làm trái nghề được đào tạo, một số thanh tra viên về
chính sách lao động chưa có trình độ đại học về luật. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng
nghiệp vụ cho đội ngũ thanh tra viên được thực hiên không thống nhất và đồng đều
giữa các địa phương, m ang tính chất tự phát, tuỳ theo nhu cầu và khả năng của mỗi
tỉnh. Trình độ ngoại ngữ và tin học của đa số thanh tra viên còn rất kém, chưa đáp
ứng được đòi hỏi của công việc.
Theo ý kiến chủ quan của tác giả, cần phải thấy được một thực tế là sự m ở rộng các
quan hệ kinh tế, thương m ại giữa V iệt Nam và thế giới, kéo theo sự phát trển của các
ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ ở Việt Nam, đổng thời tạo thêm sự đa
dạng và phức tạp của các hình thức sử dụng lao động ở doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực tế đó đòi hỏi phải có một đội ngũ thanh
tra viên có đủ năng lực, trình độ học vấn, chuyên m ôn nghiệp vụ, đảm bảo hoạt động
có hiệu quả.
Thông qua sự đánh giá như trên, ta thấy rằng, trình độ, năng lực hiện nay của thanh
tra viên về lao động còn có những hạn chế so với yêu cầu của công tác thanh tra nhà
nước về lao động. Đ ây cũng là m ột trong những nguyên nhân chính hạn chế tính
hiệu quả của hoạt động thanh tra nhà nước về lao động tại Việt Nam.
1.2 HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1.2.1. Về số lượng các cuộc thanh tra theo loại hình thanh tra
Theo số liệu thống kê, tổng hợp trong 2 năm 1998 -1999 của Thanh tra lao động cho
thấy số lượng các cuộc thanh tra của thanh tra an toàn lao động là cao nhất, kế tiếp là
thanh tra vệ sinh lao động, và thấp nhất là thanh tra về chính sách lao động Nhìn
chung, với trên 281 doanh nghiệp được thanh tra trong 2 năm 1998 và 1999, mỗi
doanh nghiệp trung bình được thanh tra xấp xỉ 1,1 lần cho cả 3 loại hình trong thanh
tra nhà nước về lao động. Với tần suất trên thì e rằng thanh tra nhà nước về lao động
chưa thể theo dõi, nắm bắt được hết việc thực hiện Bộ luật Lao động tại các doanh
nghiệp. Bởi vì trong trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để đảm bảo
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không thể tránh khỏi những trường hợp quyền lợi của
người lao động cũng như các quy định của pháp luật về lao động chưa được tôn
17
trọng triệt để. VI vậy các biện pháp nhằm tăng cường năng lực hoạt động của thanh
tra nhà nước về lao động là rất cần thiết.
B iểu đồ T ầ n su ấ t các cuộc th a n h tr a
Không
được
thanh tra
llầ n
2 lần
T rên 3
lần
Nguồn: Báo cáo của Thanh tra Sở Lao động- Thương binh Xã hội tại một số tỉnh, s ố liệu
khảo sát từ Dự án VIE/97/003, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội năm 1998-2000
Số liệu trên đây cho thấy : tần suất của các cuộc thanh tra an toàn lao động là cao
nhất trong khi tần suất thấp nhất thuộc vế thanh tra chính sách lao động. Trên thực
tế, các thanh tra an toàn lao động là những người được chuyên m ôn hóa trong lĩnh
vực hoạt động này, còn thanh tra chính sách lao động, ngoài những nhiệm vụ tiến
hành các cuộc thanh tra chấp hành pháp luật lao động, họ thường phải kiêm nhiệm
các công tác khác như giải quyết đơn thư khiếu kiện, thanh tra các lĩnh vực xã hội...
nên số cuộc thanh tra do m ỗi thanh tra viên thực hiện thường thấp hơn, do đó, tần
suất các cuộc thanh tra tại mỗi doanh nghiệp có phẩn bị hạn chế hơn. Hơn nữa, do
quá trình đổi m ói kỹ thuật, công nghệ diễn ra m ột cách phổ biến và thường xuyên tại
các doanh nghiệp, nên việc thanh tra về an toàn lao động thường được chú trọng hơn.
1.2.2. Về tín h c h ấ t củ a các cuộc th a n h tr a
Nhìn chung, các doanh nghiệp chủ yếu được thanh tra theo k ế hoạch, chiếm 74,17%
trên tổng số 281 doanh nghiệp đã được tiến hành thanh tra. Thực tế, với điều kiện lực