Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Tiểu luận văn hóa chính trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.54 KB, 20 trang )

1

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….… 2
NỘI DUNG………………………………………………………………….….4
I- ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA VĂN HÓA
CHÍNH TRỊ………………………………………………………………….….4
1Đặc
điểm
của
văn
hóa
chính
trị
……………….....................................4
2- Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hoá chính trị Việt Nam..…4
II- VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỂ HIỆN TRONG SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY …………………….………5
2.1 Về lựa chọn giá trị…………………………………………………………..6
2.2 Trong đường lối xây dựng và phát triển kinh tế…………………….6
2.3 Trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân…………………………………………………...…………..7
2.4 Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các
quan hệ quốc tế…………………………………………………………………..8
2.5 Xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt…………………….8
III. TÍNH TẤT YẾU VỀ NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA
CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY…………………………..9
3.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của người cán bộ lãnh đạo……....9
3.1.1. Khái niệm cán bộ………………………………………………….9


3.1.2 Khái niệm cán bộ lãnh đạo………………………………………10
3.1.3 Vai trò, đặc điểm hoạt động của cán bộ lãnh đạo…………………10
3.2. Bài học từ văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống về tôn trọng và sử
dụng hiền tài trong việc trị nước…………………………………………….14
3.2.1.Tư tưởng “ chiêu hiền đãi sĩ” trong văn hóa chính trị Việt Nam
truyền thống…………………………………………….………………………14
3.2.2.Một số bài học kinh nghiệm……………………………………..14
3.3. Thực trạng chung về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở
nước ta hiện nay…………………………………………………………….....15
3.3.1.Ưu điểm và nguyên nhân…………………………………………15
3.3.2 Khuyết điểm và nguyên nhân………………………..………….15
3.4. Sự nghiệp đẩy mạnh CHH-HĐH và yêu cầu nâng cao văn hóa chính
trị của cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay……………………………………….16
3.4.1. Đặc điểm cơ bản của thời đại và yêu cầu nâng cao văn hóa chính
trị của cán bộ lãnh đạo…………………………………………………………16
3.4.2. Tình hình trong nước và nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước với yêu cầu nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo…17
KẾT LUẬN........................................................................................................19


2

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………20
A - MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đang đòi hỏi một đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý có trình độ, năng lực cao, có phẩm chất đạo đức và tài năng
cống hiến đủ tầm. Văn hóa chính trị (VHCT) là tổng thể các phẩm chất, năng lực
đó của đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, VHCT của đội ngũ cán bộ chủ chốt lại càng trở thành nhu cầu

bức thiết. Nó quy định tầm tư duy, trình độ hành động và kỹ năng lãnh đạo, quản
lý của tất cả các đối tượng cán bộ lãnh đạo, từ cao cấp đến trung cấp, từ Trung
ương đến địa phương, kể cả đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Xây dựng, phát
triển và phát huy được VHCT của đội ngũ cán bộ sẽ giúp cho Đảng Cộng sản
Việt Nam với tư cách là Đảng cầm quyền nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy
tiềm lực trí tuệ và tư tưởng của Đảng, làm cho Đảng vươn lên ngang tầm nhiệm
vụ, nâng cao được uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong xã hội. Nhờ đó, Đảng
tiếp tục khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo của mình đối với nhà nước và xã
hội. VHCT có tác dụng rất lớn đến việc xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch,
vững mạnh, đồng thời vượt qua được những thách thức và nguy cơ để phát triển
trong bối cảnh hiện nay. Chúng ta cần phải làm cho VHCT thấm sâu và nội
dung, phương pháp xây dựng Đảng về mọi mặt mà thực chất của quá trình này
chính là hình thành và phát triển VHCT của Đảng, nhân cách của đội ngũ cán bộ
chủ chốt, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo nói chung và đội ngũ cán bộ chủ
chốt.
Văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị có
vai trò hết sức quan trọng bởi nó góp phần vận hành hệ thống chính trị theo
những mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở nước ta không chỉ tuân theo quy luật nội tại vốn có của nó, mà còn chịu sự
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của những yếu tố khác, như giá trị truyền thống
của văn hóa dân tộc, toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa...


3

Với tư cách là một bộ phận, một phương diện của văn hóa nói chung, văn
hóa chính trị có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, định hướng quan hệ
giữa các chủ thể chính trị, giữa con người với tổ chức, cộng đồng xã hội trong
đời sống chính trị và đời sống xã hội sao cho phù hợp với những giá trị chân,

thiện, mỹ. Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay là đội ngũ cán bộ rường
cột của hệ thống chính trị, quyết định sự vững mạnh của hệ thống chính trị. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “Muôn
việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(1). Theo đó, cán bộ
lãnh đạo, quản lý là những chủ thể chính trị thực thụ và chính trị về thực chất,
thể hiện trình độ văn hóa của họ. Văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý
được thể hiện thông qua tri thức, tình cảm, hành động của mỗi cá nhân trong quá
trình tham gia vào chính trị của họ.
Quá trình mở cửa, giao lưu hợp tác quốc tế đã tạo cho cán bộ lãnh đạo
tiếp cận với văn hoá, văn minh của nhân loại, góp phần nâng cao hiểu biết, nâng
cao sự nhạy cảm trong giao tiếp ứng xử và đánh giá các mối quan hệ và các sự
kiện trong cuộc sống. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, văn hoá chính trị có vai
trò hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo, tổ chức và thực hiện thành công
sự nghiệp đổi mới. Do vậy, việc làm cho VHCT thấm sâu vào nội dung, phương
pháp xây dựng Đảng về mọi mặt mà thực chất của quá trình này chính là hình
thành và phát triển VHCT của Đảng, nhân cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo. Văn hoá chính trị với tác dụng và hiệu quả của nó còn
góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả của quản lý nhà nước và hoạt động của
hệ thống chính trị, thúc đẩy quá trình dân chủ hoá xã hội, phát triển cơ sở xã hội
của chế độ chính trị. Nhờ nâng cao VHCT mà các cán bộ lãnh đạo phát huy
được những tiềm năng sáng tạo, đấu tranh chống quan liêu tham nhũng để bảo
vệ Đảng, nhà nước và chế độ khỏi sự tha hoá, biến dạng.
Văn hóa chính trị một khi thâm nhập vào đời sống và trở thành phổ biến,
trước hết ở sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo về sự trong sạch của thể chế, sau
đó là trình độ giác ngộ chính trị của quần chúng, khả năng làm chủ và tham gia
vào các hoạt động quản lý nhà nước, sẽ thể hiện được vai trò mục tiêu và động
lực của nó đối với sự phát triển ở nước ta hiện nay. Bởi vậy, qua đề tài này em
muốn tìm hiểu, làm rõ hơn về “Tính tất yếu về nâng cao văn hoá chính trị của



4

cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” nhằm góp phần nhận thức lại thực trạng
VHCT của cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay ở nước ta.
B- NỘI DUNG
I- ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA VĂN HÓA
CHÍNH TRỊ
1- Đặc điểm của văn hóa chính trị
Văn hoá chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hoá là khái niệm
nói về sự thẩm thấu của văn hoá vào chính trị, là chính trị có tính văn hoá. Như
vậy, văn hoá chính trị không phải là bản thân chính trị, bản thân văn hoá, hay là
sự cộng gộp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm tính văn hoá
từ bản chất bên trong của nó. Nó được biểu hiện ở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới
mục đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con
người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là
tính nhân văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hoá.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu
tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó phải
thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách của đảng
cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển khai các kế
hoạch cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá nhân cũng như
của cộng đồng xã hội.
Văn hoá chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội
giống như sức mạnh của văn hoá. Đó là loại sức mạnh không dựa vào quyền lực
hay ép buộc mà thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giác
của các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng văn hoá chính trị phải chú trọng đồng
thời cả ba phương diện: giá trị xã hội được lựa chọn, năng lực chính trị và trình
độ phát triển về văn hóa chính trị của chủ thể chính trị.
2- Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hoá chính trị Việt Nam

Theo cách nhìn nhận đánh đánh giá về bản chất của văn hóa chính trị
dưới góc độ văn hóa học và chính trị học, văn hóa chính trị được hình thành và
phát triển trên cơ sở các yếu tố cơ bản sau:


5

- Lịch sử, văn hoá chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển trong
quá trình hình thành ý thức dân tộc, quốc gia, kết tinh thành truyền thống dựng
nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam. Ý thức độc lập dân tộc, tự lực
tự cường, tinh thần yêu nước, đoàn kết cộng đồng đã trở thành nội dung bền
vững mang tính truyền thống của văn hoá chính trị Việt Nam.
- Văn hóa chính trị được phát triển từ lòng tự hào dân tộc, nền văn hiến
quốc gia, tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy nội lực, sức mạnh của mọi tầng
lớp nhân dân, gắn liền với việc coi trọng, tôn vinh hiền tài đã tạo nên sức
sống của văn hoá chính trị và khả năng phát huy những truyền thống, giá trị tốt
đẹp đó của dân tộc đã tạo nên “độ cao” của văn hoá chính trị.
- Văn hóa chính trị còn được phát triển trên tinh thần tôn trọng đạo lý, tôn
trọng chính nghĩa, bảo vệ công lý, quật cường dân tộc, nhưng nhân ái, khoan
dung, độ lượng, vị tha. Những nét đẹp đó đã tác động, ảnh hưởng, làm cho văn
hóa chính trị Việt Nam mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.
- Do đặc điểm của địa chính trị nước ta, nên văn hoá chính trị Việt Nam
có một nét nổi bật là phải sáng tạo. Nhờ khả năng sáng tạo mà bản sắc văn hoá
dân tộc dã được giữ vững và phát triển qua các thời kỳ. Đặc biệt, tính sáng tạo
này càng thể hiện rõ nét khi đất nước, dân tộc đứng trước những thời điểm khó
khăn, quyết định vận mệnh của dân tộc. Chính nét sáng tạo ấy đã đem lại một
tầm vóc, một vẻ đẹp văn hoá của nền chính trị Việt Nam.
Bên cạnh đó, do nước ta xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại
trải qua quá nhiều các cuộc chiến tranh giữ nước, vì thế những yếu tố như tâm lý
tiểu nông khá đậm, kinh nghiệm chủ nghĩa, triết lý chung chung, thiếu tính

khách quan và cơ sở khoa học vững chắc, dễ hài lòng với mình, tâm lý chạy theo
thành tích, “bệnh” hình thức..., nếu như không được hạn chế, khắc phục kịp thời,
sẽ có tác động tiêu cực, bào mòn dần sức sống và khả năng sáng tạo của văn hoá
chính trị Việt Nam.
II- VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỂ HIỆN TRONG SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


6

Thực hiện mục tiêu của Đảng đã đề ra: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” được xác định là mục tiêu mang đậm tính văn hóa
chính trị nhân văn sâu sắc, mà đất nước ta, nhân dân ta vươn tới dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Nét
văn hóa chính trị đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc xác định
giá trị văn hóa và đường lối phát kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Triết lý và tư tưởng chính trị trong văn hóa chính trị của nước ta được thể hiện ớ
các đặc trưng sau:
2.1 Về lựa chọn giá trị
Đảng ta khẳng định để xây dựng nền văn hóa chính trị Việt Nam tiên tiến,
hiện đại, cần kế thừa các giá trị văn hóa chính trị truyền thống tốt đẹp được kết
tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kế thừa các giá trị văn hóa
chính trị tinh hoa của các nước trên thế giới, trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
Chính vì cách lựa chọn giá trị như vậy nên trong bối cảnh các nước xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, Đảng
ta vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời chủ trương thực hiện đường
lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng cũng khẳng định chúng ta “đổi mới” nhưng
tuyệt đối không "đổi màu". Bản chất nền chính trị của chúng ta là khoa học,
cách mạng, dân chủ và nhân văn. Đó là nền chính trị phấn đấu vì hạnh phúc của
nhân dân, hướng tới mục đích "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

văn minh". Mục tiêu ấy không chỉ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân
dân Việt Nam, của lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, mà còn là mục tiêu cao đẹp
mà nhân loại tiến bộ hướng tới.
2.2 Trong đường lối xây dựng và phát triển kinh tế
Đảng chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Việc xây dựng một nền kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế khách
quan, bởi kinh tế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, phát huy sức sản
xuất, khơi dậy tính năng động, sáng tạo của con người, tính hiệu quả trong việc
sử dụng hợp lý các nguồn lực...Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có rất nhiều
mặt trái, đó là sự cạnh tranh tàn khốc “cá lớn nuốt cá bé"; tạo ra sự bất công, bất


7

bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, phân cực trong xã hội; khai thác cạn kiệt môi
trường, tài nguyên vì mục tiêu lợi nhuận kinh tế thuần túy; làm băng hoại nhiều
giá trị đạo đức tốt đẹp; làm quan hệ con người với con người trở nên sòng
phẳng, lạnh lùng hơn; làm phai nhạt những giá trị văn hóa truyền thống... Việc
Đảng ta xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
chính là để khắc phục những hạn chế vốn có của nền kinh tế thị trường. Đây là
khía cạnh văn hoá của tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng phải gắn liền với việc
đảm bảo quyền lợi của đa số nhân dân lao động, với tiến bộ và thực hiện công
bằng xã hội.
2.3 Trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân
Việc khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được ghi trong
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992. Văn kiện Đại hội
lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền
lực của nhà nước là thống nhất là của dân, không phân chia nhưng có sự phân

công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ
quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến
pháp và pháp luật. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta là hợp quy luật phát triển của lịch sử. Pháp luật của Nhà nước ta luôn luôn là
công cụ mạnh mẽ và có hiệu lực đối với việc dân chủ hoá mọi mặt của đời sống
xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá - xã hội...
Tinh thần dân chủ trong tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rất rõ ở
tư tưởng lấy “dân làm gốc” và “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Một
nền chính trị nhân văn phải là nền chính trị tôn trọng quyền lợi của đa số nhân
dân, thực sự do dân làm chủ, nhà nước là cơ quan được ủy quyền để thực thi
quyền lực nhân dân, để thực hiện lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân
dân. Những bước tiến trong nhận thức lý luận và tư duy chính trị của Đảng được
thể hiện rõ trong hàng loạt các văn kiện ban hành trong thời kỳ đổi mới.


8

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã chính thức sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị". Hệ thống chính trị của
chúng ta được vận hành theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân
dân làm chủ".
Để tăng cường vai trò của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật,
Nhà nước đã ban hành nhiều luật khác nhau, nhằm làm cho mọi người sống và
làm việc theo pháp luật. Chủ trương cải cách bộ máy hành chính, trưng cầu ý
kiến rộng rãi của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội chính là những bước tiến đáng chú ý của văn hoá
chính trị trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
2.4 Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình,

hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác
quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước
trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu
vực. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và
các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua
thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Với đường
lối và chính sách đối ngoại rộng mở đó đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ
kinh tế - thương mại với các quốc gia, nền kinh tế, đã ký kết khoảng 60 hiệp
định kinh tế - thương mại song phương, trong đó có toàn bộ các nước, nền kinh
tế phát triển, thị trường lớn. Chúng ta ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả,
nâng cao vị thế đất nước trong các thể chế hợp tác quốc tế.
2.5 Xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
Để lãnh đạo đất nước nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn, đạt được mục
tiêu cao cả đã đề ra, Đảng - người lãnh đạo đất nước, phải có một đội ngũ cán bộ
có văn hóa chính trị cao, có trình độ và khả năng thực hiện các nội dung chính


9

trị một cách văn hóa. Chính vì thế, Đảng luôn tiến hành đổi mới và chỉnh đốn
Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín
của Đảng trong nhân dân. Bản chất văn hoá chính trị tiến bộ cũng xa lạ với tệ
quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí. Trong những năm đổi mới vừa qua,
Đảng ta đã tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ,
đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín của Đảng, củng cố, và giữ vững niềm
tin trong nhân dân. Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Đảng ta coi

việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu cầu
quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là công việc thường xuyên
bảo đảm cho Đảng ta luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng".
III. TÍNH TẤT YẾU VỀ NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA
CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của người cán bộ lãnh đạo
3.1.1. Khái niệm cán bộ
Thuật ngữ cán bộ xuất hiện và được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ chín
trị ở các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ thời Leenin sau cách
mạng Tháng mười, khi Đảng cộng sản đã càm quyền và nước Nga Xô – viết đã
ra đời, thể chế quản lý nhà nước đã định hình và đi vào hoạt động.
Nói đến cán bộ là nói đến con người và người cán bộ ở nước ta được đặt
trong các mối quan hệ xác định: Cán bộ qun hệ với tổ chức và cơ chế chính
sách; cán bộ quan hệ với tổ chức và cơ chế chính sách; cán bộ quan hệ với
phong trào cách mạng của quần chúng. Với ý nghĩa đấy, Hồ Chí Minh đã viết:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho
dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng.
Như vậy, cũng như hiện tượng chung của ngôn ngữ, thuật cán bộ, thuật
ngữ cán bộ khi được du nhập vào thực tiễn Việt Nam với bối cảnh tâm lý – văn
hóa của nó đã biến đổi không còn nguyên như nghĩa gốc. Tuy nhiên các hàm
nghĩa: bộ khung, người làm nòng cốt, người chỉ huy luôn được lưu giữ và nhận
thức. Từ đấy chúng ta có thể đi đến một quan niệm chung nhất như sau: Cán bộ
là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt và góp


10

phần định hướng sự phát triển trong một tổ chwucs, một cơ quan, một bộ máy
nhất định. Các tổ chức, cơ quan, bộ máy này có nhiều cáp bậc khác nhau tùy
phạm vi mà nó phụ trách, có thể là cấp trung ương, cấp địa phương hoặc cấp

đơn vị cơ sở.
3.1.2 Khái niệm cán bộ lãnh đạo
Ở nước ta hiện nay trên cơ sở hiểu lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối
và tổ chức thực hiện chúng, đồng thời lãnh đạo là hoạt động đặc trưng của một
loại hình cán bộ, vì vậy có thể đi đến một định nghĩa về đối tượng này như sau:
Đó là những cán bộ giữ cương vị chủ chốt ở các cấp bậc khác nhau trong hệ
thống các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chwucs chính trị - xã hội, có chức năng
nhiệm vụ đề ra đường lối, chính sách, chủ trương và tổ chức thực hiện chúng
theo phạm vi lãnh đạo của mình; đồng thời là người lãnh đạo, quản lý tòn diện
tổ chức mà họ phụ trách, đảm bảo cho tổ chức đó hoàn thành tốt chức năng,
nhiệm vụ chính trị được phân công.
Đi đôi với khái niệm cán bộ lãnh đạo, khái niệm cán bộ quản lý cũng đang
được sử dụng phổ biến. Sự khác nhau giữ cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có
tính chất tương đối nhưng việc phân biệt nó có một ý nghĩa tránh sự trùng chéo
và rối loạn trong công tác cán bộ. Nội hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ
quản lý có những điểm giống nhau: đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển
khách thể trên cơ sở những đặc điểm, thuộc tính, những quy luật của khách thể
nhằm thực hiện mục đích nhất định. Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện
một số chức năng quản lý và người cán bộ quản lý cũng phải thực hiện một số
chức năng lãnh đạo. Trên ý nghĩa đó, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý giống
nhau, tuy nhiên cần phải phân biệt hai lớp chủ thể này trên một số phương diện.
3.1.3 Vai trò, đặc điểm hoạt động của cán bộ lãnh đạo
Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ chính xác của đường lối và việc
cụ thể hóa đường lối chính xác kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước thắng lợi đều phụ thuộc ở chất lượng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo. Vai trò và vị trí đó được quy định bởi những đặc điểm quan
trọng trong hoạt động của người cán bộ lãnh đạo.


11


* Cán bộ lãnh đạo là người xây dựng và hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Lãnh đạo chính trị là lãnh đạo bằng cương lĩnh chính trị, đường lối chính
trị, đường lối chính trị và tổ chức đưa chủ trương, đường lối đó có cuộc sống
bằng các biện pháp tập hợp quần chúng thực hiện. Những nhà lãnh đạo chính trị
ở nước ta là những người có chức năng nhận thức các quy luật vận động khách
quan của lịch sử xã hội, vận dụng lý luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa
Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, từ đó đề ra những chủ trương chiến lược,
sách lược, phương hướng để lãnh đạo nhân dân tiến hành giải quyết các nhiệm
vụ cách mạng đặt ra.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước hết phải xuất phát từ
cơ sở khách quan, bối cảnh lịch sử, cụ thể, trong đó phải thể hiện được đầy đủ
quyền lợi và ý chí của nhân dân và biểu hiện trí tuệ khoa học. Thể chế dân chủ
cho phép cán bộ đảng viên và các thành viên xã hội hoàn toàn có quyền được
thể hiện tinh thần, trách nhiệm và tư cách công dân qua việc tham gia đóng góp
ý kiến của minh vào những vấn đề chính trị lớn của đất nước. Trong thực tiễn, ý
kiến rộng rãi của nhân dân đã được ghi nhận mạnh mẽ trong nội dung những văn
kiện chính trị quan trọng. Tuy nhiên, những người có vai trò định hướng chủ
yếu, đặt nền tảng ban đầu cho chủ trương đường lối cũng như tổ chức xây dựng
hoàn chỉnh đường lỗi vẫn chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị. Tất nhiên,
phải nói rằng chức năng và trách nhiệm trong việc xây dựng cương lĩnh, đường
lối là thuộc vê Đảng, đội tiên phong chính trị của nhân dân, của nhân dân, của
toàn xã hội. Nói toàn Đảng nhưng trước hết thuộc về đội ngũ cán bộ nòng cốt,
hạt nhân chính trị của Đảng, trong đó trách nhiệm hàng đầu thuộc về các vị lãnh
đạo Đảng và Nhà nước.
Công việc khó khăn và phức tạp nhất của người cán bộ lãnh đạo là phải
nắm được tình hình tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, cũng như
phản ánh được đúng thực tế xã hội và bối cảnh trong nước, quốc tế để làm căn
cứ cho việc hoạch định chủ trương, chính sách. Công việc này đòi hổi người cán

bộ lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược, có trình độ tổng kết thực tiễn, khái quát


12

nâng lên thành lý luận. Đây là công việc không đơn giản, nó đòi hỏi người cán
bộ lãnh đạo phải có sự thống nhất phẩm chất của một người hoạt động, cải tạo
thực tiễn nhiệt thành. Chủ trương, chính sách đưa ra có đạt trình độ khoa học
hay không, có phù hợp với xu hướng vận động của thời đại, với tình hình lịch
sử, cụ thể, với yêu cầu dẫn dắt hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện trạng xã hội, đưa
xã hội tiếp tục phát triển hay không, đó là tiêu chí hàng đầu đề đánh giá chất
lượng, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
* Phạm vi, đối tượng tác động và phương thức hoạt động của cán bộ
lãnh đạo là rộng lớn, đa dạng và phức tạp
Hoạt động của cán bộ lãnh đạo chính trị nói chung có nhiều những dấu
hiệu khác biệt so với các loại hình hoạt động khác. Trong xã hội có sự phân chia
thành giai cấp, hoạt động chính trị bao trùm và biểu hiện trên tất cả các mặt, cac
mặt, các lĩnh vực của đời sống hiện thực. Ở mọi lĩnh vực và không gian hoạt
động đều có tính chất và đặc thù riêng, nhưng ở đâu cũng vậy có một đặc điểm
chung là có sự chỉ đạo, dẫn đường bởi tư tưởng chính trị thống trị và đều cần có
sự hiện diện và tác động của người cán bộ lãnh đạo.
Đối tượng tác động của người cán bộ lãnh đạo là khối quần chúng nhân
dân đông đảo, phức tạp và không thuần nhất. Có nghĩa là, người cán bộ lãnh đạo
phải tiếp xúc, hoạt động với các tầng lớp nhân dân ở mọi lĩnh vực trong xã hội
với những ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng và xu hướng chính trị,
trình độ hiểu biết khác nhau. Lăn lộn với quần chúng, tiếp thu và phản ánh chính
xác tâm tư, nguyện vọng của quần chúng luôn là yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối
với mỗi người cán bộ lãnh đạo. Ở trong quần chúng, phục vụ quần chúng nhưng
tư cách của họ là lãnh đạo, chỉ đường. Người cán bộ lãnh đạo chính trị nào cũng
có trách nhiệm thức tỉnh, tập hợp đoàn kết quần chúng để thực hiện đúng chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng, củng cố chính quyền các
cấp và chế độ chính trị, đẩy mạnh lao động sản xuất nâng cao mức sống của
nhân dân, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật,v.v…những phần việc,
nhiệm vụ vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược lâu dài đạt được kết
quả cao hay thấp, đó là thước đo năng lực, trình độ và kết quả hoạt động của
người cán bộ lãnh đạo chính trị.


13

Làm một người cán bộ lãnh đạo cũng là thực hiện một chức năng phân
công lao động xã hội. Lao động của họ là lao động lãnh đạo, quản lý. Đây là loại
hình lao động trí óc nhưng khác hẳn với lao động sáng tạo đặc thù gắn liền với
chức vụ quyền hạn, đồng thời rất tinh tế, phức tạp vì đối tượng tác động là xã
hội con người. Từ đó, phải thấy rằng người cán bộ lãnh đạo chính trị phải có
phương thức hoạt động phong phú, đa dạng. Trước hết hoạt động được thể hiện
và thực hiện thông qua cương lĩnh chính trị, đường lối chính sách, pháp luật và
tổ chức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân thực hiện thành công mục
tiêu đã đề ra. Tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng nhân
dân là những công việc cần thiết đối với bất kỳ người cán bộ lãnh đạo còn phải
biết đối thoại, tranh luận, khi cần phải sử dụng biện pháp hành chính, thậm chí
phải thông qua các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm để có những biện pháp
mạnh với những phần tử và lực lượng chống đối đi ngược lại lợi ích của quần
chúng nhân dân.
Từ đặc điểm hoạt động trên đặt ra yêu cầu là làm thế nào để có thể hạn
chế tối đa những sai lầm trong hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhất là ở
tầm trung mô, vĩ mô. Vì nếu không thì phong trào cách mạng, sự nghiệp xây
dựng đất nước có thể phải trả giá bằng những thất bại to lớn, có khi bằng vận
mệnh của cả chế độ.
* Đạo đức, tác phong, sự gương mẫu của người cán bộ lãnh đạo có

ảnh hưởng to lớn đến quyết định, hiệu quả hoạt động của họ
Với tư cách là người đứng đầu, định hướng, dẫn dắt và tập hợp quần
chúng, người cán bộ lãnh đạo không những phải tiêu biểu về trí tuệ mà còn là
người thể hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng trong sáng. Người lãnh đạo
về thực chất là người đi giáo dục. Một phương diện quan trọng của lãnh đạo
chính trị là lãnh đạo bằng sự gương mẫu, nghiêm khắc với bản thân, bao dung
với người khác, lói nói nhất quán với hành động. Lãnh đạo chính trị phải được
xem như kiểu mẫu về văn hóa đạo đức, thực hành văn hóa đạo đức,
Tóm lại, cán bộ lãnh đạo có vị trí quan trọng to lớn trong sự vận động
phát triển của đời sống chính trị - xã hội. Không thường xuyên nâng cao văn hóa


14

chính trị, người cán bộ lãnh đạo sẽ không thể hoàn thành được trọng trách và
công việc của mình, tự họ sẽ làm ảnh hưởng đến quan niệm về sự lãnh đạo nói
chung.
3.2. Bài học từ văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống về tôn trọng
và sử dụng hiền tài trong việc trị nước
Trong lịch sử nước ta, việc dùng người và việc sử dụng nhân tài vào các
công việc nhà nước bao giờ cũng chiếm một vị trí trọng yếu. Việc xây dựng đội
gnux chức( quan lại), mà trong lịch sử thường gọi là phương sách dùng người, là
vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi triều đại phong kiến.
3.2.1.Tư tưởng “ chiêu hiền đãi sĩ” trong văn hóa chính trị Việt Nam
truyền thống
Tư tương” chiêu hiền đãi sĩ” thực chất là vấn đề sử dụng nhân tài, hay
nói rộng hơn là việc sử dụng con người vào các hoạt động thực tiễn một cách
hiệu quả. Thái độ đối với hiền tài trị nước không chỉ là cở sở để đánh giá tài
năng, nhân cách của một ông vua hay một triều đại, mà thực sự là một trong
những tiền đề xã hội, tác động trực tiếp tới sự tồn vong của quốc gia và sự

trường tồn của dân tộc.
3.2.2.Một số bài học kinh nghiệm
Tôn trọng hiền tài trong phép trị nước đã trở thành một nét đặc sắc trong
lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và cùng với tinh thần đó ông cha ta cũng để
lại nhiều những kihn nghiệm và bài học quý giá trong việc xây dựng đội ngũ
quan lại để cai trị và quản lý đất nước. Bên cạnh những yếu tố tích cực, truyền
thống đó cũng để lại những nhân tố tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
xây dựng nhân tố con người hiện đại nói chung và đọi ngũ cán bộ lãnh đạo nói
riêng.
Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, một
mặt chính là sự tiếp nối và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc. Phải thường xuyên nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo là để
phát huy phần tốt đẹp của truyền thống, cải tạo và khắc phục phần lỗi thời, lạc


15

hậu của nó nằm ngay chính trong cấu trúc nhân cách văn hóa chính trị của người
cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay.
3.3. Thực trạng chung về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo ở nước ta hiện nay
3.3.1.Ưu điểm và nguyên nhân
Thực tiễn thắng lợi của công cuộc đổi mới đã cho thấy ở đội ngũ cán bộ
lãnh đạo sự kiên định và vững vàng về lựa chọn chính trị, tinh thâng năng động,
sáng tạo, ý thức tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, ý chí vượt lên khó khăn, thách
thức để góp phần khôi phục lòng tin của nhân dân với Đảng. Nhờ có trinh độ
ngày càng cao và toàn diện hơn, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị đã từng bước
được tri thức hóa, thực sự là đội ngũ tiên tiến, xung kích đi đầu trong sự nghiệp
đổi mới.
Số đông những cán bộ lãnh đạo vẫn biết bảo toàn, tôn vinh những phẩm

chất đạo đức cách mạng của một người cộng sản chân chính trong điều kiện
mới. Nhiều người đã nêu cao tấm gương về thực hành đạo đức, kiên quyết đấu
tranh nhằm khắc phục tiêu cực và suy thoái trong Đảng và trong toàn xã hội.
Mặc dù chưa thể hài lòng về đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay, nhưng có
thể tin rằng những yếu kém đang tồn tại nhất định được khắc phục dần qua thực
tiễn phấn đấu đảm đương sứ mệnh lịch sử dân tộc trong thời điểm đầy phức tạp
này.
Có những thành tựu đó là nhờ sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra
được một đường lối đổi mới toàn diện, sáng tạo và ngày càng thu được nhiều
thắng lợi: Công tác cán bộ của Đảng đã thực sự được coi trọng và có chuyển
biến đáng kể theo hướng khoa học hóa và ngày càng dân chủ hơn; Bản thân đội
ngũ lãnh đạo tự ý thức được trách nhiệm và nêu cao được tinh thần phấn đấu;
Nhân dân Việt Nam có truyền thống tốt đẹp là yêu nước, đoàn kết, lao động cần
cù, sáng tạo, tinh thần khoan dung, năng động, tiếp biến…Nền tảng và bối cảnh
xã hội tốt đẹp là điều kiện thuận lợi sản sinh những người cán bộ lãnh đạo ưu tú
tiếp nối được truyền thống cách mạng quý báu của nhân dân và dân tộc.


16

3.3.2 Khuyết điểm và nguyên nhân
Bên cạnh những ưu điểm và sự trưởng thành nhờ những điều kiện thuận
lợi được nêu ra ở trên, cán bộ lãnh đạo nước ta xét về văn hóa chính trị có nhiều
mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.
Thậm chí ở một bộ phận không nhỏ đã xuất hiện sự suy thoái làm biến dạng hệ
thống giá trị và những tiêu chuẩn đích thực của người cán bộ. Tình trạng đó có
thể tìm thấy ở cả trong phẩm chất chính trị, trình độ năng lực và đạo đức, lối
sống.
Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã

kết luận: Một bộ phận cán bộ thái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, lợi dụng
chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công,
quan liêu ức hiếp dân, gia trưởng độc đoán, có tham vọng cá nhân, cục bộ, kèn
cựa địa vị, cơ hội, kém ý thức tổ chức kỉ luật, phát ngôn bừa bãi và làm việc tùy
tiện, gây mất đoàn kết và nội bộ nghiêm trọng.
Có nhiều nguyên nhân của những yếu kém. Khi Đảng cầm quyền cũng là
lúc xuất hiện nguy cơ tha hóa cán bộ, về sự cách biệt giữa cán bộ và quần chúng
nhân dân, hình thành căn bệnh quan liêu. Sự tác động của cơ chế tập trung quan
liêu; Kinh tế thị trường chưa phát triển đồng bộ; Chủ trương, chính sách, pháp
luật chưa được hình thành đầy đủ, chậm điều chỉnh và sơ hở; Công tác cán bộ
của Đảng dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa có được một
chiến lược, cơ bản và lâu dài; Bản thân nhiều cán bộ lãnh đạo còn thiếu ý thức
trách nhiệm và sự tu dưỡng phấn đấu; Các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống
phá trên mặt trận tư tưởng, văn hóa nhằm thực hiện”diễn biến hòa bình” với mục
đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và thay đổi chế độ chính trị ở
Việt Nam…
3.4. Sự nghiệp đẩy mạnh CHH-HĐH và yêu cầu nâng cao văn hóa
chính trị của cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay
3.4.1. Đặc điểm cơ bản của thời đại và yêu cầu nâng cao văn hóa
chính trị của cán bộ lãnh đạo
- Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự xuất hiện nền kinh tế tri
thức và quá trình toàn cầu hóa


17

Những tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ đã làm thay đổi căn
bản bộ mặt đời sống của nhân loại. Kinh tế tri thức đang được định hình và gắn
liền với nó là các xu hướng của quá trình toàn cầu hóa. Dù muốn hay không đều
không thể tẩy chay hoặc đứng ngoài các quá trình này. Vấn đề là phải có chiến

lược thích ứng và khôn khéo để vượt qua thách thức và chớp lấy thời cơ phát
triển đất nước.
- Những mâu thuẫn và nghịch lý của quá trình chính trị thế giới
Đời sống chính trị nhân loại đang tồn tại và vận động hết sức phức tạp
với sự đan xen của nhiều quá trình thuận nghịch. Tuy vậy, để nhìn nhận tương
lai của thế giới không thể không xem xét dưới lăng kính những mâu thuẫn và
cuộc đấu tranh về ý thức thế hệ đang diễn ra phức tạp, dưới muôn hình vạn trạng
và các thế lực mưu toan chính trị đang đánh tráo và mơ hồ hóa vấn đề bằng
cách tuyên bố rằng cùng với toàn cầu hóa kinh tế là quá trình giải ý thức hệ, phi
hệ tư tưởng hóa.
Mặc dù đang thích nghi sự phát triển, CNTB vẫn tồn tại trước mặt chúng
ta với đầu đủ những mâu thuẫn nội tại của nó. Nhưng CNBT mất đi và CNXH
thắng thế ở đâu, vào lúc nào thì còn tùy thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau.
Điều quan trọng là những người cộng sản, những lực lượng cách mạng tiến bộ
phải luôn tăng cường nhân tố chủ quan, phải giữ trọn niềm tin ở lý tưởng XHCN
để tập hợp lực lượng và tận dụng những cơ hội của thời đại nhằm đưa nhân loại
thực hiện những bước chuyển thật lớn lao.
3.4.2. Tình hình trong nước và nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước với yêu cầu nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX Đảng cộng sản Việt Nam khẳng
định nhiệm vụ trung tâm của Cách mạng nước ta hiện nay là: Đẩy mạnh CNH,
HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước
công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phù hợp theo định hướng xã
hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả bền vững.
Bối cảnh và quá trình đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập kinh tế thế giới đang đưa lại


18


những vận hội lớn và cả những nguy cơ, thách thức lớn. Với tư cách là một nước
xác định con đường phát triển tự giác đi lên XHCN, chúng ta còn phải nhận
thức và xử lý nhiều vấn đề, nhiều mâu thuẫn sâu xa hơn thế.
Để sự nghiệp CNH, HĐH thành công đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có
chiến lược và hệ thống chính sách phù hợp nhằm huy động sức mạnh tổng hợp,
phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng, cả nội lực và ngoại lực, cả sức mạnh vật
chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, phát huy tối đa nhân tố con người vì
một sự phát triển nhanh và bền vững.
Từ bối cảnh tình hình thế giới, từ mục tiêu và nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, rõ ràng cách mạng Việt Nam đang ở một thời kỳ chuyển
đổi mạnh mẽ. Những thời đại mới đòi hỏi những nhân tố lãnh đạo mới. Thời đại
mới yêu cầu một kiểu lãnh đạo và quản lý có tư duy năng động, biết lắng nghe,
biết tự điều chỉnh, trí tưởng tượng phong phú và khả năng thích nghi…CHN,
HĐH là một quá trình đối thoại liên tục. Đối thoại với bên ngoài để giao lưu và
học hỏi nhằm tích hợp các nguồn lực mới mẻ cho chiến lược phát triển và đối
thoại với chính mình để xác lập một bản sắc riêng biệt khi tiếp xúc với phần còn
lại của thế giới.


19

KẾT LUẬN
Trong thực giai đoạn hiện nay, xã hội đang có những biểu hiện về sự
xuống cấp của văn hóa, trước hết là văn hóa chính trị. Đặc biệt trong Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra một bộ phận không nhỏ suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức lối sống. Sự suy thoái đó có nguồn gốc cũ từ văn hóa truyền
thống lỗi thời nhưng cũng có từ sự tác động mặt trái kinh tế thị trường, từ lệch
lạc của thể chế chính trị (gồm cả thể chế công tác cán bộ) và sự kém tu dưỡng
của một bộ phận không nhỏ ấy.

Tất nhiên, qua thời kỳ đổi mới thì văn hóa chính trị cũng có nhiều mặt đổi
mới, bổ sung, phát triển, tiến bộ hơn trước, nhưng chưa căn bản vì thể chế chính
trị của thời tập trung bao cấp còn chậm thay đổi, còn bấp cập, nhiều mặt lỗi thời,
hoặc chưa tiên tiến, chưa ngang tầm. Vì vậy, phải chủ động vừa đổi mới thể chế
chính trị vừa xây dựng văn hóa chính trị mới, thì mới thực sự có văn hóa trong
sử dụng quyền lực. Đồng thời, phải chủ động xây dựng văn minh chính trị hiện
đại, một nền chính trị dân chủ pháp quyền. Cho nên điều kiện tiên quyết để có
nền chính trị ấy phải xây dựng được Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo có văn
hóa, văn minh. Và có lẽ cuộc vận động chỉnh đốn, xây dựng Đảng hiện nay theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là bước khởi động theo xu hướng
đó.
Từ thực tiễn lịch sử Việt Nam, chúng ta phải phát huy những thành tựu đã
đạt được, biết vượt qua những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập
quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội, giải quyết những tồn đọng, những
vấn đề gây bức xúc trong nhân dân hiện nay..., sẽ là những yếu tố quan trọng để
nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng, để Đảng
xứng đáng với tên gọi "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”./


20

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh
đạo nước ta hiện nay của tác giả Lâm Quốc Tuấn
2. Tạp chí Triết học số 8, 2016
3. Báo điện tử Chính Phủ.Vn ngày 08/02/2015
4. Các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh
trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt
Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009

5. Cuốn “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị”
của tác giả Phạm Hồng Tung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008



×