BỘ CÔNG THƯƠNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
TIỂU LUẬN
Môn: Thực
phẩm chức năng
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG CHẾ PHẨM PROBIOTICS CHO
CHỨNG RỐI LOẠN TIÊU HÓA, TIÊU DIỆT HELICOBACTER,
KÉM HẤP THU ĐƯỜNG LACTOSE VÀ BỆNH VIÊM RUỘT
GVHD: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Lớp: ĐHTP10B
Nhóm: 17
TP. Hồ Chí Minh, 28 tháng 02 năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Viện Công nghệ Sinh học - Thực phẩm và
sự đồng ý của cô giáo bộ môn cô Nguyễn Thị Minh Nguyệt, chúng em
đã tiến hành thực hiện bài tiểu luận Thực phẩm chức năng với đề tài
“Nghiên cứu lâm sàng chế phẩm Probiotics cho chứng rối loạn
tiêu hóa, tiêu diệt Helicobacter, kém hấp thu đường lactose và
bệnh viêm ruột”.
Để làm được bài báo cáo này, chúng em xin chân chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo điều
kiện tối đa cho chúng em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại
trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị
Minh Nguyệt đã tận tình, chu đáo hướng dẫn để chúng em có thể hoàn
thành tốt bài tiểu luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành bài tiểu luận. Song do
hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm, và khả năng tiếp cận với thực tế
nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa
thấy được. Chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài báo
cáo được hoàn chỉnh hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
STT
1
2
3
Họ và tên
Lê Minh Châu
Hồ Thị Diệu Hằng
Nguyễn Thị Loan
MSSV
14013941
14080211
14065431
Phân công
nhiệm vụ
9.1 – 9.2.2
9.2.3 – 9.5
9.5.1 – 9.7
Chữ ký
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Các công trình nghiên cứu về tác dụng của men vi sinh vật
ngày càng nhiều
MỤC LỤC
6
9.1 Giới thiệu
Việc sử dụng vi sinh vật giúp tăng cường sức khỏe được phát hiện
rất lâu đời từ thời kỳ của nền văn minh La Mã cổ đại, nơi thực phẩm lên
men với vi sinh vật được sử dụng như là một tác nhân chữa bệnh. Sử
dụng các chủng probiotics, prebiotics và synbiotics để sản xuất ra thực
phẩm giúp tăng cường hệ vi sinh vật đường ruột.
−
Prebiotics là loại chất xơ thực phẩm không tiêu hóa, giúp kích thích sự
phát triển một số vi khuẩn tốt ở ruột già và do đó cải thiện hệ tiêu hóa
cho vật chủ. Hiện nay, prebiotics cũng được bổ sung vào một số sản
phẩm sữa dùng cho trẻ nhỏ để giúp cải thiện độ mềm của phân và do
đó giúp phòng ngừa chứng táo bón ở trẻ.
− Probiotics là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men nếu được
đưa vào cơ thể với số lượng được kiểm soát hợp lí sẽ đem lại sức khỏe
cho người sử dụng. Probiotics là các vi khuẩn sống đã được chứng minh
là tốt cho sức khỏe do chúng giúp cải thiện sự cân bằng của hệ vi
khuẩn đường ruột. Khi sử dụng các loại men vi sinh, men tiêu hóa, ăn
sữa chua hoặc ăn các loại thức ăn lên men chính là bạn đã bổ sung
một lượng vi khuẩn tốt probiotics có lợi vào cơ thể.
− Synbiotics được tạo thành dựa trên sự kết hợp giữa prebiotics và
probiotics. Trong đó, probiotics chính là những vi khuẩn tốt, có vai trò
tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, giúp cơ thể nâng cao khả năng
phòng chống bệnh tật. Còn prebiotics là thức ăn lý tưởng cho các vi
khuẩn tốt sinh sôi và gia tăng quân số. Việc bổ sung synbiotics do đó
sẽ giúp cơ thể hình thành một hệ thống vi khuẩn tốt hùng hậu, khỏe
mạnh và hoạt động hiệu quả.
Khi càng gần giống nhau về một chủng probiotics nhưng khác nhau
hiệu quả lâm sàng, sự xác định chắc chắn các sinh vật ở mức độ chính
xác cao là điều cần thiết cho các nghiên cứu lâm sàng. Lợi ích tốt từ
một chủng mang lại có thể không có ở các chủng khác.
9.1.1 Vi sinh vật đường ruột
Ruột được coi là “hệ sinh thái đông dân cư nhất trên Trái Đất”. Hệ
tiêu hóa dài khoảng 6,5 m và diện tích bề mặt là 200 – 300 m 2 chứa
1013 – 14 vi khuẩn của 400 loài khác nhau và các loài phụ.
7
Từ lâu chúng ta vẫn cho rằng sự phát triển của hệ vi sinh vật đường
ruột chưa phát triển tới khi trẻ được sinh ra, đường tiêu hóa của thai
nhi được coi là một môi trường vô trùng. Theo Gut Microbiota
Worldwatch, đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sẽ nhanh chóng thích ứng
với các vi sinh vật và môi trường xung quanh từ người mẹ. Ví dụ vi sinh
vật đường ruột của trẻ có thể bị ảnh hưởng khi mẹ cho con bú.
Các vi sinh vật đường ruột rất quan trọng cho trẻ sơ sinh phát triển.
Bắt đầu là một hệ sinh thái năng động, chi phối bởi Bifidobacteria (một
loại vi khuẩn “thân thiện” có lợi cho đường ruột) được ổn định trong 2 –
3 năm đầu tiên. Trong suốt cuộc đời các vi khuẩn tăng lên vô cùng đa
dạng và phong phú. Ở người lớn khỏe mạnh, 80% vi sinh vật trong
phân được phân loại thành ba ngành: Bacteroidetes, Firmicutes và
Actinobacteria. Gần cuối giai đoạn trưởng thành số lượng vi khuẩn sẽ
đạt sự ổn định. Mặc dù vi sinh vật tương đối ổn định nhưng các nghiên
cứu gần đây đã chỉ ra rằng vẫn có sự thay đổi trong thành phần, đặc
biệt là ở người cao tuổi.
Vi sinh vật đường ruột có lợi gây ra một số chức năng:
o
Tổng hợp và bài tiết các vitamin (vitamin K, vitamin B12) dư thừa để
cung cấp chất dinh dưỡng cho vật chủ của chúng.
o Cạnh tranh cho vị trí gắn hoặc các chất dinh dưỡng cần thiết ngăn
ngừa các mầm bệnh.
o Kích thích sự phát triển của một số mô, đó là các mô bạch huyết ruột
tịt và trong đường tiêu hóa. Chúng kích thích việc sản xuất các kháng
thể và sản xuất nhiều loại chất, từ các acid béo và peroxide để
Bacteriocins ức chế hoặc tiêu diệt các vi khuẩn khác.
Các vi sinh vật đường ruột không được xem như một cơ quan bao
gồm số lượng lớn của vi khuẩn của các loài khác nhau. Bộ gen của toàn
bộ hệ vi sinh vật đường ruột, được xem như "microbiome”. Trong 5 năm
nghiên cứu để hiểu được vai trò quan trọng của hệ vi sinh vật đường
ruột ở sức khỏe và bệnh tật bởi nhiều nghiên cứu metagenomic và sử
dụng công nghệ cao, khối lượng và cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
quang phổ đã được kích hoạt trong phân tích chiều sâu của ruột, thay
8
đổi vi khuẩn thành phần, các yếu tố cấu trúc và các chất chuyển hóa
trong sinh lý chủ và sự trao đổi chất trong các điều kiện khác nhau.
9.1.2 Định nghĩa của chế phẩm sinh học
Thực phẩm lên men là một phần thực phẩm quan trọng trong lịch
sử của con người, là một thành phần quan trọng của chế độ ăn uống
trong nhiều nền văn hóa. Ý tưởng về tiêu diệt và thay thế vi khuẩn có
hại trong ruột bằng cách uống chế phẩm sinh học giúp cải thiện sự cân
bằng vi khuẩn, sức khỏe và tuổi thọ được tìm ra một thế kỷ trước bởi
Carre, Tissier và Metchnikoff.
Thuật ngữ "probiotic" xuất phát từ tiếng Hy Lạp, chữ Latin "pro" và
"bios," ý nghĩa cho cuộc sống. Năm 1965 Lilly và Stillwell sử dụng thuật
ngữ này cho các vi khuẩn sống và bào tử bổ sung trong thức ăn gia súc
giúp làm giảm việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia súc. Họ
định nghĩa probiotics là một chất được sản xuất bởi một loại vi sinh vật
kích thích sự tăng trưởng của vi sinh vật khác. Fuller vào năm 1989 ông
đã xác định probiotic là "một thức ăn bổ sung vi sinh vật sống mà tác
động đến vật chủ bằng cách cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đường ruột
của nó”. Định nghĩa rộng hơn do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc: "Vi sinh vật sống
khi dùng với số lượng đầy đủ giúp con người đạt được sức khỏe tốt."
Theo hầu hết các định nghĩa, vi sinh vật probiotic phải có tính khả
thi và phải gây ảnh hưởng tốt đến sức khỏe đã được chứng minh một
cách khoa học. Tuy nhiên, không phải "tính khả thi" hay "sống sót"
trong suốt quá đường tiêu hóa là một tính chất của các vi sinh vật cho
sức khỏe, kể từ khi các tế bào chết và các thành phần tế bào cũng có
thể gây một số tác dụng sinh lý.
9
Hình 1. Các công trình nghiên cứu về tác dụng của men vi sinh vật
ngày càng nhiều
9.2 Probiotics cho rối loạn tiêu hóa
Phần này sẽ xem xét các bằng chứng cho chế phẩm sinh học trong
việc quản lý một loạt các rối loạn tiêu hóa, từ tiêu chảy đến táo bón.
9.2.1 Tiêu chảy cấp tính
Bệnh tiêu chảy được định nghĩa bởi các WHO là đi nhiều phân lỏng
hoặc chảy nước trong một khoảng thời gian 24 giờ. Bệnh tiêu chảy cấp
tính kéo dài đến khoảng 14 ngày hoặc nhiều hơn. Tiêu chảy nhiễm
trùng là một bệnh do tiêu chảy gây ra bởi một tác nhân lây nhiễm. Hơn
20 loại virus, vi khuẩn và ký sinh trùng có liên quan đến bệnh tiêu chảy
cấp. Trên thế giới, Rotavirus là nguyên nhân phổ biến nhất của tiêu
chảy nặng và gây tử vong ở trẻ em. Virus gây bệnh khác là Astrovirus,
Caliciviruses ở người (gồm Norovirus và Sapovirus) và các Adenovirus
ruột. Vi khuẩn gây bệnh quan trọng là Diarrhoeagenic Escherichia coli,
Salmonella, Shigella, Yersinia, Campylobacter và Vibrio cholerae. Các
nguyên nhân chính của ký sinh tiêu chảy là Cryptosporidium và
Giardia. Hóa trị và xạ trị cũng có thể gây tiêu chảy cấp.
10
Lý do cho việc sử dụng chế phẩm sinh học trong tiêu chảy nhiễm
trùng là do chúng chống lại tác nhân gây bệnh đường ruột bằng cách
cạnh tranh các chất dinh dưỡng có sẵn và các liên kết, làm cho nội ruột
chua, sản xuất các loại hóa chất và tăng cụ thể theo phản ứng miễn
dịch. Việc sử dụng các vi sinh vật probiotic làm giảm sự phụ thuộc vào
thuốc kháng sinh, tương đối rẻ tiền, và được sử dụng tốt, thậm chí có
thể sử dụng lâu dài.
Một số thử nghiệm ngẫu nhiên đã được thực hiện để xác định xem
liệu chế phẩm sinh học có tác dụng trong tiêu chảy nhiễm trùng cấp
tính; đặc biệt về hiệu quả của chế phẩm sinh học trong bệnh tiêu chảy
cho trẻ em. Một số ý kiến có hệ thống và phân tích tổng hợp đã được
công bố. Trong một phân tích tổng hợp các thử nghiệm sử dụng nấm
men Saccharomyces boulardii probiotic để điều trị tiêu chảy cấp tính ở
trẻ em, Szajewska giảm đáng kể trong thời gian tiêu chảy, nguy cơ tiêu
chảy, số lượng phân mỗi ngày và thời gian nằm viện. Kết quả của hai
phân tích tổng hợp lớn hơn về tiêu chảy của trẻ em cũng khẳng định lợi
ích của probiotics trong việc giảm thời gian tiêu chảy khoảng 1 ngày.
Một phân tích tổng hợp gần đây của Salari gồm 19 nghiên cứu trên trẻ
em được sử dụng các loại chế phẩm sinh học khác nhau. Các tác giả
kết luận rằng chế phẩm sinh học làm giảm thời gian tiêu chảy cho trẻ
em, nó phụ thuộc vào liều lượng và loại probiotic và không có tác dụng
phụ.
Hơn nữa, kết quả các thử nghiệm được công bố chỉ ra rằng có lợi
ích trong việc đưa chế phẩm sinh học để phòng ngừa tiêu chảy nhiễm
trùng cấp tính ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh và trẻ em. Hầu hết các nghiên
cứu được tiến hành tại các trung tâm chăm sóc trẻ em, nơi phổ biến
nhất của bệnh tiêu chảy cấp. Các chủng của chế phẩm sinh học sử
dụng
bao
thermophilus,
gồm
Lactobacillus
Lactobacillus
rhamnosus
casei,
GG,
Bifidobacterium
Streptococcus
lactis,
hoặc
Lactobacillus reuteri trộn với sữa công thức hoặc bổ sung trực tiếp qua
ăn. Kết quả chỉ ra rằng cứ 7 trẻ em sẽ cần phải được đưa L. rhamnosus
GG để ngăn chặn 1 đứa trẻ từ việc phát triển viêm dạ dày ruột. Cho
đến nay, probiotics không hỗ trợ sử dụng thường xuyên để phòng
ngừa. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp đặc biệt trong các cơ sở y tế hoặc
11
tại các trung tâm chăm sóc trẻ em, trong đó sử dụng thường xuyên có
thể có lợi.
9.2.2 Tiêu chảy
Tiêu chảy là một rối loạn sức khỏe phổ biến của các du khách khi
đến các điểm đến du lịch. Tỷ lệ tiêu chảy xảy ra có thể dao động từ 5%
đến hơn 50%. Thực phẩm, nước bị ô nhiễm, phân là nguồn chính của
nhiễm trùng.
Phân tích tổng hợp chế phẩm sinh học để phòng ngừa tiêu chảy bao
gồm 12 nghiên cứu ngẫu nhiên. 6 thử nghiệm phòng ngừa bằng
probiotic trong thử nghiệm, với hai thử nghiệm có nhiều thiết bị điều
trị. Một nghiên cứu cho thấy xu hướng (p = 0,07) cho hiệu quả và 5
phương pháp điều trị khác được tìm thấy có sự khác biệt đáng kể giữa
các nhóm probiotic và kiểm soát, với 2 thử nghiệm có nhiều thiết bị
điều trị. Kết quả có sự mâu thuẫn có thể phát sinh từ sự khác biệt về
dân số nghiên cứu, loại probiotic được điều tra hoặc khác biệt về liều
probiotic và thời gian điều trị. Đối với tiêu chảy, yếu tố bổ sung chẳng
hạn như là điểm đến chuyến đi, tiềm năng probiotic trong du lịch, tuân
thủ dùng thuốc và hành vi của các du khách, có thể ảnh hưởng đến kết
quả. Tuy nhiên, lợi thế lựa chọn một quần thể nghiên cứu không hạn
chế là họ có thể đại diện cho khách du lịch nói chung. 10 thử nghiệm
được trình bày dữ liệu về phản ứng phụ thông báo không có tác dụng
phụ nghiêm trọng. Một nghiên cứu báo cáo, 2% đối tượng đau bụng là
do L. rhamnosus GG. Xét theo loại probiotic và điều chỉnh những khác
biệt về kích thước mẫu nghiên cứu, 3 (75%) thử nghiệm điều trị
boulardii S là có hiệu quả, nhưng chỉ có 1 (13%) của các thử nghiệm
Lactobacilli là bảo vệ. Kết quả hiệu quả không phù hợp cũng có thể là
do khả năng bảo quản và sự ổn định của sản phẩm probiotic. Chế
phẩm sinh học đông khô ổn định tốt ở nhiệt độ phòng. Tuy nhiên, các
sản phẩm đó cần phải giữ lạnh có thể là một khó khăn cho du khách.
McFarland kết luận rằng một số chế phẩm sinh học (S. boulardii và một
hỗn hợp của Lactobacillus acidophilus và Bifidobacterium bifidum) có
hiệu quả đáng kể và có thể cung cấp một phương pháp an toàn và hiệu
quả để ngăn chặn tiêu chảy.
12
Hiệu quả của probiotic không khả thi cho việc ngăn ngừa tiêu chảy
đã được điều tra trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát bởi
Briand. Du khách (147) được chọn ngẫu nhiên để nhận hoặc không khả
thi L. acidophilus hoặc giả dược hai lần mỗi ngày từ 1 ngày trước khi
khởi hành tới 3 ngày sau khi họ trở về. Không có hiệu quả điều trị bằng
probiotic không khả thi.
9.2.3. Kháng sinh và Clostridium liên quan đến bệnh tiêu chảy (CDAD)
Hệ tiêu hóa của con người chứa khoảng 400 loại vi khuẩn probiotic
nhằm duy trì sự cân bằng tự nhiên của hệ vi sinh vật đường ruột, đồng
thời làm giảm sự tăng trưởng của các vi khuẩn có hại gây bệnh như
tiêu chảy. Chủ yếu là nhóm vi khuẩn lactic, được biết đến tốt nhất là
Lactobacillus acidophilus.
Tiêu chảy do kháng sinh là kết quả của sự mất cần bằng trong hệ vi
sinh vật đường ruột do việc điều trị bằng kháng sinh. Một trong những
hậu quả của việc sử dụng kháng sinh gây tiêu chảy là sự phát triển quá
mức các hệ sinh vật gây bệnh như Clostridium difficile.
Kháng sinh gây rối loạn hệ tiêu hóa (AAD) gây nên các triệu chứng
lâm sàng của bệnh tiêu chảy, 5 – 30% trường hợp này xảy ra ở các
bệnh nhân hay sớm hơn trong quá trình trị liệu, hoặc mãi cho đến 2
tháng sau khi kết thúc quá trình điều trị. Hầu hết các kháng sinh, đặc
biệt là những loại hoạt động trên vi khuẩn kỵ khí, là nguyên nhân gây
tiêu chảy, và dễ xảy ra hơn với các kháng sinh phổ rộng, gây chậm hấp
thu ở đường ruột. Một loạt các biểu hiện lâm sàng của AAD từ tiêu chảy
nhẹ, là biểu hiện thường thấy nhất, cho đến viêm giả mạc tối cấp. Tiếp
theo là biểu hiện tiêu chảy nước, sốt (80% trường hợp), tăng bạch cầu
(80%) và xuất hiện giả mạc khi nội soi. Các biến chứng xấu có chứa
độc tố gây chứng to đại tràng, thủng và sốc. Một loại AAD cụ thể là
CDAD. Các vi khuẩn kị khí Clostridium là mầm bệnh chủ yếu trong
bệnh viện, là nguyên nhân của hầu hết các bệnh tiêu chảy lây nhiễm
trong bệnh viện, nó chứa trong các loại thuốc kháng sinh điều trị các
bệnh như viêm đại tràng và vô tình giết một phần lớn hệ vi sinh vật
đường ruột. Nhiễm Clostridium gây nên một loạt các biểu hiện lâm
sàng, từ không có biểu hiện cụ thể, tiêu chảy nhẹ, và nặng hơn là viêm
13
đại tràng giả mạc. Khoảng một phần ba các trường hợp AAD là do
Clostridium gây nên.
Sự can thiệp của các chế phẩm sinh học và các bằng chứng về hiệu
quả của chúng trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị AAD và CDAD ngày
càng được quan tâm. Để xác định được hiệu quả của các chế phẩm
sinh học trong việc ngăn ngừa kháng sinh và Clostridium liên quan đến
bệnh tiêu chảy trong của các bệnh nhân trưởng thành, Avadhani đã
phân tích tổng hợp tám nghiên cứu. Có 1220 người tham gia vào các
nghiên cứu này. Các kết quả thu được đều cho thấy lợi ích của việc
điều trị bằng chế phẩm sinh học. Việc sử dụng chế phẩm sinh học làm
giảm 44% tần suất AAD và 71% tần suất CDAD.
Videlock đã đánh giá được sự giảm nguy cơ gây hại của AAD, cho
dù có sự hiện diện của Clostridium. 34 phân tích tổng hợp ngẫu nhiên
hóa, bắt cặp ngẫu nhiên, các thử nghiệm kiểm soát giả đã được thực
hiện với 4138 bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh và quản lý một
probiotic cho ít nhất là trong thời gian điều trị kháng sinh. Tác dụng
phòng ngừa của probiotic đã được nhận thấy trên hầu khắp các loài
probiotic khác nhau. Tất cả các nghiên cứu trên người lớn và trẻ em
đều chỉ ra rằng, các chế phẩm có tác dụng làm giảm nguy cơ tiêu chảy.
Các phân tích tổng hợp này và các phân tích khác gần đây xác nhận
kết quả sớm hơn, hỗ trợ tác dụng phòng ngừa của probiotics trong AAD
và CDAD.
Theo như TS. BS. Phạm Hùng Vân, Chủ tịch Hội Vi sinh Lâm sàng
Tp. HCM, Chủ tịch Hội Sinh học Phân tử Y khoa Việt Nam, nhiều nghiên
cứu đã được thực hiện và chỉ ra hiệu quả của B. clausii – một loại trực khuẩn gram
dương, ái khí tùy nghi – hội đủ các tiêu chuẩn của 1 probiotics thật sự hiệu quả. Tỷ lệ B.
clausii có thể được tìm thấy tự nhiên trong ruột người (103 – 106/g phân) là 20%, đồng
thời kháng được với yếu tố nhiệt độ lẫn môi trường acid dịch vị để đi xuống ruột, sinh sôi
và phát huy tác dụng nhờ lợi thế sinh bào tử. Hơn nữa, hầu hết các dòng B. clausii đều có
tính đề kháng với nhiều loại kháng sinh, nên có khả năng tồn tại trong cơ thể bệnh nhân
đang điều trị với các loại thuốc chứa chất này.
Hiện nay, các thực phẩm probiotics được sử dụng phổ biến trong
việc làm giảm nguy cơ tiêu chảy, là các sản phẩm có chứa hệ vi sinh
14
vật như vi khuẩn hay nấm men, điển hình là sản phẩm yogurt có chứa
vi khuẩn lactic acid (Lactobacilli), cho một hệ tiêu hóa khỏe mạnh.
9.2.4. Táo bón
Táo bón mãn tính rất phổ biến, đặc trưng bởi việc đi tiêu thường
xuyên, đi tiêu khó khăn, hoặc cả hai. Trong cộng đồng dân cư, táo bón
mãn tính xảy ra từ 15 – 25%. Trong hầu hết các trường hợp, không tìm
thấy các nguyên nhân hữu cơ tiềm ẩn. Mặc dù điều trị truyền thống
được xác minh là khá hay nhưng không mang lại kết quả mong muốn
cho nhiều bệnh nhân, do đó các phương pháp điều trị khác được quan
tâm tìm hiểu.
Probiotics được sử dụng ngày càng nhiều để điều trị táo bón, dựa
vào dữ liệu chứng minh sự khác biệt của hệ vi sinh vật đường ruột giữa
những người khỏe mạnh và bệnh nhân bị táo bón mãn tính. Mặc dù
dysbiosis là biểu hiện thứ hai của táo bón, hay là nguyên nhân gây táo
bón, thì vẫn đang được tìm hiểu làm rõ. Probiotics làm giảm pH trong
kết tràng, tăng áp suất thẩm thấu, tăng cường nhu động ruột, có thể
làm giảm thời gian qua kết tràng. Điều này đã được xác nhận trong các
nghiên cứu liên quan đến việc quản lý B. lactis DN-173 010 hoặc B.
lactis HN019, rút ngắn thời gian vận chuyển qua ruột ở cả người khỏe
mạnh và bệnh nhân táo bón.
Gần đây Chmielewska đã xem lại một cách hệ thống dữ liệu từ các
thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát. Năm thử nghiệm tổng cộng có
377 đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn thu nhận. Các tác giả kết luận rằng
người lớn bị táo bón là do tiêu hóa B. lactis DN-173 010, L. casei
Shirota và E. coli Nissle 1917. Mặc dù kết quả có ý nghĩa thống kê,
nhưng các tác động tổng thể là khá khiêm tốn về mặt lâm sàng. Ví dụ,
so với giả dược, B. lactis DN-173 010 làm tăng lượng phân mỗi tuần
một lần. Các nghiên cứu cho kết quả khả thi hơn ở người trưởng thành.
Còn ở trẻ em, sử dụng L. rhamnosus GG không có hiệu quả, trong khi
sử dụng L.casei rhamnosus Lcr35 làm tăng lượng phân và giảm lượng
phân cứng. Không có bất kỳ tác dụng phụ nào được phát hiện trong các
nghiên cứu.
15
Các nhà nghiên cứu tại Đại học King ở London lùng sục các tài liệu
y khoa và đã tìm được 14 nghiên cứu thỏa tiêu chí của họ để thực hiện
một nghiên cứu. Tất cả những thử nghiệm lâm sàng được thực hiện
trên các bệnh nhân táo bón ngẫu nhiên, cho họ sử dụng chế phẩm sinh
học hay giả dược (hoặc điều trị kiểm soát khác). Bằng cách tổng hợp
các kết quả nghiên cứu, các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng trung bình,
chế phẩm sinh học làm chậm lại "thời gian vận chuyển ruột" là 12,4
giờ, tăng số lần đi tiêu mỗi tuần lên 1,3 lần, và giúp làm mềm phân.
Probiotics có chứa Bifidobacterium dường như là hiệu quả nhất.
Trong nhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu lặp lại với chủng
probiotic thì đã chứng minh có hiệu quả, probiotics giúp giảm táo bón.
9.2.5. Hội chứng kích thích đường ruột (IBS)
IBS là hội chứng rối loạn chức năng tiêu hóa phổ biến nhất, có thể
ảnh hưởng 11 – 20% người trưởng thành ở các nước công nghiệp hóa.
Nó thường bị nhầm lẫn với táo bón mãn tính. IBS gây đau bụng và rối
loạn tiêu hóa, và không được giải thích bởi các cấu trúc hay hiện tượng
hóa sinh bất thường. Những dấu hiệu ban đầu cho thấy sự thay đổi hệ
vi sinh vật đường ruột ở bệnh nhân IBS; tuy nhiên vẫn còn tiếp tục
nghiên cứu để xác định có chăng chúng là nguyên nhân hay hậu quả
của sự thay đổi nhu động ruột và bài tiết.
Các phân tích tổng hợp đưa ra các kết luận khác nhau về hiệu quả,
một phần là do sự khác nhau về kích thước mẫu, thiết kế nghiên cứu
thiếu thốn và sử dụng các chủng probiotic khác nhau. Một phân tích
tổng của 20 thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát cho thấy rằng việc sử
dụng các probiotics có thể cải thiện IBS nói chung và giảm chứng đau
bụng. Một phân tích toàn diện 19 thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát
công bố giữa năm 1966 và 2008 cũng đưa ra kết luận tương tự. Cả 2
thử nghiệm đều cho rằng probiotics có lợi trong việc điều trị IBS, nhưng
lợi như thế nào và loài nào tốt nhất (hay kết hợp) thì vẫn chưa được
xác minh.
Brenner đã đánh giá 16 thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên có chọn
lọc một cách nghiêm ngặt và chỉ tìm thấy 11, trong thời gian quá ngắn,
16
cỡ mẫu quá nhỏ, và thiếu mục đích điều trị phân tích. Các tác giả đã
kết luận rằng chỉ có 2 nghiên cứu là cho thấy sự cải thiện đáng kể so
vơi giả dược trong đau bụng/khó chịu, đầy bụng/chướng, và đi tiêu.
Trong cả hai nghiên cứu Bifidobacterium infantis 35624 đều được sử
dụng.
Với những tranh cải trong sinh lý bệnh IBS, các thử nghiệm ngẫu
nhiên bổ sung với các điểm cuối và thiết kế phù hợp là cần thiết để xác
định mức độ điều trị của một probiotics đại diện.
9.3. Probiotics diệt trừ Helicobacter
Helicobacter pylori là vi khuẩn Gram (-), có khả năng sinh bào tử,
và có khả năng gây viêm loét, ung thư dạ dày. Tuy nhiên, khoảng 80%
người nhiễm H. pylori không có những triệu chứng của các bệnh này.
Khi niêm mạc bị tác động bởi các yếu tố môi trường như tăng nồng
độ acid, tác nhân dược phẩm, các chất độc trong thức ăn, căng thẳng,
khuẩn Helicobacter pylori xâm lấn vào đường tiêu hóa. Chúng xâm lấn
dẫn đến loét niêm mạc nhầy và gây bệnh loét dạ dày tá tràng trong
hơn 20% bệnh nhân. Ở các nước đang phát triển, dân số mang H.
pylori chiếm 70 – 90%, ở các nước phát triển thì tỷ lệ nhiễm này thấp.
Một trong những mục tiêu chính để điều trị bệnh loét dạ dày là loại bỏ
H. pylori. Việc loại bỏ H. pylori vĩnh viễn có thể làm giảm nguy cơ phát
triển của các bệnh liên quan. Nó đang được quan tâm để giảm chi phí,
đưa ra các giải pháp với quy mô lớn nhằm ngăn chặn hay giảm sự xâm
nhập của H. pylori. Bằng việc sản sinh các chất kháng khuẩn,
probiotics có thể làm màng ngăn trở nên vững chắc. Hơn nữa,
probiotics còn cạnh tranh với các thụ thể bám dính của H. pylori, kích
thích sản xuất mucin và ổn định màng niêm mạc ruột.
Trong một phân tích gần đây, Wang đã nghiên cứu xem
Lactobacillus và Bifidobacterium có chứa các tiền probiotic, có thể làm
tăng khả năng loại bỏ H. pylori và giảm tác dụng phụ. Mười thử nghiệm
đối chứng song song được thực hiện để so sánh khả năng loại trừ H.
pylori của probiotics trong các phân tích tổng hợp. Các tác giả đã kết
luận rằng probiotics làm tăng tỷ lệ loại trừ và sự tác động đến mọi tác
17
dụng phụ. Các phân tích của Tong trước đó cũng cho thấy việc bổ sung
probiotics làm tăng khả năng thải bỏ H. pylori. Các thử nghiệm phân
tích tổng hợp sử dụng nhiều chủng probiotics. Cả hai phân tích đều cho
thấy sự tác động chủ yếu của Lactobacillus GG; các probiotics khác có
mức động ít hơn. Kể từ khi Lactobacillus chiếm ưu thế trong dạ dày
người, Zou đã giả định rằng probiotics Lactobacillus là rất cần thiết để
ức chế vi khuẩn H. pylori và kết luận rằng việc bổ sung Lactobacillus
để loại bỏ H. pylori làm tăng tỷ lệ loại trừ cho bệnh nhân được điều trị
đầu tiên và giảm các tác dụng phụ như tiêu chảy, đầy hơi và rối loạn vị
trong quá trình điều trị. Một vài báo cáo khác đã chỉ ra rằng, sữa chua
có chức Lactobacillus gasseri (OLL2716) có tác dụng ức chế nhiễm H.
pylori.
Szaijewska
đã
phân
tích
những
tác
dụng
của
nấm
men
Saccharomyces boul-ardii như loại bỏ H. pylori và điều trị các tác dụng
phụ có liên quan. Năm thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với 1307
người (trong đó có 90 trẻ em) đã đạt được tiêu chí thu. Việc bổ sung
Saccharomyces boul-ardii làm tăng tỷ lệ loại bỏ, giảm các tác dụng
phụ trong quá trình điều trị và giảm một số triệu chứng cá nhân như
tiêu chảy. Kết quả có thể chỉ áp dụng được ở người trưởng thành vì đa
số người thử nghiệm là người trưởng thành.
9.4. Probiotics cho bệnh nhân kém hấp thu lactose
Không hấp thu lactose hay còn gọi là rối loạn hấp thu lactose với
các triệu chứng lâm sàng như đầy bụng, đầy hơi, buồn nôn, tiêu chảy
và đau bụng. Những triệu chứng này là do không tiêu hóa được đường
lactose trong ruột già, lactose được sử dụng cho quá trình lên men cho
hệ vi sinh vật và làm tăng khả năng hấp thụ nước vào bên trong. Hoạt
tính của enzyme lactase cao lúc mới sinh, giảm ở thời niên thiếu và
thấp khi trưởng thành. Những người không hấp thu lactose có thể dung
nạp một lượng lactose nhất định mà không có các biểu hiện bất
thường. Nhiều nghiên cứu của Vrese cho thấy các sản phẩm sữa lên
men như sữa chua có thể cải thiện việc tiêu hóa lactose ở những đối
tượng mắc chứng kém hấp thu lactose và được hấp thu tốt ở những đối
tượng không có khả năng dung nạp lactose trong sữa. Đặc biệt là
Lactobacillus acidophilus, tham gia vào quá trình tiêu hóa và hấp thu
18
lactose. Hiện tượng này có thể giải thích là do các vi khuẩn β –
galactosidase có trong các sản phẩm lên men có thể sống sót khi đi
qua dạ dày và giúp chuyển hóa lactose ở ruột non (Oozeer, 2002). Các
sản phẩm probiotic có chứa một số chủng vi khuẩn không gây bệnh, ví
dụ như S. thermophiles, L. bulgaricus có thể sản xuất lactase, làm
giảm sự kém hấp thu lactose trong ruột.
Tuy nhiên, đây không phải là một tác dụng cụ thể của probiotic mà
tùy thuộc vào định nghĩa “probiotic”, do nó không phụ thuộc vào sự
tồn tại của vi khuẩn trong ruột non. Hơn nữa, kém hấp thu lactose ít
hay nhiều không phải là một bệnh, mà là một tình trạng sinh lý bình
thường.
9.5. Probiotics cho bệnh viêm ruột (IBD) và các tình trạng liên
quan
IBD gồm bệnh viêm ruột mãn tính và các bệnh tái phát của ruột,
gồm 2 biểu hiện tương tự là loét đại tràng (UC) và bệnh Crohn (CD).
Chúng khác nhau ở vị trí ruột và đặc điểm tình trạng viêm. Các cơ chế
đưa ra ở các vật chủ, di truyền tạo ra các phản ứng miễn dịch linh hoạt
của tế bào với các thành phần của hệ vi sinh vật gồm làm mất chức
năng màng ngăn biểu mô, sự hiện diện của nhiều chất trung gian tiền
viêm trong tập con các chất tác động khác nhau của T lymphocyte,
thiếu các tín hiệu bảo vệ và điều tiết, và/hoặc có sự hiện diện của các
kháng nguyên bất thường. Các phương pháp điều trị IBD thông thường
tập trung vào điều trị viêm và ức chế sự tăng cường miễn dịch với
steroids, aminosalicylates và chống các kháng thể u hoại tử. Mặc dù
các thuốc này mang lại hiệu quả mong muốn, song chúng cũng gây ra
các tác dụng phụ liên quan đến ức chế miễn dịch mãn tính (bệnh ác
tính và nhiễm trùng nghiêm trọng). Gần đây, việc sử dụng probiotics
để thay đổi hệ thực vật đường ruột đang được quan tâm. Việc bổ sung
các lợi khuẩn vào môi trường phức tạp này có thể có tác dụng, ví dụ,
trong các phản ứng miễn dịch trên vật chủ, chức năng màng ngăn
niêm mạc để giảm bớt sự tương tác với hệ thống miễn dịch vật chủ,
hoặc trên các sản phẩm trao đổi chất cuối cùng của vi sinh vật.
19
9.5.1 Viêm loét đại tràng (UC)
Viêm loét đại tràng (UC) là một bệnh mạn tính của ruột già, còn
được gọi là đại tràng, trong đó niêm mạc đại tràng bị viêm và có nhiều
vết lở nhỏ mở, hoặc loét, có mủ và nhầy. Sự kết hợp của viêm và loét
có thể gây khó chịu ở bụng và làm cho đại tràng thấy rỗng. Viêm loét
đại tràng là kết quả của một phản ứng lạ của hệ thống miễn dịch của
cơ thể. Thông thường, các tế bào và protein, tạo nên hệ thống miễn
dịch bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng. Tuy nhiên, ở những người bị
viêm ruột, hệ thống miễn dịch, vi khuẩn, và các thành phần khác trong
ruột cho các chất lạ xâm nhập. Khi điều này xảy ra, cơ thể sẽ chuyển
các tế bào máu trắng vào niêm mạc ruột, nơi đây gây ra viêm mãn tính
và loét.
Probiotics đã được sử dụng ở những bệnh nhân UC, không những
điều trị viêm tốt mà còn ổn định duy trì khi điều trị. Một số nghiên cứu
cho rằng probiotics được lựa chọn có tác động tích cực cho phản ứng.
Vài phản ứng nhỏ cũng cho thấy việc hỗ trợ sử dụng probiotic cho phản
ứng và duy trì sự thuyên giảm ở bệnh nhi. Tuy nhiên những dữ liệu này
dựa trên các nghiên cứu tương đối nhỏ nên chưa đủ để xác định lợi ích
và tác hại liên quan của probiotic.
Một tổng quan của Cochrane kiểm tra vai trò của probiotics trong
việc gây thuyên giảm trong UC. Bốn nghiên cứu, quá trình nghiên cứu
được phân tích trên 244 bệnh nhân. Qua đó xem xét và kết luận rằng
việc thêm probiotics để điều trị, thông thường không cải thiện được tỷ
lệ thuyên giảm trên tổng thể mà chỉ từ mức độ nhẹ đến trung bình của
bệnh UC, nhưng có được một lợi ích nhỏ trong hoạt động làm giảm
bệnh.
Zigra đã có hệ thống đánh giá ngẫu nhiên thử nghiệm và so sánh
ảnh hưởng của tác dụng probiotics của thuốc chống viêm hoặc giả
dược trong các phản ứng và duy trì sự thuyên giảm của bệnh. Chín
nghiên cứu đáp ứng được các tiêu chuẩn thu nhận và cung cấp dữ liệu
về 972 đối tượng. Ba nghiên cứu ước tính phản ứng thuyên giảm như là
kết quả. Các nghiên cứu kiểm soát được cung cấp đủ dữ liệu cho việc
duy trì sự thuyên giảm. Hai trong số đó được báo cáo cao hơn về sự
20
thuyên giảm trong UC cho các probiotics so với nhóm chính. Bốn thử
nghiệm khác đã không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt đáng kể giữa các
nhóm probiotic và nhóm kiểm soát.
Các tác giả đưa ra giả thuyết rằng các loại probiotic (hầu hết các
thử nghiệm đánh giá phản ứng thuyên giảm như đo lường kết quả các
lợi khuẩn Bifidobacteria được sử dụng, có thể liên quan đến phát hiện
này. Hơn nữa, các thử nghiệm so sánh hiệu quả của probiotics với tác
dụng của giả dược đã cho kết quả tốt hơn so với nghiên cứu so sánh
tác dụng của chế phẩm sinh học với tác dụng của thuốc chống viêm.
Các nghiên cứu đối chứng so sánh probiotics với các thuốc chống viêm,
thử nghiệm đã cho thấy xu hướng tăng hiệu quả.
Phân tích tổng hợp kết luận rằng, mặc dù có nhiều phương pháp
khác nhau và có nghiên cứu đồng nhất đáng kể, probiotics không khác
biệt đáng kể so với các loại thuốc kháng viêm cho hiệu quả và an toàn
trong việc bệnh UC được thuyên giảm, phát hiện này rất có thể liên
quan đến một hiệu quả tương tự như các probiotics và thuốc chống
viêm, và không để các probiotics cụ thể được sử dụng trong các thử
nghiệm mà có hiệu quả thấp.
Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm loét đại tràng: Khoảng
một nửa số bệnh nhân bị viêm loét đại tràng có triệu chứng nhẹ, và có
biểu hiện như dung dịch trong ruột trở nên lỏng hơn, tiêu chảy kéo dài
kèm theo đau bụng và máu trong phân, bụng đau quặn, những người
bị viêm loét đại tràng thường bị mất cảm giác ngon miệng và có thể
giảm cân. Trong trẻ em, viêm loét đại tràng có thể làm chậm sự tăng
trưởng và phát triển.
Sử dụng probiotics UC làm kích thích và có lợi ích tiềm năng trong
một số bệnh nhân. Tuy nhiên, mối quan tâm liên quan đến kết quả từ
các
thử
nghiệm.
Đối
với
những
bệnh
nhân
không
chứa
5
aminosalicylate, các sản phẩm probiotic xuất hiện để có nhiều lợi ích
cho một phản ứng trong việc duy trì sự thuyên giảm của bệnh từ mức
độ nhẹ đến vừa phải.
21
9.5.2 Bệnh CROHN (CD)
Bệnh Crohn là một loại bệnh viêm ruột (IBD) có thể ảnh hưởng đến
bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa từ miệng đến hậu môn. Các dấu
hiệu và triệu chứng thường bao gồm đau bụng, tiêu chảy (có thể có
máu nếu viêm nặng), sốt, và sụt cân. Các biến chứng khác có thể xảy
ra ngoài đường tiêu hóa và bao gồm thiếu máu, phát ban da, viêm
khớp, viêm mắt, và cảm thấy mệt mỏi. Tắc ruột cũng thường xảy ra và
những người có bệnh và có nguy cơ ung thư ruột. Không có thuốc hoặc
phẫu thuật nào có thể chữa bệnh Crohn. Nên ta chỉ có thể lựa chọn
điều trị những triệu chứng, duy trì sự thuyên giảm, và ngăn ngừa tái
phát.
Các nghiên cứu về diều trị bệnh còn hạn chế về việc sử dụng
probiotic để giảm đau, duy trì sự thuyên giảm và ngăn ngừa tái phát
sau phẩu thuật trong bệnh CD. Đối với gây giảm đau, là một thử
nghiệm giả dược ngẩu nhiên và mở một vài nghiên cứu có gắn nhãn.
Nghiên cứu trong tổng số 225 bệnh nhân. Dựa trên dữ liệu không đầy
đủ, probiotics cho thấy không có vai trò trong việc gây thuyên giảm
trong CD tích cực.
Nhiều văn học tồn tại liên quan đến probiotics để duy trì sự thuyên
giảm trong CD. Trong thử nghiệm lớn nhất từ trước đến nay, Bousvaros
et al. báo cáo không có sự khác biệt đáng kể với probiotic hiệu quả
trong những người nhận L. rhamnosus so với giả dược. Hai phân tích
Meta cho thấy probiotics không phải là một lựa chọn điều trị cho duy trì
sự thuyên giảm trong CD.
Dữ liệu nghiên cứu trong việc ngăn ngừa tái phát sau phẫu thuật,
một lần nữa probiotics không ngăn chặn được sự tái suất trong nội soi
hoặc các triệu chứng lâm sàng. Một phân tích khác về các sự can thiệp
khác nhau để ngăn ngừa hậu phẫu tái phát CD cho thấy rằng ảnh
hưởng của probiotics không tốt hơn giả dược.
Không có bằng chứng rằng các bệnh nhân CD sẽ được lợi ích từ
probiotics cho bất kỳ khía cạnh bệnh nào của họ, cho dù đó là để điều
trị bệnh đang hoạt động, duy trì sự thuyên giảm hoặc ngăn ngừa tái
22
phát sau phẫu thuật của bệnh. Việc điều trị thiếu hiệu quả có thể là do
tính chất chuyển đổi của căn bệnh này, sự thiết kế nghèo của các
nghiên cứu, hoặc các yếu tố khác chưa được xác định.
9.5.3 Pouchitis (viêm túi ruột hồi)
Pouchitis là viêm túi ruột hồi (một trực tràng nhân tạo bằng phẫu
thuật tạo ra các mô ruột hồi tràng ở những bệnh nhân đã trải qua một
phẩu thuật cắt bỏ ruột già). Bệnh nhân pouchitis thường có dấu hiệu
tiêu chảy ra máu, hoặc cảm giác khó chịu khi đi đại tiện. Việc mất máu
và/hoặc mất nước do việc đại tiện thường xuyên sẽ dẫn đến buồn nôn,
chuột rút và đau có thể xảy ra với pouchitis.
Về duy trì sự thuyên giảm, hai thử nghiệm lâm sàng báo cáo một
hiệu ứng đáng chú ý trong việc ngăn ngừa tái phát ở bệnh nhân
pouchitis phụ thuộc vào pouchitis kháng sinh (Gionchetti et al, 2000;..
Mimura et al, 2004). Cả hai sử dụng probiotic pha trộn VSL#3. Nó là
một loại hỗn hợp probiotic bán sẵn có chứa tám chủng lactic vi khuẩn
acid:
Lactobacillus
plantarum,
Lactobacillus
delbrueckii
subsp.
bulgaricus, Lactobacillus paracasei, L. acidophilus, Bifidobacterium dấu
ngân, Bifidobacterium longum, B. infantis, và Streptococcus salivarius
subsp. thermophilus. Con số cần điều trị bằng liệu pháp probiotic uống
để ngăn ngừa một sự tái phát nữa là 2. Ngược lại, một thử nghiệm mở
của Shen báo cáo phản ứng ít hơn. Cho dù điều này là do một số sự
khác biệt trong tập hợp các bệnh nhân, sự tuân thủ của bệnh nhân,
hoặc các yếu tố khác cho đến nay chưa được biết. Hơn nữa trong
nghiên cứu chắc chắn là hợp lý, nó an toàn để nói rằng một tập hợp
con của bệnh nhân thì vẫn có người được hưởng lợi từ việc sử dụng
nghiên cứu probiotic với hỗn hợp VSL#3, rất có thể do sự đa dạng sinh
học dẫn đến một môi trường viêm ít hơn tại niêm mạc. Hiện nay các dữ
liệu cho thấy sự hỗ trợ sử dụng trong dự phòng và duy trì sự thuyên
giảm mà không dùng để điều trị pouchitis.
9.5.4 Viêm ruột hoại tử (NEC)
Khi em bé được sinh ra sớm, nhiều bộ phận cơ thể không được phát
triển đầy đủ. Điều này sẽ đặt trẻ vào nguy cơ một số bệnh trong những
23
tuần đầu tiên của cuộc sống. Một trong những căn bệnh này là viêm
ruột hoại tử, các bệnh đường ruột phổ biến nhất và nghiêm trọng của
các bé thiếu tháng. Viêm ruột hoại tử (NEC) xảy ra khi các mô ở ruột
non hoặc lớn bị thương hoặc bắt đầu chết đi. Điều này làm cho ruột bị
viêm hoặc trong trường hợp hiếm, phát triển một lỗ (thủng). Khi điều
này xảy ra, ruột không còn có thể giữ chất thải, do đó vi khuẩn và các
chất thải khác đi qua ruột và xâm nhập vào dòng máu của trẻ hoặc
khoang bụng. Điều này có thể làm cho em bé rất ốm, có thể gây nhiễm
trùng đe dọa tính mạng. NEC thường ảnh hưởng đến trẻ sinh ra trước
32 tuần tuổi thai, nhưng nó có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh đủ tháng mà có
vấn đề về sức khỏe. Với bệnh NEC ở trẻ thường phát triển trong 2-4
tuần đầu tiên của cuộc sống.
Trẻ sinh non thường xuyên bị chậm và có sự biến dạng trạng thái
"bình thường" của hệ tiêu hóa, có thể do thức ăn qua đường ruột bị hạn
chế và sử dụng kháng sinh thường xuyên. Ruột non của trẻ sơ sinh đặc
biệt là trẻ còn non tháng thì dễ bị viêm nhiễm và mất sự toàn vẹn của
biểu mô. Viêm ruột hoại tử (NEC) có liên quan với 30% tỷ lệ tử vong
mặc dù có sự nỗ lực của y tế và phẫu thuật nhưng có những hậu quả
nghiêm trọng và tốn kém nếu bệnh nhân sống sót. Các bệnh có thể
khó chẩn đoán trước khi ruột bị đục thủng. Việc nâng cao cải thiện của
bệnh NEC là lý do cho việc sử dụng bổ sung probiotic.
Một số đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp về đề tài này
đã được công bố trong những năm gần đây và tương tự như vậy cho
thấy các lợi ích mà việc bổ sung probiotic. Phân tích tổng hợp các
nghiên cứu probiotic sử dụng các chủng Bifidobacterium, Lactobacillus,
Saccharomyces và / hoặc S. Thermophilus để ngăn chặn giảm dấu hiệu
của bệnh NEC về tần suất và tử vong.
Vẫn có bằng chứng cho thấy probiotics ngăn ngừa NEC ở trẻ nhẹ
cân rất thấp, nhiều nghiên cứu để làm rõ liều lượng, hiệu quả của
chủng probiotic là cần thiết. Ví dụ, một hệ thống tổng quan của ba
cuộc thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT) đánh giá Bifidobacterium
animalis CNCM I-3446 trong 293 trẻ sinh non thì báo cáo chỉ có một xu
hướng ngăn ngừa NEC, cho thấy chế độ điều trị này có thể không có
24
hiệu quả. Những người xem xét có đủ bằng chứng sẵn có để hỗ trợ một
sự thay đổi trong thực tế. Quan điểm này được dựa trên việc điều trị
cho NEC và sức mạnh của dấu hiệu bằng chứng cho thấy probiotics có
thể ngăn chặn bệnh NEC nghiêm trọng và mọi nguyên nhân tử vong ở
trẻ sơ sinh, sinh non.
9.6 An toàn của probiotics
Probiotics thường được định nghĩa là các vi sinh vật, khi tiêu thụ,
thường mang lại lợi ích sức khỏe cho con người. Có sự quan tâm đáng
kể trong chế phẩm sinh học cho một loạt các điều kiện y tế, và hàng
triệu người trên thế giới tiêu thụ probiotics hàng ngày cho lợi ích sức
khỏe được nhận thức. Lactobacilli, Bifidobacteria và Lactococci đã được
coi là an toàn.
Sự an toàn của probiotics được hỗ trợ bởi thực tế rằng nhiều chủng,
loài có một lịch sử lâu dài, an toàn và hơn thế nữa là chúng hội sinh
trên con người. Tuy nhiên, tác dụng phụ đã được báo cáo, bao gồm hệ
thống bị nhiễm trùng cực kỳ hiếm. Có một số mối quan tâm về mặt lý
thuyết liên quan đến sự an toàn probiotics do nguy cơ nhiễm khuẩn
huyết hoặc viêm nội tâm mạc ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch có tổn
hại, do tác dụng độc hại hay chuyển hóa ở đường tiêu hóa và chống
kháng sinh ở các vi sinh vật khác. Để thiết lập các nguyên tắc an toàn
cho các sinh vật probiotic, FAO và WHO khuyến cáo đặc tính của các
chủng probiotic với một loạt các xét nghiệm, bao gồm cả mô hình
chống kháng sinh, các hoạt động trao đổi chất, sản xuất độc tố, hoạt
động tán huyết, nhiễm trong các mô hình động vật suy giảm miễn
dịch, tác dụng phụ ở người, và sự cố bất lợi trong người tiêu dùng
(FAO/WHO, 2002).
Hempel đã đưa ra danh mục những gì được biết về sự can thiệp an
toàn có chứa sinh vật từ sáu chi khác nhau được sử dụng như tác nhân
vi sinh (Lactobacillus, Bifidobacterium, Saccharomyces, Streptococcus,
Enterococcus, và Bacillus), một mình hoặc kết hợp, sử dụng để làm
giảm nguy cơ, ngăn chặn, hoặc điều trị bệnh trong nghiên cứu. 622
nghiên cứu với 24 615 người tham gia tham gia một sản phẩm
probiotic đã đạt được trong tổng quan. 235 nghiên cứu đã chỉ ra báo
25
cáo an toàn không cụ thể, ví dụ "Sự can thiệp được dung nạp tốt" mà
không chỉ ra những loại tác dụng phụ được theo dõi. Các nghiên cứu
còn lại 387 báo cáo sự hiện diện hay vắng mặt của một hay nhiều tác
dụng phụ. Các tác dụng thường gặp nhất là các chất tiêu hóa, tiếp theo
là nhiễm trùng và nhiễm kí sinh kết hợp với các sinh vật probiotic.
Nghiên cứu cho thấy không có dấu hiệu cho thấy người tham gia sử
dụng các sinh vật probiotic bị bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, hoặc
các bất lợi khác. Hơn nữa, cũng không có nguy cơ gia tăng về mặt
thống kê các việc bất lợi trong những người tham gia có sức khỏe bị
tổn hại vừa và bệnh nặng so với những người tham gia nhóm kiểm soát
với đặc điểm bệnh nhân tương tự. Tuy nhiên, các trường hợp nghiên
cứu thường xuyên nhất báo cáo tác dụng phụ nghiêm trọng có khả
năng gây ra bởi sinh vật probiotic cho sức khỏe bị tổn thương, sức khỏe
yếu của những người tham gia. Các tác giả kết luận rằng nghiên cứu
đánh giá probiotic và báo cáo có hệ thống về các tác dụng phụ, nhưng
bằng chứng có được không chỉ ra một nguy cơ gia tăng nào.
Mặc dù tăng sử dụng probiotic nhưng tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết do
chủng probiotic vẫn rất thấp. Tuy nhiên, có những bệnh nhân, mà đối
với họ tình trạng bệnh phải được đảm bảo, chẳng hạn như trẻ sinh non,
bệnh nhân cao tuổi, người suy giảm miễn dịch bị tổn hại, những người
mắc hội chứng ruột ngắn, những người có ống thông tĩnh mạch, và
những người có bệnh van tim.
9.7 Kết luận và xu hướng tương lai
Nhận thấy rằng vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột trong dinh
dưỡng, sức khỏe, và bệnh đã tăng lên đáng kể. Công nghệ phát triển
gần đây đã được sử dụng để khám phá những cấu hình phiên mã và sự
khác biệt gen của một loạt vi sinh vật, cho phép có sự hiểu biết tốt hơn
về thành phần và hoạt động của vi sinh trong ruột. Việc lựa chọn thích
hợp các chủng probiotic là cơ sở để phát triển hơn nữa các chất bổ
sung vào các sản phẩm thực phẩm, cũng như lập kế hoạch thử nghiệm
lâm sàng trong tương lai.
Bất cứ nơi nào vi khuẩn phát triển mạnh, vật ăn vi khuẩn cũng tồn
tại và chắc chắn chúng ảnh hưởng đến hệ ruột của con người. Trong