BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MÔN HỌC:
TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1
Tên đề tài: Phân tích những vấn đề liên quan đến trái phiếu của doanh
nghiệp tại Việt Nam.
Lớp tín chỉ: Tài chính Doanh nghiệp 1 (115)_7
Thành viên nhóm 05:
1) Nguyễn Ngọc Hòa
(MSV: 11131466)
2) Nguyễn Cảnh Hiếu
(MSV: 11131368)
3) Nguyễn Thị Thu Hồng
(MSV: 11131571)
4) Dương Thị Bảo Khanh
(MSV: 11131948)
5) Nguyễn Văn Khoa
(MSV: 11142147)
6) Nguyễn Khánh Linh
(MSV: 11132172)
Hà Nội – 2015
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Số thứ tự
Ảnh 1
Tiêu đề bảng biểu
Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp một số nước ASEAN
(Nguồn: TS. Bùi Quang Tín - Trí thức trẻ)
Ảnh 2
Quy mô thị trường trái phiếu các nước trong khu vực theo GDP
Ảnh 3
Kỳ hạn trái phiếu chính phủ Việt Nam theo năm (Nguồn ADB)
Ảnh 4
Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam theo GDP (Nguồn: ADB)
Ảnh 5
Quy mô phát hành thị trường trái phiếu Việt Nam (triệu đô la Mỹ)
2
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG BIỂU .................................................................................................. 02
MỤC LỤC .............................................................................................................................. 03
1. Các loại trái phiếu doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam ................................................. 04
1.1 Tổng quan chung về trái phiếu doanh nghiệp .............................................................. 04
1.1.1 Khái niệm ........................................................................................................... 04
1.1.2 Đặc điểm chung .................................................................................................. 04
1.2 Trái phiếu chuyển đổi ................................................................................................... 05
1.2.1 Khái niệm & đặc điểm chung ............................................................................. 05
1.2.2 Ưu & nhược điểm ............................................................................................... 06
1.3 Trái phiếu không chuyển đổi ........................................................................................ 07
1.3.1 Khái niệm & đặc điểm chung ............................................................................. 07
1.3.1 Ưu & nhược điểm ............................................................................................... 07
2. Quy định của Nhà nước liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp .................................. 09
2.1 Quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp .......................................................... 09
2.1.1 Quy định chung................................................................................................... 09
2.1.2 Đối với phát hành trái phiếu ở thị trường trong nước ......................................... 09
2.1.3 Đối với phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế.............................................. 11
2.2 Quy định về niêm yết, giao dịch & xếp hạng tín nhiệm trái phiếu doanh nghiệp ........ 12
2.2.1 Quy định về niêm yết trái phiếu doanh nghiệp ................................................... 12
2.2.2 Quy định về giao dịch trái phiếu doanh nghiệp .................................................. 12
2.2.3 Quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm ............................................................ 13
3. Tình hình thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay............................... 18
3.1 Đánh giá về thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam ....................................... 18
3.1.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 .................................. 18
3.1.2 Các hạn chế của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.......................... 19
3.2 Nguyên nhân kìm hãm sự phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam . 23
3.2.1 Nguyên nhân xuất phát từ Nhà nước .................................................................. 23
3.2.2 Nguyên nhân xuất phát từ các doanh nghiệp ...................................................... 24
3.2.3 Nguyên nhân xuất phát từ các nhà đầu tư ........................................................... 26
3.2.4 Nguyên nhân xuất phát từ thị trường .................................................................. 26
3.3 Các kiến nghị và giải pháp cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay ....................................................................................................................... 27
3.3.1 Các kiến nghị và giải pháp trong ngắn hạn ......................................................... 27
3.3.2 Các kiến nghị và giải pháp trong dài hạn ........................................................... 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 30
3
1. Các loại trái phiếu doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam
1.1 Tổng quan chung về trái phiếu doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa
vụ trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu.
Ở đây, người phát hành chính là doanh nghiệp; người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá
nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường
hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh). Trái chủ là người
cho doanh nghiệp vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định
trong hợp đồng vay.
1.1.2 Đặc điểm chung
a) Một trái phiếu thông thường có các đặc trưng chính sau
-
Mệnh giá: Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị
ghi trên trái phiếu. Giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định
số lợi tức tiền vay mà doanh nghiệp phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền doanh nghiệp phải
hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
-
Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc do doanh
nghiệp công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm
so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
-
Thời hạn: Thời hạn của trái phiếu là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người
phát hành hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời
gian từ 1 năm đến 5 năm. Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở lên.
-
Kỳ trả lãi: Kỳ trả lãi là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái
phiếu. Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất trái phiếu
thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
-
Giá phát hành: Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành.
Thông thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Tùy theo
tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp.
Có thể phân biệt 3 trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới
mệnh giá (giá chiết khấu) và giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng). Tuy nhiên cần chú ý
rằng, dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì lợi tức
luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có trái phiếu sẽ được
thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu.
b) Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư
4
Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy,
trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền
đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham
gia vào những vấn đề của bên phát hành.
c) Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố sau
-
Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu
kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của
chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
-
Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của
lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao.
-
Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn
chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
d) Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu
Do thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết quả sản
xuất kinh doanh của công ty. Và cũng vì trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị
giải thể hoặc phá sản thì trước hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu
trước, sau đó mới chia cho các Cổ đông. Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và
chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu. Do đó, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa
chuộng.
1.2 Trái phiếu chuyển đổi
1.2.1 Khái niệm & đặc điểm chung
a) Khái niệm
Đây là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ nó có quyền đổi trái phiếu lấy một số cổ phiếu
phổ thông nhất định của công ty phát hành sau một khoảng thời gian đã được xác định trước
tính từ thời điểm phát hành trái phiếu. Tùy theo lựa chọn của mình người đầu tư có thể quyết
định có thể thực hiện điều khoản chuyển đổi này hay không, hay nói cách khác là có chuyển từ
tư cách chủ nợ thành tư cách chủ sở hữu của công ty đó hay không. Thông thường, việc chuyển
đổi chỉ diễn ra khi công ty có kết quả kinh doanh cũng như triển vọng kinh doanh tốt và cổ
phiếu tăng giá hoặc có tiềm năng tăng giá mạnh trên thị trường.
b) Đặc điểm chung
-
Trái phiếu chuyển đổi cũng giống trái phiếu thường, tức là cũng được thanh toán tiền
lãi với một lãi suất cố định và sẽ được mua lại với giá bằng mệnh giá vào lúc đáo hạn. Theo
nguyên tắc thì thu nhập từ lãi suất trái phiếu thường cao hơn và chắc chắn hơn thu nhập từ cổ
tức trên cổ phiếu thường.
5
-
Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền ưu tiên hơn các cổ đông nắm giữ cổ
phiếu thường khi công ty phá sản và bị thanh lý.
1.2.2 Ưu & nhược điểm
a) Đối với công ty phát hành
*Ưu điểm:
-
Chi phí phát hành và lãi suất phải trả thấp hơn so với phát hành trái phiếu thông thường
cũng như so với lãi suất ngân hàng và điều này đồng nghĩa với việc giảm rủi ro đối với tổ chức
phát hành.
-
Tăng vốn cổ phần trong tương lai khi chuyển từ trái phiếu nợ thành vốn cổ phần.
-
Giá cổ phiếu thường không bị sụt giảm do tránh được tình trạng tăng số lượng cổ phiếu
một cách nhanh chóng trên thị trường.
-
Trước khi trái phiếu được chuyển đổi sẽ không làm giảm thu nhập của các cổ đông hiện
hữu so với phát hành cổ phiếu.
-
Dễ dàng hơn trong việc huy động vốn do tính hấp dẫn của việc có thể chuyển đổi từ trái
phiếu sang cổ phiếu.
*Nhược điểm:
-
Do cổ đông thường tham gia vào việc quản lý công ty nên khi chuyển đổi có thể gây ra
một sự thay đổi trong việc kiểm soát công ty.
-
Khi trái phiếu được chuyển đổi, vốn chủ sở hữu bị "pha loãng" do tăng số cổ phiếu lưu
hành nên mỗi cổ phần khi đó đại diện cho một tỷ lệ thấp hơn của quyền sở hữu trong công ty.
-
Kết quả chuyển đổi sẽ làm giảm chi phí trả lãi, tức là làm tăng thu nhập chịu thuế của
công ty. Do đó, công ty phải trả thuế nhiều hơn khi chuyển đổi.
b) Đối với nhà đầu tư
*Ưu điểm:
-
Trái phiếu chuyển đổi cũng giống trái phiếu thường, tức là cũng được thanh toán tiền
lãi với một lãi suất cố định và sẽ được mua lại với giá bằng mệnh giá vào lúc đáo hạn. Thu nhập
từ lãi suất trái phiếu thường cao hơn và chắc chắn hơn thu nhập từ cổ tức trên cổ phiếu.
-
Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền ưu tiên hơn các cổ đông nắm giữ cổ
phiếu khi công ty phá sản và bị thanh lý.
-
Giá thị trường của trái phiếu chuyển đổi có chiều hướng ổn định hơn giá cổ phiếu trong
thời kỳ thị trường sa sút. Giá trị của trái phiếu chuyển đổi trên thị trường sẽ được hỗ trợ bởi các
lãi suất hiện hành của những trái phiếu cạnh tranh khác.
-
Vì trái phiếu chuyển đổi có thể được chuyển thành cổ phiếu nên giá trị thị trường của
chúng sẽ có chiều hướng tăng nếu giá cổ phiếu tăng.
6
-
Nhà đầu tư có quyền lựa chọn. Họ sẽ không bị lỗ nặng khi giá cổ phiếu sụt giảm xuống
dưới giá chuyển đổi (họ sẽ không thực hiện quyền chuyển đổi) mà vẫn có lợi khi giá cổ phiếu
tăng mạnh (họ sẽ thực hiện quyền chuyển đổi rồi bán cổ phiếu sau khi chuyển đổi).
*Nhược điểm:
-
Nhà đầu tư được hưởng mức lãi suất thấp hơn so với các loại trái phiếu khác.
-
Thời gian chuyển đổi thường dài nên tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro.
-
Nếu công ty phải ngưng hoạt động bởi những tình huống như sáp nhập, hợp nhất hay
giải thể thì những người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi sẽ bị mất đặc quyền chuyển đổi.
1.3 Trái phiếu không chuyển đổi
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm chung
a) Khái niệm
Trái phiếu không chuyển đổi là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái
phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền;
b) Đặc điểm chung
-
Đối tượng phát hành trái phiếu không chuyển đổi gồm có: Doanh nghiệp nhà nước;
Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam.
-
Nguyên tắc phát hành trái phiếu không chuyển đổi: Công khai mục đích sử dụng nguồn
thu từ phát hành trái phiếu; Tổng mức phát hành không vượt hạn mức phát hành được duyệt.
-
Bảo đảm thanh toán cho trái phiếu không chuyển đổi: Trái phiếu không chuyển đổi có
thể là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm.
-
Chứng quyền phát hành kèm theo trái phiếu không chuyển đổi: Chỉ có các công ty cổ
phần mới được phát hành chứng quyền kèm theo trái phiếu không có khả năng chuyển đổi.
1.3.2 Ưu & nhược điểm
a) Đối với công ty phát hành
*Ưu điểm:
-
Do đây là trái phiếu không chuyển đổi nên việc phát hành không có nguy cơ gây ra một
sự thay đổi trong việc kiểm soát công ty.
-
Khi phát hành trái phiếu không chuyển đổi, vốn chủ sở hữu không bị "pha loãng" do
tăng số cổ phiếu lưu hành nên mỗi cổ phần khi đó vẫn đại diện cho một tỷ lệ cao hơn của quyền
sở hữu trong công ty.
-
Trái phiếu không chuyển đổi sẽ làm tăng chi phí trả lãi, tức là làm giảm thu nhập chịu
thuế của công ty. Do đó, công ty phải trả thuế ít hơn khi không chuyển đổi.
*Nhược điểm:
7
-
Chi phí phát hành và lãi suất phải trả cao hơn so với phát hành trái phiếu không chuyển
đổi cũng như so với lãi suất ngân hàng và điều này đồng nghĩa với việc tăng rủi ro đối với tổ
chức phát hành.
-
Phải cạnh tranh về lãi suất trong việc huy động vốn với các doanh nghiệp, tổ chức khác
do trái phiếu không chuyển đổi thường ít có những ưu thế khác so với trái phiếu chuyển đổi.
b) Đối với nhà đầu tư
*Ưu điểm:
-
Nhà đầu tư được hưởng mức lãi suất cao hơn so với các loại trái phiếu khác.
-
Nếu công ty phải ngưng hoạt động bởi những tình huống như sáp nhập, hợp nhất hay
giải thể thì những người nắm giữ trái phiếu không chuyển đổi sẽ ít có nguy cơ mất mát tài sản
hơn so với người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi.
-
Trái phiếu không chuyển đổi được thanh toán tiền lãi với một lãi suất cố định và sẽ được
mua lại với giá bằng mệnh giá vào lúc đáo hạn. Thu nhập từ lãi suất trái phiếu thường cao hơn
và chắc chắn hơn thu nhập từ cổ tức trên cổ phiếu.
*Nhược điểm:
-
Người nắm giữ trái phiếu không chuyển đổi không được quyền can dự vào việc kiểm
soát và ra quyết định của công ty phát hành.
-
Giá trị thực của trái phiếu không chuyển đổi bị ảnh hưởng mạnh do các tác động của lãi
suất; thêm vào đó, việc nắm giữ trái phiếu trong một thời gian dài có thể gây ra nhiều rủi ro
không lường trước được cho các nhà đầu tư.
8
2. Quy định của Nhà nước liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp
2.1 Quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
2.1.1 Quy định chung
Theo Nghị định 90/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, mục đích phát hành
trái phiếu nhằm thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp; tăng quy mô vốn
hoạt động và cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp.
a) Nguyên tắc phát hành trái phiếu
-
Danh mục phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về
hiệu quả sử dụng vốn.
Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, bảo
-
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư.
Việc phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ phải đảm bảo nguyên tắc không phát hành
-
trái phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt Nam.
Đối với phát hành trái phiếu để đầu tư cho các chương trình, dự án, doanh nghiệp phát
-
hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là hai mươi phần trăm (20%) trong
tổng mức đầu tư của chương trình, dự án.
Đối với trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, ngoài việc
-
tuân thủ quy định của Nghị định này còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về vay và trả nợ
nước ngoài.
b) Kỳ hạn trái phiếu
-
Trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn từ một (01) năm trở lên.
-
Doanh nghiệp phát hành quyết định kỳ hạn trái phiếu trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn
và công bố tại phương án phát hành.
c) Đồng tiền phát hành và thanh toán trái phiếu
Đối với trái phiếu phát hành tại thị trường trong nước, đồng tiền phát hành là đồng Việt
Nam.
-
Đối với trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế, đồng tiền phát hành là ngoại tệ tự do
chuyển đổi.
-
Đồng tiền sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu cùng loại với đồng tiền phát hành.
d) Chuyển nhượng trái phiếu
-
Trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền phát hành kèm theo trái phiếu không được chuyển
nhượng trong tối thiểu một (01) năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường hợp
chuyển nhượng cho hoặc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
2.1.2 Quy định về phát hành trái phiếu ở thị trường trong nước
a) Mệnh giá trái phiếu
9
Mệnh giá tối thiểu của trái phiếu là một trăm nghìn (100.000) đồng, các mệnh giá khác
-
là bội số của một trăm nghìn (100.000) đồng.
b) Đối tượng mua trái phiếu
Đối tượng mua trái phiếu là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước
ngoài.
-
Tổ chức của Việt Nam không được sử dụng kinh phí của ngân sách nhà nước để mua
trái phiếu.
c) Quyền lợi của chủ sở hữu trái phiếu
-
Được doanh nghiệp phát hành bảo đảm thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi trái phiếu
khi đến hạn và đảm bảo việc thực hiện các quyền kèm theo (nếu có).
-
Được dùng trái phiếu để chuyển nhượng, cho, tặng, để lại thừa kế, chiết khấu, và cầm
cố trong các quan hệ dân sự và quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành.
d) Lãi suất danh nghĩa trái phiếu
-
Lãi suất danh nghĩa trái phiếu có thể xác định theo một trong các phương thức sau:
+ Cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu;
+ Thả nổi theo lãi suất thị trường;
+ Kết hợp giữa lãi suất cố định và thả nổi.
e) Điều kiện phát hành trái phiếu
-
Đối với trái phiếu không chuyển đổi
+ Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanh
nghiệp chính thức đi vào hoạt động;
+ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có
lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm
toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;
+ Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn trong
hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp luật chuyên
ngành;
+ Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấp
thuận.
-
Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, doanh
nghiệp phát hành còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng
quyền;
+ Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo
quy định của pháp luật hiện hành;
10
+ Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng.
f) Phương thức phát hành trái phiếu
-
Trái phiếu được phát hành thông qua các phương thức sau:
+ Đấu thầu phát hành trái phiếu;
+ Bảo lãnh phát hành trái phiếu;
+ Đại lý phát hành trái phiếu;
+ Bán trực tiếp cho nhà đầu tư trái phiếu (đối với doanh nghiệp phát hành là tổ chức tín
dụng).
2.1.3 Quy định về phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế
Quy định về phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế có phần phức tạp hơn khi phát hành trong
nước. Điều này dễ hiểu bởi môi trường quốc tế yêu cầu các doanh nghiệp phải đáp ứng được
các chuẩn mực quốc tế cao hơn so với chuẩn mực trong nước.
a) Điều kiện phát hành trái phiếu
-
Đối với trái phiếu không chuyển đổi
+ Doanh nghiệp phát hành có thời gian hoạt động tối thiểu là 3 năm kể từ ngày chính
thức đi vào hoạt động;
+ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của 3 năm liên tiếp liền kề trước năm phát
hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc
tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp ở Việt Nam;
+ Trị giá phát hành trái phiếu quốc tế phải được Ngân hàng Nhà nước xác nhận thuộc
tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt;
+ Đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế về hệ số tín nhiệm để phát hành trái phiếu.
Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo có hệ số tín nhiệm tối thiểu bằng hệ
số tín nhiệm quốc gia.
-
Đối với trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền, doanh nghiệp phát
hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền ngoài việc đáp ứng các điều
kiện quy định khi phát hành trong nước còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng
quyền;
+ Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo
quy định của pháp luật hiện hành;
+ Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng.
b) Phương án phát hành trái phiếu và thẩm quyền phê duyệt
Phương án phát hành trái phiếu thêm các nội dung sau:
11
-
Dự kiến đồng tiền phát hành và thanh toán trái phiếu;
-
Dự kiến thị trường phát hành, phân tích về điều kiện thị trường phát hành và việc đáp
ứng các điều kiện của thị trường phát hành;
-
Dự kiến lựa chọn nhà bảo lãnh phát hành, tư vấn pháp lý, các đại lý liên quan;
-
Kế hoạch bố trí nguồn vốn, phương thức thanh toán gốc, lãi, và xử lý các rủi ro tài chính.
2.2 Quy định niêm yết, giao dịch và xếp hạng tín nhiệm trái phiếu doanh
nghiệp
Hiện nay, các khung pháp lý dành riêng cho việc giao dịch trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam
vẫn chưa hoàn thiện. Các nghị định, thông tư hiện tại chỉ nêu các quy định dành riêng cho trái
phiếu chính phủ Việt Nam, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh và trái phiếu của các chính quyền
địa phương. Do đó, các quy định liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp nêu dưới đây dựa trên
việc thu thập các điều khoản liên quan được quy định trong các nghị định, thông tư chung dành
cho chứng khoán có nói đến trái phiếu.
2.2.1 Quy định về niêm yết trái phiếu doanh nghiệp
Theo Nghị định của Chính phủ 144/2003/NĐ-CP Về chứng khoán và thị trường chứng
khoán:
a) Nguyên tắc niêm yết
1. Tổ chức có chứng khoán phát hành ra công chúng muốn niêm yết chứng khoán phải được ủy
ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép.
2. Mỗi loại chứng khoán chỉ được niêm yết tại một Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.
3. Việc niêm yết cụ thể tại các Trung tâm Giao dịch Chứng khoán do ủy ban Chứng khoán Nhà
nước đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
b) Điều kiện niêm yết trái phiếu
1. Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có vốn điều lệ đã
góp tại thời điểm xin phép niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên.
2. Hoạt động kinh doanh có lãi 02 năm liên tục liền trước năm xin phép niêm yết và có tình
hình tài chính lành mạnh.
3. Có ít nhất 50 người sở hữu trái phiếu.
2.2.2 Quy định về giao dịch trái phiếu doanh nghiệp
Cũng theo Nghị định của Chính phủ 144/2003/NĐ-CP Về chứng khoán và thị trường
chứng khoán:
a) Phương thức giao dịch
1. Chứng khoán niêm yết phải được giao dịch qua hệ thống giao dịch tại Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán theo phương thức khớp lệnh và phương thức thoả
thuận.
12
2. Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về giá
và ưu tiên về thời gian.
3. Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty
chứng khoán là thành viên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán trên
nguyên tắc thoả thuận về giá.
b) Biên độ dao động giá
Biên độ dao động giá giao dịch chứng khoán do Chủ tịch ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết
định.
c) Đối với trái phiếu doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh
Theo Thông tư số: 234/2012/TT-BTC Hướng dẫn quản lý giao dịch trái phiếu chính phủ,
trái phiếu được chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương thì trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh được quy định rõ ràng về việc quản lý giao dịch trái phiếu. Theo
thông tư hướng dẫn, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội tổ chức hai loại hình giao dịch trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh là giao dịch mua bán thông thường và giao dịch mua bán lại.
Giao dịch mua bán thông thường là giao dịch trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
-
trong đó một bên bán và chuyển giao quyền sở hữu trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh cho
một bên khác và không kèm theo cam kết mua lại trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
Giao dịch mua bán lại là giao dịch trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh trong đó một
-
bên bán và chuyển giao quyền sở hữu trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh cho một bên khác,
đồng thời cam kết sẽ mua lại và nhận lại quyền sở hữu trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đó
sau một thời gian xác định với một mức giá xác định. Giao dịch mua bán lại bao gồm Giao dịch
bán (Giao dịch lần 1) và Giao dịch mua lại (Giao dịch lần 2). Trong giao dịch mua bán lại, bên
Bán được hiểu là bên bán trong Giao dịch lần 1, bên Mua được hiểu là bên mua trong Giao dịch
lần 1.
Cả giao dịch mua bán thông thường và giao dịch mua bán lại đều được thực hiện theo hai hình
thức Thỏa thuận điện tử và Thỏa thuận thông thường.
-
Thỏa thuận điện tử là hình thức giao dịch trong đó các lệnh giao dịch được chào với
cam kết chắc chắn và thực hiện ngay khi có đối tác lựa chọn mà không cần có sự xác nhận lại.
-
Thỏa thuận thông thường là hình thức giao dịch trong đó các bên tự thỏa thuận với
nhau bằng công cụ gửi tin nhắn trên hệ thống giao dịch hoặc bằng các phương tiện liên lạc
ngoài hệ thống về các điều kiện giao dịch và báo cáo kết quả vào hệ thống giao dịch để xác lập
giao dịch.
2.2.3 Quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm
a) Vai trò của dịch vụ xếp hạng tín nhiệm
13
Theo Nghị định 88/2014/NĐ-CP, từ ngày 15-11-2014, Bộ Tài chính sẽ nhận hồ sơ xin thành
lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm (Credit rating agency - CRA) “nội”. Sự ra đời của
CRA sẽ đánh dấu bước đi mới trên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh
nghiệp.
Hoạt động của các CRA đã quá bình thường trên thế giới, nhưng nó còn xa lạ với thị trường
Việt Nam, nơi mà nhiều loại trái phiếu được phát hành chưa được đánh giá bởi một tổ chức xếp
hạng tín nhiệm độc lập và điều này kéo lùi thị trường trái phiếu cách xa mấy chục năm so với
các nước. Tới đây, tổ chức, doanh nghiệp nào muốn phát hành công cụ nợ thì điều kiện bắt buộc
là phải có kết quả đánh giá tín nhiệm của một hoặc hơn một CRA.
Theo Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE), bà Trần Anh Đào, bình
luận rằng: “CRA đưa ra mức tín nhiệm đối với sản phẩm trên thị trường chứng khoán, đặc biệt
là trái phiếu (doanh nghiệp) mà hiện nay trái phiếu gần như không có xếp hạng tín nhiệm, chủ
yếu phát hành cho ngân hàng để đảo nợ. Một khung pháp lý chính thức cho CRA là cú hích lớn
cho thị trường tài chính, chứng khoán thời gian tới và là điều kiện tiền đề để thị trường này phát
triển”.
b) Đánh giá các doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm lớn trong khu vực ASEAN
Theo kinh nghiệm của một số nước, thị trường trái phiếu ngoài vai trò là nguồn cấp vốn quan
trọng của các doanh nghiệp, còn là nơi cung cấp một loại tài sản quan trọng đối với các nhà đầu
tư dài hạn. Các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm dựa vào những tài sản có kỳ hạn dài để cố định
mức lợi tức cần thiết, nhằm bảo đảm các sản phẩm tiết kiệm cho khách hàng của họ. Tuy nhiên,
để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, Việt Nam cần thành lập các công ty định mức
tín nhiệm để đưa ra định mức tín nhiệm cho các đơn vị phát hành trái phiếu nhằm giúp các
doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn và cung cấp các sản phẩm tiết kiệm hưu trí hiệu quả
cho khách hàng. Khi nhìn sang các nước láng giềng trong khu vực ASEAN như Malaysia, Thái
Lan và Indonesia, thị trường trái phiếu nội tệ của họ đều phát triển mạnh mẽ.
Ảnh 1: Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp một số nước ASEAN (Nguồn: TS. Bùi Quang
Tín - Trí thức trẻ)
14
Tổng giá trị trái phiếu phát hành năm 2013 tại các nước này lần lượt đạt 28 tỷ USD, 17 tỷ USD
và 9 tỷ USD tương ứng, so với 0,9 tỷ USD tại Việt Nam. Thị trường trái phiếu đã và đang là
nguồn cung vốn chủ chốt và do đó là động lực chính cho phát triển kinh tế tại những nước này.
Vậy tại sao thị trường trái phiếu tại các nước láng giềng trong khối ASEAN lại phát triển hơn
Việt Nam? Lý do chính nằm ở việc Việt Nam không có cơ quan xếp hạng nào được công nhận
rộng rãi. Trong khi đó, Malaysia có hai công ty Rating Agency Malaysia (RAM) và Malaysian
Ratings Company (MARC); Indonesia có Pefindo, còn tại Thái Lan là TRIS.
Malaysian
Ratings
Công ty xếp
RAM Holdings
Corporation
hạng tín
(Malaysia)
Berhad
nhiệm TRIS
(MARC)
(Thái Lan)
PT. PEFINDO (Indonesia)
(Malaysia)
Thời
gian
thành
11/1990
1995
1993
21/12/1993
- Cổ đông của công
- Cổ đông chủ
- Vào tháng
- Đến năm 2014 được 86 tổ
ty này bao gồm các
yếu của công ty
11/2011, Tổ
chức trong nước sở hữu, bao
tổ chức tài chính
này là các công
chức đánh giá
gồm các quỹ hưu trí lớn, các
trong và ngoài nước.
ty bảo hiểm.
tín nhiệm quốc
ngân hàng, công ty bảo hiểm,
- Trong quá trình
- Công ty cung
tế Standard &
Sàn chứng khoán Indonesia
hoạt động, RAM đã
cấp đầy đủ các
Poor’s đã mua
(IDX) và các công ty chứng
giúp huy động tổng
dịch vụ xếp hạng
5% vốn sở hữu
khoán.
cộng 270 tỷ USD
từ thương phiếu,
của TRIS, từ
- Để cải thiện các phương
trái phiếu và sukuk
trái phiếu, cổ
đó càng làm
pháp đánh giá và tiêu chí
(trái phiếu Hồi giáo)
phiếu ưu đãi đến
tăng uy tín của
cũng như quá trình đánh giá,
phục vụ phát triển
cổ phiếu có tài
TRIS.
PEFINDO nhận được sự hỗ
hạ tầng và doanh
sản đảm bảo.
lập
Đặc
điểm
&
Thành
tựu
trợ từ đối tác nước ngoài
nghiệp ở Malaysia
Standard & Poor’s.
và 11 quốc gia khác.
- Chức năng chính của
PEFINDO là cung cấp xếp
hạng khách quan, độc lập và
đáng tin cậy về mức độ rủi ro
tín dụng của chứng khoán nợ
được phát hành ra công
chúng.
15
Do những công ty đánh giá tín nhiệm nhận được sự ủng hộ của chính phủ và liên kết chặt chẽ
với các đối tác nước ngoài, họ có thể đưa ra định mức tín nhiệm cho các đơn vị phát hành trên
thị trường trái phiếu doanh nghiệp bằng đồng nội tệ. Mức độ tín nhiệm trở thành một công cụ
hữu hiệu giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn và cung cấp các sản phẩm tiết kiệm
hưu trí, mà cả hai lợi ích này đều sẽ được đánh giá cao tại Việt Nam.
Như vậy, việc Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) - gồm 54 thành viên là ngân
hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty quản lý quỹ, công ty tài chính, công ty
luật và công ty kiểm toán - đang có kế hoạch lập công ty xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam thực
sự sẽ là một cú hích đáng chờ đợi của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
c) Một số quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam
Theo Nghị định 88/2014/NĐ-CP Quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
*Loại hình doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm
Các loại hình doanh nghiệp sau đây được kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín nhiệm sau khi được
cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định tại Nghị định này:
a) Công ty trách nhiệm hữu hạn;
b) Công ty cổ phần;
c) Công ty hợp danh.
*Quy trình hoạt động xếp hạng tín nhiệm
Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải xây dựng quy trình hoạt động xếp hạng tín nhiệm bao
gồm các bước cơ bản sau:
a) Đàm phán và ký hợp đồng xếp hạng tín nhiệm với tổ chức được xếp hạng tín nhiệm;
b) Lựa chọn và phân công nhiệm vụ chuyên viên phân tích tham gia vào hợp đồng xếp hạng tín
nhiệm;
c) Thành lập Hội đồng xếp hạng tín nhiệm để thực hiện hợp đồng xếp hạng tín nhiệm;
d) Thu thập thông tin, phân tích, nhận định, xếp hạng về khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn
nghĩa vụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm;
đ) Thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm;
e) Công bố báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm;
g) Theo dõi, cập nhật, đánh giá định kỳ báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm theo quy định tại
hợp đồng xếp hạng tín nhiệm cho đến khi hợp đồng xếp hạng tín nhiệm kết thúc;
h) Kết thúc hợp đồng xếp hạng tín nhiệm.
*Phương pháp xếp hạng tín nhiệm
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm phải bao gồm cả phương pháp đánh giá định lượng và phương
pháp đánh giá định tính. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm phải đánh giá được các yếu tố rủi ro
16
cơ bản và mức độ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của tổ chức
được xếp hạng tín nhiệm, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
a) Rủi ro vĩ mô;
b) Rủi ro thị trường và môi trường kinh doanh;
c) Rủi ro chiến lược;
d) Rủi ro quản trị;
đ) Rủi ro nhân sự;
e) Rủi ro tài chính;
g) Rủi ro khác theo đánh giá của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
*Bộ quy tắc chuẩn mực đạo đức
Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải ban hành và áp dụng bộ quy tắc chuẩn mực đạo đức
theo chuẩn mực của Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO) và công bố trên trang thông tin điện
tử của doanh nghiệp.
17
3. Tình hình thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
3.1 Đánh giá về thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam
3.1.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2014
Theo thống kê của Vụ Tài chính Ngân hàng (Bộ Tài chính) tại buổi họp tổng kết năm, trong
năm 2014, trái phiếu chính phủ được phát hành lên đến 248.024 tỷ đồng, tăng 37% so với năm
2013 và tương đương 6,24% GDP. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp (tính riêng khối lượng
phát hành riêng lẻ) chỉ đạt 22.922 tỷ đồng, giảm 33,4% so với năm 2013 và chỉ tương đương
chưa tới 1% GDP.
Dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với GDP là 2,5%, trong khi dư nợ của trái phiếu
chính phủ so với GDP là 12,84%. Như vậy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn rất khiêm
tốn, nếu không muốn nói là bị “lãng quên” so với thị trường trái phiếu chính phủ.
*So với năm 2013, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trong năm qua có một số đặc
điểm khác biệt như sau:
-
Thứ nhất, thành phần phát hành đa dạng hơn, trong đó có nhiều gương mặt mới niêm
yết (KBC, VNE, BLF, MSN, NVT, HVG, NBB, NLG, KSS, DIC, FLC...). Ngoài ra, nhiều
doanh nghiệp niêm yết quy mô nhỏ khác cũng đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu, nhưng chưa
thực hiện thành công trong năm 2014. Trong khi đó, năm 2013, trong danh sách nhà phát hành
có nhiều tập đoàn lớn, như BIDV, Vingroup, IPA, VIPD… với khối lượng phát hành rất lớn.
Có một số doanh nghiệp quy mô lớn phát hành trái phiếu trong cả 2 năm qua, như CII, HAG,
MSN, Vinacomin, VPBank.
-
Thứ hai, về khối lượng phát hành, trái phiếu của nhiều doanh nghiệp niêm yết có quy
mô nhỏ thường ở mức thấp, ở mức từ 50 đến 350 tỷ đồng. Trong khi đó, trong năm 2013, ngoại
trừ một vài doanh nghiệp phát hành từ 7,5 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng, các doanh nghiệp còn lại
đều phát hành trái phiếu với quy mô hàng ngàn tỷ đồng.
-
Thứ ba, xu hướng phát hành trái phiếu chuyển đổi của các doanh nghiệp niêm yết
tăng lên trong năm 2014. Một số thương vụ lớn có thể kể đến như KBC (1.200 tỷ đồng), CII
(1.128 tỷ đồng), NVT (230 tỷ đồng), KSS (100 tỷ đồng), BLF (50 tỷ đồng)... Có một số doanh
nghiệp đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu chuyển đổi nhưng chưa thực hiện được trong năm
2014, như HUT (100 tỷ đồng), TMS (100 tỷ đồng). Hầu hết các thương vụ phát hành trái phiếu
chuyển đổi này đều được thực hiện bằng hình thức phát hành riêng lẻ, với giá chuyển đổi hấp
dẫn có lợi cho người nắm giữ trái phiếu.
-
Mặt bằng lãi suất cho vay (trong các tổ chức tín dụng) giảm 2% so với mức bình quân
năm 2013 và thấp hơn nữa ở các lĩnh vực được ưu tiên (nông nghiệp - nông thôn, xuất khẩu,
doanh nghiệp nhỏ và vừa). Nhìn chung, lợi suất trái phiếu các doanh nghiệp phát hành đã giảm
cùng chiều so với tốc độ giảm của mặt bằng lãi suất, song vẫn cao hơn lãi suất vay ngân hàng.
18
Tuy nhiên, nếu cân nhắc đến chi phí phát hành hợp lý (biến động theo hình thức phát hành và
chi phí tư vấn), sự tiện lợi và nhanh chóng được giải ngân, thì trái phiếu doanh nghiệp vẫn là
kênh gọi vốn thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp.
-
Kỳ hạn phát hành của trái phiếu doanh nghiệp dao động từ 1 đến 10 năm, tập trung ở
các kỳ hạn 3 - 5 năm. Bên mua chủ yếu là các ngân hàng hoặc các nhà đầu tư chiến lược, với
mục địch để đảo nợ.
*So với các nước trong khu vực, thị trường trái phiếu Việt Nam có quy mô rất nhỏ, nên còn
nhiều cơ hội để phát triển. Trong khi Malaysia phát hành trên 40.622 triệu USD trái phiếu doanh
nghiệp trong năm 2012 và giảm dần xuống 29.651 triệu USD năm 2014, thì Việt Nam chỉ ghi
nhận khoảng 196 triệu USD, tăng lên mức kỷ lục năm 2013 với 1.774 triệu USD, nhưng lại
giảm còn 749 triệu USD trong năm 2014.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn rất khiêm tốn do thị trường thứ cấp chưa phát triển,
thông tin chưa được công bố rộng rãi, nên tính thanh khoản ở thị trường sơ cấp bị ảnh hưởng
mạnh. Bên cạnh đó, hiện còn thiếu vắng đơn vị đánh giá tín nhiệm độc lập để xác định mức độ
tín nhiệm của trái phiếu giúp nhà đầu tư quyết định chính xác. Bộ Tài Chính mới chỉ bước đầu
xây dựng chế tài về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm thông qua Nghị định 88/2014/NĐ-CP.
3.1.2 Các hạn chế của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
*Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực
Ảnh 2: Quy mô thị trường trái phiếu các nước trong khu vực theo GDP
Theo dữ liệu của ADB, đến tháng 6/2014, thị trường trái phiếu Việt Nam có tổng số dư chiếm
hơn 21,09% GDP, còn khá khiêm tốn so với 76,32% của thị trường trái phiếu Thái Lan; 101,7%
GDP của thị trường Malaysia; hơn 122% GDP của thị trường trái phiếu Hàn Quốc…
Tuy nhiên, theo đánh giá của ADB, thị trường trái phiếu Việt Nam tràn trề tiềm năng tăng
trưởng. Mà cụ thể, đến năm 2013, thị trường Việt Nam có mức tăng trưởng đáng kinh ngạc,
19
hơn 43% và dẫn đầu về tăng trưởng so các thị trường khác trong khu vực. Nhưng về quy mô và
giá trị giao dịch thì lại thua xa các nước như Thái Lan, Singapore, Philippines,…
Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu Việt Nam gặp không ít những thách thức trong tương lai như:
những thực trạng gặp phải khi vận hành thị trường trái phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hầu như
không phát triển, trái phiếu chính phủ chỉ tập trung phát hành cho nhà đầu tư trong nước, cơ
cấu kỳ hạn của trái phiếu chính phủ thiên về ngắn hạn,…
*Thị trường trái phiếu Việt Nam với nguy cơ rủi ro kỳ hạn
Thị trường trái phiếu Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng thiếu tính bền vững. Không chỉ hiện
hữu thông qua tỷ lệ phát hành phát hành áp đảo của trái phiếu Chính phủ mà còn ở cơ cấu kỳ
hạn bất hợp lý.
Ảnh 3: Kỳ hạn trái phiếu chính phủ Việt Nam theo năm (nguồn ADB)
Thời hạn đáo hạn của phân khúc thị trường trái phiếu chính phủ ngắn lại liên tục sau năm 2004.
Đếncuối năm 2013, trái phiếu ngắn hạn dưới 3 năm chiếm 67,9%, từ 3 – 5 năm chiếm 20,98%,
tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực. Việt Nam hầu như chỉ phát hành được
trái phiếu dưới 5 năm trong khi các nước trong khu vực là hơn 7 năm. Điều này minh chứng
các nhà đầu tư lo ngại tình hình kinh tế trong dài hạn và họ cũng sẽ đòi hỏi mức lãi suất cao
hơn so với các trái phiếu cùng loại ở nhiều nước trong khu vực. Hơn nữa, bảng xếp hạng tín
nhiệm của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín đã đưa ra mức đánh giá triển vọng ổn định
nhưng nếu so với các quốc gia cùng khu vực thì thấp hơn nên Việt Nam phải chịu chi phí sử
dụng vốn cao hơn.
20
Thị trường
Xếp hạng của Fitch
Xếp hạng của S&P
Trung Quốc
A+
AA-
Hàn quốc
AA+
AAA
Nhật Bản
A+
AA-
Malaysia
A-
A-
Singapore
AAA
AAA
Thai Lan
BBB+
BBB+
Philippines
BBB-
BBB
Indonexia
BBB-
BB+
Việt Nam
B+
BB-
*Cơ sở nhà đầu tư ít và chưa có nhà tạo lập thị trường
Một điểm yếu khác của thị trường trái phiếu ở chỗ chưa có hệ thống nhà đầu tư thứ cấp thực
sự. Trong khi có quá nhiều thành viên đấu thầu và thành viên bảo lãnh phát hành (68 thành viên
đấu thầu và 52 thành viên bảo lãnh phát hành). Hiện nay, thành viên tham gia thị trường chủ
yếu gồm các ngân hàng với vai trò là nhà đầu tư chính, tỷ lệ sở hữu chiếm trên 50% với kỳ hạn
trái phiếu nắm giữ đến 5 năm; ngành bảo hiểm thì có khoảng 4 - 5 tổ chức tham gia với trái
phiếu thời hạn khoảng 10 - 15 năm; còn các công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán chưa
mấy mặn mà và chủ yếu nhắm đến trái phiếu có kỳ hạn ngắn. Nhìn vào cơ cấu đó, dễ thấy Việt
Nam chưa có nhà tạo lập thị trường và cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng, chưa thực sự tham gia
tích cực vào thị trường trái phiếu
*Quá ưu tiên phát triển thị trường trái phiếu chính phủ và bỏ ngỏ thị trường trái phiếu
doanh nghiệp
Tỷ lệ trái phiếu chính phủ chiếm 98,4% trong tổng lượng trái phiếu phát hành (6/2014). Và tỷ
lệ trên luôn được duy trì ở mức cao kể từ khi thị trường trái phiếu chính thức được thành lập
năm 2000. Điều này đồng nghĩa thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang bỏ ngỏ và nhà nước
quá ưu tiên phát triển thị trường trái phiếu chính phủ.
21
Ảnh 4: Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam theo GDP (Nguồn: ADB)
Nhìn vào hình 4 cũng có thể nhận định:
- Thứ nhất, thị trường trái phiếu Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 2003 –
2008. Tính trung bình mỗi tháng trong giai đoạn này, tổng số dư của thị trường tăng xấp xỉ
15%/tháng, nghĩa là tăng bốn lần sau một năm. Và đây cũng là thời kỳ bùng nổ tăng trưởng tín
dụng. Nên một phần lớn nguồn tín dụng ngắn hạn từ trung gian tài chính không ngừng chảy
vào thị trường trái phiếu.
- Thứ hai, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam loay hoay vẫn không tìm được lối ra.
Bằng chứng thông qua giá trị phát hành trái phiếu chỉ lác đác ở vài doanh nghiệp lớn. Do vậy,
hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn ngắn hạn từ Ngân hàng
thương mại. Chính điều này, đã hình thành nên cụm từ “doanh nghiệp thường dùng vốn ngắn
hạn để đầu tư dài hạn”.
- Thứ ba, mọi hoạt động đầu tư của Việt Nam, dường như đang phụ thuộc vào đầu tư công của
Chính phủ. Nhưng nguồn vốn thực chất đến từ nguồn ngắn hạn của ngân hàng và được trung
chuyển sang dài hạn thông qua hoạt động đầu tư trái phiếu chính phủ.Như vậy, nhiều nguốn
vốn ngắn hạn của ngân hàng đang đổ dồn vào thị trường trái phiếu Chính phủ để tìm kiếm lợi
nhuận. Lúc này, rủi ro về kỳ hạn sẽ bao phủ ngân hàng. Bởi hoạt động đầu tư trung và dài hạn
được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn từ huy động của dân cư. Đồng thời, cản trở sự phụ hồi
sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp tư nhân và gánh nặng tăng trưởng kinh tế lại đè
lên vai những hoạt động đầu tư công của Chính phủ.
22
Như vậy, nhiều nguốn vốn ngắn hạn của ngân hàng đang đổ dồn vào thị trường trái phiếu Chính
phủ để tìm kiếm lợi nhuận. Lúc này, rủi ro về kỳ hạn sẽ bao phủ ngân hàng. Bởi hoạt động đầu
tư trung và dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn từ huy động của dân cư. Đồng thời,
cản trở sự phụ hồi sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp tư nhân và gánh nặng tăng
trưởng kinh tế lại đè lên vai những hoạt động đầu tư công của Chính phủ.
*Tóm lại: Tuy thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều bất cập nhưng
vẫn đang đi đúng hướng
Mặc dù, thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhiều thăng trầm với những thực trạng đáng lo
lắng. Tuy nhiên, thị trường đã dần đi đúng hướng và bước vào thời kỳ phát triển về chất lượng.
Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, trong tháng 10, Bộ Tài chính đã chính thức cho dừng phát hành trái phiếu chính
phủ kỳ hạn dưới 3 năm và cơ cấu lại kỳ hạn. Tập trung hướng vào phát hành các kỳ hạn dài hạn
trên 5 năm.
- Thứ hai, thay đổi cơ sở nhà đầu tư và phát hành trái phiếu quốc tế. Đợt phát hành 1 tỷ USD
trên thị trường quốc tế đã thổi vào thị trường trái phiếu Việt Nam một luồng sinh khí mới về
huy động nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ phát triển đất nước. Đồng thời, hướng về cân bằng
cơ sở nhà đầu tư giữa trong nước và nước ngoài (đa số trái phiếu chính phủ Việt Nam đều được
mua bởi các nhà đầu tư trong nước, chủ yếu là ngân hàng thương mại).
- Thứ ba, tập trung phát hành và giao dịch trái phiếu chính phủ tại HNX. Bên cạnh, Bộ Tài
chính cũng đang quyết liệt triển khai các giải pháp chính để phát triển thị trường trái phiếu theo
quyết định 261/QĐ – BTC phê duyệt “Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến
2020”. Trong đó, bộ giải pháp hướng đến bốn mục tiêu chính: (i) nâng cao chất lượng và đa
dạng hóa các sản phẩm chứng khoán; (ii) cơ cấu lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng
khoán; (iii) tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích nhà đầu tư cá nhân; và (iv) tái
cấu trúc tổ chức thị trường theo hướng chuyên biệt hóa các sản phẩm và dịch vụ cung cấp.
3.2 Nguyên nhân kìm hãm sự phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp
ở Việt Nam
3.2.1 Nguyên nhân xuất phát từ Nhà nước
-
Mặc dù hiện nay đã có khung pháp lý cho phát hành và niêm yết trái phiếu doanh nghiệp,
nhưng vẫn còn thiếu một số quy định mang tính bước ngoặt, nhằm tạo điều kiện đưa sản
phẩm trái phiếu doanh nghiệp đến đông đảo nhà đầu tư, trong đó có thiếu hụt khuôn khổ pháp
lý về thành lập và tổ chức hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm độc lập, đây được
xem như một kênh “định giá” trái phiếu, tạo niềm tin và đảm bảo an toàn cho giao dịch trái
phiếu doanh nghiệp. Khi mà trái phiếu doanh nghiệp được “định giá” chuẩn, việc giảm thiểu
rủi ro cho các đối tượng đầu tư là hiển nhiên.
23
-
Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp hiện quá chặt,
vênh với thực tế. Tồn tại là các doanh nghiệp niêm yết lỡ thua lỗ (Năm 2012 các công ty như
Công ty cổ phần Nhựa Tân Hóa, Công ty cổ phần Tập đoàn Thái Hòa), mất cân đối về tài chính
khiến thị trường định giá cổ phiếu của công ty đó rất thấp. Giá cổ phiếu thấp khiến doanh nghiệp
phát hành riêng lẻ bằng mệnh giá khó có thể thu hút nhà đầu tư chiến lược. Trong trường hợp
này, trái phiếu chuyển đổi được xem là kênh huy động vốn phù hợp giúp doanh nghiệp tái cấu
trúc tình hình tài chính đang thua lỗ. Mặt khác cho phép trái chủ có nhiều sự lựa chọn: nếu
doanh nghiệp đó tái cấu trúc thành công, trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ có lợi cho
người mua. Ngược lại, trường hợp xấu nhất, người mua trái phiếu có phao bảo hiểm khi được
phép rút tiền về. Tuy nhiên, điều này không thể thực hiện do một trong các yêu cầu của Nghị
định 90/2011/NĐ-CP về việc doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu chuyển đổi bắt buộc
phải kinh doanh có lãi 05 năm liền kề trước đó. Vì thế, một loạt doanh nghiệp niêm yết đang
nguy ngập chỉ có thể thoi thóp chờ khai tử chứ không thể tái cấu trúc tài chính và một kết cục
dễ thấy đó là sự phá sản của rất nhiều các doanh nghiệp. Ngoài ra điều khoản này đã hạn chế
sự huy động vốn qua kênh phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp mới khi chưa đủ 05 năm
hoạt động.
-
Hoạt động phát hành trái phiếu của mỗi nhóm doanh nghiệp chịu sự quản lí của các cơ
quan quản lí khác nhau như Bộ Tài chính (đối với các doanh nghiệp nhà nước), Ủy ban nhân
dân tỉnh/thành phố (đối với các doanh nghiệp phát hành theo quy định của Luật doanh nghiệp),
ngân hàng thương mại (đối với các tổ chức tín dụng)… Nên dẫn đến sự không thống nhất trong
quản lí về các khâu của quy trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
-
Do nhà nước ưu tiên phát triển trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp gần
như bị bỏ ngỏ. Tỷ lệ trái phiếu chính phủ chiếm 98,4% trong tổng lượng trái phiếu phát hành
(6/2014). Và tỷ lệ trên luôn được duy trì ở mức cao kể từ khi thị trường trái phiếu chính thức
được thành lập năm 2000 do đó thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam loay hoay vẫn
không tìm được lối ra. Bằng chứng thông qua giá trị phát hành trái phiếu chỉ lác đác ở vài doanh
nghiệp lớn. Do vậy, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn
ngắn hạn từ Ngân hàng thương mại. Chính điều này, đã hình thành nên cụm từ “doanh nghiệp
thường dùng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn”
3.2.2 Nguyên nhân xuất phát từ các doanh nghiệp
-
Các doanh nghiệp không công bố thông tin ra thị trường, dẫn đến sự thiếu minh
bạch của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các đợt phát hành trái phiếu
doanh nghiệp đều là phát hành riêng lẻ và thông tin được giữ bí mật ở mức cao nhất có thể.
Theo báo cáo của Vụ Tài chính ngân hàng, Bộ Tài chính cho biết, thị trường thứ cấp trái phiếu
doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014 hầu như không có giao dịch, nếu có thì thông tin không
24
được công bố để làm cơ sở định giá cho thị trường. Trong khi đó, tổng giá trị trái phiếu doanh
nghiệp được phát hành trên thị trường sơ cấp năm 2014 là 26.722 tỷ đồng, giảm 22% so với
năm 2013. Quy mô thị trường này rất khiêm tốn so với thị trường trái phiếu chính phủ. Nguyên
nhân là do theo nhiều doanh nghiệp, bằng việc phát hành riêng lẻ, doanh nghiệp có thể đàm
phán trực tiếp với nhà đầu tư và giảm thiểu cung cấp thông tin ra công chúng. Còn bản thân nhà
đầu tư khi chấp nhận ít thông tin hơn sẽ được lợi nhuận cao hơn so với thị trường và có quyền
đặt ra những yêu cầu cụ thể. Trong trường hợp có những kế hoạch chưa muốn công bố thông
tin như tái cấu trúc doanh nghiệp, doanh nghiệp thường chọn phát hành riêng lẻ, đặc biệt là
những công ty nhỏ đang trong giai đoạn khó khăn.
Ảnh 5: Quy mô phát hành thị trường trái phiếu Việt Nam (triệu đô la Mỹ)
-
Vấn đề công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành trái phiếu thiếu minh bạch làm
người mua trái phiếu của doanh nghiệp phát hành phải lưu ý kỹ đến việc trái phiếu có tài sản
đảm bảo hay không. Nếu không thì cực kỳ rủi ro vì người mua chỉ có thể nhận lại được tiền sau
các chủ nợ khác. Trong trường hợp trái phiếu có tài sản đảm bảo thì cũng phải xem xét hàng
loạt vấn đề khác như: Tài sản đã được thế chấp vay vốn trước đó hay chưa? Giá trị của tài sản
đảm bảo có đủ cho tổng giá trị số lượng trái phiếu được phát hành hay không? Cơ quan/tổ chức
nào định giá của tài sản đó hay do chính bản thân doanh nghiệp định giá? Thông tin về thị
trường còn phân tán, thiếu hệ thống và chưa được cập nhật, khiến giới đầu tư khó nắm bắt
thông tin về thị trường. Dẫn đến tình trạng bất cân xứng thông tin, điều này trực tiếp gây khó
khăn cho các doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu và giảm đi sức hấp dẫn đối với nhà đầu
tư cả trong và ngoài nước.
→ Thực tế áp dụng các quy định, nghị định cho thấy, một số doanh nghiệp chưa thực hiện
đầy đủ, nghiêm túc việc thông báo kế hoạch và báo cáo kết quả phát hành đến Bộ Tài
chính; sau phát hành, doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ về tình hình
25