Chun đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
Trong quá trình thực tập và hoàn thành bài
chuyên đề tốt nghiệp Đại học chuyên ngành
Truyền thông và Marketing du lòch dòch vụ, Tôi xin
gữi lời cám ơn đến:
Các thầy, cô giáo Khoa du lòch – Đại học Huế
đã tận tình giảng dạy, truyền thụ cho tôi những
kiến thức bổ ích. Kiến thức mà tôi học được
không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên
cứu chuyên đề mà còn là hành trang quý
báu trong quá trình công tác sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
ThS. Lê Minh Tuấn, người đã tận tình hướng
dẫn, trực tiếp dẫn dắt tôi trong suốt thời gian
thực tập và hoàn thành chuyên đề này.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn đến: Ban
lãnh đạo và nhân viên Chi nhánh Công ty cổ
phần Du Lòch Việt Nam Hà Nội đã giúp đỡ tận
tình và tạo điều kiện cho tôi tiến hành điều tra
và thu thập số liệu.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên
trong quá trình hoàn thành chuyên đề không
thể tránh khỏi những sai sót, kính mong sự góp
ý xây dựng của quý thầy, cô giáo để chuyên
đề của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 06 năm 2020
1
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
1
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyờn tt nghip
GVHD: ThS. Lờ Minh Tun
Sinh vieõn thửùc hieọn
Tran Thũ Thanh Nhi
LI CAM OAN
Tụi cam oan rng ti ny l do chớnh tụi thc hin, cỏc s liu thu c
v kt qu phõn tớch trong ti l trung thc, ti khụng trựng vi bt kỡ
nghiờn cu khoa hc no.
Hu, thỏng 06, nm 2020
Sinh viờn thc hin
Trn Th Thanh Nhi
2
SVTH: Trn Th Thanh Nhi
2
Lp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
MỤC LỤC
3
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
3
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QB
DLST
DLCĐ
BVHTT
LSCM
DTLSCM
BVHTTDL
UBND
TP
VH-TT
TTDL
4
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Quảng bá
Du lịch sinh thái
Du lịch cộng đồng
Bộ Văn hóa thông tin
Lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử cách mạng
Bộ Văn hóa thông tin du lịch
Ủy ban nhân dân
Thành phố
Văn hóa Thông Tin
Truyền thông du lịch
4
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
5
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch từ lâu đã là nhu cầu không thể thiếu của con người, tuy nhiên chỉ
những năm gần đây, khi đời sống con người ngày càng nâng cao thì hoạt đông du
lịch mới thật sự thăng hoa và nở rộ. Góp phần trong sự “thăng hoa” ấy chính là
hoạt động quảng bá của ngành du lịch. Quảng bá như một cầu nối du lịch đến tay
người tiêu dùng, là công cụ gián tiếp tạo ra nguồn khách du lịch, khai thác tối đa
công suất sử dụng cơ sở vật chất của ngành. Đặc biệt trong những năm gần đây,
khi cả thế giới đều phải đương đầu với những khó khăn và khủng hoảng kinh tế,
an ninh chính trị, thiên tai,… rất nhiều nước coi ngành du lịch là một trong
những động lực để kéo nền kinh tế vượt qua khủng hoảng nên đã đẩy mạnh
quảng bá nhằm thu hút khách du lịch quốc tế khiến sự cạnh tranh trên thị trường
ngày càng khốc liệt trong đó có Việt Nam. Hoạt động quảng bá ngày càng được
ngành du lịch nước ta chú trọng với mục tiêu thu hút khách hàng, xây dựng vị thê
cạnh tranh trên thị trường, nỗ lực đưa Việt Nam điểm đến bền vững.
Năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam lập kỳ tích lần đầu tiên đón 18 triệu lượt
khách quốc tế, tăng 16,2% so với năm 2018. Giai đoạn từ 2015-2019, lượng khách
quốc tế đến Việt Nam đã tăng 2,3 lần từ 7,9 triệu lượt lên 18 triệu lượt, tốc độ tăng
trưởng bình quân đạt 22,7% mỗi năm. Việt Nam liên tục nằm trong nhóm những
quốc gia có tốc độ tăng trưởng khách du lịch nhanh nhất thế giới. Điều này cho
thấy, ngành du lịch Việt Nam đã có rất nhiều chuyển biến tốt trong công cuộc xây
dựng một đất nước du lịch xứng tầm với quốc gia khác.
Là một điểm đến hấp dẫn đối với du khách, thừa hưởng được những cái đẹp
thiên nhiên ban tặng, Thừa Thiên Huế thật sự là một điểm đến lý tưởng đối với
du khách với đa dạng về cảnh quan thiên nhiên và có bề dày lịch sử văn hóa.
Trong những năm gần đây Thừa Thiên Huế đang phát triễn loại hình du lịch dịch
vụ ở nông thôn nhằm góp phần phát triển nông thôn mới, thúc đẩy phát triển kinh
tế của các địa phương đồng thời làm đa dạng và phong phú hơn các điểm đến lý
6
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
tưởng ở Huế, đặc biệt có hai huyện vùng núi có rất nhiều tiềm năng về du lịch đó
là Nam Đông và A Lưới. Khác xa với thành phố đông đúc náo nhiệt thì giờ đây
nhu cầu của du khách lại muốn trải nghiệm cuộc sống thôn quê, dân dã, muốn
tìm nơi mang lại cảm giác yên bình và thoải mái. Nằm trong những điểm đến lý
tưởng đó có huyện A Lưới. Trong những năm gần đây A Lưới đã được rất nhiều
các hạng mục đầu tư các dự án, A Lưới đã có homestay, đã có các sản phẩm liên
quan đến dịch vụ, đã có trang facebook riêng… Tuy nhiên để đạt được một cách
có hiệu quả và thật sự muốn đem du lịch thành công cụ để phát triển kinh tế xã
hội của A Lưới thì cần phải phát triển sâu hơn về hình thức quảng bá du lịch.
Xuất phát từ lý do đó, tôi đã chọn đề tài “ Đánh giá về hoạt động quảng bá
du lịch Huyện A Lưới ”. Với đề tài này tôi mong muốn khái quát được hoạt động
quảng bá du lịch của huyện A Lưới, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm
khắc phục các hạn chế của hoạt động quảng bá du lịch , với mong muốn đưa du
lịch A lưới cũng như ngành du lịch Việt Nam vươn xa hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng hoạt động quảng bá du lịch huyện A
Lưới. Từ đó đưa ra các nhóm kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả
trong công tác thu hút khách du lịch đến với A Lưới
2.2. Mục tiêu cụ thể
-
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về điểm đến du lịch, điểm đến, Marketing điểm đến
-
và các hoạt động quảng bá điểm đến du lịch.
Phân tích và đánh giá các hoạt động quảng bá du lịch của huyên A Lưới năm từ
-
năm 2012 đến nay.
Từ đó đề xuất các nhóm kiến nghị giải pháp cụ thể nhằm nâng cao và tăng cường
hoạt động quảng bá của du lịch A Lưới.
7
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá các thực trạng của hoạt động quảng bá du lịch
huyện A Lưới.
4. Phạm vi nghiên cứu
-
-
Hoạt động quảng bá du lịch nhằm thu hút khách du lịch và phát triển ngành du
lịch của huyện A Lưới từ năm 2016 đến 2019.
Phạm vi không gian:
Đề tài được thực hiện tại địa bàn huyện A Lưới
Phạm vi thời gian:
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian 2 tháng từ 1/2 đến 1/5
Tài liệu sử dụng trong đề tài được thu thập trong khoảng thời gian 2012 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
(Sử dụng phương pháp định tính)
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
•
Số liệu thứ cấp
Tài liệu được thu thập được từ phòng Văn hóa Thông tin huyện A Lưới:
+ Doanh thu từ du lịch
+ Thống kê lượt khách đến
+ Thống kê cơ sở lưu trú
+ Các chương trình sự kiện diễn ra từ 2012 đến nay
+ Các dự án đầu tư đã và đang được phát triển…
Tìm hiểu các thông tin từ các phương tiện sách, báo, internet…
Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan, ban ngành có liên quan đến vấn đề
cần nghiên cứu.
Tìm hiểu thông tin từ công ty cổ phần Du lịch Việt Nam chi nhánh tại Hà
Nội.
Phân tích số liệu của các bản báo cáo của phòng VH-TT
•
Số liệu sơ cấp
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu bằng phương pháp:
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: việc phỏng vấn trực tiếp các đại diện
làm trong lĩnh vực du lịch của huyện A Lưới giúp chuyên đề phản ánh một cách
8
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
cụ thể và chính xác hơn tình hình phát triển của huyện A Lưới trong thực tế. Đề
tài được tiến hành phỏng vấn sâu với 5 chuyên gia:
STT
1
2
3
4
5
Họ & Tên
Nguyễn Mạnh Hùng
Lê Thị Thưi
Lê Thị Thêm
Hồ Bá Thuật
Lê Minh Tuấn
Đơn vị công tác
Chủ tịch huyện A Lưới
Chuyên viên phòng VH-TT
Trưởng phòng VH-TT
Đội thông tin lưu động huyện A Lưới
Giảng viên Khoa Du lịch – Đại học Huế
Cuộc phỏng vấn sẽ xoay quanh vấn đề quảng bá Du lịch huyện A Lưới với
5 nội dung chính:
+ Nội dung 1: Thực trạng phát triển du lịch tại A Lưới?
+ Nội dung 2: Bức tranh toàn cảnh của xúc tiến, quảng bá du lịch tại A Lưới
hiện nay là gì?
+ Nội dung 3: Cần có những giải pháp đột phá nào để việc quảng bá du lịch
huyện nhà đạt hiệu quả tốt hơn?
+ Nội dung 4: Hiện nay với sự phổ biến rộng rãi của mạng Internet, nhiều
du khách thích tìm hiểu và lựa chọn tour qua mạng. Vậy chúng ta đã tận dụng thế
mạnh của công nghệ 4.0 để hỗ trợ cho hoạt động quảng bá du lịch huyện nhà như
thế nào?
+ Nội dung 5: Chiến lược phát triển trong tương lai?
Cuộc phỏng vấn kéo dài trong vòng 45 phút vào khoảng thời gian từ tháng
2 đến tháng 5 năm 2020. Địa điểm tại Trung tâm văn hóa huyện A Lưới do các
chuyên gia sắp xếp.
9
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
5.2. Phương pháp xử lí số liệu
- Thu gon dữ liệu định tính: phân tích ban đầu, các bản ghi, nhập và lưu trữ
thông tin
- Phân tích và thể hiện thông tin: Sử dụng phương pháp tư duy, biện luận,
logic, tập hợp và sau quá trình phỏng vấn có bản ghi chép và những bản file ghi
âm sau đó xử lí, sắp xếp và phân tích những ý kiến của các chuyên gia về những
nội dung đã phỏng vấn.
- Kết luận và viết báo cáo: chuẩn bị báo cáo, kiểm chứng thông tin.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được chia thành 3 phần với các nội dung sau:
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong đó bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng hoạt động quảng bá du lịch huyện A Lưới
Chương III: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường hoạt động TTDL huyện
A Lưới
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
10
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN QUẢNG BÁ DU LỊCH
1.1. Khái niệm quảng bá du lịch
Trong từ điển Hán-Việt, “quảng” nghĩa là rộng, “bá” là làm bung ra, vung
ra.
Vậy quảng bá được giải nghĩa là sự khuếch tán, lan rộng ra một cái gì đó.
Trong từ điển Oxford, quảng bá được giải nghĩa là “comunicating”, nghĩa
là việc giới thiệu, truyền đi một tin tức, một sự kiện nào đến với công chúng
thông qua các phương tiện truyền thông.
Vậy, quảng bá du lịch là một bộ phận của tuyên truyền du lịch, bản chất của
quảng bá du lịch là tổng hợp các biện pháp sử dụng để phổ biến những tài
nguyên du lịch, các cơ sở dịch vụ, các điều kiện đi du lịch cho nhân dân trong
nước và người nước ngoài nhằm mục đích thu hút khách du lịch, phát triển du
lịch của đất nước và phát triển các hoạt động sản xuất - kinh doanh dulịch.
Như vậy, quảng bá du lịch có thể hiểu trên hai khía cạnh:
Với mục đích văn hóa thuần túy: quảng bá là hoạt động nhằm giới thiệu về
đất nước, con người, truyền thống dân tộc, … tới khách du lịch và đồng thời khơi
dậy lòng yêu quê hương đất nước của mọi người.
Với mục đích kinh tế: quảng bá là hoạt động quảng cáo sản phẩm du lịch
tới khách du lịch nhằm thu hút họ đến tham quan, mua sắm, nghĩ dưỡng, vui chơi
giải trí, …
1.2. Vai trò của hoạt động quảng bá du lịch
Đối với du lịch, quảng bá du lịch giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong
việc giới thiệu điểm đến, cung cấp các thông tin về sản phẩm và điểm đến du lịch
đến du khách. Đây là một trong những biện pháp cung cấp và phân phát thông tin
từ các cơ quan du lịch nhằm kéo khách hàng tới gần người bán, đưa khách du
11
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
lịch tới gần điểm đến. Bởi khi xác định và nhấn mạnh các tính chất của sản phẩm
sẽ giúp dễ dàng tổng hợp các sản phẩm du lịch rời rạc vào một hình ảnh chung
thống nhất có sự kết hợp của các sản phẩm du lịch, từ đó tạo sự quan tâm của du
khách đến sản phẩm. Giúp thúc đẩy kinh doanh du lịch đồng thời xây dựng và
duy trì thương hiệu cho điểm đến.
1.3. Ý nghĩa của quảng bá du lịch
Một là, nâng cao khả năng cạnh tranh: Ngày nay, kinh doanh du lịch đang
có sự cạnh tranh quyết liệt, không chỉ nằm trong phạm vi quốc gia (giữa các
doanh nghiệp, các địa phương) mà cả trong phạm vi khu vực (giữa các nước) và
cả châu lục. Để giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, nhà nước và các
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch, các hiệp hội nghề nghiệp trong du lịch,
… đã tìm mọi biện pháp để thu hút nguồn khách lớn. Vì thế, nâng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm là một trong những ý nghĩa cốt lỗi quan trọng của chiến dịch
quảng bá du lịch.
Hai là, mang lại hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế và mức sinh lợi của hệ
thống khách sạn du lịch,nhà hàng,vận tải,dịch vụ du lịch,…cũng như tốc độ tăng
trưởng và phát triển du lịch không thể tách rời hoạt động thông tin, quảng bá du
lịch và ngược lại hiệu quả kinh tế của hoạt động quảng bá du lịch chỉ được xác
định và đánh giá khi số lượng khách du lịch, khối lượng trao đổi dịch vụ, hàng
hóa dịch vụ ngày càng gia tăng.
Ba là, đẩy mạnh tính văn hóa, đẩy mạnh giao lưu giữa các nền văn hóa: Hoạt
động quảng bá du lịch còn chứa đựng và phản ánh một cách có ý thức thông qua
các phương tiện, nội dung và thể loại thông tin, quảng bá du lịch về các vấn đề lịch
sử, văn hóa dân tộc, các chính sách chủ trương của nhà nước về quan hệ quốc tế,
phát triển kinh tế, các thành tựu xây dựng đất nước và đời sống sinh hoạt, … của
nhân dân trong nước với nhân dân thế giới và ngược lại.
Bốn là, tham gia vào thực hiện các quan hệ ngoại giao giữa các nước: Hoạt
động của QB du lịch ngoài ý nghĩa kinh tế còn mang đầy đủ ý nghĩa chính trị xã
hội, góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc với nhau và phát triển tình
đoàn kết hữu nghị giữa các nước.
12
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
Năm là, đảm bảo an sinh xã hội: Cùng với sự gia tăng về khách du lịch và
phát triển du lịch thì đồng thời nó mở ra những khả năng giải quyết việc làm, thu
hút một lực lượng lao động đáng kể, làm giảm bớt những khó khăn về xã hội cho
đât nước.
1.4. Các nội dung của công tác QB du lịch
Trong QB có 3 nội dung chính cần đánh giá đó là:
Thông tin (Information)
Quan hệ công chúng (Public relation)
Quảng cáo (Advertising)
Marketing trực tiếp
•
Thông tin
Một trong những vai trò quan trọng của QB điểm đến du lịch là cung cấp
các thông tin về điểm đến. Các thông tin này có thể được truyền tải bằng nhiều
hình thức, phương tiện (kênh) khác nhau như bằng lời (nói, trả lời điện thoại, …),
bằng tài liệu viết hoặc bằng các phương tiện điện tử nhằm mục đích đưa thông
tin về sản phẩm du lịch đến với công chúng.
QB điểm đến du lịch ở tầm quốc gia là hình thức QB của tổ chức du lịch
quốc gia, có tính chất chiến lược, một loại QB phi thương mại. Do vậy, thường
thì công tác QB được thực hiện bởi các cơ quan du lịch quốc gia, các văn phòng
du lịch quốc gia trong nước và tại các nước có thị trường gửi khách.
Trung tâm thông tin du lịch: Các cơ quan du lịch của điểm đến (cơ quan du
lịch quốc gia) có trách nhiệm tổ chức các hoạt động QB cho điểm đến, nhưng
trước tiên là có vai trò tổ chức việc cung cấp thông tin và chỉ dẫn cho điểm đến
qua các trung tâm du lịch. Đây là các trung tâm thường xuyên như các văn
phòng, các điểm cung cấp thông tin du lịch và các điểm hoặc các quầy thông tin
ở các hội chợ, các triển lãm du lịch.
Các trung tâm thường xuyên: Ở trong nước có văn phòng thông tin du lịch
tại chỗ tại điểm đến du lịch, thường được nằm tại các sân bay, nhà ga chính hoặc
ở trung tâm thành phố. Ở nước ngoài là các văn phòng đại diện tại nước ngoài sẽ
cung cấp tất cả các chỉ dẫn thông tin như phục vụ cho việc tổ chức toàn bộ các
13
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
hoạt động QB của nước này tại nước ngoài hoặc vùng phụ trách với toàn bộ định
hướng chiến lược QB điểm đến.
Các điểm thông tin tạm thời: Là các quầy trong các hội chợ. Đây là một dạng
văn phòng di động, tạm thời với qui mô thu nhỏ nhưng cũng giới thiệu các thông
tin về điểm đến (quốc gia) như tại một văn phòng du lịch thường xuyên.
Thông tin miệng và thông tin viết
Thông tin miệng gồm có quầy của nhân viên phòng du lịch và thông tin
truyền miệng của du khách.
Thông tin miệng tại quầy du lịch nhằm giải thích cho khách hàng. Đây là
loại thông tin mất nhiều thời gian và ít đạt hiệu quả. Thông tin truyền miệng
(Word - of - mouth) của khách hay còn gọi là những lời đồn của khách có tác
dụng rất lớn và hỗ trợ rất đắc lực cho sản phẩm du lịch của một nơi nào đó.
Tài liệu và cách phát hành tài liệu du lịch: Đây là những nguồn thông tin
quan trọng nhất được sử dụng.
Các loại tài liệu QB du lịch, gồm:
Tài liệu trên vật phẩm giấy: tờ rơi, tờ gấp, sách mỏng về du lịch (brochure),
folder, sách giới thiệu, hướng dẫn du lịch, tờ áp phích, …
Tài liệu trên vật phẩm điện tử: đĩa CD-Rom, DVD và các loại hình trên các
công cụ tin học, …
Tờ rơi, tờ gấp: Các tiêu chí về màu sắc, trọng lượng, hình thức phải được
cân nhắc, phụ thuộc vào các yêu cầu của từng hoạt động QB, từng chiến dịch
quảng bá cụ thể. Đây là các loại ấn phẩm đầu tiên mà hầu hết các chiến dịch,
chương trình QB đều sử dụng. Các ấn phẩm này có đặc điểm chung là cung cấp
khá đầy đủ thông tin cơ bản về điểm đến và có hình dạng dễ cất, dễ mang theo và
sử dụng. Theo một số nghiên cứu số liệu điều tra gần đây cho thấy tờ rơi, tập gấp
vẫn giữ một vị trí quan trọng trong QB du lịch.
Sách mỏng về du lịch (brochure): có hình thức của cuốn sách mỏng. Loại
ấn phẩm này khá đắt tiền nhưng các hãng lữ hành sử dụng rất nhiều do khả năng
cung cấp thông tin chi tiết lớn và thời gian lưu hành khá lâu. Đối với các công ty
lữ hành thì loại ấn phẩm này được chuyển thành quyển cataloge.
14
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
Sách giới thiệu, hướng dẫn du lịch: là loại ấn phẩm (công cụ) được dùng
nhiều nhất bởi khách du lịch từ trước đến nay do tính thực dụng của nó. Các
quyển sách hướng dẫn cung cấp các thông tin rất bổ ích và thực tế cũng như rất
đầy đủ về điểm đến ở dạng khổ sách do đó rất thuận tiện.
Áp phích khổ poster: đây là hình thức quảng bá du lịch cổ xưa nhất và là
loại hình có chất lượng mỹ thuật nhất trong các ấn phẩm in. Hiện nay thì các tờ
áp phích này được dùng nhiều nhất trong các văn phòng du lịch, trong các phông
lưng của các quầy hội chợ. Vai trò của áp phích là thu hút sự quan tâm và trang
trí nhiều hơn là để thông tin.
Website: Website là kênh cung cấp nhiều thông tin nhất cho các nhóm
khách du lịch. Các trang thông tin trên internet nhằm cung cấp thông tin đáp ứng
nhiều yêu cầu của khách du lịch. Xây dựng được một trang thông tin với tất cả
các thông tin cần thiết sẽ rẻ hơn nhiều so với việc thiết lập hệ thống văn phòng
du lịch ở nước ngoài, song cần phải đặc biệt chú ý các thông điệp và nội dung khi
giới thiệu trên toàn cầu.
Nội dung tài liệu: Nội dung tài liệu phải phong phú, hấp dẫn và hữu ích,
nhằm mục đích:
Trao cho khách tại nơi đăng ký hoặc trước khi lên đường. Có thể phát qua bưu
điện theo danh sách những khách cũ. Có thể phát hành để trao đổi với các cơ sở liên
kết, thân cận. Có thể phát hành từ các đại diện quốc gia ở nước ngoài.
Nội dung của các tờ gấp tùy thuộc vào mỗi đối tượng du lịch. Ví dụ: khách
sạn thì phải cho biết khách sạn thuộc mấy sao, số phòng, dịch vụ khách được
hưởng, giá cả, …?
Hình thức tài liệu
Nếu là tờ gấp nên dùng khổ quốc tế: 21x10,5cm, gấp thành 2 hoặc 3 mảnh,
dày từ 4 đến 6 trang.
Không nên dùng nhiều thứ tiếng, tối đa là 3 thứ tiếng.
•
Quan hệ công chúng
Quan hệ công chúng là một công cụ quan trọng khác của hoạt động
marketing. Công ty không những phải có quan hệ tốt với khách hang, người cung
15
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
ứng và các đại lý của mình, mà còn phải có mối quan hệ của đông đảo quần
chúng có quan tâm.
Quan hệ công chúng là những hoạt động truyền thông để xây dựng và bảo
vệ danh tiếng của công ty, của sản phẩm trước toàn thể công chúng.
Về cơ bản, quan hệ công chúng là tập hợp các biện pháp được sử dụng
nhằm tạo ra một môi trường tin tưởng trong đội ngũ lao động, trong các giới có
liên quan và nhất là trong công chúng, với mong muốn nhận được sự ủng hộ các
hoạt động và phát huy sự phát triển của tổ chức. Đây là một hình thức có tính kỹ
thuật quan trọng và hiệu quả trong QB du lịch nhằm đạt được các mục tiêu nhất
định, tiếp cận các thị trường trực tiếp hoặc gián tiếp. Rất nhiều doanh nghiệp sử
dụng thường xuyên kỹ thuật này với việc thông tin thường xuyên cho báo giới và
đạt được hiệu quả tuyên truyền hoàn toàn miễn phí theo cách tiếp cận gián tiếp
này và hiện nay,nhiều cơ quan quản lý du lịch quốc gia của nhiều nước cũng đã
thực hiện hình thức quan hệ công chúng để làm tăng hiệu quả của QB du lịch lên
rất nhiều.
Mục tiêu chính của quan hệ công chúng là cải thiện hình ảnh về một sản
phẩm, về hình ảnh hoặc của một điểm đến hoặc của một doanh nghiệp, … Thông
điệp có thể không được gửi thẳng đến người nhận cuối cùng mà qua các nhóm
trung gian, chủ yếu là các nhà báo, các nhà lãnh đạo, chính khách, … những
người có khả năng truyền đạt rộng rãi tới những địa chỉ cuối cùng.
Các hình thức hoạt động của quan hệ công chúng trong du lịch:
Quan hệ với giới báo chí: Cung cấp tài liệu báo, họp báo, các chuyến du
lịch đào tạo hoặc tham quan cung cấp thông tin cho nhà báo trong nước và nước
ngoài (Press trip) làm ảnh tư liệu cho báo chí.
Quan hệ trực tiếp với công chúng: Hoạt động này rất phong phú và đa dạng.
Có thể được thực hiện trực tiếp với quảng đại công chúng hoặc với một số nhóm
người được coi là có ảnh hưởng quan điểm. Các hoạt động phổ biến nhất là các
hoạt động giới thiệu ẩm thực, ngày thương mại hoặc là tuần lễ văn hóa thương
mại mà hàng hóa và vật phẩm giới thiệu được mang từ trong nước đến các thị
trường khác hay tổ chức các sự kiện như các hội chợ, liên hoan, lễ hội, các giải
16
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
thể thao, … tuy rất tốn kém và đòi hỏi nhiều công sức chuẩn bị nhưng chúng là
các phương tiện rất hữu hiệu trong công tác QB du lịch.
Tuyên truyền hợp tác: Hoạt động này bao gồm việc truyền thông trong nội
bộ cũng như bên ngoài người khác hiểu về công ty nhằm tạo hình ảnh tốt đẹp, từ
đó tăng uy tín của công ty.
Vận động hành lang: Là những công việc vận động các cơ quan quản lý nhà
nước, các nhà làm luật, … ủng hộ hay cản trở một sắc luật nào đó.
• Quảng cáo
Theo từ điển Oxford: Advertise có nghĩa tiếng Việt là quảng cáo, là làm cho
cái gì đó được mọi người biết đến một cách rộng rãi hoặc công khai; ca ngợi vật
gì đó một cách công khai nhằm khuyến khích mọi người mua hoặc sử dụng nó.
Trong từ điển tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng 1997) cũng giải thích ý nghĩa của
thuật ngữ quảng cáo: “Quảng cáo là trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều
người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng”.
Pháp lệnh quảng cáo do UBTV Quốc hội nước CHXHCNVN ban hành
ngày 16/11/1991 đã xác định khái niệm: “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu
dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích
sinh lời và dịch vụ không nhằm mục đích sinh lời”.
Quảng cáo là một phương cách để cơ sở tồn tại và phát triển. Quảng cáo
bao gồm tất cả các hoạt động có mục đích trình bày với một nhóm người về một
thông điệp giới thiệu sản phẩm, dịch vụ hay ý kiến. Thông điệp này gọi là bảng
quảng cáo được phổ biến qua một hay nhiều phương tiện truyền tin và do doanh
nghiệp quảng cáo trả chi phí.
Trong quảng cáo du lịch, hình ảnh và màu sắc giữ một vai trò rất quan
trọng. Hình ảnh và màu sắc tượng trưng cho sản phẩm. Điều này được thể hiện
qua mỗi biểu tượng của một vùng, một đất nước. Sản phẩm du lịch ở xa khách
hàng và khách hàng thường mua sản phẩm trước khi thấy và sử dụng sản phẩm.
Vì vậy, hình ảnh và màu sắc phản ánh một phần của chất lượng, tính hấp dẫn của
sản phẩm đối với khách trong việc quyết định mua sản phẩm. Mỗi đất nước, mỗi
điểm du lịch đều có hình ảnh và biểu tượng riêng.
Có nhiều mô hình khác nhau về quảng cáo, có chuyên gia cho rằng quảng
17
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
cáo cần lôi cuốn sự chú ý, tạo sự chú ý quan tâm, tạo ham muốn về sản phẩm,
hướng dẫn chấp nhận sản phẩm. Cũng có mô hình cho rằng quảng cáo cần đơn
giản hóa, thực chất, trung thực và có tính chặt chẽ giữa nội dung và hình thức,
nhưng cũng có chuyên gia đưa ra mô hình quảng cáo nên có tính hài hước, tính
nghệ thuật, có quảng cáo có tính đột phá, ấn tượng, gây sốc, …
Có rất nhiều phương tiện (kênh) khác nhau để quảng cáo. Mỗi một quảng
cáo có một đối tượng, thị trường riêng, có ảnh hưởng và chi phí khác nhau, do
vậy tùy theo đối tượng để lựa chọn phương tiện quảng cáo. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp để đạt hiệu quả cao trong quảng cáo có thể lựa chọn đồng thời
hai phương tiện để quảng cáo đồng thời,như:
Quảng cáo du lịch thông qua các phương tiện truyền thông như báo chí,
phát thanh, truyền hình, … Loại hình báo trong du lịch rất khác so với các loại
khác như tạp chí, tạp chí ngành, tập san đặc biệt cả trang hoặc một ô trong báo, ô
quảng cáo, bài viết hoặc bài đi kèm tranh ảnh minh họa, … Độc giả của báo du
lịch khác nhau phụ thuộc vào thị trường nào mà công tác QB nhằm tới. Ví dụ
như có thể là địa điểm nơi ở của độc giả, gốc gác xã hội, sở thích, mối quan tâm,
nghề nghiệp, giới tính, … là những nhân tố có thể ảnh hưởng tới việc lựa chọn
báo.
Các biển quảng cáo: có rất nhiều loại biển quảng cáo với các kích cỡ lớn bé
khác nhau, có thể được dán lại nhiều điểm, hoặc mang trên các phương tiện giao
thông đô thị, tại các điểm giao thông như bến xe bus, trên xe bus, tàu điện ngầm,
tàu hỏa, vẽ trên tường, … các biển quảng cáo lớn cần thời gian bảo quản lâu.
Băng rôn: là các công cụ mang thông tin quảng cáo và các chiến dịch quảng
cáo cụ thể. Nó có tính chất tuyên truyền lớn và phát tán thông tin ở mức độ dày
đặc, nhắc lại liên tục trong một phạm vi (lãnh thổ) nhóm thị trường nhất định.
Trong một chiến dịch, chương trình quảng bá các băng rôn được huy động và sử
dụng đại trà nhưng ngay sau chiến dịch hay chương trình quảng bá đó nó có thể
mất hoàn toàn giá trị. Các băng rôn chủ yếu có các nội dung là lôgo và biểu ngữ
của chiến dịch, chương trình quảng bá và có thể có một số thông tin vắn về chiến
dịch, chương trình quảng bá.
18
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
Quảng cáo qua bưu điện, thư điện tử: là việc gửi catalogue, thư chúc, tờ
bướm, mẫu hàng, … cho khách hàng quan trọng qua bưu điện. Đây là một loại
hình quảng cáo trực tiếp và thường được sử dụng đối với khách hàng thường
xuyên hoặc thông qua việc sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng tự sở hữu hoặc trao
đổi. Gửi qua bưu điện là loại hình đã mất dần tính quan trọng do việc phát triển
của internet và các mạng thông tin hiện đại khác.
Quảng cáo truyền miệng: được hiểu là thông tin về điểm đến, sản phẩm,
dịch vụ du lịch được truyền miệng từ du khách đã trải nghiệm (hoặc đã biết bằng
các nguồn thông tin khác) tới những thị trường khách tiềm năng. Đây là một biện
pháp rất hiệu quả của QB. Nó đảm bảo các thông tin đạt đến đích trực tiếp và rất
phong phú. Trong du lịch hoặc các ngành mà sản phẩm không phải hàng hóa vật
chất mà chỉ có thể cảm nhận và ảnh hưởng thì quảng cáo truyền miệng góp phần
quan trọng vào quyết định mua của khách hàng tiềm năng. Trong các khâu dịch
vụ có giao tiếp trực tiếp với khách hàng, các thông tin cung cấp cho khách được
quản lý thì nên sử dụng quảng cáo truyền miệng. Các trường hợp khác cần thiết
phải sử dụng phương pháp điều tra.
• Marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp là việc sử dụng thư, điện thoại và những công cụ liên
lạc gián tiếp khác để thông tin cho những khách hàng hiện có và khách hàng triển
vọng hay yêu cầu họ có phản ứng lại.
Hầu hết các công ty đều chủ yếu dựa vào quảng cáo, khuyến mại và bán
hang trực tiếp để đẩy mạnh việc tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ của mình. Họ sử
dụng quảng cáo để tạo sự nhận thức và quan tâm, khuyến mại để kích thích mua
hàng và bán hàng trực tiếp để hoàn tất việc bán hàng. Marketing trực tiếp cố
gắng kết hợp cả ba yếu tố này lại để đi đến việc bán hàng trực tiếp không qua
trung gian.
19
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
* Lợi ích của Marketing trực tiếp
Hiện nay, do sự phát triển của các phương tiện truyền thông, các doanh
nghiệp có thể sử dụng nhiều cách thức để giao dịch trực tiếp với khách hang. Đó
có thể là: gửi thư trực tiếp, bán hàng quay catalog, bán hàng qua điện thoại, bán
hàng qua mạng interner, mua hàng bằng máy tự động…
Marketing mang lại những lợi ích sau:
a. Đối với người mua
Mua hàng thông qua những hình thức của marketing trực tiếp rất tiện lợi, ít
tốn thời gian, ít chịu những phiền nhiễu, … và mẫu hàng cũng rất đa dạng và
phong phú. Người tiêu dùng thì có thể ở nhà để đặt hàng rồi có người mang đến
tận nhà. Các doanh nghiệp thì không nhất thiết phải gặp nhân viên bán hàng cũng
có thể có được đầy đủ các thông tin về sản phẩm dịch vụ mà mình cần.
b. Đối với người bán
- Có thể lựa chọn những khách hàng tiềm năng tốt hơn
- Có thể xây dựng mối quan hệ và liên tục với khách hàng
- Cùng một lúc trong một thời gian ngắn có thể tiếp xúc với rất nhiều khách
hàng
- Đối thủ cạnh tranh không biết hoặc rất khó biết chiến lược của công ty đối
với từng loại khách hàng
- Có thể thử nghiệm dễ dàng những thay đổi về chính sách markrting – mix
- Dễ dàng hơn trong việc đo lường hiệu quả vì có thể sớm biết những phản
ứng của khách hàng
* Một số hình thức của Marketing trực tiếp
-Marketing qua catalog: nhiều công ty sử dụng hình thức bán hàng điện tử
sau khi họ phát hành catalog. Nội dung trên catalog có thể bao gồm: trình bày các
mẫu hàng, thông tin các mẫu hàng như: công dụng, đặc tính, cách sử dụng, …,
địa chỉ công ty, số hotline để giải đáp những thắc mắc, quà tặng, giảm giá…
- Marketing bằng thư trực tiếp: Công ty gửi thư qua bưu điện, đó là những
thư chào hàng, tờ quảng cáo, tờ rơi, hoặc những bảng ghi âm, ghi hình và thậm
chí các đĩa mềm.
20
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
- Marketing qua điện thoại
- Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình, truyền thanh: chủ yếu ở
những truyền hình mạng hoặc truyền hình cáp. Ở đó có những hotline để đáp ứng
những nhu cầu của khách hàng.
21
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ
DU LỊCH HUYỆN A LƯỚI
2.1. Tổng quan về huyện A lưới
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
A Lưới là một huyện miền núi biên giới phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế,
là căn cứ địa cách mạng của cả tỉnh, cả nước trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và Mỹ. Qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đồng bào các dân
tộc A Lưới đã có nhiều tấm gương tiêu biểu như: Anh hùng liệt sỹ A Vầu, xã
Hồng Kim; Anh hùng liệt sỹ Cu Lối, xã Hồng Nam; Anh hùng Cu Trip, Anh
hùng Hồ Vai, Kăn Lịch, Kăn Đơm, Bùi Hồ Dục, Hồ A Nun và nhiều tấm gương
tiêu biểu khác; đồng thời, đã đóng góp 33.837 tấn lương thực, thực phẩm, 4.560
lượt dân công hỏa tuyến, 7.850 lượt công dân liên đường nhập ngũ, 1,5 triệu
ngày công phục vụ chiến đấu; 577 liệt sỹ, 1.086 thương binh, hàng ngàn gia đình
có công, gần 10 nghìn người và 5.000 hộ gia đình tham gia cách mạng. Nhờ
những đóng góp to lớn cho cách mạng mà đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương,
phong tặng huyện A Lưới danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 16
xã, thị trấn được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 08 cá nhân
được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 12 bà mẹ Việt
Nam anh hùng, 19 tập thể anh hùng lực lượng vũ trang.
Đồng thời, huyện A Lưới là địa bàn sinh sống, tụ cư lâu đời của đồng bào
các dân tộc thiểu số anh em: Pa Kô, Tà Ôi, Ka Tu, Pa Hy trong các thung lũng
dọc Trường Sơn, sát với nước bạn Lào anh em, đến năm 1976 huyện A Lưới
được thành lập và có thêm 03 xã kinh tế mới Sơn Thủy, Phú Vinh, Hương Phong
là đồng bào kinh lên xây dựng quê hương mới tại A Lưới.
Đến nay, sau 38 năm (1976- 2014) trưởng thành và phát triển, huyện A Lưới
hôm nay đã thay da đổi thịt, bộ mặt nông thôn miền núi đã có nhiều khởi sắc,
kinh tế - xã hội đã có những bước phát triển và đã đạt được những kết quả quan
22
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
trọng: Thu nhập bình quân đầu người 14 triệu đồng/người/năm; tốc độ tăng
trưởng giá trị sản xuất đạt 15%; tỷ lệ hộ nghèo còn 13,64%; cơ sở hạ tầng được
quan tâm đầu tư, xây dựng, như: Điện, đường, trường, trạm, thủy lợi, nước sinh
hoạt,…nhờ vậy đã có 100% thôn, bản có đường giao thông, 90% hộ gia đình sử
dụng nước hợp vệ sinh, 100% xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hóa xã (số liệu
năm 2013).
2.1.2. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1. Đặc điểm tự nhiên
Ví trị địa lý
Địa giới huyện A Lưới được giới hạn trong tọa độ địa lý từ 16 0 00'57'' đến
16027’ 30'' vĩ độ Bắc và từ 1070 0' 3’ đến 1070 30' 30'' kinh độ Đông.
Ranh giới hành chính của huyện được xác định:
- Phía Bắc giáp huyện Phong Điền và huyện Đa Krông (tỉnh Quảng Trị);
- Phía Nam giáp huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam;
- Phía Đông giáp huyện Hương Trà, Nam Đông và thị xã Hương Thủy;
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào.
Huyện A Lưới nằm trên trục đường Hồ Chí Minh chạy qua địa phận 14
xã, thị trấn trong huyện đã phá thế ngõ cụt, nối liền A Lưới thông suốt với hai
miền Bắc-Nam đất nước; cách không xa quốc lộ 9- trục đường xuyên Á, có thể
thông thương thuận lợi với các nước trong khu vực qua cửa khẩu Lao Bảo-Quảng
Trị; đồng thời, Quốc lộ 49 nối đường Hồ Chí Minh với quốc lộ 1A, đây là trục
giao thông Đông-Tây quan trọng kết nối A Lưới với quốc lộ 1A, thành phố Huế
và các huyện đồng bằng. Có 85 km đường biên giới giáp với nước CHDCND
Lào và là huyện duy nhất trong tỉnh có 2 khẩu quốc tế A Đớt-Tà Vàng (tỉnh Sê
Kông) và cửa khẩu Hồng Vân-Kutai (tỉnh SaLavan) liên thông với CHDCND
Lào, đây là các cửa ngõ phía Tây quan trọng, là lợi thế để huyện mở rộng hợp tác
kinh tế, văn hóa với nước bạn Lào và các nước trong khu vực.
Địa hình
23
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
A Lưới là huyện miền núi, nằm trong khu vực địa hình phía Tây của dãy
Trường Sơn Bắc, có độ cao trung bình 600-800 m so với mặt nước biển, độ dốc
trung bình 20-250. Địa hình A Lưới gồm hai phần Đông Trường Sơn và Tây
Trường Sơn.
- Phần phía Đông Trường Sơn, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, có các đỉnh
cao là Động Ngai 1.774 m ở giáp giới huyện Phong Điền, đỉnh Cô Pung 1.615
m, Re Lao 1.487 m, Tam Voi 1.224 m v.v. Đây là vùng thượng nguồn của ba con
sông lớn là sông Đa Krông, sông Bồ và sông Tả Trạch đổ về vùng đồng bằng của
hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
- Phần phía Tây Trường Sơn, địa hình có độ cao trung bình 600 m so mặt
nước biển, bao gồm các đỉnh núi thấp hơn và một vùng thung lũng với diện tích
khoảng 78.300 ha. Thung lũng A Lưới có địa hình tương đối bằng phẳng với
chiều dài trên 30 km, đây là địa bàn tập trung đông dân cư của huyện.
Khí hậu
A Lưới nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu
chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam.
- Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22 0C- 25oC. Nhiệt độ cao nhất
khoảng 34oC- 36oC, nhiệt độ thấp nhất trong khoảng 7oC- 12oC.
- Lượng mưa các tháng trong năm từ 2900- 5800 mm.
- Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm 86-88%.
- Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, trong
đó lượng mưa lớn tập trung vào 10 đến tháng 12, thường gây lũ lụt, ngập úng;
mùa khô kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8, mưa ít, chịu ảnh hưởng gió Tây khô
nóng, lượng bốc hơi lớn gây ra khô hạn kéo dài.
Thủy văn
A Lưới là khu vực thượng nguồn của 5 con sông lớn, trong đó có 2 sông
chảy sang Lào là sông A Sáp và sông A Lin; 3 sông chảy sang phía Việt Nam là
sông Đa Krông, sông Bồ và sông Tả Trạch (nhánh tả của sông Hương). Ngoài ra
A Lưới còn có mạng lưới các suối phân bố hầu khắp trên địa bàn huyện. Phần lớn
24
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Minh Tuấn
sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, lòng sông hẹp, thường bị sạt lở vào
mùa mưa, gây khó khăn cho xây dựng cầu, đường và đi lại.
2.1.2.2. Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện A Lưới là 1.224,63 km2, trong đó:
a) Đất nông nghiệp: Diện tích 114.052,58 ha, chiếm 93,1% tổng diện tích
tự nhiên, được sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
b) Đất phi nông nghiệp: Diện tích 4.997,99 ha, bao gồm đất ở, đất chuyên
dùng, đất tôn giáo-tín ngưỡng, đất nghĩa trang-nghĩa địa và sông suối, mặt nước
chuyên dùng.
c) Đất chưa sử dụng: Toàn huyện còn 3.413,03 ha đất chưa sử dụng, chiếm
2,78% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng phân bố ở những
vùng ít có điều kiện thuận lợi về tưới và giao thông đi lại khó khăn.
Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh
hoạt dân cư trên địa bàn huyện A Lưới là hệ thống các sông và mạng lưới các khe
suối. Trong phạm vi huyện A Lưới có các sông chính là sông A Sáp, A Lin, Tà
Rình, Đakrông, sông Bồ.
Nguồn nước ngầm. Mực nước ngầm của các khu vực trong huyện khá cao.
Qua khảo sát thực tế cho thấy các giếng đào của dân cho thấy mực nước ngầm có
ở độ sâu từ 4 m trở lên.
Tài nguyên rừng
A Lưới có diện tích đất lâm nghiệp lớn 107.849,63 ha, trong đó diện tích
đất rừng sản xuất có 45.903,28 ha, đất rừng phòng hộ 46.322,34 ha, rừng đặc
dụng 15.489,10 ha; đất rừng tự nhiên là 86.647,16 ha, đất rừng trồng là 15.858,79
ha. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2010 đạt 75%. Trữ lượng gỗ khoảng 6-7 triệu m 3, với
nhiều loại gỗ quí như lim, gõ, sến, mun, vàng tâm, dổi, kiền, tùng v.v. và nhiều
loại lâm sản khác như tre, nứa, luồng, lồ ô, mây... Động vật rừng đa dạng và có
một số loài như sao la, chồn hương, mang, nai...thuộc nhóm động vật quý hiếm
cần được bảo vệ.
25
SVTH: Trần Thị Thanh Nhi
Lớp: K50-TT&MKT