Tải bản đầy đủ (.docx) (56 trang)

HỆ THỐNG ÔN TẬP HIẾN PHÁP VB1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (360.67 KB, 56 trang )

HỆ THỐNG NỘI DUNG ÔN TẬP
MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
1. Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấy ví dụ minh
họa.
a. Khái niệm Luật Hiến pháp
Luật Hiến pháp là một ngành luật gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan
hệ cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, chế
độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân, về quốc tịch…
b. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp (Luật Nhà nước)
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp là gì?
Đối tượng đường chính của Luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội quan trọng của nhiệm với
việc xác định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, chính sách đối ngoại và an ninh quốc
phòng, địa vị pháp lý của công dân cũng như tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp gồm:
Có học giả liệt kê cụ thể những quan hệ xã hội mà nó nói tiếng pháp điều chỉnh. Những quan
hệ xã hội liên quan đến cuộc nguồn gốc của quyền lực nhà nước và bản chất quyền lực nhà
nước; Những quan hệ xã hội liên quan đến mô hình nhà nước Việt Nam. Đó là mối quan hệ cho
phép xác định cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà
nước với nhau; Những mối quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định cơ sở kinh tế văn hóa xã
hội của việc tổ chức nhà nước Việt Nam; Những mối quan hệ xã hội giữa nhà nước với
các công dân Việt Nam nói chung… Đó là những quan hệ xã hội xác định hình thức tham gia
của nhân dân vào việc quyết định các công việc của nhà nước, xác định địa vị pháp lý của công
dân.
Luật Hiến pháp có đối tượng điều chỉnh rộng liên quan tới nhiều lĩnh vực của đời sống nhà
nước và xã hội, Điều mà các học giả đã khẳng định: “…Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến
pháp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một loại quan hệ xã hội nhất định mà ngược lại nó điều
trị nhiều loại quan hệ xã hội khác nhau trên tất cả lĩnh vực hoạt động của nhà nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”[1]. Tuy nhiên phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp cũng
có giới hạn “Phạm vi đó chị yếu chỉ giới hạn ở những quan hệ xã hội quan trọng vẫn nhìn với
việc xác định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, chính sách đối ngoại và an ninh quốc


phòng, địa vị pháp lý của công dân cũng như tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [2]. Hiến pháp không thể điều chỉnh những quan hệ xã hội cụ
thể trong mọi lĩnh vực mà chỉ quy định những vấn đề chung mang tính nguyên tắc, định hướng
trong từng lĩnh vực, cụ thể:


+ Trong lĩnh vực chính trị, hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới việc xác
định chế độ chính trị. Nội dung của chế độ chính trị bao gồm các vấn đề như chủ quyền quốc
gia; bản chất Nhà nước; nguồn gốc quyền lực của Nhà nước; hình thức thực hiện quyền lực
nhân dân; vai trò của đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước xã hội; vai trò của mặt trận tổ
quốc Việt Nam và các thành viên của mặt trận; mục đích nhiệm vụ của Nhà nước các cơ quan
Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước; chính sách dân tộc của Nhà nước chính sách đối ngoại
của Nhà nước.
+ Trong lĩnh vực kinh tế, hiến pháp quy định mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước; chính
sách phát triển kinh tế; các loại hình chế độ sở hữu chính sách của Nhà nước đối với các thành
phần kinh tế; chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước; các nguyên tắc Nhà nước quản lý lý
kinh tế quốc dân.
+ Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, hiến pháp quy định mục đích phát triển của nền văn hóa
giáo dục, khoa học công nghệ; chính sách của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển văn hóa
giáo dục, khoa học và công nghệ; chính sách xã hội của Nhà nước.
Những quan hệ xã hội trong các lĩnh vực nói trên được hiến pháp điều chỉnh ở mức độ khái
quát hóa cao mang tính định hướng cơ bản. Trên cơ sở đó các luật và văn bản dưới luật sẽ điều
chỉnh cụ thể những quan hệ xã hội này. Nhưng khi những quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh
vực kinh tế, văn hóa – xã hội được cụ thể hóa bằng luật học văn bản dưới luật thì bạn thân của
những văn bản đó không phải là nguồn của Luật Hiến pháp mà trở thành nguồn của các ngành
luật khác như kinh tế, hành chính, đất đai, lao động… chỉ có những quan hệ xã hội liên quan
liên quan tới lĩnh vực chính trị khi được điều chỉnh bởi luật học sinh mà dư luận thì những văn
bản này sẽ là nguồn của Luật Hiến pháp. Ví dụ: Lật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm
1999, Nghị định về quy chế thực hiện dân chủ ở xã năm 1998.
+ Một trong những nội dung cơ bản của hiến pháp là mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Mối quan hệ này được thể hiện thông qua những quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân.
Đảm bảo các quyền tự do cá nhân là một trong hai nội dung cơ bản của khẩu hiệu lập hiến.
Thiếu sót của hiến pháp Mỹ 1787 – Bản hiến pháp đầu tiên của nhân loại không ghi nhận các
quyền tự do cá nhân đã được bổ sung bởi 10 tu chính án vào năm 1791. Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam dân chủ – Hiến pháp 1946 đã để ra ba nguyên tắc xây dựng hiến pháp một
trong ba nguyên tắc đó là đảm bảo quyền tự do dân chủ. Và hiến pháp đã trịnh trọng khi nhận
các quyền và nghĩa vụ của công dân ngay tại chương hai với 18 điều khoản.
Trải qua 5 bản hiến pháp các quyền tự do dân chủ của cá nhân ở nước Việt Nam ngày càng
được mở rộng. Bên cạnh đó những quyền và nghĩa vụ của công dân còn được bảo đảm thực


hiện bằng các quy định của luật và văn bản dưới luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật
Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân, Luật Báo chí, Luật thiếu lại tố cáo, Luật giáo dục…
Như vậy Luật Hiến pháp không những điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản mà còn điều
chỉnh những quan hệ xã hội cụ thể liên quan đến mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Tuy
nhiên trong lĩnh vực này Luật Hiến pháp chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cụ thể liên quan
đến quyền nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực chính trị còn trong những lĩnh vực khác thì
những quan hệ xã hội cụ thể lại được điều chỉnh bởi quy phạm của các ngành khác.
+ Vấn đề trọng tâm của mỗi bản hiến pháp là tổ chức Nhà nước. Nội dung của tổ chức Nhà
nước bao gồm những vấn đề như tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước cấu trúc Nhà nước và
thiết lập mối quan hệ giữa cơ quan Nhà nước trung ương và cơ quan chính quyền địa phương.
Quyền lực Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước vì vậy hiến pháp phải quyết
định cách thức thành lập phân định rõ thẩm quyền phạm vi hoạt động của các cơ quan Nhà
nước đồng thời xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với nhau. Tuy nhiên trong
phạm vi của mình hiến pháp chỉ quy định những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến tổ chức và
hoạt động của từng cơ quan Nhà nước như vị trí chức năng nhiệm vụ quyền hạn cơ cấu tổ chức
và trình tự hoạt động chung của cơ quan Nhà nước. Trên cơ sở những quy định của hiến
pháp luật pháp lệnh và một số văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ điều chỉnh cụ thể những
vấn đề này. Những văn bản này tạo thành nguồn quan trọng và chiếm một số lượng lớn trong

số nguồn của Luật Hiến pháp.
Nội dung của vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước cũng chính là nội dung của hình
thức chính thể. Nhưng không thể đồng nhất chính thể với chế độ chính trị hay nói cách khác
không thể đồng nhất chế độ chính trị với tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước. Vấn đề cốt lõi
của chế độ chính trị là quyền lực nhân dân mà phạm trù “quyền lực nhân dân” không thể đồng
nhất với phạm trù “quyền lực Nhà nước” và thực hiện quyền lực Nhà nước. Quyền lực nhân
dân được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó hình thức quyền lực Nhà nước là cơ bản.
Như vậy chế độ chính trị thiết lập những nguyên tắc nền tảng cơ bản cho việc tổ chức thực hiện
quyền lực Nhà nước. Hay nói cách khác chính chế độ chính trị đóng vai trò quan trọng (nếu
như không nói là quyết định) đối với việc xác lập hình thức chính thể của Nhà nước.
=> Nói tóm lại, từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng Luật Hiến pháp điều chỉnh hai
nhóm quan hệ xã hội sau:
– Thứ nhất, nhóm quan hệ xã hội gắn với việc xác định cơ sở của quyền lực nhân dân bao gồm
chế độ chính trị chế độ kinh tế văn hóa – xã hội.
– Thứ hai, nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước của
nhân dân bao gồm tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước quyền và nghĩa
vụ của công dân.
c. Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp (Luật Nhà nước)
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp là gì?


Từ lý luận chung về pháp luật phương pháp điều chỉnh pháp luật là tổng hợp tất cả những cách
thức tác động lên các quan hệ xã hội. Phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp là
toàn bộ những phương thức, cách thức tác động pháp lý lên những quan hệ xã hội thuộc phạm
vi điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp nhằm thiết lập một trật tự nhất định phù hợp với ý chí
Nhà nước. Muốn thành một của phương pháp điều chỉnh riêng phụ thuộc vào nội dung và tính
chất của những quan hệ xã hội mà mình lúc đó điều chỉnh.
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp gồm:
Như đã trình bày ở trên, những quan hệ xã hội mang lại một tiếng pháp điều chỉnh liên quan
đến quyền được nhân dân và việc thực hiện quyền lực Nhà nước của nhân dân. Bởi vậy những

quan hệ xã hội đó mang tính chất quyền lực. Những quan hệ pháp Luật Hiến pháp thường là
những quan hệ giữa Nhà nước và công dân Nhà nước và xã hội giữa cơ quan Nhà nước với cơ
quan Nhà nước. Để điều chỉnh những quan hệ này Luật Hiến pháp cần có những cách thức tác
động đặc biệt. Những cách thức mà Luật Hiến pháp sử dụng để điều chỉnh những quan hệ xã
hội là:
– Phương pháp bắt buộc:
Bắt buộc, cách thức này được Sử dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến việc thực
hiện quyền lực Nhà nước và xác định nghĩa vụ của công dân. Theo cách thức này quy phạm
Luật Hiến pháp buộc chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp phải thực hiện hành vi nhất định.
Ví dụ: Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn
dân.
– Phương pháp cho phép:
Cho phép, cách thức này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội gắn với việc xác
định quyền công dân và quyền hạn của các cơ quan Nhà nước. Theo cách thức này quy phạm
Luật Hiến pháp cho phép chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp thực hiện hành vi nhất định.
Ví dụ: Công dân đủ từ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, đủ từ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử
vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân.
– Phương pháp cấm đoán:
Cấm đoán, cách thức này được sử dụng để điều chỉnh một số quan hệ xã hội liên quan đến
quyền công dân và hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Theo cách này quy phạm pháp Luật
Hiến pháp. Chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp thực hiện hành vi nhất định.
Ví dụ: Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công lao động dưới
độ tuổi lao động.


Những cách thức của trên cũng chính là phương pháp mà luyến pháp sử dụng để tác động lên
những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của mình.
Bên cạnh đó cần phải phân biệt phương pháp điều chỉnh với sự điều chỉnh (cơ chế điều chỉnh).
Sự điều chỉnh của Luật Hiến pháp là tác động của tổ chức, có mục đích của các quy phạm pháp
Luật Hiến pháp lên những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp

nhằm điều chỉnh, bảo vệ và duy trì sự phát triển của những quan hệ xã hội đó.
Sự điều chỉnh của Luật Hiến pháp được thực hiện thông qua hệ thống những phương tiện pháp
luật như quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, ý thức pháp luật trách nhiệm pháp lý và
phương pháp điều chỉnh.
Để điều chỉnh những quan hệ xã hội, trước hết Luật Hiến pháp, thiết lập năng lực pháp lý cho
chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp xác định quy chế pháp lý và bảo đảm việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của các chủ thể thông qua các phương tiện pháp lý khác.
Đối với thể nhân (công dân, cử tri, cá nhân khác) Luật Hiến pháp thiết lập năng lực pháp lý tức
là quy định quyền nghĩa vụ chung không phụ thuộc vào khả năng vị trí xã hội của từng chủ thể.
Lực pháp lý của các cơ quan Nhà nước bằng hàm chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Mỗi cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền riêng phù hợp với nhiệm vụ chung.
Năng lực pháp lý của các tổ chức xã hội và các chủ thể khác bảo hành quyền và trách nhiệm.
Khi thiết lập năng lực pháp lý cho chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp Luật Hiến pháp sử
dụng các phương pháp bắt buộc, cho phép, cấm đoán.
Như vậy, việc xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể quan hệ quan hệ pháp Luật
Hiến pháp không phải là phương pháp điều chỉnh như quan điểm của một số học giả mà nó phụ
thuộc vào một trong những yếu tố của sự điều chỉnh (cơ chế điều chỉnh) của Luật Hiến pháp.
Ngoài ra, có quan điểm cho rằng phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp là xác định
những hình thức chung mang định hướng cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ luật pháp.
– Phương pháp xác lập những hình thức chung mang tính định hướng:
Ví dụ: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng
Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
Quan điểm này không chính xác bởi hai lý do sau:
Thứ nhất những nguyên tắc chung (như nguyên tắc quyền lực nhân dân đại diện nhân dân,
Đảng lãnh đạo, tập trung, dân chủ,…) là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống Luật Hiến
pháp. Chính trên cơ sở những nguyên tắc chung này mà Luật Hiến pháp được xây dựng thành
hệ thống thống nhất đồng thời là những nguyên tắc chung tạo mối liên kết chặt chẽ giữa
các chế định của ngành Luật Hiến pháp.
Thứ hai đã là những nguyên tắc chung thì thường mang tính khái quát hóa cao vì vậy những
nguyên tắc chung không điều chỉnh những quan hệ xã hội cụ thể.



=> Nói tóm lại bắt buộc, cho phép, cấm đoán là những phương pháp mà ngành Luật Hiến pháp
sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến
pháp.

2. Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
Hiến pháp là gì?
Hiến pháp là một đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực nhà nước cơ bản nhất ban hành quy
định tổ chức nhà nước, cơ cấu, thẩm quyền các cơ quan nhà nước trung ương và quyền cơ bản
của
con
người.
Mọi cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp.
Hiến pháp xã hội chủ nghĩa : Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ghi nhận, khẳng định và củng cố các
quan hệ sản xuất mà nó có nhiệm vụ bảo vệ, đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, ghi
nhận và củng cố các nguyên tắc cơ bản của đường lối quốc phòng toàn dân bảo vệ tổ quốc xã
hội
chủ
nghĩa,
đường
lối
đối
ngoại hòa bình hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc thể hiện tính chất nhân đạo, tính nhân văn
sâu sắc của chế độ mới đồng thời ghi nhận, khẳng định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân,
xác
định
một


cấu tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hiến pháp tư sản : là hiến pháp do nhà nước tư sản ban hành, bảo vệ quyền lợi, ý chí giai cấp
tư sản, hiến pháp thừa nhận chế độ đa nguyên, đa đảng, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, các
hiến pháp tư sản chủ yếu do pháp luật quy định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đặc điểm của hiến pháp
a.
Hiến
pháp

văn
bản
tổ
chức
quyền
lực
nhà
nước
-Nếu nhắc đến Hiến pháp trước tiên chúng ta sẽ nghĩ rằng nó là 1 cái khung pháp luật quy định
về
tổ
chức
quyền
lực
của
nhà
nước
:
+ Xác định hình thức, cấu trúc của nhà nước, phân cấp quyền hạn giữa các chủ thể, các bộ
phận trong cơ cấu đó (Hiến pháp Việt Nam quy định về tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước
cộng hòa dân chủ Việt Nam, Hiến pháp của Mỹ cũng như vậy). Khi đề cập đến Hiến pháp thì

đây là văn bản pháp lý, quy định về tổ chức và quyền lực của nhà nước đó.
+ Quy định chính thể nhà nước, tùy theo cách tổ chức các cơ quan nhà nước ở Trung ương mà
xác định chính thể nhà nước đó là quân chủ lập hiến hay cộng hòa. Việc lựa chọn hình thức
chính thể có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi quốc gia.
+ Hiến pháp quy định nguyên tắc tổ chức
quyền lực nhà nước.
+ Hiến pháp quy định 1 hệ thống chế độ xã hội của nhà nước ( chế độ chính trị, kinh tế, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại) làm cơ sở xã hội cho việc tổ chức quyền lực nhà nước. Với
những quy định về chế độ xã hội khác nhau sẽ quyết định đến bản chất nhà nước và cách thức
tổ
chức
quyền
lực
nhà
nước
khác
nhau.
+ Hiến pháp thiết lập 1 hệ thống tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Đó là việc thiết lập


1 hệ thống các cơ quan nhà nước, quy định nguyên tắc hoạt động, thẩm quyền và các mối quan
hệ qua lại giữa chúng. Chỉ có Hiến pháp mới có quyền quy định thành lập hay bãi bỏ các cơ
quan này. Mọi văn bản pháp luật sau hiến pháp chỉ được cụ thể hóa hiến pháp chứ không được
quy
định
mới
các

quan
nhà

nước.
Hiến pháp không chỉ quy định các cơ quan ở Trung ương mà còn quy định các cơ quan ở địa
phương,
như ở Việt Nam không những quy định về , về Chính Phủ, Quốc Hội. Hay các cơ quan nhà
nước
khác

Trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, với các cấp chính quyền ở địa phương.
b. Hiến pháp – văn bản quy định quyền con người, quyền công dân
-Quyền con người, quyền công dân là tư tưởng, khẩu hiệu của giai cấp tư sản trong cuộc cách
mạng tư sản. Khi giành chính quyền, giai cấp tư sản thường định chế vào Hiến pháp, đối với
các nước xã hội chủ nghĩa, con người là mục tiêu và là động lực của sự phát triển, nên quyền
con người, quyền công dân là chế định cơ bản của Hiến pháp. Hiến pháp là một thành quả của
dân chủ.
Ý nghĩa dân chủ của Hiến pháp thể hiện rõ nét hơn ở chỗ, nó là văn kiện chính trị – pháp lý ghi
nhận, bảo vệ quyền con người. Hiến pháp quy định những quyền cơ bản nhất của công dân.
Ghi nhận, mở rộng quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp là xu hướng phát triển
của các bản Hiến pháp, mỗi nhà nước sẽ có các cơ chế, biện pháp cụ thể.
Hiện nay khi nói đến tính dân chủ, chủ yếu ta đề cập đến giá trị của con người, công dân, nên
đây được xem là vấn đề trung tâm của mọi nền dân chủ. Và đây là mục đích của con người
hướng tới, thành lập ra bộ máy nhà nước thì đây được xem là 1 công cụ, 1 phương tiện để
người dân tổ chức cuộc sống đạt tới mục đích giải phóng con người, đảm bảo quyền con người.
Khi quyền con người được pháp lý hóa quy định trong Hiến pháp và pháp luật ở mỗi nước thì
khi đó mới gọi là quyền công dân. Hiến pháp là 1 văn bản pháp lý nó quy định mục tiêu của
mỗi nhà nước và quy định giá trị của con người mà các công ước quốc tế (ví dụ : công ước
quốc tế quyền con người năm 1948, công ước quốc tế con người về chính trị dân sự năm 1966,
công ước quốc tế quyền con người về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội).
3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
Kế thừa và phát triển những giá trị cốt lõi từ các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 đã
thể hiện chủ quyền của Nhân dân ở một tầm khái quát mới, sâu sắc hơn, đầy đủ hơn. Điều 2

Hiến pháp 2013 đã bổ sung quy định quan trọng đó là có sự “kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Có thể thấy, với quy định
mang tính nguyên tắc này, Hiến pháp 2013 đã có sự kế thừa về bản chất và mô hình tổng thể về
tổ chức bộ máy trong Hiến pháp 1992, đồng thời một lần nữa khẳng định tầm quan trọng hơn
bao giờ hết của việc kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay. Kiểm soát quyền lực nhà nước có


ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhằm đảm bảo cho việc tổ
chức, thực hiện quyền lực nhà nước hoạt động đúng mục đích, hiệu quả, vì lợi ích của Nhân
dân. Nếu việc kiểm soát quyền lực nhà nước không được thực hiện tốt thì quốc gia đó sẽ khó
có thể phát triển một cách ổn định và bền vững.
Về kiểm soát quyền lập pháp
Trong các bản Hiến pháp trước cũng như Hiến pháp 2013, chưa có quy định nào về kiểm soát
quyền lập pháp của Quốc hội và không xác định một cơ quan chuyên trách nào kiểm soát việc
thực hiện quyền lực của Quốc hội. Điều 69 Hiến pháp 2013 quy định “ Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”. Với việc quy định này, có người sẽ cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền
lực cao nhất nên Quốc hội cao hơn Chính phủ và Tòa án Nhân dân tối cao, tức là quyền lập
pháp sẽ cao hơn quyền hành pháp và quyền tư pháp. Nếu hiểu như vậy là hiểu chưa đúng tinh
thần của Hiến pháp 2013. Tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định “Quyền lực Nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Quốc hội là thiết chế do Nhân dân bầu ra, các cơ quan
và cá nhân đứng đầu các quyền hành pháp và tư pháp do Quốc hội bầu ra. Vì thế, Quốc hội
được coi như là thiết chế trung tâm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Bên cạnh đó, Hiến pháp 2013 đã trao quyền chủ động và độc lập hơn cho các cơ quan nhà
nước, đặc biệt là Chính phủ trong thực hiện quyền lập pháp. Hiến pháp 2013 đã quy định
Chính phủ có quyền chủ động xây dựng kế hoạch trình dự án, thực hiện quyền trình các dự án
luật thì Chính phủ cũng có thể rút lại các dự án đó trong trường hợp do luật định. Trong quá
trình làm luật của Quốc hội, Chính phủ tổ chức triển khai, tiếp nhận các phản hồi và thảo luận

để hoàn thiện các dự án luật. Mặc dù, Quốc hội có quyền đề xuất và quyết định các sửa đổi dự
án luật theo đệ trình của Chính phủ nhưng Chính phủ có quyền thảo luận các đề xuất, ý kiến
của Quốc hội để các dự án luật có tính khả thi khi áp dụng. Do vậy, trong quá trình đề xuất, xây
dựng dự án luật, cần đề cao trách nhiệm của Chính phủ trong việc tham vấn Quốc hội cũng như
nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội nhằm bảo đảm chất lượng của các dự án luật. Thực tế
ở Việt Nam cho thấy, việc kiểm soát hoạt động lập pháp chỉ mang tính một chiều. Mặc dù quá
trình xây dựng dự án luật có rất nhiều chủ thể tham gia nhưng có thể thấy cơ bản là do Chính
phủ chủ trì thực hiện, vì thế chất lượng của các dự án luật phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng
hoạt động của Chính phủ.
Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp 2013 có quy định về ủy
quyền lập pháp. Theo đó, Điều 100 Hiến pháp 2013 quy định “Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ Trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái
pháp luật theo quy định của luật”. Thực tế, trong thời gian vừa qua, việc ban hành văn bản quy
phạm pháp luật gặp rất nhiều bất cập, thậm chí có một số văn bản có dấu hiệu vi hiến. Do vậy,
để đảm bảo cho Chính phủ thực thi lập pháp ủy quyền, tránh lạm quyền trong việc ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội cần tăng cường giám sát nhằm đảm bảo cơ chế về ủy
quyền lập pháp được thực hiện hiệu quả.
Về kiểm soát quyền hành pháp


Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Theo
đó, Chính phủ có quyền ban hành các chính sách, văn bản độc lập để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình. Mặc dù Chính phủ là do cơ quan quyền lực nhà nước lập ra nhưng không
có nghĩa rằng quyền hành pháp là quyền tái sinh từ cơ quan quyền lực. Quyền hành pháp là
một trong ba nhánh quyền lực tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước nhưng trong quá
trình thực thi quyền lực, quyền hành pháp của Chính phủ luôn phải chịu sự kiểm soát, giám sát
tối cao của Quốc hội. Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội xuất phát từ tính
chất trực tiếp đại diện cao nhất cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Điều này được
Hiến định trong các nội dung sau: Quốc hội “xét báo cáo công tác của Chính phủ”, “quy định

tổ chức và hoạt động của Chính phủ”, “bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội”. Còn Chính phủ “chịu trách nhiệm trước
Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội”. So với quyền lập
pháp và quyền tư pháp, thì quyền hành pháp có đặc trưng cơ bản là “hành động để đưa pháp
luật vào cuộc sống”. “Hành động” này chính là việc Chính phủ đề xuất chính sách, pháp luật
để Quốc hội phê chuẩn, thông qua. Từ đó Chính phủ lại tổ chức triển khai chính sách, pháp luật
đó. Vì vậy, Chính phủ luôn là chủ thể chính bảo đảm hiệu quả hoạt động của các nhánh quyền
lực trong cơ cấu quyền lực nhà nước. Trong việc thực hiện quyền hành pháp, mối quan hệ giữa
Quốc hội và Chính phủ còn được thể hiện ở quyền quyết định và hoạch định chính sách. Theo
đó, Quốc hội quyết định những chính sách dài hạn, mang tầm định hướng quốc gia, còn Chính
phủ quyết định những chính sách ngắn hạn, mang tính chất điều hành các mặt kinh tế, xã hội
của đất nước. Khoản 2 Điều 96 Hiến pháp 2013 một lần nữa đã khẳng định vai trò hoạch định
chính sách của Chính phủ “Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn…” .
Bên cạnh đó, cơ chế kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện quyền hành pháp còn thể hiện
thông qua việc Quốc hội tham gia vào việc quy định tổ chức và hoạt động của Chính phủ.
Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễm nhiệm Thủ tướng chính phủ, có quyền phê chuẩn
việc bổ nhiệm, miễm nhiệm, cách chức các Phó thủ tướng, các bộ trưởng…
Về kiểm soát quyền tư pháp
Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến
của nước ta quy định trong toàn hệ thống chính trị, Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng
xét xử và thực hiện quyền tư pháp, tức là có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các việc có
tranh chấp theo thẩm quyền quy định. Hiến pháp 2013 quy định cơ chế kiểm soát quyền tư
pháp từ phía cơ quan lập pháp, thể hiện qua việc Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn
nhiệm đối với các chức danh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, lấy phiếu tín nhiệm, miễn
nhiệm đối với các chức danh do mình bầu, như Chánh án Toàn án nhân dân tối cao, Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, việc kiểm soát quyền lực này chủ yếu mang tính một chiều
giữa cơ quan quyền lực nhà nước với cơ quan tư pháp mà hầu như chưa có chiều kiểm soát
ngược lại.

Cơ chế kiểm soát thứ hai đối với kiểm soát quyền tư pháp là từ phía Chủ tịch Nước. Khoản 7
Điều 70 và khoản 3 Điều 88 Hiến pháp 2013 thì Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chủ
tich nước bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo phê chuẩn của Quốc hội. Thẩm phán các


cấp khác do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm
phán quốc gia. Quy định này thể hiện nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong Nhà nước
pháp quyền, nâng cao vị thế của cơ quan tư pháp với cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp;
đảm bảo nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân thực hiện chức năng kiểm
soát việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp theo nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.
Theo đó, Tòa án nhân dân thực hiện quyền sáng kiến lập pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung luật
nếu thông qua hoạt động xét xử thấy văn bản luật trái Hiến pháp, mâu thuẫn với luật khác hoặc
không phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án hành
chính đối với các hành vi hành chính, quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước;
các phán quyết về các vi phạm quyền con người…
Ở nước ta, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều bắt nguồn từ Nhân dân. Cả ba quyền này
tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều là những yếu tố tạo nên sự thống nhất của
quyền lực nhà nước. Hiến pháp 2013 ra đời là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện
bộ máy nhà nước, tạo dựng cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, bảo đảm cho
bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả.
3. Tại sao nói Hiến pháp là công cụ giới hạn quyền lực nhà nước ?
- Nhà nước có nguồn gốc xuất phát từ nhân dân , được nhân dân tin tưởng giao cho quyền lực
để có thể quản lí xã hội , duy trì và đảm bảo cho cuộc sống của nhân dan . - Bên cạnh việc Nhà
nước có chức năng phải duy trì và đảm bảo cho cuộc sống của con người , nếu không kiểm
soát quyền lực nhà nước sẽ trở nên lạm quyền , xâm hại đến quyền con người . Vì Nhà nưỘC
xét cho cùng cũng chính do con người tạo nên , nên Nhà nước cũng mang theo những bàn tỉnh
tốt và xấu của Con người . - Nội dung cơ bản của Hiến pháp có những quy định ngăn ngừa bản
tính xấu vốn có của người cầm quyền tác giới hạn quyền lực NN ) . Điều này được thể hiện

qua 2 nội dung chính mà Hiến pháp để cập là phản quyền và nhân quyền , Đi đội với quyền lực
được trao , nhà nước cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình vôi nhân dân theo hiến pháp
quy định
4. Tại sao quy trình làm hiến pháp được thiết kế với sự tham gia rộng rãi của người dân?
5. Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Tại sao nói Hiến pháp là đạo luật bảo vệ các quyền cơ bản của con người ?
- Một trong những chức năng cơ bản của hiến pháp là bảo vệ các quyền con người , quyền
công dân . Thông qua HP , người dân xác định những quyền gi của minh mà nhà nước phải tôn
trọng và đảm bảo thực hiện , cùng những cách thức để bảo đảm thực thi những quyền đó . Với tinh chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao , hiến pháp là bức tường , chân quan trọng
nhất để ngăn ngừa những hành vi lam dung xâm phạm quyền con người , quyền công dân ,
cũng như là nguồn tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình
bị vi phạm . - Hiệu lực bảo vệ quyền con người , quyền công dân của Hiến pháp còn được phát


huy thông qua hệ thống chế quyền bảo vệ có thể như thông qua hệ thống tòa ản tư pháp , các
cơ quan nhân quyền quốc gia , CÓ quan thanh tra Quốc hội hay Tòa ản hiến pháp
6. Phân tích quy trình lập hiến theo quy định của Hiến pháp năm 2013.
7. Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013.
Cơ chế bảo vệ Hiến pháp (CCBVHP) là tổng thể các yếu tố bao gồm thể chế bảo vệ Hiến pháp
(BVHP), cơ quan BVHP và phương thức vận hành BVHP, có quan hệ tương tác lẫn nhau, tạo
thành một hệ thống để tiến hành các hoạt động nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng và
thực
hiện,
mọi
hành
vi
vi
phạm
Hiến
pháp

bị
xử
lý.
Xét một cách tổng quan, CCBVHP trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
(NNPQXHCN) Việt Nam phản ánh bản chất của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa (NNXHCN), thể
hiện hài hòa tính dân tộc và tính thời đại, chứa đựng những giá trị phổ biến của văn minh nhân
loại về nhà nước pháp quyền, đồng thời phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (NNCHXHCN) Việt Nam.
Muốn vậy, cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong NNPQXHCN Việt Nam cần đáp ứng những yêu cầu
sau đây:
Một là: Tính độc lập và chuyên trách của cơ quan bảo vệ Hiến pháp
Cơ quan chuyên trách BVHP là yếu tố trung tâm của CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam.
Để cơ chế này vận hành đạt được mục đích bảo vệ Hiến pháp, đáp ứng các yêu cầu của
NNPQXHCN Việt Nam, cơ quan BVHP phải có vị trí độc lập với các cơ quan khác trong bộ
máy nhà nước, hoạt động của nó phải mang tính chuyên trách với những chức năng, nhiệm vụ
riêng.
Bảo vệ Hiến pháp là hoạt động đặc biệt được thể hiện ở mục đích, tính chất, nội dung. Do vậy,
đòi hỏi hoạt động đó phải được tiến hành bởi chủ thể đặc biệt. Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ
quyền nhân dân, bảo vệ chế độ chính trị, nền tảng pháp lý của nhà nước; bảo vệ những giá trị
trường tồn và cao quý nhất trong xã hội. Bảo vệ Hiến pháp không chỉ là bảo vệ sự tuân thủ
nguyên tắc, quy phạm được thể hiện bằng lời văn của Hiến pháp mà còn bảo vệ tinh thần cốt
lõi của Hiến pháp. Để đạt được mục đích đó, nội dung bảo vệ Hiến pháp không chỉ bao gồm
hoạt động mang tính pháp lý đơn thuần mà còn cả hoạt động mang tính chính trị. Nội dung
hoạt động BVHP được xác định căn cứ chủ yếu vào nội dung của Hiến pháp trong
NNPQXHCN Việt Nam. Nội dung đó quyết định và chi phối phạm vi chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan BVHP. Trong NNPQXHCN Việt Nam, hoạt động BVHP phải được tiến hành bởi một
cơ quan chuyên trách với chức năng, nhiệm vụ: (1) Xem xét, phán quyết xử lý văn bản vi
hiến; (2) Giải quyết tranh chấp và vi phạm Hiến pháp liên quan đến tổ chức và thực hiện quyền
lực nhà nước; (3) Giải thích Hiến pháp; (4) Bảo vệ quyền con người, quyền và tự do hiến định
của công dân; (5) Giải quyết vi phạm hiến pháp liên quan đến các quan chức nhà nước cao cấp

hoặc đảng chính trị. Để thực hiện được các chức năng nêu trên, cơ quan BVHP phải độc lập về
tổ chức và hoạt động so với các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nội dung hoạt động bảo vệ Hiến pháp cũng quy định tính chất đặc thù của cơ quan chuyên
trách BVHP. Đó phải là cơ quan vừa mang tính chính trị, vừa mang tính tài phán về mặt tư
pháp (tài phán hiến pháp). Nếu thiếu tính chất chính trị, cơ quan BVHP không thể thực hiện


hoạt động giải thích Hiến pháp, giải quyết các vụ việc liên quan đến các quan chức nhà nước
cao cấp hoặc đảng chính trị có hành vi vi hiến. Nếu thiếu tính chất tài phán hiến pháp, cơ quan
BVHP không thể phán quyết và xử lý văn bản vi hiến, bảo vệ các quyền và tự do hiến định của
công
dân.
Tính chất đặc biệt, vị trí độc lập của cơ quan BVHP so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà
nước, độc lập với Đảng và các tổ chức chính trị xã hội phải được quy định trong Hiến pháp và
bảo đảm bởi những nguyên tắc đặc thù. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan
BVHP là những nguyên tắc chính trị pháp lý, phản ánh những yêu cầu khách quan có tính quy
luật đối với hoạt động BVHP, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động BVHP trong NNPQXHCN
Việt Nam. Những nguyên tắc đó chỉ đạo, chi phối cách thức hình thành, tổ chức cơ quan BVHP
chuyên trách, bảo đảm sao cho thiết chế BVHP thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ
riêng của mình.
Hai là: Thể chế BVHP gồm nguyên tắc chính trị - pháp lý hiến định; những quy định
mang tính chuyên biệt trong hệ thống văn bản đồng bộ, nhất quán, minh bạch, rõ ràng
Thể chế BVHP trước hết là những nguyên tắc hiến định. Điều 2, Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung
năm 2001) quy định: “NNCHXHCN Việt Nam là NNPQ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân”. Điều này đã xác định nguyên tắc chỉ đạo quan trọng hàng đầu đối với CCBVHP ở Việt
Nam. Hiến pháp cũng xác định các nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động BVHP đó
là: bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; về hiệu lực tối cao của Hiến pháp; tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước thống nhất; bảo đảm sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước... Các nguyên tắc này không chỉ mang tính pháp lý mà
còn mang tính chính trị sâu sắc; phản ánh những yêu cầu pháp lý bảo đảm tính pháp quyền vừa

phản ánh yêu cầu về mặt chính trị bảo đảm bản chất giai cấp, bản chất dân chủ của
NNCHXNCH Việt Nam. Nói cách khác, CCBVHP tuân thủ các nguyên tắc, yêu cầu của
NNPQ nói chung (gồm: bảo đảm hiệu lực tối cao của Hiến pháp; tôn trọng và bảo vệ quyền
con người, quyền công dân), đồng thời cũng tuân thủ các nguyên tắc, yêu cầu đặc thù của
NNPQXHCN Việt Nam (quyền lực nhà nước thống nhất; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước). Những nguyên tắc chính trị - pháp lý nêu trên giữ vai trò hết sức quan trọng
trong thể chế BVHP, chúng định hướng mục tiêu hoạt động BVHP và có giá trị chỉ đạo nội
dung và cách thức thể hiện các quy định khác trong Hiến pháp và những văn bản pháp luật
chuyên biệt về BVHP. Để điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình tiến hành
hoạt động BVHP, đòi hỏi phải có văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về BVHP. Văn bản
này do Quốc hội ban hành, phù hợp với nguyên tắc và quy định trong Hiến pháp; là sự cụ thể
hóa các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp đối với CCBVHP. Nội dung của các văn bản này
phải phù hợp với nguyên tắc của CCBVHP và các quy định Hiến pháp về vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan BVHP chuyên trách. Văn bản pháp luật về BVHP trong
NNPQXHCN Việt Nam điều chỉnh các vấn đề, như: nội dung của hoạt động BVHP; chức
năng, thẩm quyền của cơ quan BVHP; cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức của cơ quan BVHP;
đối tượng phải chịu sự xem xét tính hợp hiến; phương pháp, hình thức, thủ tục tiến hành các
hoạt
động
BVHP;
những
biện
pháp mà cơ quan BVHP có thể áp dụng đối với những đối tượng gây ra hành vi vi hiến...


Ngoài ra, CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam được tổ chức và vận hành trên cơ sở pháp lý

những
quy
định,

quy
tắc
nội
bộ
của

quan
BVHP.
Thể chế BVHP trong NNPQXHCN Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới dạng các văn bản quy phạm
pháp luật. Hệ thống thể chế BVHP bao gồm những nguyên tắc, quy định tồn tại trong những
văn bản thực định, bảo đảm tính hệ thống, nhất quán, công khai, minh bạch, rõ ràng, được xây
dựng theo quy trình pháp lý nhất định, tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động xây dựng pháp
luật trong NNPQXHCN Việt Nam.
Ba là: Phương thức của CCBVHP phù hợp với vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và
phạm vi thẩm quyền của cơ quan BVHP theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Phương thức là hình thức, phương pháp, quy trình, thủ tục tiến hành hoạt động. Phương thức
hoạt động BVHP là phương thức đặc biệt nhằm đạt được mục đích BVHP, thể hiện vai trò đặc
biệt quan trọng của CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam; phù hợp với vị trí, tính chất, chức
năng, nhiệm vụ và phạm vi thẩm quyền của cơ quan BVHP. Cơ quan BVHP chuyên trách, độc
lập, vừa mang tính chính trị vừa mang tính tài phán hiến pháp, vì vậy, phương thức hoạt động
của nó khác với phương thức BVHP thông qua cơ quan mang tính chính trị như Quốc hội và
cũng khác so với phương thức tố tụng tư pháp ở các tòa án thường(1). Phương thức BVHP
thông qua cơ quan chính trị chủ yếu mang tính tư vấn, khuyến nghị, rất ít những chế tài pháp lý
mạnh và triệt để, không phù hợp để tài phán hành vi vi hiến. Phương thức tố tụng tư pháp ở các
tòa án thường có thể dẫn đến những quyết định, bản án tuyên bố áp dụng chế tài nghiêm khắc
nhưng chúng mang tính cá thể hóa trách nhiệm pháp lý. Những phương thức như vậy không
phù hợp với mục đích, tính chất, nội dung BVHP. Hơn nữa, chủ thể của những hành vi vi phạm
hiến pháp chủ yếu là chủ thể mang tính công quyền, chế tài trách nhiệm có thể áp dụng đối với
những chủ thể đó là trách nhiệm chính trị pháp lý, do đó hoạt động BVHP trong NNPQXHCN
Việt

Nam
phải
được
tiến
hành
theo
phương
thức
đặc
thù.
Ngoài ra, phương thức BVHP trong NNPQXHCN Việt Nam còn phải phù hợp với truyền
thống, trình độ văn hóa pháp lý ở Việt Nam; phương thức vận hành của CCBVHP được thể
hiện cụ thể thông qua các hình thức, phương pháp, quy trình, thủ tục tiến hành các hoạt động
BVHP.
Đối với hoạt động phán quyết và xử lý văn bản vi hiến, phù hợp với tính chất tài phán hiến
pháp và phạm vi thẩm quyền của cơ quan BVHP, phương thức BVHP được tiến hành thông
qua phương pháp khởi tố đặc biệt chứ không thông qua phương pháp khước biện. Theo đó, chỉ
những chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật mới có quyền đề nghị cơ quan BVHP xem
xét tính hợp hiến của VBQPPL. VBQPPL được đưa ra xem xét là đối tượng duy nhất và trực
tiếp của vụ việc. Nếu cơ quan BVHP xác nhận tính bất hợp hiến của văn bản bị khởi kiện, cơ
quan đó sẽ ra phán quyết văn bản đó vô hiệu (tùy vào hiệu lực pháp lý của từng loại văn bản
mà cơ quan BVHP có áp dụng chế tài hủy bỏ văn bản đó hay không).
Quyết định của cơ quan BVHP là chung thẩm, có hiệu lực đối với mọi chủ thể. Hoạt động xem
xét tính hợp hiến của VBQPPL do cơ quan BVHP chuyên trách tiến hành có hai loại giám sát
trừu tượng và giám sát cụ thể và được thực hiện sau khi văn bản có hiệu lực pháp luật. Đối với
những vi hiến của các quan chức nhà nước cao cấp và các tổ chức đảng, phán quyết định của
cơ quan BVHP có hiệu lực bắt buộc đối với chủ thể vi phạm. Đối với những VBQPPL vi hiến,


phán quyết của cơ quan BVHP có hiệu lực bắt buộc chung đối với tất cả mọi người và không

hồi tố. Các phương pháp, hình thức, biện pháp... được tiến hành theo quy trình, thủ tục được
pháp luật quy định, bảo đảm tính công khai, minh bạch, chính xác, khách quan, kịp thời và
hiệu quả của hoạt động BVHP.
Bốn là: CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam tuân thủ nguyên tắc quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong cơ chế tổ chức và
thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.
Thông qua các hoạt động giải quyết tranh chấp và vi phạm hiến pháp liên quan đến việc thực
hiện quyền lực nhà nước, xử lý những sai lầm, lệch lạc, đe dọa thể chế chính trị, đe dọa chủ
quyền quốc gia, CCBVHP góp phần hết sức to lớn bảo đảm cơ chế thống nhất quyền lực. Bên
cạnh đó, CCBVHP cũng tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
quyền
lực
nhà
nước
thống
nhất.
Tổ chức và vận hành của CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong thực hiện quyền lực nhà nước chứ không phải theo cơ chế phân chia và chế ước
quyền
lực(2).
Cơ quan BVHP trong NNPQXHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo cơ chế phân
công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực nhà nước.
Bản thân cơ quan BVHP được nhân dân ủy thác đảm nhiệm chuyên trách chức năng bảo vệ
Hiến pháp. Cũng như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, cơ quan BVHP tham gia thực hiện quyền lực nhà nước theo sự phân công của nhân dân
được thể hiện trong các quy định của Hiến pháp. Bên cạnh sự kiểm soát giữa Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong NNPQXHCN Việt Nam

có cơ quan BVHP chuyên trách thực hiện kiểm soát các cơ quan nói trên. CCBVHP là cơ chế
hữu hiệu để kiểm soát các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
nhưng không làm cản trở hoặc khó khăn cho hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
CCBVHP có tác dụng ngăn ngừa sự lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và
quyền hạn đã được phân công cho các cơ quan nhà nước. Nếu xảy ra sự lạm quyền hoặc không
thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp, cơ quan BVHP có quyền phán
quyết, xác định trách nhiệm hiến pháp và áp dụng các biện pháp chế tài nhất định. Như vậy,
CCBVHP trong NNPQXHCN Việt Nam bảo đảm tính hợp hiến của các hoạt động lập pháp,
hành pháp và tư pháp, bảo đảm các cơ quan nhà nước thực hiện đúng và đủ nhiệm vụ, quyền
hạn
đã
được
phân
công.
Sự phối hợp giữa cơ quan BVHP và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước thể hiện ở chỗ:
Các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước… có thể tham gia vào hoạt động BVHP
thông qua việc đề xuất yêu cầu xem xét tính hợp hiến của VBQPPL, đề xuất yêu cầu giải quyết
và xử lý hành vi vi hiến của quan chức nhà nước cao cấp... Cơ quan BVHP chuyên trách độc
lập nhưng không đối lập với các cơ quan chuyên trách thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp


pháp.


Cơ quan BVHP có phối hợp cùng các cơ quan này thực hiện quyền lực nhà nước và bảo đảm
quyền lực nhà nước thống nhất.
Năm là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với CCBVHP trong NNPQXHCN
Việt Nam
Hiến pháp Việt Nam là văn bản chính trị pháp lý quan trọng nhất của quốc gia, thể hiện chủ

quyền nhân dân, ý chí và nguyện vọng của tất cả các tầng lớp nhân dân. Ý chí và nguyện vọng
đó phù hợp với tôn chỉ mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cũng như các bộ phận
khác của hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tôn trọng và đề cao
Hiến pháp, các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp. Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo NNPQXHCN Việt Nam, nhưng đó là sự lãnh đạo phù hợp với Hiến pháp, nhằm
hướng tới lý tưởng và mục tiêu mà toàn thể nhân dân lựa chọn. Là một bộ phận trong bộ máy
nhà nước, CCBVHP phải đặt dưới sự lãnh đạo hợp hiến của ĐCSVN. Sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với CCBVHP trong NNPQXHCN thể hiện trước hết ở việc các văn
kiện, nghị quyết của Đảng đề ra những quan điểm chỉ đạo đối với hoạt động BVHP và xây
dựng, hoàn thiện CCBVHP ở Việt Nam. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020, yêu cầu: “Xác định CCBVHP, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm
tính tối cao của Hiến pháp”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X viết: “Xác định
CCBVHP, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật”, nghiên cứu
“xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động
và quyết định của các cơ quan công quyền”(3); “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi
phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4). Đại hội XI Đảng Cộng
sản Việt Nam nhấn mạnh: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế, cơ chế vận hành cụ thể
để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới.
Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp
trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(5). Những quan điểm nêu trên
có giá trị định hướng, chỉ đạo một cách toàn diện đối với sự phát triển của các yếu tố thể chế
BVHP, cơ quan BVHP, phương thức vận hành BVHP, bảo đảm cho CCBVHP vận hành có hiệu
quả, phù hợp với các đặc trưng của NNPQXHCN. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
công tác xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng cơ sở pháp lý cho CCBVHP nói riêng. Sự
lãnh đạo của Đảng không chỉ bảo đảm những nguyên tắc, quy phạm về BVHP thể hiện một
cách đầy đủ và đúng đắn những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động

BVHP mà còn bảo đảm rằng những nguyên tắc, quy phạm đó thể hiện một cách trung thực và
toàn diện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Thông qua sự tham gia của nhân dân vào quá
trình xây dựng các VBQPPL về BVHP, ý chí và nguyện vọng của nhân dân được thể hiện và
được tôn trọng trong CCBVHP.


8. Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người.
KN: Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người có từ lúc đã thành hình bào thai
tới lúc đã chết đi và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai hay bất cứ chủ thể nào.
– Về tính chất: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có, không do chủ thể nào ban
phát. Thể hiện vị thế của mỗi cá nhân trong quan hệ với quốc gia mà cá nhân đó là công dân và
với cộng đồng nhân loại
– Về đặc điểm: Quyền con người áp dụng toàn cầu; đồng nhất trong mọi hoàn cảnh; không
thay đổi theo thời gian
– Về chủ thể có quyền: Mọi thành viên của nhân loại, bất kể dân tộc, chủng tộc, thành phần
xuất thân, tôn giáo, tư tưởng, giới tính, độ tuổi,…
– Về luật ghi nhận và bảo đảm: Luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) và luật quốc gia
– Về cơ chế bảo vệ: Các diễn đàn, thủ tục điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm
nhân quyền của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ khu vực.
9. Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ bản của công
dân với quyền cụ thể của công dân?
Quyền cơ bản của công dân là quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, điều chỉnh
những quan hệ đặc biệt quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và
hoạt động bình thường của xã hội.
Quyền cơ bản của công dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công dân và nhà nước; nó
là cơ sở để nhà nước quy định các quyền cụ thể của công dân.
Các quyền cơ bản của công dân bao gồm các quyền cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo
dục, các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân.
Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của công dân về chính trị gồm có: quyền tham gia quản lí nhà
nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo. Các quyền cơ bản của công dân

về kinh tế - xã hội gồm có: quyền lao động, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền xây
dựng nhà ở, quyền bình đẳng nam nữ, quyền hôn nhân và gia đình, quyền được hưởng chế độ
bảo vệ về sức khoẻ, quyền được học tập, lao động, giải trí của thanh niên, quyền được bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục của trẻ em, quyền được ưu đãi của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,
quyền được giúp đỡ của người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Các quyền
cơ bản của công dân về văn hoá, giáo dục gồm có: quyền học tập, quyền nghiên cứu khoa học
và hoạt động sáng tạo. Các quyền cơ bản về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân gồm
có: quyền tự do ối lại, cư trú, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin,
quyền hội họp, lập hội biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyển bất khả xâm phạm về chỗ ở.


10. Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều
14 Hiến pháp năm 2013.
11. Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền
con người, quyền công dân được thể hiện như thế nào?
12. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có
thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2,
Điều 14 Hiến pháp năm 2013).
13. Phân tích vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong xây dựng bộ máy nhà nước
theo pháp luật hiện hành.
Điều 9 của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định:[5]
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã
hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.
Trong các cuộc bầu cử quốc hội tại Việt Nam, các ứng cử viên đều phải được Mặt trận Tổ quốc
phê chuẩn để đưa vào danh sách ứng cử viên. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc còn đảm nhiệm
việc giám sát cuộc bầu cử
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần tích cực trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
động viên toàn dân thực hiện đường lối đổi mới đất nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp khối đại đoàn kết toàn
dân, phát huy quyền làm chủ nhân dân thực hiện việc hiệp thương và phối hợp thống nhất hành
động giữa các thành viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước với nền dân chủ ngày càng phát triển, vai trò của Mặt trận
và các đoàn thể ngày càng được mở rộng. Mặt trận có nhiệm vụ cao cả là tập hợp xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.
Trong thời kỳ đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tăng cường tập hợp, vận động, đoàn kết
rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự
lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần
xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và chính kiến, miễn là tán thành công
cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn
lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt trận ngày càng phát huy vai trò đại diện,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đáp ứng yêu cầu là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân; đủ sức thực hiện giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng


Đảng, xây dựng Nhà nước; làm nòng cốt là trung tâm tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam
yêu nước, tạo được sự đồng thuận và lòng tin vững chắc trong nhân dân, hội tụ tinh thần đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy giá trị của dân chủ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi
mới, xây dựng và phát triển đất nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia tạo dựng và phát triển các phong trào thi đua yêu
nước, các cuộc vận động góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới, Hội nghị lần thứ hai Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa IV, tháng 2/1995) đã quyết định mở cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" và ban hành Thông tư số 04-TT/MTTW,
ngày 3/5/1995 để hướng dẫn thực hiện cuộc vận động.
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" năm 2002 đổi tên là
cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" là cuộc vận động
của thời kỳ đổi mới đất nước, đổi mới công tác Mặt trận. Cuộc vận động được hình thành trên
cơ sở kế thừa, phát huy, quy tụ, mở rộng và nâng cao các phong trào, các cuộc vận động được
tiến hành ở khu dân cư, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, có sự phối hợp của các cấp
chính quyền do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp thống nhất hành động.
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" góp phần thúc
đẩy, tạo điều kiện cho các cuộc vận động, các phong trào yêu nước, các chương trình kinh tế xã hội được thực hiện tốt hơn nhờ việc phối hợp giữa chức năng quản lý của Nhà nước với vai
trò làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng từ khu dân cư, xây dựng cơ sở vững mạnh về mọi mặt làm nền tảng vững chắc cho công
cuộc đổi mới đất nước. Đây là cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện và toàn quốc trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm cùng Đảng và Nhà nước phát huy ý
chí tự lực, tự cường, khơi dậy mọi tiềm năng và sức mạnh của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi
tập thể và của cả cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cuộc vận động góp phần quan trọng vào việc thực hiện dân
chủ trực tiếp, dân chủ tự quản ở cơ sở với phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra".
Hưởng ứng chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ của
Liên hợp quốc về xóa đói giảm nghèo, ngày 17/10/2000, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, nhằm phát huy
truyền thống đoàn kết "tương thân tương ái", "thương người như thể thương thân" của dân tộc
ta, góp phần cùng Đảng và Nhà nước tạo thêm nguồn lực tấn công vào nghèo đói, lạc hậu và
tạo dư luận xã hội rộng rãi, quan tâm, giúp đỡ người nghèo về vật chất và tinh thần, nhằm giải
quyết cơ bản tình trạng đói nghèo trong một thời gian ngắn nhất bằng sức mạnh tổng hợp của
Nhà nước, sự đóng góp giúp đỡ tự nguyện của nhân dân và sự vươn lên của những người
nghèo, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động cuộc vận

động toàn dân hưởng ứng "Ngày vì người nghèo" và lấy ngày 17/10 hằng năm làm ngày cao
điểm của cuộc vận động và kêu gọi: Mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình, các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân đạo, từ thiện, các cơ quan hành chính


sự nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức người Việt Nam sống ở nước ngoài và
các tổ chức quốc tế chính phủ cũng như phi chính phủ vì mục đích nhân đạo… hãy nhiệt liệt
hưởng ứng "Ngày vì người nghèo" với nhiều hình thức ủng hộ phong phú, đa dạng.
Đồng thời với hai cuộc vận động lớn trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp, gắn kết với
các cơ quan, các tổ chức thành viên phát động và triển khai nhiều phong trào, như: "Phong trào
toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”; phong trào “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”,
“Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn
kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng”; phong trào "Thi đua, tình nguyện
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"; phong trào “Vì nghĩa tình biên giới, hải đảo”, “Thanh niên tình
nguyện”, “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”; chương trình “Thắp sáng ước mơ
tuổi trẻ Việt Nam vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; phong trào
“Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; phong trào “Nêu
gương sáng, hiến công, hiến kế vì quê hương đất nước”; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, sống tốt đời - đẹp đạo”; phong trào “Xây dựng chùa cảnh
tinh tiến và tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện”; phong trào “Xây dựng xã hội học tập”;
phong trào “Hiến máu nhân đạo”...
Kế thừa những kết quả quan trọng của hai cuộc vận động, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam ban hành Đề án Tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
nông thôn mới, đô thị văn minh” vào ngày 28/12/2015. Như vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đang chủ trì triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới,
đô thị văn minh”, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và phong trào
“Đoàn kết, sáng tạo, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế” nhằm khơi dậy
mọi tiềm năng, sức mạnh của cộng đồng dân cư, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân, thể hiện sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân và góp phần xây dựng nền kinh tế
Việt Nam phát triển, nhất là trong xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng.


14. Phân tích các điều kiện thực hiện quyền bầu cử theo pháp luật hiện hành.
Bầu cử là thủ tục mà theo đó một nhóm người xác định (nhân dân, cử tri, tập thể, cá nhân) bầu
ra một hay nhiều người thực hiện chức năng xã hội nào đó.. Hay nói khác đi, bầu cử là hoạt
động nhân dân trong một nước hoặc đại phương lựa chọn người đai diện.
Bầu cử là một quyền cơ bản quan trọng mà Hiến pháp của một quốc gia qui định cho
công dân mình.
Như vậy, Hiến pháp, pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam quy định quyền bậu cử cho công
dân với những điều kiện sau: (Đ.54 HP hiện hành, Đ.2 Luật BCĐBQH và Đ.2 Luật
BCHĐND).
Phải là công dân của nước CHXHCNVN


Bầu cử là một hoạt động chính trị của một chế độ xã hội nhất định, thể hiện tính dân
chủ của một quốc gia. Nó là một hình thức lựa chọn nhửng người uy tín, ưu tú vào trong
BMNN.
Đối với Việt Nam, bầu cử là cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước một
cách trực tiếp trong việc tham gia xây dựng BMNN và quản lý NN.
Quyền bầu cử của công dân Việt Nam được Hiến pháp của nước CHXHCNVN quy
định. Trước tiên phải đảm bào là công dân Việt Nam. Theo quy định của pháp luật VN, quyền
này chỉ dành cho những cá nhân mang quốc tịch Việt Nam mà không có sự phân biệt nào giữa
công dân đó có quốc tịch VN theo nguyên tắc xác định quốc tịch tự nhiên hay là có quốc tịch
Việt Nam do được nhập tịch hoặc theo ĐƯQT… miễn là tại thời điểm bầu cử, người có quyền
bầu cử là người có quốc tịch Việt Nam và tuân theo các quy định khác của PL.
Thực hiện quyền bầu cử một cách bình đẳng và phổ thông
Điều kiện này nhằm đảm bảo nguyên tắc phổ thông và bình đẳng trong bầu cử không
phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, nghề nghiệp, thời hạn cư
trú. Tất cả cử tri bầu cử có quyền và nghĩa vụ là ngang nhau.
Về độ tuổi
Đảm bảo nguyên tắc phổ thông Hiến pháp và pháp luật quy định tuổi cử tri là đú 18

tuổi trở lên. Vì:
Độ tuổi được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá thể lực, khả năng nhận thức của công
dân trong việc lựa chọn đại biểu đại diện.
Độ tuổi phụ thuộc vào sự phát triển về sinh học, tâm sinh lý, về giới tính con người,
trình độ dân trí của công dân của từng quốc gia; thậm chí điều kiện kinh tế, ổn định chính trị.
Việc dao động độ tuổi bầu cử cũng ảnh hưởng đến bầu không khí chính trị của mỗi
nước, ảnh hưởng đến việc tỉ lệ dân có quyền tham gia bầu cử nhiều hay ít.
Những trường hợp không được tham gia bầu cử - bỏ phiếu bầu (Điều 23 LBCQH, Điều 25
LBCHĐND) là:
Những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tào án đã có hiệu
lực pháp luật.
Những người đang phải chấp hành hình phạt tù.
Những người đang bị tạm giam theo quyết định của tòa án hoặc theo quyết định hay
phê chuẩn của Viện kiểm sát.
Qui định này không phù hợp vì tạm giam chỉ bị tước quyền công dân (tự do đi lại) chú
không bị tước quyền bầu cử. Ngoài ra, điều này không hợp lý với việc người chấp hành hình
phạt không phải tù vẫn có quyền bầu cử.
Những người bị mất năng lực hành vi dân sự


15. Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông theo pháp luật hiện hành.
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm để cuộc bầu cử trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn,
tọa điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình.
Cơ sở lý luận:
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm để cuộc bầu cử trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn,
tọa điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình.
Phổ thông được hiểu là đại trà, rộng rãi, phổ biến
Bầu cử theo nguyên tắc phổ thông có nghĩa là bầu cử được tổ chức cho tất cả mọi công dân
tham gia, không hạn chế đối với bất kỳ một đối tượng công dân nào , nếu con người đạt được
mức độ hoàn chỉnh về mặt nhận thức

Cơ sở Hiến định:
Điều 7 Hiến pháp 2013.
Điều 1 Luật BCĐBQH, Điều 1 LBCĐBHĐND.
Yêu cầu của nguyên tắc:
Mọi công dân VN khi đến tuổi đều được trao quyền bầu cử, trừ trường hợp pháp luật quy định
Theo quy định của pháp luật VN quyền này chỉ dành cho những cá nhân mang quốc tịch VN
mà không có sự phân biệt nào giữa công dân đó có quốc tịch Việt Nam theo nguyên tắc xác
định quốc tịch tự nhiên hay là có quốc tịch VN do được nhập quốc tịch theo ĐƯQT…, miễn là
tại thời điểm bầu cử, người có quyền bầu cử là người có quốc tịch VN và tuân theo quy định
của PL.
Tuổi có quyền bầu cử
Đủ 18 tuổi trở lên. Tại sao? Vì:
Độ tuổi được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá thể lực, khả năng nhận thức của công dân
trong việc lựa chọn đại biểu đại diện.
Độ tuổi phụ thuộc vào sự phát triển về sinh học, tâm lý, về giới tính con người, trình độ dân trí
của công dân từng quốc gia; thậm chí điều kiện kinh tế, chính trị ổn định
Việc dao động độ tuổi bầu cử cũng ảnh hưởng đến bầu không khí chính trị của mỗi nước, ảnh
hưởng đến việc tỉ lệ dân có quyền tham gia bầu cử nhiều hay ít.
Ví dụ: Ấn Độ, việc giảm độ tuổi trong cuộc bầu cử năm 1989 từ 21 xuống còn 18 làm tăng số
lượng cử tri thêm 50 triệu người
Tuổi có quyền ứng cử
Độ tuổi ứng cử thì thường cao hơn


Phụ thuộc vào việc cá nhân đó đạt đến trình độ văn hóa nào, khả năng lãnh đạo và năng lực
giải quốc các vấn đề quan trọng khi đại diện nhân dân hoặc đảm trách một chức vụ nào đó
trong BMNN
Những trường hợp không được tham gia bầu cử - bỏ phiếu bầu ( Điều 23 LBCQH, Điều 25
LBCHĐND ) là:
Những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp

luật;
Những người đang phải chấp hành hình phạt tù ;
Những người đang bị tạm giam theo quyết định của Tòa án hoặc theo quyết định phê chuẩn của
Viện Kiểm Sát;
(Quy định này không phù hợp vì tạm giam chi bị tước quyền công dân ( tự do đi lại) chứ không
bị tước quyền bầu cử. Ngoài ra, điều này không hợp lý với việc người chấp hành phạt không
phải tù vẫn có quyền bầu cử)
Những người bị mất nang lực hành vi dân sự
Những điều kiện đảm bảo
Việc niêm yết, việc thông báo danh sách cử tri bằng phường tiện thông tin đại chúng;
Công dân có quyền kiểm tra, khiếu nại về danh sách cử tri
Ngày bầu cử chủ nhật
Đơn vị bầu cử chia nhiều khu vực bỏ phiếu
Liên hệ thực tiễn
(1) Số lượng cử tri tham gia bầu cử tuy chiếm tỉ lệ cao nhưng đôi lúc không thực chất vì
có hiện tượng bầu cử thay, bỏ phiếu dùm người khác
(2) Nhiều cử tri do điều kiện công việc, việc làm nên cư trú nhiều nơi nhưng do không
quản lý tốt vấn đề nhân khẩu hoặc cử tri không báo cáo với chính quyền nên dẫn đến đồng thời
có phiếu bầu cử ở nhiều nơi, hoặc không có phiếu bầu.
16. Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng theo pháp luật hiện hành.
Cơ sở lý luận
Nguyên tắc bầu cử bình đẳng là nguyên tắc quan trọng nhất của sự bình quyền công
dân
Pháp luật tạo khả năng như nhau cho các công dân tham gia vào quá trình bầu cử, bầu
cử không thể của một nhóm người nào.
Bình đẳng là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều được tạo điều kiện để
tham gia bầu cử và có cơ hội ngang nhau khi ứng cử và vận động bầu cử.


Cơ sở Hiến định

Điều 7 HP 2013.
Yêu cầu của nguyên tắc, những điều kiện đảm bảo:
Yêu cầu của nguyên tắc
Các cử tri được tham gia vào việc bầu cử có quyền và nghĩa vụ nganh như nhau;
Các ứng cử viên đều bình đẳng với nhau trong việc vận động tranh cử.
Các kết quả bầu cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ cho mỗi ứng cử viên – là cơ
sở xác định kết quả bầu cử.
Mỗi cử tri được phát một phiếu bầu.
Giá trị của mỗi lá phiếu – sức mạnh của các lá phiếu – là như nhau, không phụ thuộc
vào giới tính, địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình, sắc tộc, tôn giáo…;
Những điều kiện đảm bảo
Địa vị xã hội, tài sản… của cử tri không ảnh hưởng gì đến giá trị của phiếu bầu.
Mỗi cử tri chỉ được ghi tên một lần trong danh sách cử tri, bỏ một lá phiếu (đối với mỗi
cấp); chỉ được lập danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu cử trong một cuộc bầu;
Tính đại diện của mỗi đại biểu là ngang nhau; nơi nào có đông cửa tri hơn thì được bầu
số đại biểu đông hơn.
Liên hệ thực tiễn
Vẫn có hiện tượng một cử tri có từ 2-3 thẻ bầu cử. Điều này cho thấy việc tổ chức cấp
thẻ bầu cử không chu đáo và cẩn trọng.
Có cử tri vẫn có tên ở hai danh sách cử tri: ở nơi có HKTT và nơi đăng kí tạm trú. Điều
này xuất phát từ việc kiểm tra, rà soát của chính quyền không chặt chẽ. Mặt khác do cử tri thay
đổi nơi cư trú mà không thông báo với chính quyền đại phương.
17. Phân tích nguyên tắc bầu cử trực tiếp theo pháp luật hiện hành.
Cơ sở lý luận
Bầu cử trực tiếp được hiểu là cử tri tự mình trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện quyền lực
nhà nước mà không thông qua người nào, cơ quan trung gian nào.
Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc
này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình mà bầu ra thành viên của Tuyển cử
đoàn, sau đó Tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước.
Bầu cử trực tiếp, nhân dân có cơ hội thể hiện ý chí, nguyện vọng cùa mình lựa chọn

những người đại diện cho mình thực hiện quyền lực nhà nước. Cùng với các nguyên tắc khác,
nguyên tắc này là điều kiện cần thiết bảo đảm tính khách quan của bầu cử.


Cơ sở Hiến định: Đ.7 HP 2013.
Yêu cầu và những điều kiện đảm bảo của nguyên tắc
Yêu cầu
Cử tri tín nhiệm người nào thì bỏ phiếu cho người đó làm đại biểu Quốc hội hay đại
biểu Hội đồng nhân Dân mà không phải thông qua người nào khác, cấp nào khác (những đại cử
tri hoặc cơ quan khác gọi là cấp trung gian).
Điều kiện đảm bảo
Ngày bầu cử được quy định là ngày chủ nhật để cử tri có điều kiện trực tiếp tham gia bỏ
phiếu;
Nơi bỏ phiếu phải được ấn định và công bố để nhân dân biết; trước ngày bỏ phiếu, nhân
dân được thường xuyên thông báo địa điểm bỏ phiếu.
Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay hay bầu bằng cách gửi
thư.
Mỗi cử tri được nhận một phiếu bầu do tổ bầu cử phát ra và có đóng dấu của tổ bầu cử.
Cử tri phải tự mình nhận phiếu, không nhờ người khác nhận thay.
Cử tri không đồng ý ứng cử viên nào thì trực tiếp gạch tên ứng cử viên đó trên phiếu
bầu cử.
Cử tri không biết đọc biết viết hoặc không tự gạch tên ứng cử viên thì nhờ người khác
viết hộ nhưng cử tri đó phải trực tiếp bỏ phiếu bầu vào thùng phiếu. Nếu tàn tật không bỏ phiếu
được thì nhờ người khác bỏ phiếu dưới sự chứng kiến cùa mình.Cho nên trực tiếp ở đây cũng
được hiểu là trực tiếp thể hiện ý chí, quan điểm, trực tiếp lựa chọn các ứng cử viên dựa trên các
tiêu chuẩn theo đánh giá của các nhân.
Cử tri nếu đau ốm, già yếu, tàn tật không đến nơi bỏ phiếu được thì tổ bầu cử có trách
niệm mang thùng phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri thực hiện quyền bầu cử.
Liên hệ thực tiễn
Nhiều cử tri vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc bỏ phiếu lựa chọn các đại

biểu và chưa nhận thức đúng đắn quyền công dân của mình nên không tự giác đi bầu cử.
Nhiều nơi các tổ bầu cử không thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật nên vẫn
cho cử tri bầu thay những người thân của mình.
18. Phân tích các điều kiện để một người trúng cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện
hành.
I. TIÊU CHUẨN, CƠ CẤU ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Tiêu chuẩn ĐBQH và đại biểu HĐND được quy định trong các Nghị Quyết, Chỉ thị của Đảng
cũng như trong các quy định của pháp luật.


1. Về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân
Vấn đề tiêu chuẩn ĐBQH, đại biểu HĐND có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ quyết định
chất lượng hoạt động của đại biểu mà còn là yếu tố nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội,
HĐND. Tiêu chuẩn ĐBQH theo 5 tiêu chí được quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội.
Các tiêu chuẩn đối với đại biểu HĐND cũng tương đồng như đối với ĐBQH và được quy định
tại Điều 7 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Có thể thấy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh cách mạng nào thì tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của
Đảng về tiêu chuẩn ĐBQH, đại biểu HĐND luôn được xem trọng, là nhân tố bảo đảm xây
dựng cơ quan quyền lực nhà nước vững mạnh, thực sự đại diện cho nhân dân, góp phần thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Vấn đề tiêu chuẩn ĐBQH, đại biểu HĐND không chỉ đặt
ra cho cơ quan, tổ chức giới thiệu người ra ứng cử mà còn là cơ sở, tiêu chí để cử tri lựa chọn
đại biểu và thực hiện quyền chính trị cơ bản của mình.
Theo quy định hiện nay, tiêu chuẩn ĐBQH, đại biểu HĐND mới đề cập đến yêu cầu chung
nhất về đạo đức, tài năng, các mối quan hệ biện chứng giữa đức và tài, về uy tín trước nhân
dân, các điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Hiệu quả hoạt động của đại biểu phụ thuộc vào
các điều kiện cụ thể, bị chi phối bởi yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ, vào điều kiện kinh tế
- xã hội, quyền làm chủ của nhân dân… Từ đó trong mỗi cuộc bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND
ngoài những tiêu chí chung có tính phổ biến, còn chú trọng những quy định về tiêu chuẩn cụ
thể cho phù hợp với yêu cầu mới.
Trên cơ sở quy định về tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND nêu trên, trong quá trình chuẩn

bị nhân sự bầu cử, trước mỗi cuộc bầu cử, Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội xây dựng
Đề án chuẩn bị bầu cử, trong đó, nhưng tiêu chuẩn của đại biểu luôn được chú trọng. Để chuẩn
bị công tác nhân sự ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Ban
Chấp hành trung ương sẽ có Hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Năm 2016 Ban Tổ chức Trung
ương đã có Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW, trong đó có nội dung quy định về tiêu chuẩn đối
với đại biểu HĐND, người ứng cử đại biểu HĐND ngoài các tiêu chuẩn phải đáp ứng theo quy
định tại Điều 7 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, thì người ứng cử đại biểu HĐND các
cấp phải đủ tuổi công tác trọn một nhiệm kỳ (đối với những người đang công tác tại cơ quan
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà
nước nói chung).
Ngoài các tiêu chuẩn chung, người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND chuyên trách ở các
cấp phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện:
(1) Về trình độ, chức vụ:
+ Có trình độ đại học trở lên (đối với cấp tỉnh, cấp huyện); có khả năng tham gia xây dựng
chính sách và tổ chức các hoạt động giám sát; có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn phù
hợp với vị trí dự kiến phân công.
+ Ở cấp tỉnh: Cán bộ ứng cử Phó Chủ tịch HĐND phải là tỉnh ủy viên (trong 02 đồng chí Phó
Chủ tịch HĐND có 01 đồng chí là Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy) giữ chức Giám đốc sở
hoặc tương đương trở lên; ứng cử Trưởng ban của HĐND phải giữ chức Phó Giám đốc sở hoặc


×