BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI:
Các biện pháp được áp dụng trong trường hợp vi phạm hợp đồng (remedies
for breach of contract) của bên bán theo quy định của Công ước Viên 1980
của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và những án lệ
điển hình
LỚP
:
NHÓM
:
Hà Nội, 2020
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
1
I. Phân tích quy định cụ thể của CISG về biện pháp được áp dụng
trong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
1. Nghĩa vụ của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
2. Các biện pháp được áp dụng trong trường hợp bên bán vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của CISG
1
1
2
II. Phân tích và bình luận biện pháp được áp dụng trong trường hợp
bên bán vi phạm hợp đồng trong án lệ số 09 tranh chấp giữa công
3
ty Delchi Carrier (Ý) và công ty Rotorex (Mỹ)
1. Tóm tắt án lệ
3
2. Lập luận của các bên
4
3. Đánh giá, bình luận về án lệ
7
KẾT LUẬN
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
11
MỞ ĐẦU
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những loại hợp đồng
phổ biến trong đời sống quốc tế. Loại hợp đồng ngày được điều chỉnh bởi nhiều
văn bản pháp luật, trong đó có Công ước Viên 1980 (CISG). Thực tế là còn khá
nhiều chủ thể kinh doanh còn lúng túng khi thực hiện các hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Điều này, dẫn đến những tranh chấp hoặc các trường hợp vi
phạm hợp đồng do các bên, đặc biệt là bên bán. Để làm rõ hơn vấn đề này,
nhóm em xin chọn đề tài: “Các biện pháp được áp dụng trong trường hợp vi
phạm hợp đồng (remedies for breach of contract) của bên bán theo quy định
của Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và những án lệ điển hình”.
NỘI DUNG
I. Phân tích quy định cụ thể của CISG về biện pháp được áp dụng trong
trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
1. Nghĩa vụ của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo quy định tại các Điều 1, Điều 40 và Điều 53 CISG, thì có thể hiểu
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở
thương mại đặt tại quốc gia khác nhau, theo đó một bên có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa cho
bên kia và bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng.1
Theo quy định tại Điều 30 CISG, bên bán có các nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ giao hàng. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng như sau: đúng
địa điểm được quy định tại Điều 31 CISG; đúng thời gian trong hợp đồng hoặc
hợp lý nếu hợp đồng không quy định; đúng số lượng và chất lượng của sản
phẩm theo quy định của hợp đồng.
1
Ngô Hữu Thuận, Chế tài hủy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 và theo
pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật, Đại học Huế
3
Thứ hai, nghĩa vụ giao các giấy tờ liên quan đến hàng hóa. Nghĩa vụ này được
quy định tại Điều 34 của CISG, bên bán cần giao đúng thời gian và địa điểm đã
quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên, bên bán có thể giao giấy tờ liên quan đến
hàng hóa trước thời gian quy định nếu không gây bất tiện hoặc chi phí cho bên
mua.
2. Các biện pháp được áp dụng trong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng theo quy định của CISG
Theo quy định tại Điều 45 CISG khi bên bán vi phạm nghĩa vụ phát sinh
từ hợp đồng, bên mua có quyền áp dụng các biện pháp bảo hộ như sau:
Thứ nhất, bên mua có thể yêu cầu bên bán thực hiện đúng các quy định
của hợp đồng. Khi đó, bên bán phải có trách nhiệm giao hàng thay thế trong
thời gian hợp lý nếu hàng không phù hợp với quy định của hợp đồng theo khoản
2 Điều 46 CISG. Trường hợp hàng hóa có thể sửa chữa thì bên bán phải có trách
nhiệm sửa chữa hàng trong thời gian hợp lý để hàng hóa phù hợp với hợp đồng.
Mọi chi phí cho việc giao hàng thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa đều thuộc về
trách nhiệm của bên bán dựa theo Điều 48 CISG.
Thứ hai, bên mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng. Cụ thể trong các trường
hợp sau:
+ Trường hợp thứ nhất: trước khi hợp đồng được thực hiện, nếu bên mua nhận
thấy rõ ràng rằng bên bán đã vi phạm nội dung chủ yếu của hợp đồng theo Điều
72 CISG.
+ Trường hợp thứ hai là khi bên bán đã vi phạm nội dung chủ yếu của hợp đồng
như: bên bán giao hàng không đúng phẩm chất, không đúng số lượng hàng hóa,
giao hàng không đúng thời gian quy định hoặc bên bán đã không giao hàng
trong thời gian đã được gia hạn thêm hay đã tuyên bố không giao hàng trong
thời gian được gia hạn thêm theo Điều 49 CISG.
+ Trường hợp thứ ba là khi bên bán đã giao một phần hàng nhưng phần này
không phù hợp với quy định của hợp đồng, tạo ra sự vi phạm chủ yếu của hợp
đồng theo khoản 2 Điều 51 của CISG.
Việc hủy hợp đồng sẽ giải phóng cho các bên khỏi những nghĩa vụ đã ghi
trong hợp đồng của họ, trừ những điều khoản liên quan đến việc giải quyết tranh
chấp theo Điều 81 CISG. Hậu quả của việc hủy hợp đồng là các bên phải hoàn
trả cho nhau những gì mà họ đã thực hiện trước đó. Ví dụ: bên mua phải hoàn
trả lại hàng cho bên bán (nếu như đã nhận hàng), đồng thời bên bán phải hoàn
trả lại tiền cho bên mua (nếu như bên bán đã nhận tiền). Việc hoàn trả này phải
được tiến hành cùng một lúc. Tuy nhiên, việc buộc phải hoàn trả những gì mà
các bên đã thực hiện trước đó sẽ không áp dụng cho các trường hợp sau:
● Một là, hàng không có khả năng trả lại hoặc hàng đã bị thay đổi tính chất so với
lúc giao nhận ban đầu;
● Hai là, toàn bộ hoặc một phần hàng đã bị mất giá trị hoặc hư hỏng;
● Ba là, toàn bộ hoặc một phần hàng đã được bán theo thủ tục thương mại thông
thường hoặc đã được sử dụng.
Thứ ba, bên mua có thể yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại xảy ra do vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này là tổng số các tổn thất
mà bên mua phải chịu do hậu quả của việc vi phạm hợp đồng do bên bán gây ra
dựa theo các Điều từ 74 đến 77 CISG quy định chi tiết về việc bồi thường thiệt
hại khi một bên vi phạm hợp đồng.
II.
Phân tích và bình luận biện pháp được áp dụng trong trường hợp bên
bán vi phạm hợp đồng trong án lệ số 09 tranh chấp giữa công ty Delchi
Carrier (Ý) và công ty Rotorex (Mỹ)2
1. Tóm tắt án lệ
- Nguyên đơn: công ty Delchi Carrier, S.p.A. (Ý) - bên mua
- Bị đơn: công ty Rotorex Corp (Mỹ) - bên bán
2
QAB21J20Ij2ScwiggN9tcpRhqHViguRhAbI
- Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án quận Hoa Kỳ, Quận Bắc New York (Tòa
án liên bang sơ thẩm), bản án ngày 14/07/1994.
- Sự kiện pháp lý: “Delchi tuyên bố hủy bỏ hợp đồng mua bán máy nén khí với
Rotorex và kiện Rotorex ra tòa án Mỹ đòi bồi thường thiệt hại, trong đó có lãi
mất hưởng”.
- Vấn đề pháp lý:
+ Hành động tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng của Delchi trong trường hợp này
có hợp lý hay không.
+ Delchi có được quyền đòi lãi mất hưởng do vi phạm hợp đồng của
Rotorex không. Nếu được thì việc tính toán lãi mất hưởng được thực hiện như
thế nào.
- Về luật áp dụng: Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (CISG)
- Diễn biến tranh chấp: Rotorex và Delchi ký hợp đồng mua bán máy nén khí.
Sau đó, Delchi phát hiện ra rằng 93% máy nén khí có khả năng làm lạnh thấp
hơn và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn so với mẫu và so với thông số kỹ thuật.
Sau những nỗ lực không thành công của Rotorex để khắc phục các lỗi kỹ thuật
này, Delchi yêu cầu Rotorex cung cấp những máy nén khí mới phù hợp với quy
cách phẩm chất quy định đã thống nhất trước đó. Rotorex đã từ chối. Delchi
tuyên bố hủy bỏ hợp đồng và đòi Rotorex bồi thường thiệt hại.
2. Lập luận của các bên
2.1. Lập luận của nguyên đơn (công ty Delchi Carrier):
Thứ nhất, Delchi căn cứ vào Điều 35 CISG để cho rằng bên bán phải giao
hàng đúng với số lượng, chất lượng và mô tả theo yêu cầu của hợp đồng. Song
thực tế là Rotorex đã vi phạm hợp đồng một cách cơ bản theo quy định của
Điều 25 CISG. Chính vì vậy, Delchi hoàn toàn có quyền hủy hợp đồng theo
Điều 49 CISG.
Thứ hai, đối với việc bồi thường: căn cứ vào Điều 74,75 CISG Delchi yêu cầu
bồi thường thiệt hại các khoản lãi mất hưởng do vi phạm trực tiếp của Rotorex.
Thứ ba, trong đơn kháng cáo của mình, Delchi yêu cầu Tòa xem xét lại
các khoản bồi thường thiệt hại khác, bao gồm bồi hoàn cho: (i) chi phí vận
chuyển, hải quan và các sự cố liên quan; (ii) chi phí các vật liệu cách nhiệt lỗi
thời và các ống phải được đặt riêng để lắp đặt với máy nén Rotorex; (iii) chi phí
các công cụ lỗi thời phải được đặt riêng để lắp đặt sản xuất với các sản phẩm
của Rotorex; và (iv) chi phí trả cho người lao động trong giai đoạn từ ngày 1619/5/1988 khi dây chuyền sản xuất của Delchi không thể hoạt động do thiếu các
thiết bị nén để lắp đặt cho các sản phẩm điều hòa không khí của Ariele.
Ngoài ra, delchi còn kháng cáo khoản lãi mất hưởng tại Ý bị Tòa bác bỏ.
2.2. Lập luận của bị đơn (công ty Rotorex Corp):
Rotorex đưa ra lập luận của mình đối với các khoản bồi thường của Delchi
như sau:
Thứ nhất, Rotorex cho rằng Delchi không thể thâm hụt lợi nhuận bởi vì
Delchi có khả năng duy trì mức tồn kho của các sản phẩm điều hòa Ariele vượt
qua số lượng tối đa có thể bán ra ngoài. Vì vậy, trên thực tế không có sự thâm
hụt nào của các sản phẩm Ariele với lý do các bộ phận nén khí của Rotorex
không đạt tiêu chuẩn.
Thứ hai, Rotorex cho rằng Tòa án đã chưa phân chia công bằng lợi nhuận
cho các đơn hàng chưa hoàn thành từ các chi nhánh của Delchi ở châu Âu và từ
các đại lý bán hàng ở Ý.
Thứ ba, Rotorex yêu cầu Tòa án phải xem lại quyết định loại trừ chi phí
cố định và khấu hao từ chi phí sản xuất được sử dụng để tính toán lợi nhuận bị
thâm hụt: “CISG không nêu rõ liệu chỉ có chi phí biến đổi (chi phí sản xuất) hay
cả chi phí cố định và chi phí sản xuất nên được trừ vào doanh thu bán hàng
trong việc tính lợi nhuận bị thâm hụt. Tuy nhiên, Tòa án thường không tính chi
phí cố định vào vào lợi nhuận bị thâm hụt”3
3
The CISG does not explicitly state whether only variable expenses, or both fixed and variable
expenses, should be subtracted from sales revenue in calculating lost profits. However, courts
generally do not include fixed costs in the calculation of lost profits .
2.3. Lập luận của Tòa
Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng CISG sẽ được áp dụng để giải quyết
tranh chấp vì Ý và Mỹ đều là thành viên của Công ước này.
Về nội dung, công suất làm mát và khả năng tiêu thụ năng lượng là
những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của một chiếc máy nén khí. Tòa cho rằng
máy nén khí không phù hợp với quy cách đo công suất làm mát thấp và tiêu thụ
nhiều năng lượng. Vi phạm này khiến cho Delchi không thực hiện được mục
đích của mình là sản xuất ra những chiếc điều hoà đạt tiêu chuẩn, tiêu thụ được
trên thị trường, do đó nó được coi là một vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG. Vì
thế Delchi có quyền hủy hợp đồng (Điều 49 CISG).
Về khoản lãi mất hưởng mà Delchi yêu cầu bồi thường, Tòa án nhận
định: theo Điều 74 CISG, Delchi được quyền đòi lãi mất hưởng do vi phạm hợp
đồng của Rotorex; tuy vậy Delchi phải cung cấp đủ bằng chứng để chứng minh
thiệt hại một cách hợp lý. Tòa xem xét từng khoản mà Delchi yêu cầu bồi
thường như sau:
– Khoản 1: Do hành vi vi phạm hợp đồng của Rotorex mà Delchi đã
không đáp ứng được các đơn đặt hàng của các chi nhánh công ty khắp Châu Âu,
có chi tiết các đơn đặt hàng là minh chứng và 421.197.095 lia là lợi nhuận mất
hưởng. Tòa án cho rằng cách tính toán và chứng minh khoản thiệt hại này là
hợp lý.
– Khoản 2: Delchi có đưa ra bằng chứng là đơn đặt hàng 500 đơn vị của White –
Westinghouse, trong số đó chỉ có 250 đơn vị được cung cấp. Tuy vậy, Delchi chỉ
đòi được 31.310.200 lia là lợi nhuận mà Delchi mất hưởng do không giao 100
sản phẩm (do Delchi đã hủy đơn đặt hàng 150 sản phẩm trước khi phát hiện ra
vi phạm của Rotorex).
– Khoản 3: Các đại lý của Ý đã xác nhận rằng họ sẽ đặt thêm sản phẩm Ariele nếu
như bên Delchi có thể cung cấp thêm. Số lượng sản phẩm Ariele có thể được đặt
thêm đã được ghi trong bản tổng hợp các đơn đặt hàng dự kiến của Delchi;
nhưng theo Tòa án, bản này không có giá trị pháp lý, mang tính chất suy
đoán. Vì vậy, Tòa án đã bác bỏ khoản lợi mất hưởng tại Ý do Delchi đã không
cung cấp được những chứng từ liên quan đến số lượng hàng bán bị bỏ lỡ ở Ý do
lỗi trực tiếp vi phạm hợp đồng của bên Rotorex.
3. Đánh giá, bình luận về án lệ
Đầu tiên, theo Điều 1(1)(a) CISG hợp đồng mua bán máy nén khí giữa
Công ty Delchi Carrier, S.p.A. (Ý) - bên mua, và Công ty Rotorex Corp (Mỹ) bên bán là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong trường hợp này, các bên
không có thỏa thuận nào về việc lựa chọn một hệ thống luật điều chỉnh và hai
bên đồng ý lựa chọn áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Vì vậy, CISG được
sử dụng để giải quyết vụ án trong trường hợp này là hoàn toàn hợp lý.
4
Tiếp đó, cần bàn luận đến biện pháp được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hợp đồng của công ty Rotorex theo quy định của CISG.
Sau khi bên mua nhận được lô hàng và phát hiện không giống thông số kỹ
thuật được mô tả trong hợp đồng, đại diện kỹ thuật của Rotorex đã thừa nhận
rằng bảng thông số kỹ thuật là một sự nhầm lẫn và máy nén khí thực chất sẽ làm
mát ít hơn và tiêu thụ nhiều năng lượng hơn so với các thông số kỹ thuật được
chỉ ra trong hợp đồng. Trong câu trả lời cho khiếu nại của Delchi, Rotorex đã
thừa nhận một số máy nén không phù hợp với thông tin hiệu suất chỉ mang tính
danh nghĩa này. Căn cứ khoản 1 Điều 35 CISG, bên bán phải giao hàng hóa với
số lượng, chất lượng và mô tả theo yêu cầu của hợp đồng, đồng thời theo Điều
36 và Điều 25 CISG, có thể thấy, trong trường hợp này, bên bán đã vi phạm căn
bản hợp đồng, vì những lý do sau:
Thứ nhất, công ty Rotorex đã giao hàng không đúng với hàng mẫu: Theo
CISG, bên bán phải giao hàng hóa với số lượng, chất lượng và mô tả theo yêu
cầu của hợp đồng, và hàng hóa không phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng
trừ khi họ cho thấy được chất lượng của hàng hóa đó đã được bên bán đưa ra
cho bên mua xem xét như một mẫu vật5.
4
5
Ý và Mỹ đều gia nhập Công ước viên 1980 vào ngày 11/12/1986
Điều 35 CISG
Thứ hai, việc Delchi không nhận được đúng hàng hóa theo thỏa thuận.
Bất kỳ người nào khác có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng có
thể thấy trước được rằng giao hàng hóa không đáp ứng tiêu chuẩn đã thỏa thuận,
sẽ dẫn đến việc bên mua không nhận được hàng hóa đúng nhu cầu của họ.
Trong trường hợp này khi Delchi nhận hàng, đã phát hiện 93% máy nén khí có
khả năng làm lạnh thấp hơn và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn so với mẫu và so
với thông số kỹ thuật đã thỏa thuận. Trong khi đó, khả năng làm mát và tiêu thụ
năng lượng của máy nén điều hòa là những yếu tố quan trọng quyết định giá trị
của sản phẩm.
Vì vậy, Tòa án đưa ra phán quyết bên bán vi phạm nghĩa vụ giao
hàng theo Điều 35 CISG và đó được xác định là vi phạm cơ bản theo Điều
25 CISG đúng đắn.
Theo CISG, trong trường hợp vi phạm là “căn bản” thì bên mua có quyền
yêu cầu người bán giao lại cho người mua hàng hóa thay thế hoặc tuyên bố hủy
hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.
Trong án lệ này, ngay khi Delchi phát hiện chất lượng hàng hóa không
đúng theo mẫu đã yêu cầu Rotorex cung cấp những máy nén khí mới phù hợp
với chất lượng đã thống nhất trước đó. Delchi đã tạo điều kiện cho Rotorex thực
hiện đúng nghĩa vụ của mình, cho Rotorex một khoảng thời gian để khắc phục
vi phạm. Tuy nhiên, Rotorex đã từ chối không cung cấp những máy nén khí
mới. Trước đó, Rotorex đã cố gắng khắc phục những lỗi kỹ thuật nhưng không
thành công, nên những sản phẩm thay thế cũng không thể đáp ứng được chất
lượng như đã thỏa thuận, vì vậy Rotorex đã từ chối yêu cầu giao lại hàng của
Delchi. Việc này đã dẫn tới quyết định hủy hợp đồng của Delchi. Đây cũng là lý
do sau khi vụ việc được đưa ra xét xử, Tòa án áp dụng biện pháp hủy hợp đồng
theo Điều 49 CISG để giải quyết.
Tiếp theo, nhóm em xem xét đến quyết định của Tòa án về bồi thường
thiệt hại cho Delchi.
Rotorex cho rằng Delchi không thể thâm hụt lợi nhuận bởi vì Delchi có
khả năng duy trì mức tồn kho của các sản phẩm điều hòa Ariele vượt qua số
lượng tối đa có thể bán ra ngoài. Nhóm em cho rằng phần tranh luận này là bất
hợp lý. Ngoài ra, có thể dự đoán một cách khách quan rằng Delchi có thể nhận
và thực hiện đơn đặt hàng đối với sản phẩm mang nhãn hiệu Ariele ở Ý, dựa
trên số lượng máy nén khí mà Delchi đã đặt và dự kiến sẽ có đủ, sẵn sàng cho
giai đoạn bán máy điều hòa. Do vi phạm của Rotorex, Delchi đã phải ngừng
hoạt động sản xuất trong vài ngày vào tháng 5 và kết quả là Delchi đã bị mất
một khoản lợi nhuận. Rotorex cho rằng Tòa án quận đưa ra phán quyết về bồi
thường tổn thất lợi nhuận không thỏa đáng đối với những đơn đặt hàng chưa
được thực hiện từ các chi nhánh Delchi ở châu Âu và từ các đại lý bán hàng ở
Ý. Tòa án quận có quyền dựa vào các tài liệu và lời khai để xác định những tổn
thất lợi nhuận của Delchi, đồng thời cũng có quyền quyết định xem đơn đặt
hàng nào là đã được chứng minh với đầy đủ sự chắc chắn. Nhóm em cho rằng
quan điểm của Rotorex là không hợp lý và tán thành với cách tính của Tòa án.
Về kháng cáo của Delchi, Tòa án quận đã bác bỏ kháng cáo yêu cầu được
nhận bồi thường thiệt hại lớn hơn với lý do họ đã xem xét về sự phục hồi của
Delchi từ những chứng cứ liên quan đến lợi nhuận bị mất, và cho rằng khoản
bồi thường Tòa án tuyên là hợp lí để giúp Delchi phục hồi những tổn thất. Về
điều này, nhóm em không đồng tình. Vì theo Điều 74 CISG, khoản bồi thường
thiệt hại phải bao gồm cả khoản tiền tổn thất và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ mà
bên vi phạm đã thấy trước được, hoặc phải thấy trước được, những tổn thất xảy
ra như một hậu quả tất yếu. Do đó, việc chỉ bồi thường thiệt hại cho các chi phí
thực sự phát sinh không có cách nào tạo ra sự phục hồi nhanh chóng mà thay
vào đó, còn có thể mang lại cho nguyên đơn thiệt hại bằng với tổn thất ban đầu.
Về chi phí sản xuất, bao gồm: chi phí vận chuyển, hải quan và các sự cố
liên quan, chi phí cho nhân viên dây chuyền sản xuất, chi phí cho vật liệu, chi
phí cho công cụ lỗi thời được mua riêng để sản xuất các đơn vị với máy nén
Rotorex. Đây là những thiệt hại đương nhiên phù hợp với quy định mà không hề
trùng lặp với thiệt hại về lợi nhuận. Việc Tòa án quận từ chối bồi hoàn cho
Delchi các khoản chi phí ngày sẽ làm giảm đáng kể khoản bồi thường cho lợi
nhuận bị mất. Tuy nhiên, theo nhóm em thì việc Tòa án quận đã từ chối bồi
hoàn chi phí sửa đổi các bảng điện để sử dụng với máy nén Sanyo thay thế là
tương đối hợp lý vì trên thực tế, nguyên đơn đã không đưa ra được bằng chứng
nào củng cố cho luận điểm của mình.
Đây là án lệ điển hình về tranh chấp thương mại do vi phạm hợp đồng
của bên bán. Cụ thể, trong án lệ trên, Rotorex đã vi phạm thỏa thuận về chất
lượng của sản phẩm. Việc Tòa án đưa ra phán quyết hoàn toàn khách quan và
phù hợp với quy định của CISG. Tòa án đã áp dụng biện pháp hủy hợp đồng và
chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của Delchi như một cách khắc
phục hậu quả do vi phạm của bên bán gây ra.
KẾT LUẬN
Như vậy, các biện pháp áp dụng trong trường hợp vi phạm hợp đồng của
bên bán theo quy định của CISG đã giúp cho các các chủ thể của hoạt động kinh
doanh quốc tế sẽ có một khung pháp lý cụ thể, thống nhất khi tham gia các quan
hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Đặc biệt, các chủ thể của hoạt động kinh doanh
khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ tránh được các vấn đề luôn
gây tranh cãi và khó khăn trong đàm phán. Từ đó nhằm hạn chế các trường hợp
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của các bên, đặc biệt là bên bán hàng hóa tạo ra môi
trường mua bán hàng hóa quốc tế lành mạnh và phát triển.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB
Công an nhân dân
2. Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).
3. Nguyễn Thị Mai, Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn: />4. Ngô Hữu Thuận, Chế tài hủy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công
ước Viên 1980 và theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật, Đại học Huế.
Nguồn: />