Ghi chú:
-
Tỷ lệ % = 100%
-
Trưởng nhóm: Trần Hữu Tài (SĐT: 0369910078)
Nhận xét của giáo viên:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Ngày
tháng
năm
Giáo viên chấm điểm
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………..…..2
2. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………..….2
3. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..…..3
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục
1.1.
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa……………………….4
1.2.
….4
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục…………..
1.3.
Nội
dung……………………………………………………………...5
1.4.
Vai trò………………………………………………………..
……….6
Chương 2: Phương châm, phương pháp giáo dục
2.1. Triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh………………………..…..7
2.2. Phương pháp giáo dục…………………………………………………..9
Chương 3: Vận dụng tư tưởng vào việc đổi mới giáo dục đại học ở nước ta
hiện nay
3.1. Thực trạng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay……………………….11
3.1.1. Thành tựu……………………………………………………11
3.1.2.
Hạn chế……………………………………………………....14
3.2. Nguyên nhân của thực trạng trên………………………………………15
3.2.1 Về phía Đảng, nhà nước và các cơ quan chức năng………….15
3.2.2 Về phía giảng viên……………………………………………16
3.2.3 Về phía sinh viên……………………………………………..16
3.3. Giải pháp nâng cao vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng
nền giáo dục đại học hiện nay………………………………………….…..18
1
PHẦN KẾT LUẬN ……………………………………………………....26
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………..27
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập, để giáo
dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới. Nền giáo dục của Việt
Nam đã từng có những thành tích quan trọng, không những trong giai đoạn chiến
tranh, mà cả trong một thời gian đất nước xây dựng trong hoà bình. Thời gian
qua, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục,
có hệ thống giáo dục phát triển thật sự ấn tượng, có thể trở thành những bài học
kinh nghiệm quan trọng cho các quốc gia khác.
Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam
còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư
cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Những nhân tố liên quan chất
lượng giáo dục đang trong tình trạng vừa thiếu vừa yếu như: chương trình, sách
giáo khoa chậm đổi mới; giáo viên chưa đồng bộ về cơ cấu; cơ sở vật chất
trường lớp, sách thiết bị còn thiếu thốn, chưa kiên cố, chuẩn hóa và hiện đại hóa;
công tác quản lý, chỉ đạo giáo dục còn bất cập; nguồn lực và động lực cho giáo
dục phát triển hạn chế, chủ yếu là sự đầu tư của Nhà nước, công tác xã hội hóa
giáo dục kém hiệu quả và chưa thật sự đi vào cuộc sống. Quản lý nhà nước về
giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo
dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước.
Thiếu triết lý đúng đắn khiến giáo dục đại học vẫn đang loay hoay tìm hướng đi.
Mọi chỉ số của nền giáo dục đại học Việt Nam còn yếu kém.
Ngoài ra, ta có thể thấy Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam,
người anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, luôn quan tâm đến vấn
đề giáo dục. Người luôn quan niệm:” Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích
trăm năm trồng người”. Luôn nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước, Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc ta một tư tưởng
lớn, những quan điểm mới về giáo dục.
Vì vậy, để tìm hiểu kỹ hơn về điều đó , em chọn đề tài “ Quan điểm của Hồ Chí
Minh về văn hóa giáo dục. Vận dụng vào việc đổi mới giáo dục đại học ở nước
ta hiện nay”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích khái niệm, đặc điểm , quá trình hình thành và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục. Đồng thời tìm hiểu và góp phần làm
2
sáng tỏ những nội dung cơ bản về quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề đó.
Từ đó làm rõ lý luận của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục, trên cơ sở đó, rút ra
ý nghĩa, giá trị đối với thời đại cũng như đối với dân tộc trong việc vận dụng đổi
mới giáo dục Đại học ở nước ta hiện nay.
Phân tích và làm rõ những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề này.
Từ đó tổng kết lại những thành tựu, nêu lên những hạn chế, rút ra những kinh
nghiệm đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
Đại học, xây dựng nền móng cho thế hệ trẻ tương lai của đất nước.
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm văn hóa giáo dục nhằm trang bị
cho sinh viên những kiến thức cơ bản và lý luận về vấn đề giáo dục. Đồng thời
qua đó giúp sinh viên biết hệ thống lại vấn đề một cách logic, tự làm việc của
bản thân, xử lý, thu nhặt thông tin, giúp sinh viên trình bày tốt cho các môn học,
vận dụng kiến thức cơ bản phục vụ việc tự học và định hướng việc sắp xếp làm
đồ án tốt nghiệp của sinh viên, quan trọng hơn là việc liên hệ được với thực tiễn
của đất nước, của thời đại từ đó liên hệ đến bản thân.
3. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra
luận án còn sử dụng các phương pháp kết hợp lịch sử - logic, phân tích - tổng
hợp, quy nạp, diễn dịch, đối chiếu, so sánh.
Cơ sở phương pháp luận:
●
Đảm bảo sự thống nhất, nguyên tắc và có tính khoa học
●
Quan điểm toàn diện và hệ thống
●
Quan điểm kế thừa và phát triển
●
Kết hợp nghiên cứu với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tra cứu tài liệu, hình ảnh và đưa ra những nhận xét
đánh giá. Vận dụng khái quát và mô tả, các phương pháp liên ngành khoa học xã
hội và nhân văn. Học tập những phương pháp của Hồ Chí Minh, gắn lý luận với
thực tiễn trong quá trình cách mạng Việt Nam, lý trí cách mạng với tình cảm cao
đẹp.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN
HÓA GIÁO DỤC
1.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá
là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn”. Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã khắc phục được quan niệm phiến
diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh thần,
trong văn học nghệ thuật, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục, phản ánh trình
độ học vấn… Trên thực tế, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và
những giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra, nhằm đáp ứng những sinh
tồn và cũng là mục đích cuộc sống của loài người.
Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra; văn hóa là động lực giúp con người sinh
tồn; văn hóa là mục đích cuộc sống loài người; xây dựng văn hóa dân tộc phải
toàn diện, đặt xây dựng "tinh thần độc lập tự cường" lên hàng đầu ngay sau khi
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới việc xây
dựng nền văn hóa mới, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng. Như vậy, nền văn hóa mới ra đời gắn liền với nước Việt Nam mới. Trước
đó ở nước ta là nền văn hóa nô dịch của thực dân phong kiến, làm đồi trụy con
người. Đặc điểm chung nhất của nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là
xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh
tật đè nặng lên cuộc sống của nhân dân ta. Văn hóa mới là phải giáo dục nhân
dân ta tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, tự do tín ngưỡng, không hút thuốc phiện;
chống giặc dốt..
1.2 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp nâng
cao trình độ học vấn, trình độ khoa học - cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa
học tự nhiên, khoa học kỹ thuật - chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ
chức quản lý... Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn
hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, mà nếu không có nó thì sẽ không giữ vững
được nền độc lập dân tộc, không thể tham gia một cách tích cực và có hiệu quả
4
vào công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân
có kiến thức mới để “biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa
cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”.
Là người nắm chắc, vận dụng nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật mác xít,
Hồ Chí Minh nhận thức đúng đắn rằng các nội dung giáo dục có mối quan hệ
mật thiết, khăng khít với nhau. Nếu không có trình độ học vấn thì không học tập
được kỹ thuật, tức cũng không theo kịp được thời đại của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật, công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, và như vậy ngày càng tụt hậu
xa hơn so với các nước. Ngoài ra điều đặc biệt là phải học chính trị, đạo đức. Bởi
vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật, chuyên môn mà không có chính trị, đạo đức thì
như người nhắm mắt mà đi. giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là nhằm
phát triển toàn diện con người Việt Nam, một nền giáo dục vì con người, cho con
người và hướng tới việc xây dựng con người mới - con người xã hội chủ nghĩa.
1.3 Nội dung
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam , là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và
quý giá của Đảng và dân tộc ta , trong đó có tư tưởng về văn hóa giáo dục - bộ
phận quan trọng trong vấn đề xảy dựng nhân tố con người . Sau khi tìm thấy con
đường cứu nước , Hồ Chí Minh đã bỏ nhiều công sức phân tích sâu sắc nền giáo
dục phong kiến và thực hành , chuẩn bị tư tưởng cho việc xây dựng nền giáo dục
của nước Việt Nam độc lập sau này.
Hồ Chí Minh đã phê phán gay gắt nhiều nền giáo dục phong kiến : tầm chương ,
kinh viện , xa rời thực tế , bất bình đẳng , trọng nam khinh nữ . . . và nền giáo
dục thực dân ngu dốt , đồi bại , xảo trá , nguy hiểm hơn cả là sự dốt nát . Nền
giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập được Hồ Chí Minh chuẩn bị từ những
lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng trong những năm của thế kỉ XX , thực sự ra đời
sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám và phát triển cùng với sự nghiệp cách
mạng của cả dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng việc xây dựng một nền giáo dục
của nước Việt Nam mới phải được coi là một mặt trận quan trọng , nhiệm vụ cấp
bách , có ý nghĩa chiến lược , cơ bản và lâu dài. Nền giáo dục đó sẽ “...làm cho
dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm , yêu nước, yêu lao động, một
dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”.
Trong quá trình xây dựng nền văn hóa giáo dục ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa
ra một hệ thống quan điểm rất phong phú và toàn diện, định hướng cho nền giáo
dục phát triển đúng đắn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.
1.4 Vai trò
Nói về vai trò của giáo dục, điều đã được đề cập quá nhiều mà người ta dễ sa vào
5
những triết lý chung chung, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có cách đánh giá
riêng với các lập luận của mình. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, vai trò của giáo dục
thường gắn với sự phân tích khác liên quan tới hoạt động diễn ra trong cuộc
sống. Nhờ vậy, vai trò của giáo dục luôn có ý nghĩa thực tiễn cụ thể. Đó chính là
nét sáng tạo trong tư tưởng của Người.
Vai trò của giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là nhằm phát triển toàn
diện con người Việt Nam, một nền giáo dục vì con người, cho con người và
hướng tới việc xây dựng con người mới - con người XHCN. Trong thư gửi các
học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nền giáo dục mới sẽ “đào tạo các em nên
những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát
triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” . Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
lên án rất sâu sắc nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp với chính sách
ngu dân dễ trị, Người nhấn mạnh: “Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng của giáo dục
nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời
sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi
sọ” .
Nền giáo dục mới phải thực hiện dạy và học theo hướng phục vụ Tổ quốc và
nhân dân. Vai trò này được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt là “Học để làm việc,
để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ
quốc và nhân loại” . Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc dạy và học
phải xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn cuộc sống. Nói chuyện tại Đại hội Giáo
dục phổ thông toàn quốc (23/3/1956), Người động viên các thầy, cô giáo: “Dạy
và học cần phải theo nhu cầu của dân, của Nhà nước.Thầy dạy tốt, trò học tốt,
cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn
hóa. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo”. Trong thư gửi các cháu
lưu học sinh Việt Nam học ở Mát-xcơ-va (19/7/1955), Người căn dặn: “Các cháu
học kỹ thuật và học tiếng Nga cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc,
phục vụ nhân dân” . Về sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ vai trò
của giáo dục là phát triển toàn diện con người để giúp đời, phụng sự Tổ quốc và
nhân dân.Như vậy, có thể thấy rằng Người quan niệm vai trò của giáo dục quan
trọng ở mức độ nào. Vì thế, Người luôn đề cao sứ mệnh của người thầy giáo –
người có vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục: “Có gì vẻ vang hơn nghề đào
tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa và chủ
nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người
vẻ vang nhất…, những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh…
Nếu không có người thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây
dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo là nghề rất quan trọng, rất
vẻ vang”.
6
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG CHÂM, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
2.1. Triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ở Việt Nam, thời kỳ lịch sử nào trong sự nghiệp giáo dục cũng có những triết lý
giáo dục. Đến thời đại hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những
triết lý giáo dục hết sức sâu sắc mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam, hàm chứa
những yếu tố truyền thống và hiện đại. Điều đầu tiên là Phải coi giáo dục là giải
pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của một quốc gia cũng
như của mỗi cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến triết lý này ngay từ
cuối những năm 40, giữa những năm 50 của thế kỷ XX: “Vì lợi ích mười năm thì
phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, hoặc tư tưởng học tập
suốt đời của Người: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải
gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi,
biết hết rồi”. Triết lý giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO đến năm 1996 mới
đề ra khẩu hiệu “Học suốt đời”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan
điểm “học suốt đời” sớm hơn UNESCO hàng mấy chục năm. Vì vậy, đổi mới tư
duy về giáo dục, đào tạo hiện nay cần nghiên cứu lại những triết lý giáo dục
trong tư tưởng của Người.
Khi bàn về giáo dục, một trong những tư tưởng nổi bật và xuyên suốt, đồng thời
cũng là mong muốn của Người là “làm cho dân có học hành”, “ai cũng được
học hành”. Theo Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Con đường ngắn
7
nhất thoát khỏi tình trạng hèn yếu và kém phát triển chỉ có thể thông qua giáo
dục, Người khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân
tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Từ đó, Người yêu cầu giáo dục phải nhằm mục tiêu: tất cả vì con người, cho con
người, do con người. Đây chính là triết lý nhân bản với tư tưởng cốt lõi: sự
nghiệp giáo dục phải phục vụ nhân dân, vì sự tiến bộ và phát triển của nhân dân,
do nhân dân thực hiện. Người nhấn mạnh, thông qua giáo dục: “Tất cả mọi người
đều được phát triển hết khả năng của mình”. Từ triết lý cốt lõi này sẽ quy định
mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục và yêu cầu về phẩm chất, năng lực
của đội ngũ những người làm công tác giáo dục.
Để có thể phát triển hết khả năng, nhân dân phải được giải phóng về tư tưởng,
mọi ràng buộc, bất công trong xã hội và bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị
của giáo dục, có cơ hội được học hành. Muốn vậy, theo Người, trước hết giáo
dục phải hướng vào giải phóng nhân dân thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của nền
giáo dục cũ, tạo cơ hội cho nhân dân tự giải phóng khỏi những tư tưởng lạc hậu.
Đồng thời giáo dục phải trang bị cho nhân dân tư tưởng tiến bộ và lý tưởng của
con người mới xã hội chủ nghĩa, từ đó đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn
minh, tiến bộ. Đây chính là triết lý khai phóng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – giải
phóng và khai sáng, có nghĩa là thông qua giáo dục nhân dân phải được cởi bỏ áp
bức, bóc lột về thể xác và tinh thần, đồng thời được vươn lên tầm trình độ sáng
suốt, thông tuệ về mọi mặt. Đây là mục đích cao nhất của giáo dục.
Xuyên suốt toàn bộ nội dung giáo dục nhằm mục tiêu khai phóng còn là triết lý
phát triển. Triết lý phát triển mang ý nghĩa bao quát, bao gồm phát triển con
người và xã hội. Sự phát triển con người là sự phát triển toàn diện cả về thể chất
và tinh thần, cả thể lực và trí lực hướng tới xây dựng con người mới xã hội chủ
nghĩa “vừa hồng, vừa chuyên”. Triết lý phát triển con người toàn diện thông qua
giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy yếu tố đạo đức cách mạng làm trục
chính, trong đó cốt lõi là lý tưởng cách mạng. Đạo đức cách mạng là “cái gốc”,
“nền tảng” định hướng cho sự phát triển của con người. Sự phát triển con người
là cơ sở cho sự phát triển của xã hội, sự phát triển ấy sẽ góp phần tiến tới một xã
hội văn minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh kỳ vọng. Động lực của sự phát triển xã
hội nằm chính trong mỗi cá nhân, vì vậy mục tiêu phát triển con người cũng là
động lực cho sự phát triển xã hội. Mục tiêu và động lực đó chỉ thực hiện được
khi con người được thức tỉnh, giáo dục, giác ngộ, được tổ chức và định hướng
hành động đúng đắn.
2.2. Phương pháp giáo dục
Để thực hiện được mục đích và nội dung của giáo dục trong giai đoạn mới phải
có phương pháp giáo dục thiết thực, hiệu quả. Người yêu cầu phương pháp giảng
8
dạy phải: “Cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” và “Phải gắn liền lý luận
với công tác thực tế” đạt tới mục đích cải tạo tư tưởng và nhằm đúng nhu cầu
của xã hội. Trong bài “Nói về công tác huấn luyện và học tập”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ ra công tác giáo dục - đào tạo phải làm cho người học có kiến thức,
năng lực để phục vụ sản xuất, công tác, nên việc cốt yếu là phải làm cho người
học hiểu thấu vấn đề. Vì vậy, trong giáo dục, đào tạo không nên tham nhiều, dàn
trải không hiệu quả. Phải xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, của địa
phương; phải căn cứ vào từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành
cấp tỉnh, cấp huyện… xem nhu cầu của công việc mà họ đảm nhận, năng lực của
họ đang yếu và thiếu cái gì để trang bị những tri thức, phương pháp và kỹ năng
cần thiết để người học làm việc được ngay. Theo Người: “Các ngành công tác
như là người tiêu thụ hàng. Ban huấn luyện như là người làm ra hàng. Làm ra
hàng phải đúng với nhu cầu của người tiêu thụ. Nếu người ta cần nhiều xe mà
mình làm ra nhiều bình tích thì hàng ế”. Trong quá trình giáo dục, đào tạo cần
kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, lý luận và thực tiễn với mục đích nâng cao
nhận thức, đồng thời nâng cao khả năng làm việc của người học. Phải dạy người
học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào
cuộc sống và thực tế công tác của họ. Người cho rằng, lý luận cũng như cái tên
(hoặc viên đạn), thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc
bắn lung tung, cũng như không có tên. Những nội dung về phương pháp giáo dục
này chính là triết lý sáng tạo và triết lý hành động trong giáo dục của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Tức là, phải sáng tạo trong cách học và cách dạy, muốn vậy phải
thông qua hành động thực tiễn để cải tạo, đổi mới giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ những người làm
công tác giáo dục. Vì đây là lực lượng không thể thiếu, Người khẳng định: “nếu
không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ
nghĩa xã hội được”. Theo đó, đối với xây dựng đội ngũ những người làm công
tác giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao phẩm chất toàn diện, những phẩm
chất chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Vì theo Người: “Chính trị là linh
hồn, chuyên môn là xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ là cái xác
không hồn”. Do đó, người làm công tác giáo dục phải có phẩm chất chính trị của
người cán bộ cách mạng của Đảng. Tức là phải có giác ngộ chính trị sâu sắc,
phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trước hết, trên hết và bất kỳ hoàn
cảnh nào cũng phải thực hiện tốt đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước;
đồng thời phải kính trọng nhân dân, tin vào sức mạnh của nhân dân. Để có phẩm
chất chính trị, Người lưu ý một vấn đề hết sức quan trọng đối với những người
làm công tác giáo dục đó là học tập lý luận, vì "Làm mà không có lý luận thì
không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp. Có lý luận
thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho
đúng, làm cho đúng". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận mà người thầy cần
phải học đó là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, vì “có học tập lý luận Mác 9
Lênin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao
sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó”.
Trong các giải pháp phát triển giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập, vấn
đề kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có vị trí khá nổi bật. Người nói:
“Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã
hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.
Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và
ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Người yêu cầu nhà trường phải
liên hệ chặt chẽ với gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, để phát triển giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần có sự
quan tâm và phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp và nhiều người. Người nhắc
nhở: “Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy
Đảng phải thật sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình
hơn nữa” . Người luôn luôn kêu gọi đồng bào đóng góp công sức của mình vào
việc xây dựng giáo dục: “Từ trước đến nay, đồng bào ta đã hết lòng giúp đỡ công
việc giáo dục. Tôi mong rằng từ nay về sau, đồng bào sẽ cố gắng giúp đỡ nhiều
hơn nữa cho trường học”.
Phải giáo dục từ tuổi trẻ, tạo ra một sự khởi đầu tốt đẹp, để có một rừng cây giáo
dục Việt Nam khỏe khoắn, xanh tươi. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả giáo dục phụ thuộc rất lớn vào
đường lối của Đảng, trách nhiệm của chính quyền, các ngành, các cấp, các đoàn
thể - đặc biệt là đoàn thể thanh niên - của cha mẹ học sinh. Phải tạo ra sức mạnh
tổng hợp. Bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, phần còn lại thuộc
về vai trò của các đoàn thể nhân dân, gia đình, xã hội. Để có một nền giáo dục
đạt chất lượng và hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục xã hội
chủ nghĩa, thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với
thi đua và phương pháp nêu gương. Dân chủ thể hiện ở thảo luận, bàn bạc, phát
biểu ý kiến; ở quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa thầy với thầy, thầy với trò, giữa trò
với nhau, giữa cán bộ công nhân viên, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh...
Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là “cá đối
bằng đầu”.
Những giải pháp phát triển giáo dục ở trên rất cụ thể nhưng cũng rất cơ bản. Đặc
điểm của các giải pháp đó là gắn chặt, nhất quán với đánh giá vai trò của giáo
dục và định hướng phục vụ của giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây chính
là tiền đề cho chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng ta, là một trong các
phương châm phát triển giáo dục theo hướng “Chuẩn hóa, Hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”.
10
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1 Thực trạng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay
3.1.1.
Thành tựu
Có thể thấy chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới nhanh và mạnh mẽ, tiếp
cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm qua. Minh chứng rõ nhất cho
nhận định này là những kết trong việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học,
xếp hạng đại học.
Các cơ sở giáo dục đại học của chúng ta không thể hội nhập với thế giới nếu
không được kiểm định chất lượng. Người tốt nghiệp có tấm bằng của cơ sở giáo
dục hoặc của chương trình đào tạo đã được kiểm định có cơ hội công ăn việc làm
và hội nhập tốt hơn. Đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều đã có
đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Tính đến tháng 5.2016, có 229/266
(chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục đại học do Bộ GDĐT quản lý đã thành lập được
đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, một số trường còn lại giao một số
cán bộ phụ trách hoạt động đảm bảo chất lượng. Cả nước hiện nay có 05 Trung
tâm Kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và được cấp phép hoạt động.
Đã tổ chức 5 đợt tuyển chọn và cấp thẻ kiểm định viên, có 346 người đã được
cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và trung
cấp chuyên nghiệp.
Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các
tiêu chí chuẩn mực của khu vực và thế giới. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài,
nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch
cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách
nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà
trường và quản lý dạy, học. Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho
công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trọng thúc đẩy nâng cao chất lượng
giáo dục và hội nhập với thế giới.
Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, vào năm 2018, 2 Đại học
Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo
bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp
hạng nghiên cứu SCImago. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3
sao theo QS-Stars.
Đột phá, chuyển biến về chất lượng
5 năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học,
thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ
và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo. Chất lượng đầu
11
ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước
đây. Chuẩn đầu ra về ngoại ngữ bậc đại học là B1; chuẩn đầu vào với thạc sĩ là
B1 và B2 với NCS. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải
trang bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học.
Trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên
cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có NQ29, để nâng cao
chất lượng giáo dục đại học, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được Bộ
GD&ĐT quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường đại học. Thành tích lớn
nhất của 5 năm qua là chúng ta đã tạo được sự chuyển biến đột phá về chất
lượng. Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế.
Nếu như trước đây, GS, PGS,TS không yêu cầu bắt buộc có công bố quốc tế, thì
nay, với quy chế mới về tiêu chuẩn chức danh, bắt buộc yêu cầu GS, PGS và cả
các NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế. Nhờ nâng chuẩn chất
lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu, công bố
quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 3 năm gần đây.
Chăm lo đào tạo và bồi dưỡng nhân tài; có sự chuyển dịch mạnh mẽ và kịp thời
cơ cấu ngành nghề
Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, Bộ GD-ĐT còn chỉ đạo các trường đại
học tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng
cao để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Chương trình tài năng đào tạo cử nhân, kỹ
sư có năng khiếu trong lĩnh vực khoa học cơ bản (cử nhân tài năng) và kỹ thuật
công nghệ (kỹ sư tài năng). Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình
đào tạo bậc đại học, áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên-công nghệ, sử
dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy
hoàn toàn bằng tiếng Anh. Đội ngũ giảng viên tham gia chương trình là của Việt
Nam và một số giảng viên nước ngoài, nhằm phát triển quốc tế hóa chương trình
đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực toàn cầu. Bên cạnh đó, với chương trình 911,
322, chúng ta đã cử đi đào tạo hàng nghìn trí thức trẻ, ưu tú ở nước ngoài.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển nhanh chưa từng có kéo theo yêu cầu
lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao và đang tạo ra những cơ hội
cũng như thách thức với giáo dục đại học.
Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề
phù hợp nhằm hướng tới đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao,
trình độ cao trong giai đoạn mới. Năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên
(SV) đại học là hơn 1,7 triệu SV, quy mô SV cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ
còn 47.800 SV. Phần lớn SV tập trung theo học các ngành thuộc Khối ngành V,
III: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ
thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và
khối ngành: Kinh doanh quản lý, Pháp luật.
12
Năm 2016-2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ ĐH là 184 ngành, tập trung
chủ yếu vào các nhóm ngành: Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công
nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật.
Một số ngành mới khác như: an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, robotic,
khoa học dữ liệu, công nghệ hàng không vũ trụ đã được mở ở ĐHQGHN; các
ngành tự động hóa, CNTT, khoa học máy tính, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo,
công nghệ nano,...được giảng dạy và đào tạo ở nhiều trường đại học trong cả
nước, cho thấy ngành giáo dục đại học của Việt Nam đang bắt nhịp được với xu
thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0 đang diễn ra trên thế giới.
3.1.2.
Hạn chế
Các số liệu thống kê, những phân tích, những kết luận cho thấy giáo dục đại học
hiện nay đang có nhiều yếu kém, bất cập. Những bất cập đó có thể tìm ở khía
cạnh số lượng, khi mà tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 20-24 đang được đào tạo
trong các trường đại học ở Việt Nam chỉ chiếm 10%, trong khi đó tỷ lệ này ở
Thái Lan là 41%, Hàn Quốc là 89% và ở Trung Quốc là 15%. Số sinh viên trên
vạn dân hiện nay ở nước ta là khoảng 120, trong khi đó con số này ở Thái Lan là
400 sinh viên. Theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam nhanh chóng phát triển
và nâng cấp các trường đại học thì đến năm 2015 chúng ta sẽ phấn đấu đạt 300
sinh viên/ 1 vạn dân và đến năm 2020 sẽ đạt đến con số của Thái Lan.
Vài năm gần đây, đăng ký tham gia kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học
thường ở vào khoảng 1,6 – 1,8 triệu lượt thí sinh, nhưng hệ thống các trường đại
học chỉ có khả năng đáp ứng được khoảng 1/5 đến 1/6 số lượng trên. Về mặt
quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học cũng không đồng nhất, mạnh ai lấy
làm, không đồng bộ. Bộ GD&ĐT cũng chỉ quản lý gần 30% các trường đại học
cao đẳng trong toàn quốc. Đội ngũ giảng viên ở các trường đại học dường như ít
thay đổi trong suốt 17 năm qua, nhưng cũng trong khoảng thời gian đó số lượng
sinh viên đã tăng lên gấp đôi. Mặt khác số giảng viên có trình độ tiến sĩ cũng rất
thấp, chỉ chiếm khoảng 10%, trong khi đó tỷ lệ tiến sĩ trong đội ngũ giảng viên
trong các trường đại học mức trung bình ở phương Tây là khoảng 70%; số giảng
viên là giáo sư, phó giáo sư cũng rất thấp.
Ở khía cạnh chất lượng, tuy đã có những bước tiến triển nhất định, nhưng so với
mức đột phá về chất lượng giáo dục ở các trường đại học các nước trong thời
gian qua, thì chất lượng giáo dục đại học Việt Nam được nhiều người coi là sự
tụt hậu lớn. Hệ thống giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam có lịch sử tồn tại từ
nhiều năm nay, đặc biệt vấn đề kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo cũng
mới chỉ được nhắc đến trong vài năm gần đây.
13
Hơn nữa, khi xem xét chất lượng đào tạo theo 4 tiêu chí chất lượng của sinh viên
tốt nghiệp: kiến thức tổng quát (bao gồm kiến thức về xã hội, thông thạo kỹ thuật
vi tính, tiếng Anh…), kiến thức chuyên môn, kỹ năng phát hiện, đặt và giải quyết
vấn đề và tiêu chí nhân cách chúng ta thấy chất lượng đào tạo của các đại học
nước ta còn quá hạn chế. Nhiều nhà doanh nghiệp cho rằng thực tế chỉ khoảng
10-30% số sinh viên tốt nghiệp là có thể đáp ứng được những yêu cầu cơ bản cho
lao động của doanh nghiệp, còn đối với đa số trường hợp khi tuyển dụng, doanh
nghiệp phải chấp nhận việc đào tạo lại.
Ngoài những bất cập về số lượng và chất lượng như đã trình bày, chúng ta còn
thấy nhiều bất cập khác của giáo dục đại học Việt Nam. Những bất cập, yếu kém
này cũng đã được trình bày rất rõ trong Chiến lược phát triển giáo dục 20012010, trong đó có giáo dục đại học, cụ thể:
●
Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được với
trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với
các ngành nghề trong xã hội.
●
Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn
thấp: còn nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm.
●
Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc phục
một bước xong vẫn còn mất cân đối.
●
Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng.
●
Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn. Chưa thanh toán hết các lớp
học 3 ca.
●
Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện
đại hóa.
●
Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả.
Như vậy, tuy giáo dục đại học Việt Nam đã có những biến chuyển, song với tốc
độ còn quá chậm so với tiến trình đổi mới của đất nước, không theo kịp tốc độ
phát triển của kinh tế xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân.
Cả ở khía cạnh số lượng, chất lượng, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, giáo trình,
chương trình và công tác quản lý đều còn quá nhiều bất cập. Vì thế, yêu cầu đổi
mới toàn diện về giáo dục đại học Việt Nam là hết sức cần thiết.
3.2 Nguyên nhân của thực trạng trên
3.2.1 Về phía Đảng, nhà nước và các cơ quan chức năng
Ngành giáo dục chậm đổi mới để theo kịp nhu cầu đất nước. Sự phát triển kinh tế
của đất nước tạo điều kiện cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam phát
14
triển, hiện nay chúng ta có một xã hội học tập, người người đi học, gần 30 triệu
học sinh các cấp là một con số khổng lồ, qua các kỳ thi đại học ta thấy có sự
chen chúc nhau quá mức, các trung tâm luyện thi, các thầy giáo dạy thêm, học
thêm, học sinh cố học để tìm kiếm một trường học thích ứng. Khi một đất nước
có tốc độ phát triển khá cao và đều đặn như hiện nay, các nhà quản lý giáo dục
phải có biện pháp đón đường, dự kiến những nhu cầu của ngành, của nhân dân,
của học sinh để có những biện pháp thích hợp.
3.2.2 Về phía giảng viên
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng
cao. Trái lại, phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm
người học tiếp thu một cách thụ động. Nội dung giảng dạy mang nặng lý thuyết,
thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp và chưa
thực sự có nhiều sáng tạo trong cách giảng dạy. Đặc biệt, chưa hoàn toàn áp dụng
công nghệ thông tin trong giảng dạy hoặc áp dụng chưa hiệu quả. Trong thời đại
công nghệ phát triển, cần có những phương pháp mới để tạo nên hứng thú đối
với người học.
Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do
vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học. Số
thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế
thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế.
Đời sống của người Thầy còn nhiều khó khăn. Hiện nay giảng viên đang được
hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống
bằng lương, các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều.
Chính chính sách lương bổng ảnh hưởng đến việc tạo nguồn động lực thu hút
giảng viên giỏi làm việc hiệu quả.
Công tác bồi dưỡng, quy hoạch và phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản
lý chưa được quan tâm đồng đều trong toàn hệ thống. Chất lượng đội ngũ giảng
viên vẫn còn là dấu hỏi lớn với nhiều những hạn chế còn tồn đọng trong cách
dạy cũ.
3.2.3 Về phía sinh viên
Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức
không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển. Tính
chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa
cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho
qua “học theo hội chứng bằng cấp”, do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để
đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ.
Sinh viên tự học là rất ít, số sinh viên thực sự chăm học, tự rèn luyện tu dưỡng
15
thì không nhiều, có trường chỉ dưới 10%. Đa số sinh viên mờ nhạt về lý tưởng,
không có sự phấn đấu. Các triết lý làm nền tảng cho đào tạo theo tín chỉ là cá thể
hóa việc học tập nhằm phát huy tối đa khả năng tự học và tư duy sáng tạo của
sinh viên, sinh viên có thể học theo năng lực và điều kiện của riêng mình, buộc
sinh viên phải chủ động, không lệ thuộc vào thầy cô trên lớp cũng như khả năng
tự thích nghi và có tinh thần tự học cao. Tuy nhiên, thực tế rất ít sinh viên tự học
vì chưa quen với việc tự lập kế hoạch học tập, tâm lý ỷ lại, không có ý thức tự
nghiên cứu, tự học tập.
Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới, thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa
gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn
tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực
tiễn. Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp
Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại học
mà nguyên nhân chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chế quản lý
chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy
và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và rồi “Sản
phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường, người
học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm.
3.3 Giải pháp nâng cao vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây
dựng nền giáo dục đại học hiện nay
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục - đào tạo luôn có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đối
với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh" ở nước ta hiện nay, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết
thực.
Giải pháp giáo dục được Hồ Chí Minh đề cập là vấn đề kết hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội. Người nói: “Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn
cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong
nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy, nhưng thiếu giáo
dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả không hoàn toàn” .Bên cạnh đó,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần phải có sự quan tâm phối hợp của nhiều
ngành, nhiều cấp và nhiều người. Người nhắc nhở: “Các đoàn thể thanh niên,
phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng phải thực sự quan tâm đến
nhà trường, đến việc học tập của con em mình hơn nữa” .
16
Thăm lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm
thì phải trồng người” (13/9/1958).
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo là một vấn đề rộng lớn, bao quát
các vấn đề từ mục tiêu, nguyên lý, phương châm giáo dục, nội dung, phương
thức, phương pháp giáo dục-đào tạo, cho đến tổ chức, quản lý, xây dựng đội ngũ,
chủ trương, chính sách đối với giáo dục, đào tạo. Trong phạm vi bài viết này, tác
giả chỉ đề cập đến những tư tưởng lớn của Người về giáo dục - đào tạo, những
vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.Hồ Chí Minh coi trọng phương
pháp giáo dục. Người nhấn mạnh, muốn giáo dục có kết quả tốt thì phải có phương
pháp giáo dục đúng đắn.
Xây dựng nền giáo dục độc lập, tiến bộ, toàn diện theo hướng dân tộc, hiện
đại, nhân văn, lấy mục tiêu phục vụ Tổ quốc, nhân dân làm nền tảng.
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, có truyền thống yêu nước, trước khi ra
nước ngoài tìm đường cứu nước (năm 1911), thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã
truyền bá tư tưởng yêu nước, thương nòi cho học trò Trường Dục Thanh (Phan
Thiết).
Những năm hoạt động cách mạng tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc tố cáo tội ác của
thực dân Pháp trong việc thi hành "chính sách ngu dân" để dễ bề cai trị đối với
nhân dân ta. Tại Đại hội Tua của Pháp (tháng 12-1920), trong bản tham luận đầu
tiên của mình, Nguyễn Ái Quốc lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở
Đông Dương là “ Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật
17
ních người…Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đầu độc chúng tôi
bằng thuốc phiện và làm cho chúng tôi đần độn bằng rượu”.
Trong tác phẩm nổi tiếng "Bản án chế độ thực dân Pháp" (1925), Người viết:
“Nhân dân Ðông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một
cách nghiêm trọng... "Làm cho dân ngu để dễ trị", đó là chính sách mà các nhà
cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất" .
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2-1930), trong Chánh cương vắn tắt
của Ðảng, Nguyễn Ái Quốc chủ trương phổ thông giáo dục theo công nông hóa
(sau này, nói là phổ cập giáo dục cho nhân dân). Trong thư gửi Quốc tế Cộng sản
ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Anh “to make education for
all” nghĩa là tiến hành giáo dục cho mọi người. Ðặc biệt, "Chương trình Việt
Minh" (1941), Người chủ trương: "Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền
quốc dân giáo dục. Cưỡng bức giáo dục từ bực sơ học. Mỗi dân tộc có quyền
dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc mình. Lập các trường chuyên môn
huấn luyện chính trị, quân sự, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài... Khuyến
khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm cho nòi giống ngày thêm mạnh."
Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn
độc lập , khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trước những khó khăn
của đất nước, Người đã nghĩ ngay đến việc chăm lo giáo dục. Trong "Những
nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, vấn đề thứ hai là phải chống nạn dốt; vì "nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà
bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng
ta mù chữ", Bác nhấn mạnh: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề
nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ".
Do đó, chỉ sau một tuần lễ đọc Tuyên ngôn độc lập , ngày 8-9-1945, Người đã ký
sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, để thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân.
Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục hướng vào các
giá trị dân tộc, hiện đại, nhân văn, phục vụ Tổ quốc, nhân dân.
Trong "Thư gửi cho học sinh" nhân ngày khai trường, ngày 5-9-1945, Người
viết:" Một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo
các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục
làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em".
Theo đó, ngay trong những năm 1945-1946, năm học đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập, học sinh học tất cả các môn học đều bằng tiếng quốc ngữ. Cùng
với quốc ngữ, quốc văn, quốc sử và địa lý nước nhà ngày càng được quan tâm
hơn.
Trong trường học, Người chú trọng dạy cho học sinh lòng yêu nước: “ Cốt nhất
là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập,
18
tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ.”. Hơn ai
hết, Người hiểu rõ chỉ có lòng yêu nước, thương nòi mới thúc đẩy mọi người học
tập, phấn đấu, mới hết lòng phụng sự nhân dân. Nói chuyện với học sinh các
trường Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương ở Hà Nội, Người nói:
“ Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ
phải học để: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo
đức…Học để phụng sự ai ? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân , làm cho
dân giàu nước mạnh”.
Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Hồ Chí Minh
quán triệt thực hiện trong ngành giáo dục và toàn xã hội. Người phát động phong
trào chống nạn mù chữ, thất học , làm cho mọi người dân đều biết đọc, biết viết
chữ quốc ngữ, nâng cao dân trí để có kiến thức mới phục vụ cho công cuộc kiến
thiết nước nhà. Bên cạnh đó, Người yêu cầu ngành giáo dục phải sửa đổi triệt để
nội dung chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến,
kiến quốc, khôi phục kinh tế, quốc phòng.
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục- đào tạo là phải chú trọng
giáo dục toàn diện . Người yêu cầu phải chú trọng đủ các mặt, đạo đức cách
mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất; đồng
thời phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như
thái độ thờ ơ với xã hội, xa vời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học
để lấy bằng cấp, chạy theo lối nhồi sọ. Nội dung giáo dục phải toàn diện, phải
nhằm mục tiêu đào tạo con người mới, phải coi trọng cả tài lẫn đức, coi trọng
đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời
sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố.
Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Muốn đạt mục
tiêu giáo dục toàn diện thì phải dựa vào nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo
tư tưởng tốt để phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn.
Giáo dục- đào tạo phải hết sức coi trọng vai trò của người thầy và phải hình
thành được cho học sinh thấy vị trí, vai trò của mình để nâng cao nhu cầu,
khả năng tự học, phát huy được năng lực sẵn có.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thầy giáo, cô giáo đối với xã
hội . Người nhấn mạnh: "Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau
này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?. Người
thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất..., những
người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh... Nếu không có thầy giáo dạy dỗ
cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng CNXH được? Vì vậy nghề thầy
giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang". Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người
thầy giáo phải có phẩm chất tốt. Bác nhắc nhở: "Giáo viên phải chú ý cả tài, cả
đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì
19
giáo viên phải có đức... Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối
với trẻ con".
Hồ Chí Minh là Người đầu tiên vinh danh nghề giáo, đặt người thầy vào vị trí
được tôn trọng, cao quý nhất của xã hội. Muốn đạt được sứ mệnh vẻ vang ấy,
người giáo viên phải nhận thức được mình không phải là gõ đầu trẻ kiếm cơm
mà là người phụ trách đào tạo những công dân tiến bộ. Người nhấn mạnh người
giáo viên là: “ cán bộ chuyên môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì
dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái
xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải
có chính trị trước rồi có chuyên môn”.
Do đó, người giáo viên phải tăng cường trau dồi đạo đức cách mạng, không
ngừng rèn luyện chuyên môn, phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo, phải
gương mẫu từ lời nói đến việc làm, phải thương yêu chăm sóc học sinh như con
em ruột thịt của mình, phải thật sự yêu nghề, yêu trường, không ngừng học hỏi
để tiến bộ mãi. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, mỗi thầy
giáo, cô giáo là những chiến sĩ trên mặt trận đó.
Đối với người làm công tác quản lý giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ họ
phải nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của
quần chúng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Trong công tác quản lý giáo
dục, Người chỉ rõ phải đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm;
chủ trương phải cụ thể, thiết thực, đúng đắn; kết hợp chặt chẽ chủ trương chính
sách của Trung ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu và phong phú
của quần chúng, của cán bộ và của địa phương.
Đối với học sinh, trong thư gửi học sinh ngày khai trường tháng 9-1945, bên
cạnh việc đề cao vai trò của học sinh, Bác khích lệ học sinh chăm chỉ học tập để
làm rạng rỡ cho nước nhà: "Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn,
ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta,
làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc
kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt
Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em".
Giáo dục - đào tạo phải chú ý nội dung, phương pháp và phong cách dạy học,
gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành
Mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là phải đào tạo ra những con người vừa
hồng, vừa chuyên, vừa có đức, vừa có tài: “ Trong giáo dục không những phải có
tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức...”.
Ngày 21-10-1964, trong bài nói chuyện tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hồ
20
Chí Minh nhấn mạnh những nội dung cốt yếu trong giảng dạy và học tập: “ Dạy
cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng . Đó
là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô
dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một
dạ phục vụ nhân dân”.
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục đó, Người cho rằng nhà trường và thầy giáo
phải dạy cho học sinh các nội dung giáo dục như thể dục, trí dục, mỹ dục và đức
dục:
●
Về thể dục, để làm cho thân thể khỏe mạnh, đồng thời cần phải giữ gìn vệ
sinh riêng và vệ sinh chung.
●
Về trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những trí thức mới.
●
Về mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.
●
Về đức dục: là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu
trọng của công.
Những nội dung giáo dục trên phải được đưa vào chương trình của tất cả các lớp,
các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề
có ý nghĩa phương pháp luận:
●
Đối với đại học cần phải kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học
lý luận và khoa học tiên tiến trên thế giới, kết hợp với thực tiễn nước nhà.
●
Đối với trung học cần đảm bảo cho học sinh những kiến thức phổ thông chắc
chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đề xây dựng đất nước, bỏ
những phần nào không cần cho đời sống thực tế.
●
Đối với tiểu học cần giáo dục cho các cháu yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu
lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công.
Bên cạnh những nội dung giáo dục đó, Người cho rằng ngành giáo dục cần phải
thực hiện tốt phương châm, phương pháp giáo dục-đào tạo. Trong phương châm,
phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải phải thực hiện 3 nội dung:
Một là kết hợp học với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn . Triết lý giáo dục này
được Hồ Chí Minh khẳng định là học đi với lao động, lý luận đi với thực hành,
cần cù đi với tiết kiệm. Khi đến nói chuyện với giáo viên, học sinh Trường Đại
học sư phạm Hà Nội (ngày 21-10-1964), Người nói: “Học phải suy nghĩ, học
phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết
hợp với nhau”. Người phê phán lối học gạo, học vẹt , học mà không hành, chỉ
biết lý luận suông mà không thực hành là trí thức một nửa . Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường xuyên nhắc nhở lý luận phải liên hệ với thực tế, học đi đôi với
hành. Lý luận là những điều được tổng kết từ thực tiễn nhưng lý luận chỉ là lý
21
luận suông nếu nó không được thâm nhập trở lại vào thực tiễn.
Ngày 6-5-1950, nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn
luyện và học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Học lý luận không phải để
nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông. Học là để áp
dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm
tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong
xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng.”. Tầm quan
trọng của lý luận và sự cần thiết phải học tập lý luận được Hồ Chí Minh khẳng
định nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Người nghiêm khắc phê phán bệnh coi
thường lý luận, tình trạng kém và thiếu lý luận, lý luận suông chỉ học thuộc lòng
để đem lòe thiên hạ . Người lưu ý, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phải
theo lý luận : “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ
không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý
luận phải liên hệ với thực tế”.
Hai là nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội. Xuất phát từ quan điểm cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí mInh cho rằng giáo dục-đào tạo là sự
nghiệp của toàn dân, do đó, Người đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng sự phối hợp
giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Chỉ khi nhà trường, gia đình và xã hội cùng
nhau phụ trách việc giáo dục-đào tạo thì kết quả của sự nghiệp giáo dục mới
hoàn thành: “Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục
ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được
tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
Ba là học tập là công việc suốt đời của mỗi người. Với tinh thần học, học nữa,
học mãi, Hồ Chí Minh nhấn mạnh học tập là một việc phải tiếp tục suốt đời:
“học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời…Không ai có thể tự cho mình đã biết
đủ rồi, biết hết rồi, thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ. Cho
nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến kịp nhân dân”.
Bác Hồ là một tấm gương học tập suốt đời bền bỉ và khiêm tốn. Có người thấy
tuổi mình đã cao, rồi đâm ra tiêu cực, không thiết học hoặc không tin ở sức học
của mình, Người đã ân cần chỉ bảo: Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải
học… Bác nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già, nên ít chịu
học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi
nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt
đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng. Trong suốt từ
năm 1954-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm các cơ sở ở Trung ương và
địa phương khoảng 700 lần và ở bất kỳ đâu, gặp bất cứ đối tượng nào, Người
cũng căn dặn phải học tập để nâng cao trình độ, biết được nhiều và phục vụ được
tốt. Đối với học sinh, thanh niên, Người luôn căn dặn chỉ có không ngừng học
22
tập thì mới tiến bộ mãi. Đối với các thầy cô giáo, Người không quên nhắc nhở
phải không ngừng học tập để bồi bổ kiến thức mà dạy cho học sinh ngày một tốt
hơn. Trong quan điểm của Người về giáo dục chỉ có xây dựng được một xã hội
học tập thì mới thực hiện được việc học tập suốt đời và ngược lại, mỗi con người
Việt Nam, công dân Việt Nam có lấy học tập là mục đích, là công việc suốt đời
thì mới đóng góp được cho xã hội học tập.
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục-đào tạo, trong ba mươi năm
đổi mới (1986-2016), dưới sự lãnh đạo của Đảng, giáo dục Việt Nam đã có nhiều
thay đổi, phát triển cả về quy mô và chất lượng. Các công cuộc phổ cập giáo dục
từ tiểu học cho đến bậc trung học đã được triển khai và đạt được những thành
quả nhất định. Việt Nam hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000;
hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I năm 2014; hoàn
thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010. Tính đến tháng 6/2015,
đã có 32 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5
tuổi. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên nhất là chất lượng giáo dục
đỉnh cao có bước phát triển mới đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ văn hóa,
khoa học kỹ thuật, lực lượng lao động có trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng
đông tham gia vào phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh
tế tri thức chiếm một vị trí quan trọng, Đảng lãnh đạo đổi mới toàn diện sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, khẳng định giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
để sáng tạo ra hệ thống giá trị hiện đại, mới mẻ, làm nguồn lực thúc đẩy và phát
triển kinh tế-xã hội. Mặc dù còn có những hạn chế, thiếu sót nhất định, nhưng
giáo dục Việt Nam có những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Vấn đề cấp bách của giáo dục hiện nay
là phải nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt phải coi trọng hơn nữa việc giáo
dục tư tưởng, đạo đức, rèn luyện nhân cách cho học sinh, sinh viên và các thầy,
cô giáo, những người làm công tác quản lý giáo dục phải giáo dục lại tinh thần
nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm chính như lời Hồ Chí Minh dạy
ngay sau khi nước nhà độc lập.
Ngoài ra, cần có sự phối hợp tốt giữa các ban ngành, các cấp, các đoàn thể và
nhiều người trong quá trình giáo dục học sinh phổ thông trung học. Sự phối hợp
này phải đồng thuận, thống nhất quan điểm về cách thức, nội dung giáo dục,
tránh trường hợp mỗi ban ngành khác nhau lại có phương pháp giáo dục khác
nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau thì không những quá trình giáo dục không
đạt được kết quả tốt mà còn gây rối loạn trong quá trình nhận thức của các em,
ảnh hưởng không tốt cho các em.
KẾT LUẬN
23
Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời
mình với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo
dục xã hội chủ nghĩa-nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả
năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác,
trình độ, giới tính...Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm
,chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục-đào tạo con người luôn
soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam. Chúng ta thấy rõ vai trò to lớn, vĩ đại
của Hồ Chí Minh và hệ tư tưởng của Người trong sự nghiệp đổi mới văn hóa
giáo dục. Nhận thức đúng sức mạnh của dân tộc, củng cố niềm tự hào, tự tôn dân
tộc, từ đó có những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong xây dựng, phát triển dân
tộc giàu mạnh phồn vinh.
Tư tưởng đó là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức
sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng,
ngành giáo dục nói chung hiện nay. Sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về vấn đề
giáo dục văn hóa đã khơi dậy nguồn nội lực bao gồm con người ,trí tuệ, truyền
thống dân tộc, đất đai, tài nguyên, vốn liếng… Nhưng yếu tố quan trọng nhất
vẫn là nguồn lực con người và trí tuệ.Chống lại sự phụ thuộc nước ngoài, diễn
biến hòa bình, nâng tầm ảnh hưởng Việt Nam trên trường quốc tế. Giáo dục hệ tư
tưởng Hồ Chí Minh sâu trong lòng dân tộc, giáo dục truyền thống dân tộc, tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục dân tộc.
Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá:” Sự đóng góp quan trọng về nhiều
mặt của chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật
là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư
tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc
khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết
lẫn nhau”.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã ra đời và tồn tại từ thế kỷ trước. Song,
ý nghĩa và sự vận dụng của nó vẫn đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp
giáo dục nói chung và giáo dục học sinh phổ thông trung học nói riêng. Chúng ta
tin tưởng rằng, khai thác và vận dụng tốt những tư tưởng của Hồ Chí Minh về
giáo dục trong quá trình giáo dục phổ thông trung học sẽ góp phần tạo nên thế hệ
học sinh phát triển toàn diện về tri thức, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ, lý tưởng,
yêu nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
24