Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Xây dựng tiến trình dạy học bài phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch (vật lí 11 ban cơ bản) theo hướng phân hóa hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh dân tộc miền núi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (999.68 KB, 18 trang )

1/ MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
*. Như chúng ta đã biết Vật lí được xem là ngành khoa học cơ bản bởi vì
các định luật Vật lí chi phối hầu hết các ngành khoa học tự nhiên khác và là cơ
sở của nhiều ngành kĩ thuật và công nghệ quan trọng. Những kiến thức của Vật
lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt trong công cuộc CNH HĐH đất nước. Những kiến thức, kĩ năng và phương pháp làm việc trong quá
trình học môn Vật lí giúp HS phát triển năng lực tư duy như phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hoá, khái quát hóa...Rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của người
lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, kỉ luật…Nhưng để học tốt bộ môn
vật lý thì HS vừa cần có tư duy trực quan, vừa phải có tư duy lôgic và nắm chắc
công cụ toán học, không phải HS nào cũng có đủ các phẩm chất này đặc biệt với
HS THPT miền núi sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn.
*. Học sinh THPT miền núi chủ yếu là con em các dân tộc thiểu số, xuất
thân từ gia đình nông dân,công nhân thời vụ (Phụ huynh đi làm ăn xa). Học sinh
là con em các gia đình là cán bộ công nhân viên viên chức hay gia đình tiểu
thương rất ít.(Ví dụ: HS trường THPT Cẩm Thủy 3 có tới 85% phụ huynh là
nông dân).
*. Học sinh dân tộc chủ yếu sống ở nơi có kinh tế còn chậm phát triển,đặc
biệt là các thôn,xã thuộc diện đặc biệt khó khăn,sự nhận thức của các em về xã
hội còn thấp,hơn nữa đa số phụ huynh đi làm ăn xa không có điều kiện trực tiếp
kiểm soát và giáo dục con cái, bên cạnh đó việc sử dụng Internet không đúng
mục đích đã tác động xấu tới nhận thức của các em,nhiều em có nhận thức chậm
và yếu.những em ngoan hiền thì nhút nhát, chưa mạnh dạn trong giao tiếp trao
đổi bài với bạn bè và giáo viên.
*. Trong những năm qua các trương THPT cũng đã tích cực đổi mới
phương pháp,nhưng nếu Giáo viên giảng dạy chỉ chú trọng tới việc truyền đạt
kiến thức,áp đặt một lượng kiến thức lớn và khó như với HS miền xuôi và
thành thị mà không chú ý tới việc phân hóa học sinh để giảng dạy thì kết quả
sẽ rất thấp,HS dân tộc và học sinh có học lực trung bình yếu sẽ rất dẽ “nản”
không muốn học mà trở nên “sợ” môn học.
*. Qua thực tế nhiều năm giảng dạy ở một trường THPT Miền núi như


THPT Cẩm Thủy 3 bản thân tôi nhận thấy phần kiến thức trong chương “Dòng
điện không đổi” ( Vật lý 11 – Cơ bản) có ý nghĩa khoa học kĩ thuật quan
trọng,gắn liền với cuộc sống,song kiến thức trong phần này cũng trừu tượng và
khó đối với HS,đặc biệt là Hs dân tộc miền núi và học sinh trung bình yếu.Nhằm
khắc phục phần nào những mặt hạn chế trong quá trình dạy học bộ môn tôi đã
kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy,trong đó có phương pháp Dạy học phân
hóa hoạt động của học sinh. áp dụng cho bài “ Phương pháp giải một số bài
toán về toàn mạch” (Vật Lý 11 – Cơ bản)
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học chương Dòng điện không đổi, bài
“Phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch”(Vật lí 11) theo hướng phân
hóa hoạt động học của HS nhằm nhằm phát huy tính tích cực (TTC) và sáng tạo
của HS Dân tộc miền núi và học sinh trung bình yếu. .
1


1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH trong dạy học Vật lí.
- Nghiên cứu những yêu cầu chung đối với việc dạy học phân hóa, đề
xuất những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS Dân tộc
miền núi. trong quá trình học tập.
- Tổ chức hoạt động dạy học bài 11 “Phương pháp giải một số bài toán về
toàn mạch” (Vật lí 11) theo hướng phân hóa hoạt động học của HS nhằm phát
huy tính tích cực và sáng tạo của HS Dân tộc miền núi và học sinh trung bình
yếu. .
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu mục tiêu đổi mới trong dạy học nói chung và trong dạy học
Vật lí nói riêng.
- Nghiên cứu cơ sở LL dạy học về việc sử dụng lí thuyết dạy học PH theo

tinh thần đổi mới PPDH.
1.4.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng để đánh giá hiệu quả của
việc vận dụng DHPH Vật lí ở trường THPT Cẩm Thủy 3.
1.4.3. Phương pháp điều tra giáo dục
Điều tra thực trạng của việc vận dụng dạy DHPH Vật lí: Những thuận lợi,
khó khăn của việc vận dụng DHPH Vật lí ở trường THPT.
1.4.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng PP này nhằm xử lý các số liệu thu thập được từ đó có cơ sở rút ra
những kết luận phù hợp.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc tổ chức tình huống học tập theo
hướng phát huy TTC hoạt động nhận thức của HS.
- Góp phần khẳng định tính khả thi của việc vận dụng DHPH trong dạy
học Vật lí nhằm phát huy TTC, chủ động, sáng tạo của HS dân tộc miền núi
Và học sinh trung bình yếu.
- Góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức, rèn luyện kĩ năng
cần thiết cho HS dân tộc miền núi Và học sinh trung bình yếu.
2/ NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học phân hóa ở trường
THPT theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
2.1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Chương “Dòng điện không đổi” là một trong những chủ đề quan trọng,
gắn liền với cuộc sống, song kiến thức phần này khó và tương đối trừu tượng.
Khi học phần này HS ít được quan sát các hiện tượng Vật lí một cách đầy đủ,
chưa hiểu đầy đủ bản chất. Đối với GV cũng gặp không ít khó khăn khi dạy
phần kiến thức chương này.
2.1.2. Dạy học tích cực
PPDH theo hướng tích cực có những điểm mạnh riêng của nó mà các PP
khác không thể có được đó là HS lĩnh hội kiến thức bằng chính sự hoạt động

tích cực và cao độ của bản thân, tự họ chủ động ST nên các vấn đề, các tình
2


huống để nghiên cứu... PPDH theo hướng tích cực thể hiện bởi các đặc trưng cơ
bản sau:
- Dạy học hướng vào học sinh
- Dạy học bằng tổ chức các hoạt động cho học sinh
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên
cứu
- Dạy học chú trọng đến việc trau dồi kiến thức và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ
xảo
* Kĩ thuật dạy học tích cực cho một bài lí thuyết mới
Đối với một giờ lí thuyết thì những hoạt động mà GV thường tiến hành
gồm:
Hoạt động 1. Dẫn dắt vào vấn đề (nêu vấn đề).
Hoạt động 2. Đặt câu hỏi gợi mở.
Hoạt động 3. Thuyết trình phân tích.
Hoạt động 4. Làm T/N.
Hoạt động 5. Khai thác các phương tiện dạy học.
Hoạt động 6. Chia nhóm, tổ chức thảo luận.
Hoạt động 7. Tạo sự hứng thú cho lớp học
Bảy hoạt động này cần được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và khéo
léo sao cho đạt được 3 mục đích:
- HS tích cực hoạt động.
- HS đạt được những mục tiêu mà GV đã đề ra
- HS hứng thú đối với giờ học.
2.1.3. Dạy học phân hóa
PH là một hoạt động mà ở đó cần phải phân loại và chia tách các đối
tượng, từ đó tổ chức, vận dụng nội dung, PP và hình thức sao cho phù hợp với

đối tượng ấy nhằm đạt hiệu quả cao.
DHPH là định hướng về nội dung và PPDH, trong đó GV tổ chức dạy học
tùy theo đối tượng, nhằm bảo đảm yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nhịp độ, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của những người học;
Trên cơ sở đó phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi HS.
* Một số khó khăn trong thực tiễn dạy học phân hóa
- Sĩ số lớp học hiện nay khá đông (mỗi lớp thường trên 40 HS), nên việc
dạy học phù hợp với từng đối tượng HS rất khó. Chưa kể đến việc HS có thể học
tốt môn này nhưng chưa tốt môn khác nên cần phải có nhiều cách chia nhóm,
phân loại đối tượng HS phù hợp theo từng môn học.
- Trình độ đào tạo và năng lực sư phạm của đội ngũ GV hiện nay chưa
đồng đều, chưa có nhiều GV có năng lực và kinh nghiệm trong việc DHPH.
* Các hình thức tổ chức dạy học phân hóa
- Tìm cách đưa diện yếu kém lên trình độ chung.
- Tìm cách đưa diện khá, giỏi đạt những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đạt
được những yêu cầu cơ bản.
Các hình thức hoạt động ngoại khóa gồm có: Nói chuyện ngoại khóa,
tham quan, sinh hoạt câu lạc bộ, báo, tạp chí...
* Xây dựng tiến trình dạy học phân hóa
3


- Luôn chủ động linh hoạt tìm mạch lô gic để làm cho bài giảng được hay,
hấp dẫn, lôgic, không quá phụ thuộc vào SGK, có thể sử dụng lôgic hình thành
kiến thức theo phương án khác SGK hoặc đảo thứ tự các phần, các nội dung
trong bài học miễn học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động.
Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức theo hướng PH hoạt động học tập
nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS trong môn Vật lí:
Bước 1. Điều tra, khảo sát đối tượng HS trước khi giảng dạy.

Bước 2. Lập kế hoạch dạy học, soạn bài từ việc phân tích nhu cầu của HS.


Bước 3. GV kết hợp các PPDH, lựa chọn những hình thức tổ chức DH phù hợp
với mục tiêu bài học.

Bước 4. Kiểm tra, đánh giá sự tiến bộ của HS trong suốt quá trình giảng dạy.
Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu DH phát hiện và giải
quyết vấn đề
1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất
phát: từ kiến thức cũ, kinh nghiệm, T/N, bài tập, truyện kể lịch sử…

2. Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời).

3. GQVĐ
- Suy đoán giải pháp GQVĐ: nhờ khảo sát lý thuyết và/hoặc khảo
sát TN.
- Thực hiện giải pháp đã suy đoán.
4. Rút ra kết luận (kiến thức mới)

5. Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp theo
2.2. Thực trang trước khi dạy học chương “Dòng điện không đổi” theo
hướng phân hóa học tập của học sinh.
4


Trong phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tìm hiểu
thực trạng dạy học của bộ môn vật lý ở trường THPT Cẩm Thủy 3,với mục đích:
- Tìm hiểu về cơ sở vật chất các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và
học Vật lí.
- Tìm hiểu việc sử dụng các PPDH, phương tiện dạy học, thiết kế tiến
trình dạy học.

- Đối tượng tìm hiểu: GV và HS lớp 11 của trường THPT Cẩm Thủy 3.
2.2.1. Phương pháp tìm hiểu
- Trao đổi trực tiếp với GV giảng dạy Vật lí, với tổ chuyên môn, với hiệu
phó phụ trách chuyên môn, xem cách soạn giáo án và dự giờ của các GV.
- Thăm quan phòng thí nghiệm Vật lí.
- Khảo sát về chất lượng học tập môn Vật lí của học sinh.
2.2.2. Kết quả
 Về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học của nhà trường
- Nhìn chung nhà trường đều có đủ số phòng học để học một ca, đảm bảo
điều kiện về: ghế, bảng, quạt mát, ánh sáng…
+ GV chưa được tập huấn đầy đủ về cách sử dụng thiết bị T/N nên chưa khai
thác hết tác dụng của các thiết bị T/N, đôi khi làm T/N chưa khớp với nội dung lí
thuyết.
+ Chưa có cán bộ chuyên trách phòng T/N, GV phụ trách chỉ là kiêm
nghiệm.
+ Việc trang bị SGK, sách bài tập và sách giáo viên của bộ môn Vật lí
tương đối thuận lợi, đầy đủ thuận lợi cho việc soạn giáo án của GV.
 Tình hình học tập của HS
Qua điều tra bằng phiếu thăm dò, tham khảo các sổ điểm, các bài kiểm tra
của HS, trao đổi trực tiếp với GV, HS và dự giờ tôi thu được kết quả sau:
- Chất lượng học tập môn Vật lí của HS còn thấp, tỉ lệ HS khá, giỏi chưa
cao, chiếm đa số HS có kết quả học tập trung bình, trung bình yếu. Cụ thể qua
điều tra kết quả môn Vật lí năm học 2018-2019 như sau:
HS khá, giỏi: 15,42%; HS trung bình: 59,58%; HS yếu, kém: 25%.
- Nhiều HS không thích học môn Vật lí vì các em không biết cách phân
tích
sự vật, hiện tượng, các quá trình Vật lí.
Đa số HS chưa hăng hái, hứng thú trong học Vật lí, không phát
biểu ý kiến vì không hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng xảy ra khi học bài
mới.

Sĩ số HS trong một số lớp còn đông.

5


 Tình hình giảng dạy của GV
- Phương pháp giảng dạy: Chủ yếu vẫn là thuyết trình, chưa phối hợp các
PPDH với nhau. Các GV Vật lí khi được hỏi ý kiến đều cho biết là đã có sự tìm
hiểu và sử dụng các PPDH phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho HS như:
dạy học theo PP mô hình hóa, dạy học theo nhóm, dạy học theo tình huống, dạy
học phân hóa…Các GV cũng cho biết PP diễn giảng, đàm thoại vẫn sử dụng chủ
yếu vì như vậy mới truyền tải hết nội dụng kiến thức trong một bài học cho HS,
còn PPDH theo nhóm ít khi sử dụng vì không đủ thời gian cho HS và hầu như
không tổ chức HS mà chỉ tổ chức cho một số em tham gia vào quá trình học tập
khi có GV khác dự giờ, thăm lớp.
- Đa phần GV đều nhận định, nếu dạy học theo hướng phân hóa hoạt động
học tập của học sinh bằng những câu hỏi phù hợp cho từng nhóm đối tượng học
sinh trrong lớp sẽ kích thích được sự say mê, hứng thú, sáng tạo của HS trong học
tập Vật lí.
2.3. Xây dựng tiến trình dạy học bài 11 “Phương pháp giải một số bài
toán về toàn mạch” theo hướng phân hóa học tập nhằm phát huy tính tích
cực,sáng tạo của học sinh.
Tiết 20.
Bài 11: PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ BÀI TOÁN VỀ TOÀN MẠCH
I. MỤC TIÊU
1/ Kiến thức:
Biết được phương pháp về giải bài toán về toàn mạch.
2/ Kĩ năng:
+ Vận dụng định luật Ôm để giải các bài toán về toàn mạch.
+ Vận dụng các công thức tính điện năng tiêu thụ, công suất tiêu thụ điện

năng và công suất toả nhiệt của một đoạn mạch ; công, công suất và hiệu suất
của nguồn điện.
+ Vận dụng được các công thức tính suất điện động và điện trở trong của
bộ nguồn nối tiếp, song song và hỗn hợp đối xứng để giải các bài toán về toàm
mạch.
3/ Thái độ:
- Có tinh thần chịu khó ham học hỏi.
- Có hứng thú học tập và yêu thích bộ môn.
II. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên
+ Nhắc nhở học sinh ôn tập các nội dung kiến
thức đã nêu trong các mục tiêu trên đây của tiết học
này.
+ Chuẩn bị một số bài tập ngoài các bài tập đã
nêu trong sgk để ra thêm cho học sinh yếu.
+ Bảng phụ (tờ giấy rô ki)..
+ Bút dạ.
+ Nam châm dính bảng .
6


2. Học sinh:
+ Ôn lại các kiến thức từ đầu chương ( dòng điện không đổi,Điện
năng,công suất điện, mắc nguồn thành bộ)
III. TIẾN TRÌNH DẠY – HỌC
Hoạt động 1: Ổn định tổ chức lớp.(3 Phút)
Bố trí lớp học theo sơ đồ sau:

Học sinh lớp 11A3 Trường THPT Cẩm Thủy 3
Hoạt động 2: (7 phút) : Kiểm tra bài cũ : Giáo viên trình chiếu câu hỏi lên màn

hình. Sau khi học sinh trả lời xong GV nhận xét và cho điểm.

7


Hoạt động 3 (15 phút) : Tìm hiểu phương pháp giải một số bài toán về toàn
mạch.
Phương pháp: diễn giảng , vấn đáp gợi mở
Hình thức hoạt động: Hệ thống câu hỏi.
Nêu vấn đề: Định luật Ôm cho toàn mạch được vận dụng nhiều trong các bài toán. Vậy trong
các trường hợp đó nó được Nêu vấn đề: như thế nào?

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của
học sinh

Gv trình chiếu:
- Yêu cầu học sinh nhận dạng bộ

Nội dung cơ bản
I. Những lưu ý trong
phương pháp giải

8


nguồn và công thức tính  b và rb

GV yêu câu HS Nêu các công

thức tính cường độ dòng điện
trong mạch chính, hiệu điện thế
mạch ngoài, công và công suất
của nguồn.

Nhận dạng loại Bước 1: Cần phải nhận
bộ nguồn.
dạng loại bộ nguồn và
áp dụng công thức
Nêu công thức tương ứng để tính suất
tính suất điện điện động và điện trở
động và điện trở trong của bộ nguồn
trong của các loại
bộ nguồn đã học.

Bước 2: Cần phải nhận
dạng các điện trở mạch
ngoài được mắc như
thế nào để để tính điện
trở tương đương của
Nêu các công mạch ngoài.
thức tính cường
độ dòng điện
trong mạch chính,
hiệu điện thế
mạch ngoài, công
và công suất của
nguồn.

Bước 3: Áp dụng định

luật Ôm cho toàn mạch
để tìm các ẩn số theo
yêu cầu của đề ra. I =

Yêu cầu học sinh nêu các công
thức tính cường độ dòng điện
trong mạch chính, hiệu điện thế
mạch ngoài, công và công suất
của
nguồn.

Bước 4: áp dụng các
công thức để tính các
đại lượng theo yêu cầu
của bài toán:
Hoạt động 4 (15 phút) : Giải các bài tập ví dụ.
Phương pháp: diễn giảng , vấn đáp gợi mở
Hình thức hoạt động: Chia lớp thành 4 nhóm.

9


Hoạt động của giáo
viên

Hoạt động của học
sinh

Nội dung cơ bản
II. Bài tập ví dụ

Bài tập nhóm 1
a)Suất điện động của bộ

Yêu cầu học sinh thực
hiện
.
Các nhóm nhận
Yêu cầu học sinh tính nhiệm vụ và thực
suất điện đông và điện hiện theo yêu cầu
trở trong của từng bộ của giáo viên
nguồn
Tính
suất điện
đông và điện trở
Yêu cầu học sinh tính trong của từng bộ
cường độ dòng điện chạy nguồn
trong mạch chính.
Nhận xét kết quả của
các nhóm.
Tính cường độ
dòng điện chạy
trong mạch chính.

 12V

nguồn r 3
b
b) Cường độ dòng điện chạy
qua nguồn điện (chạy trong
mạch chính)



I = R  r 1,2 A
N
b
Bài tập nhóm 2
a) Suất điện động và
điện trở trong của bộ
nguồn
 4V
r 1,5
rb   0,5
3 3

b) Cường độ dòng điện chạy
qua nguồn điện (chạy trong
Sau khi nhận xét kết quả Nộp kết quả và mạch chính)
bài làm của học sinh GV nhận xét

2 A
I
=
có thể hỏi thêm học
R N  rb
sinh .
Bài tập Nhóm 3
 Tính hiệu điện thế
10



mạch ngoài

Điện trở mạch ngoài:
RN

r1 r2 6 6

3
r1  r2 6  6

GV chữa bài và trình
a) Suất điện động của bộ
chiếu đáp án.
HS theo dõi sửa lỗi
nguồn  b 3 9V
Nhận xét và khích lệ học và ghi nhận kết quả.
rb 3.r 3
sinh.
b) Cường độ dòng điện chạy
qua nguồn điện (chạy trong
mạch chính)


I = R  r 1,5 A
N
b
Bài tập nhóm 4:
Điện trở mạch ngoài:
RN R1  R2  R3 4  5  6 15


b) Suất điện động của bộ
nguồn
 ℰ = 3 9V
rb 3.r 3

b) Cường độ dòng điện chạy
qua nguồn điện (chạy trong
mạch chính)


9

I = R  r 15  3 0,5 A
N
b
c) Hiệu điện thế mạch ngoài
U N I .RN 0.5 15 7,5V

Hoạt động IV: Củng cố bài: (5 phút)
- sau khi học sinh làm xong bốn bài tập của bốn nhóm Gv củng cố lại các bước
giải bài toán về toàn mạch.

11


+Bước 1: Nhận dạng bộ nguồn

ξ b = ? rb = ?

+Bước 2: Nhận dạng và phân tích

mạch ngoài (mạch điện trở)

RN  ?

* Nguyên tắc 1: Phải phân tích mạch điện từ đoạn
mạch nhỏ đến đoạn mạch lớn.
+Bước 3: Áp dụng ĐL Ôm cho toàn
mạch:
+Bước 4: Tính các đại lượng khác:
U, I, P,A….

I 

b
RN  rb

* Nguyên tắc 2: Phải tính U, I từ đoạn mạch lớn đến
đoạn mạch nhỏ .
* Nguyên tắc 3: ưu tiên tính đại lượng “bằng” trước
Bài tập về nhà: yêu cầu học sinh về làm tiếp các bài tập trong SGK
2.4.Thực nghiệm sư phạm:
2.4.1. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của thực nghiệm sư phạm
a. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết đã đưa ra của sáng kiến: Nếu
vận dụng tốt PP DHPH trong quá trình giảng dạy về phương pháp giải một số
bài toán về toàn mạch thì sẽ phát huy TTC của HS THPT.
b. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
Phối hợp với đồng nghiệp tổ chức dạy học TN so sánh với dạy học đối
chứng theo nội dung bài học đã soạn thảo.
- Đánh giá tính khả thi của PP DHPH, từ đó làm cơ sở để định hướng cho

HS THPT.
- Đánh giá hiệu quả đã đạt được để nâng cao TTC, chủ động, sáng tạo của
HS trong quả trình học tập.
- Rút kinh nghiệm và đánh giá tính khả thi của SKKN.
c. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm
HS lớp 11 Ban cơ bản của trường THPT Cẩm Thủy 3, GV dạy học theo
giáo án mà tôi đã soạn kiến thức chương ‘‘Dòng điện không đổi, bài “Phương
pháp giải một số bài toán về định luật Ôm cho toàn mạch” (Vật lí 11) theo
hướng PH hoạt động học tập của HS, để nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức
của HS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí, còn lớp ĐC GV dạy
theo giáo án thường dùng.
2.4.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
a. Chọn mẫu thực nghiệm
12


Tôi đã tiến hành chọn ra các lớp TN và ĐC có cùng sĩ số, điều kiện tổ
chức dạy học, có trình độ và kết quả học tập tương đương nhau. Số HS được
khảo sát trong đợt TNSP gồm 214 HS ở 6 lớp, trong đó có 38 HS ở 1 lớp cơ
bản A, 206 HS ở 5 lớp cơ bản C
b. Tiến hành
- Tổ chức dạy thực nghiệm ở các lớp khối 11 đã chọn.(6 lớp khối 11 trường
THPT Cẩm Thủy 3)
- GV cộng tác : Cô Đào thị Nga: GV Vật lí THPT Cẩm Thủy 3 (17 năm
tuổi nghề).

Giờ dạy thực nghiệm tại lớp 11A3 Trường THPT Cẩm Thủy 3
- Tổ chức rút kinh nghiệm với các đồng chí trực tiếp giảng dạy, dự giờ
cho tiết học đó, để từ đó rút ra bài học cho hoạt động dạy của GV.
13



2.4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
a. Tiêu chí đánh giá
* Phát huy TTC của HS khi GV thực nghiệm sư phạm
+ Ý thức, thái độ học tập của HS, tự giác luyện tập khi GV ra bài tập.
+ Số HS tham gia bày tỏ ý kiến thắc mắc, hoặc hỏi bài…
+ Kết quả nhận thức của HS sau buổi học bằng điểm của bài kiểm tra sau
mỗi bài học của GV.
+ Phát biểu của HS khi GV đưa ra câu hỏi hoặc các tình huống có vấn đề.
+ Cách HS vận dụng kiến thức đã học vào giải bài tập hoặc bài củng cố của
GV.
* Đánh giá khả năng sáng tạo của HS
Chúng tôi căn cứ vào hoạt động học tập và kết quả của các bài kiểm tra đã
xây dựng theo các cấp độ sau:
- Nhận biết (Mức độ 1): HS nhớ được những kiến thức cơ bản của mỗi bài
học.
- Thông hiểu (Mức độ 2): HS hiếu các kiến thức đã học một cách thành
thạo, ý nghĩa của các đại lượng có mặt trong biểu thức.
- Vận dụng (Mức độ 3): HS biết cách vận dụng các đơn vị kiến thức đã
học vào giải bài tập, giải thích các hiện tượng thực tế.
- Vận dụng cao (Mức độ 4): HS biết các cách biến đổi công thức, nhất là
các công thức liên hệ giữa các đại lượng để giải bài tập hoặc giải thích nguyên
nhân của một số hiện tượng thực tế.
d.. Đánh giá, xếp loại
Sau các bài kiểm tra chúng tôi tổng hợp và dùng thang điểm 10 với cách xếp
loại sau:
Loại giỏi:
Điểm 9, 10
Loại khá: Điểm 7, 8

Loại trung bình: Điểm 5, 6
Loại yếu: Điểm 3, 4
Loại kém:
Điểm 0, 1, 2
14


Từ kết quả này chúng tôi dùng PP thống kê toán học, phân tích kết quả đạt
được để đánh giá hiệu quả của việc học tập của HS và việc vận dụng PP DHPH
nhằm phát huy TTC học tập của HS THPT.
b. Kết quả thực nghiệm sư phạm
* Theo hướng định tính:
- Xem xét các biểu hiện của HS trong quá trình GV dạy học ở lớp cơ bản
A và Cơ bản C .Bản thân tôi thấy học sinh hào hứng hơn với môn học
- HS tích cực hơn trong giờ học,các em tự giác hơn trong việc thực hiện
yêu cầu của GV.
Số HS (Tính trung bình trong các tiết học)
Hăng hái
phát biểu ý
kiến
Nhóm

Lớp Cơ
bản A
(11A1)
Các Lớp
Cơ bản C
( 11A2 ...1
1A5)


Đề xuất
được công
thức áp
dụng và
giải được
bài tập
Số
Tốt
lượng

Tự
Chủ
Vận dụng giải
giác
động,
bài tập trên
tham chính xác
lớp
gia các trong quá
hoạt
trình học
động
tập
học
Số
Tốt
tập
lượng

Số

lượng

Ý
kiến
đúng

44

44

44

40

44

186

178

175

170

186

44

44


44

175

177

170

* Theo hướng định lượng:
Kết quả khảo sát sau giờ dạy thực nghiệm bằng bài kiểm tra nhanh (10
phút) được thể hiện trong bảng xếp loại học tập giữa 2 nhóm lớp. ( 11A1 và các
lớp cơ bản C) như sau:
* Kết quả định lượng (Kết quả qua bài kiểm tra của HS)
Bảng Xếp loại học tập
Điểm
Nhóm
Số HS
Kém
Yếu
TB
Khá
Giỏi
44
0
0
7
13
24
11A1
100%

0%
%
15.9%
29.54%
54.56
186
2
36
63
72
13
11A2 …
11A5
100%
1.08
19.35
33.88
38.7
6.99
c. Đánh giá kết quả TNSP
*. Kết quả về mặt định tính:
Tổng hợp những nhận xét của GV cộng tác qua các tiết dạy thực nghiệm
chúng tôi thu được các ý kiến sau:
15


Trong các giờ học được tiến hành theo hướng PH hoạt động học tập HS
chú ý lắng nghe GV dạy hơn, thu hút được sự chú ý của nhiều HS, sau mỗi bài
học điểm kiểm tra đạt kết quả tốt.
*. Kết quả về mặt định lượng:

- Tỉ lệ tồn tại các câu trả lời sai ở các lớp cơ bản C nhiều hơn so với lớp Cơ
bản A
- Việc PH các hoạt động học tập học tập của HS sẽ phát huy được TTC của
HS trong quá trình dạy học.
2.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
2.5.1. Đối với hoạt động giáo dục:
* Phát huy TTC của HS
+ Ý thức, thái độ học tập của HS, tự giác luyện tập khi GV ra bài tập.
+ Số HS tham gia bày tỏ ý kiến thắc mắc, hoặc hỏi bài…
+ Kết quả nhận thức của HS sau buổi học bằng điểm của bài kiểm tra sau
mỗi bài học của GV.
+ Phát biểu của HS khi GV đưa ra câu hỏi hoặc các tình huống có vấn đề.
+ Cách HS vận dụng kiến thức đã học vào giải bài tập hoặc bài củng cố của
GV.
* Khả năng sáng tạo của HS
Căn cứ vào hoạt động học tập và kết quả của các bài kiểm tra đã xây
dựng theo các cấp độ hiệu quả thu được như sau:
- Nhận biết (Mức độ 1): HS nhớ được những kiến thức cơ bản của mỗi bài
học.
- Thông hiểu (Mức độ 2): HS hiếu các kiến thức đã học một cách thành
thạo, ý nghĩa của các đại lượng có mặt trong biểu thức.
- Vận dụng (Mức độ 3): HS biết cách vận dụng các đơn vị kiến thức đã
học vào giải bài tập, giải thích các hiện tượng thực tế.
- Vận dụng cao (Mức độ 4): HS biết các cách biến đổi công thức, nhất là
các công thức liên hệ giữa các đại lượng để giải bài tập hoặc giải thích nguyên
nhân của một số hiện tượng thực tế.
Trong các giờ học được tiến hành theo hướng PH hoạt động học tập HS
chú ý lắng nghe GV dạy hơn, thu hút được sự chú ý của nhiều HS, sau mỗi bài
học điểm kiểm tra đạt kết quả tốt.
Giờ dạy thực nghiệm tại lớp 11A3 trường THPT Cẩm Thủy 3

2.5.2. Đối với bản thân và đồng nghiệp:
Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm của mình bản thân tôi rút
ra được một số kinh nghiệm như sau:
- GV cần hiểu rõ đối tượng học sinh của mình để lựa chọn hệ thống câu
hỏi,phiếu học tập,bài kiểm tra cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
- Dạy học theo đúng phân phối chương trình và các bước đã soạn trong giáo
án.
- Tìm hiểu các điều kiện cần thiết cho việc dạy và học của nhà trường.
- Trong quá trình dạy học luôn chú ý đến tinh thần, thái độ học tập của HS
từ đó có cách thức phù hợp khi thực hiện giảng dạy.
- Chuẩn bị bài giảng cẩn thận và chu đáo trước khi lên lớp.
16


- Giao nhiện vụ cho học sinh theo nhóm đã phân hóa một cách rõ ràng và
cụ thể kể cả trên lớp và ở nhà.
2.5.3. Đối với nhà trường:
Trong quá trình thực hiện phương pháp dạy học phân hóa được áp dụng
cho đối tượng học sinh là dân tộc thiểu số và học sinh trung bình yếu ở trường
THPT Cẩm Thủy 3 đã cho bộ môn vật lý có kết quả như sau:
- Tỉ lệ học sinh đạt trung bình trở lên đã tăng 89.25%
- Tỉ lệ học sinh yếu kém giảm còn 16.25%
3/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận: DHPH có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hứng
thú ,tích cực của học sinh trong học tập.sau khi phan hóa học sinh,Giáo viên có
thể thiết kế và hướng dẫn học sinh theo phong cách học tập của mỗi cá nhân học
sinh hoặc HS có thể học các nội dung phù hợp với năng lực nhận thức của
mình.do vậy DHPH đã làm được việc “Không có học sinh nào bị bỏ lại phía
sau”.Trong bài viết tôi đã sử dụng phương pháp DHPH vào chương Dòng điện
không đổi với bài: Phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch. Như cho

một ví dụ minh họa cho phương pháp này.Nghiên cứu này có thể giúp Giáo viên
tham khảo để có vận dụng DHPH trong bài giảng của mình.
3.2. Kiến nghị:
- Việc dạy học phân hóa phải được thực hiện từ lớp dưới để HS phát huy
được khả năng học tập của mình.
- Nhà trường cần tăng cường thêm cơ sở vật chất cho việc dạy và học
(máy chiếu,dụng cụ thí nghiệm)
- Sắp xếp sì số học sinh trong một lớp không quá đông (không quá 40
HS) nhằm tạo không gian sinh hoạt nhóm trong lớp học được thuận
tiện.
Trên đây là toàn bộ sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra được
qua quá trình thiết kế và giảng dạy bài: Phương pháp giải một số bài toán về
toàn mạch ( Vật lý 11 – cơ bản).Đây chỉ là những kinh nghiệm mang tính chủ
quan của bản nhân tôi.Rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa
học và các bạn đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Cẩm Thủy, ngày 18 tháng 06 năm 2020.

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.

Lê Thị Tình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tô Văn Bình (2014), Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo trong dạy học
Vật lí, NXB ĐHSP Thái Nguyên.
2. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân Chi,
17



Đàm Trung Đồn,Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh (2012), Vật lí 11,, NXB Giáo
dục.
3. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Xuân
Chi, Đàm Trung Đồn, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh (2012) , sách giáo
viên Vật lí 11, NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp dạy
học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình học
phần quang học, Luận án tiến sĩ, viện khoa học Giáo dục.
5. Nguyễn văn Khải, Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai (2007), Lý luận dạy
học Vật lí ở trường phổ thông , NXB Giáo dục.
6. Nguyễn Văn Khải (2008), Những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học Vật lí,
ĐHSP Thái Nguyên.
7. Nguyễn Văn Khải (2009), Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong
dạy học Vật lí ở trương trung học phổ thông, ĐHSP Thái Nguyên.
8. Phan Thị Thanh Hội – Võ Thị Thúy Loan (2020) Vận dụng dạy học phân hóa
để thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học chương cảm ứng – sinh học
11,tapchigiaoduc.moet.vn
9. Phan Trọng Luận (1995), Khái niệm về “HS làm trung tâm”, NXB giáo dục.
10. Dương Xuân Nghiêm, Người thầy giáo từ phương pháp cổ truyền sang
phương pháp tích cực, Tạp chí thế giới mới số 125.
11. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (1997), Dạy học sinh giải quyết
vấn đề trong dạy học Vật lí, ĐHSP Hà Nội.
12. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2003), Phương
pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư Phạm.
13. Nguyễn Mậu Quyết (2018) , Phương pháp giải một số bài toán về toàn
mạch. Baigiangdientu.Violet.vn

18




×