TRUYỀN THƠNG ĐẠI CHÚNG
-------------Câu 1. Phân tích vai trò của truyền thông đại chúng
trong công tác lãnh đạo quản lý, tầm quan trọng của
truyền thông đại chúng.
Truyền thông đại chúng là hoạt động trao đổi thông điệp có
tính phổ biến giữa nguồn phát với công chúng xã hội rộng rãi.
Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, truyền thông đại
chúng có vai trò hết sức quan trọng trên mặt trận tư tưởng-văn
hóa, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của đất nước. Trong
giai đoạn hiện nay, để thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghóa, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải nâng cao chất
lượng công tác truyền thông đại chúng , làm cho hoạt động của
các phương tiện truyền thông đại chúng luôn luôn bảo đảm đònh
hướng chính trò đúng đắn của Đảng và xu hướng lành mạnh trong
dư luận xã hội; ủng hộ, biểu dương cái mới, cái tích cực, cái
tiến bộ; chống mọi tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Vai trò của
truyền thông đại chúng được thể hiện qua các chức năng sau
đây :
1- Chức năng tư tưởng: chức năng giũ vò trí hàng đầu trong
các chức năng của truyền thông đại chúng, có vai trò đặc biệt
quan trọng trong đời sống xã hội, vì mục đích của nó là nhằm
tác động vào ý thức xã hội, hình thành và củng cố một hệ tư
tưởng chính trò lãnh đạo xã hội.
Đối với các đảng chính trò đây là một nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu cần phải tác động vào đời sống tinh thần của con
2
người hình thành một ý thức xã hội tiến bộ, tích cực, là một
yếu tố tiên quyết bảo đảm phát huy quyền lực trong các lónh
vực xã hội.
Nhiệm vụ đặt ra cho công tác tư tưởng của truyền thông đại
chúng là liên kết các thành viên xã hội thành một khối đoàn
kết thống nhất trên cơ sở lập trường thái độ chính trò chung
nhằm vào một mục tiêu tổng thể xây dựng chế độ xã hội
mới theo những tiêu chuẩn mới. Khi nhận thức rõ bản chất tính
ưu việt của mục tiêu xã hội, nhân dân sẽ tự ý thức được vai
trò trách nhiệm của mình trong việc tham gia giải quyết các việc
to lớn trong xã hội.
Chức năng tư tưởng của truyền thông đại chúng thể hiện
trên các phương diện như sau:
- Hình thành dư luận xã hội lành mạnh mang tính tích cực. Dư
luận đó có ý nghóa quan trọng là tạo ra điều kiện hình thành
hành lang vận động cho các tiến trình của xã hội. Đặc biệt
trong những thời điểm phức tạp, gay cấn thì dư luận xã hội
trở thành yếu tố hàng đầu chi phối qui mô, tính chất các
hiệu ứng xã hội, các phong trào thực tế. Dư luận xã hội
luôn là một vấn đề được quan tâm chú ý đặc biệt trong lónh
vực công tác tư tưởng đối với bất cứ quốc gia nào.
- Đònh hướng chính trò tư tưởng cho xã hội, nó phân tích,
xét luận bản chất khuynh hướng của hiện thực, giúp cho
công chúng xã hội hiểu các sự kiện, hiện tượng xã hội một
cách đúng đắn, đồng thời chuẩn bò các điều kiện, nền tảng
của trí thức để giúp xã hội chủ động tiếp nhận xử lý
thông tin một cách thích đáng.
3
Nói đến đònh hướng chính trò tư tưởng không có nghóa là
áp đặt một khuynh hướng chính trò chủ quan đòi hỏi công
chúng phải theo một công thức có sẵn. Bản chất của vấn
đề ở đây là chỉ ra tính chất của các vấn đề, các sự kiện,
vạch ra tính quy luật và phương hướng vận động của nó giúp
cho công chúng nhận thức và hành động một cách đúng
đắn.
Mặt khác hoạt động truyền thông đại chúng còn có chức
năng dự đoán các tiến trình kinh tế-xã hội và hướng dẫn
công chúng chuẩn bò đón nhận với thái độ chính trò phù
hợp. Như vậy các phương tiện truyền thông đại chúng trở
thành công cụ bảo đảm sự ổn đònh chính trò xã hội cho mỗi
quốc gia.
-
Hoạt động truyền thông đại chúng có chức năng
giáo dục chính trò tư tưởng, biến tri thức cụ thể mà mỗi thành
viên xã hội thu nhận được thành chất lượng nội tại, thành
các quan điểm lập trường chính trò
xã hội tính chất tiến bộ. Đó là hình thành một ý thức
giai cấp tạo lập một thế giới quan, nhân sinh quan khoa học,
có ý thức đầy đủ về sứ mệnh lòch sử, trách nhiệm của
giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động. Hiệu
quả của giáo dục chính trò tư tưởng là mang lại cho nhân dân
một tình cảm cách mạng tự giác sâu sắc, thúc đẩy mỗi
thành viên xã hội tham gia vào tiến trình cách mạng.
2- Chức năng dân trí, văn hóa: Chức năng này đề cập
đến vai trò của truyền thông đại chúng trong việc nâng cao
trình độ hiểu biết mọi mặt của nhân dân, hình thành lối
4
sống tích cực và khẳng đònh những giá trò văn hóa chuẩn
mực trong đời sống xã hội.
Nội dung chức năng dân trí, văn hóa trước hết là việc
xã hội hóa các hiểu biết, các kinh nghiệm sống biến chúng
từ cái riêng thành cái chung phổ biến của xã hội. Đây là
điều kiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Nâng cao trình độ tri thức đây là nấc thang tiếp theo của
việc xã hội hóa các kinh nghiệm. Thực tiễn cuộc sống hiện
nay đòi hỏi vấn đề này càng phát triển cao, có như vậy mới
phát triển được kinh tế-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống của mọi người. Việc này được tiến hành trên nhiều hình
thức truyền thông.
Thực tế hiện nay do điều kiện kinh tế thò trường, hội nhập
quốc tế, do đó lối sống chòu ảnh hưởng nhiều mặt tiêu cực.
Yêu cầu đặt ra cho cuộc sống bây giờ là phải nâng cao giáo
dục lối sống, phải được tiến hành thường xuyên trong xã hội.
Từ đó mà dẫn dắt lôi kéo tạo thành môi trường dư luận xã
hội đònh hướng những lối sống tốt đẹp cho mọi người, nhất
là lớp trẻ. Nội dung này còn bao hàm cả việc giáo dục
củng cố những giá trò văn hóa của dân tộc, phổ biến,
khẳng đònh và làm rõ các giá trò văn hóa truyền thống,
những thành tựu văn hóa hiện đại mang tính tích cực cũng như
những giá trò tốt đẹp của các nền văn hóa tiên tiến trên
thế giới được chọn lọc.
Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa truyền thông đại
chúng đang có khuynh hướng xóa nhòa ranh giới của sự đặc
thù, tích cực của nền văn hóa truyền thống, đây là nguy cơ,
5
vì sự nghiệp phát triển bền vững không thể tách rời giá trò
văn hóa đặc thù, tích cực. Phải nhận thức sâu sắc tầm quan
trọng của văn hóa trong tiến trình xây dựng đất nước như
đảng ta chỉ rõ: “xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm
mục tiêu văn hóa vì xã hội công bằng, văn minh, con người
phát triển toàn diện”
3- Chức năng giám sát và quản lý xã hội: Giám sát là
bao gồm sự theo dõi phát hiện, phản ảnh những vấn đề,
những mâu thuẫn mới nảy sinh, cảnh báo cho xã hội để đề
phòng hoặc xử lý một cách có hiệu quả.
Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý vào các tiến trình xã hội làm cho chúng vận động
có hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra.
Mục tiêu chung cần đạt được của chức năng này của
truyền thông đại chúng là góp phần ổn đònh chính trò-xã hội
giúp cho cả xã hội vận hành một cách nhòp nhàng vượt qua
những khó khăn, phát triển theo hướng tích cực tiến bộ.
Nói chung chức năng này bao gồm hai nội dung sau:
- Một là giám sát cảnh báo đối với cơ quan quyền lực,
các cá nhân có trách nhiệm, các cộng đồng đơn vò đòa
phương về những khó khăn phức tạp những hạn chế và nguy
cơ đã, đang và sẽ có thể xảy ra. Đồng thời phát hiện, ngăn
chặn những hành vi, những biểu hiện sai trái của những cá
nhân có trách nhiệm, các cơ quan quyền lực Nhà nước.
- Hai là, sự tác động có chủ ý vào các tiến trình xã hội
làm cho chúng vận hành theo mục tiêu đã đònh.
6
- Ba là phát huy tính chất dân chủ chế độ, động viên
nhân dân tham gia quản lý xã hội. Thực chất là giúp cho mọi
công dân có điều kiện phát huy mặt tích cực. Cần phải dân
chủ hóa đời sống xã hội. Nếu đạt được, truyền thông đại
chúng có ý nghóa là quyền lực xã hội, quyền lực công luận.
Tóm lại, các chức năng của truyền thông đại chúng luôn
luôn quan hệ chặt chẽ, quan hệ thống nhất biện chứng với
nhau. Bản thân các chức năng cùng tạo điều kiện thúc đẩy
lẫn nhau. Một sản phẩm truyền thông bao giờ cũng thực hiện
nhiều chức năng. Vì thế vai trò truyền thông đại chúng chỉ
thực hiện đầy đủ khi thống nhất các cơ cấu chức năng. Vấn
đề này người cán bộ lãnh đạo quản lý cần phải thấy được
một cách đúng đắn, sâu sắc và thực hiện theo đònh hướng
đo
Câu 2. phân tích hoạt động truyền thông đại chúng có
ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển kinh tế-xã hội
của nước ta ?
Nhằm tăng cường sự phát triển hợp lý và có hiệu quả của
hệ thống truyền thông đại chúng phục vụ đắc lực cho việc thực
hiện các nhiệm vụ chính trò-kinh tế-xã hội. Kế thừa và phát
triển những tư tưởng của chủ nghóa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng và phát triển truyền thông cách mạng,
Đảng và Nhà nước thường xuyên đánh giá và chỉ ra phương
hướng hoạt động cho hệ thống truyền thông đại chúng trong các
giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Nhờ đó,
7
truyền thông đại chúng nước ta hiện nay đã có bước phát triển
khá nhanh chóng về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ.
Trong thời đại bùng nổ thông tin, nhờ các phương tiện truyền
thông đại chúng phát triển mà con người trên khắp hành tinh
chúng ta cảm thấy gần gũi hơn. Các sự kiện xảy ra nơi này hay
nơi khác, gần như lập tức được thông tin, thông báo đến mọi nơi.
Điều đó làm cho con người cảm nhận được sự giao tiếp ngày
càng mật thiết hơn. Có những việc làm tốt hoặc xấu ở nơi
này, nhờ thông tin kòp thời của báo chí nên đã kêu gọi được sự
đồng tình ủng hộ hoặc phản đối của đông đảo dư luận thế
giới. Do vậy, ngày nay, truyền thông đại chúng đang thật sự là
động lực phát triển xã hội. Truyền thông đại chúng ngày càng
có vai trò tích cực. Ở nước ta nó là động lực cách mạng của
công cuộc đổi mới và phát triển.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những tư tưởng của chủ
nghóa Mác-Lê nin về xây dựng và phát triển truyền thông cách
mạng, Đảng ta thường xuyên đánh giá và chỉ ra phương hướng
hoạt động cho hệ thống truyền thông đại chúng, trong các giai
đoạn cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Nhờ đó, truyền
thông đại chúng nước ta hiện nay đã có bước phát triển khá
nhanh về chất lượng, số lượng và cơ cấu đội ngũ.
Cho đến tháng 8 năm 1997, cả nước có gần 600 tờ báo, tạp
chí và bản tin,trong đó báo chí trung ương có 284 tờ, báo chí đòa
phương 156 tờ. Báo chính trò-xã hội 144 tờ; báo kinh tế khoa học
kỹ thuật 138 tờ,; báo chí khoa học xã hội và nhân văn có 27
tờ; báo văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, báo giáo dục có
104 tờ; báo dành cho thiếu niên nhi đồng có 6 tờ; báo chí bằng
8
tiếng nước ngoài có 20 tờ. Về phát thanh và truyền hình có Đài
phát thanh Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, 61 Đài phát thanh
truyền hình tỉnh, thành phố. Khoản 70% dân số nước ta có thể
thu được sóng của Đài truyền hình Việt Nam. Trong cả nước có 38
nhà xuất bản đang hoạt động, mỗi xuất bản hơn 8.000 tên sách
với gần 170 triệu bản. Nền điện ảnh non trẻ của đất nước
cũng có những bước phát triển mới, mỗi năm cho ra đời hàng
trăm phim nhựa, phim Video … Phần quảng cáo phát triển nhanh
chóng cả qui mô và chất lượng.
Sự phát triển có hiệu quả của hệ thống truyền thông đại
chúng đã phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trò, kinh tế-xã hội
của Đảng và Nhà nước ta.
1/- nh hưởng đối với chính trò: Thực tế hơn 15 năm thực hiện
chính sách đổi mới, hệ thống truyền thông đại chúng nước ta đã
nỗ lực phấn đấu đi đúng đònh hướng của Đảng, truyền thông đại
chúng đã thông tin nhanh, phong phú, đa dạng nhiều chiều theo
đònh hướng chính trò của Đảng và Nhà nước, đồng thời phản
ánh ý kiến xây dựng và nguyện vọng chính đang của nhân dân.
Báo chí đã giới thiệu những nhân tố tích cực, khẳng đònh những
thành tựu đổi mới và con đường xã hội chủ nghóa đã lựa chọn,
chống những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, buôn lậu, những
hành vi ức hiếp nhân dân, phê phán những quan điểm sai trái,
chống những luận điểm thù đòch
2/- nh hưởng đối với sự phát triển kinh tế: Công cuộc đổi
mới đất nước bắt đầu từ đổi mới kinh tế. Quá trình đổi mớkinh
tế ở Việt Nam lại được khởi đầu bằng những đổi mới ở các cơ
sở, trong các hợp tác xã Nông nghiệp và các doanh nghiệp của
9
các lónh vực Công nghiệp, thương mại dòch vụ. Trong quá trình đó
truyền thông đại chúng đã góp phần phát hiện, tìm kiếm và
phổ biến mô hình đổi mới ra phạm vi toàn quốc. Truyền thông
đại chúng đã kiến thức phản ánh các vấn đề và kiến nghò
của các doanh nghiệp để các cơ quan hoạch đònh chính sách vó
mô của Đảng và Nhà nước xem xét điều chỉnh và đổi mới hệ
thống chính sách và cơ chế quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà doanh nghiệp; đồng thời truyền thông đại chúng cũng
phổ biến kiến thức các quyết sách của các cơ quan quản lý
tới doanh nghiệp, góp phần hướng dẫn hoạt động của các doanh
nghiệp và trở thành một kênh thông tin không thể thiếu trong
hoạt động của các doanh nghiệp.
Truyền thông đại chúng kiên trì góp tiếng nói của mình vào
việc đấu tranh xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, từng
bước xây dựng cơ chế quản lý kinh tế mới, kinh doanh xã hội
chủ nghóa. Truyền thông đại chúng cũng tập trung truyền bá, cổ
vũ cho chính sách lâu dài của Đảng về kinh tế nhiều thành
phần, phát huy mọi tiềm lực để phát triển lực lượng sản xuất,
kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm công bằng
xã hội, kinh tế với quốc phòng an ninh, phát triển các vùng
trọng điểm với các vùng khác, tạo điều kiện cho các vùng đều
phát triển.
Truyền thông đại chúng cũng đẩy mạnh tuyên truyền sự
nghiệp mở rộng và hợp tác kinh tế nhiều mặt của nước ta với
nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng
đất nước.
10
3/- Ảnh hưởng truyền thông đại chúng đối với xã hội: Trong
thực tế, truyền thông đại chúng là kênh thông tin quan trọng
phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân;
phát hiện và phản ánh các vấn đề bức xúc trong đời sống xã
hội, giúp các cơ quan lãnh đạo nắm bắt và giải quyết kòp thời.
Không thể kể hết những vấn đề mà nhờ có thông tin đại
chúng và đôi khi cũng chỉ có thông tin đại chúng mới nêu lên
được, để hướng sự chú ý của Đảng, của Nhà nước, cùng sự
quan tâm của nhân dân, cùng tìm biện pháp giải quyết các tệ
nạn xã hội, đặc biệt là nạn ma túy trong học đường mà truyền
thông đại chúng phát hiện là một ví dụ tiêu biểu.
Cuộc đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực và các tệ nạn xã
hội có nguồn sinh khí và huy động được sức mạnh của dư luận
như nó hiện có và là có phần tham gia của truyền thông đại
chúng. Phải thừa nhận rằng trong cuộc đấu tranh này, truyền
thông đại chúng là lực lượng xung kích, luôn luôn đi đầu, không
những đã góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh mà còn phát
hiện, đưa ra công luận nhiều vụ việc cần xử lý, góp phần làm
lành mạnh xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng vào sự
lãnh đạo của Đảng, giữ gìn kỷ cương phép nước.
Trong quá trình đổi mới, truyền thông đại chúng có sự giao lưu
và hợp tác có hiệu quả về nhiều mặt với truyền thông đại
chúng các nước trong khu vực, trên thế giới và các tổ chức
quốc tế. Điều quan trọng là truyền thông đại chúng đã tích cực
đưa thông tin ra nước ngoài giúp nhân dân tôn giáo, cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài có được những thông tin đúng đắn
về tình hình đất nước, tranh thủ ngày càng rộng rãi sự đồng tình,
ủng hộ của họ đối với công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây
11
dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, kòp thời vạch trần
phê phán các luận điệu “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù đòch.
Vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra cho truyền thông đại
chúng trong sự nghiệp công nghiệp hóa–hiện đại hóa là bảo
đảm được đònh hướng tư tưởng, giữ gìn ổn đònh chính trò-xã hội.
Ngày nay, để xây dựng và phát triển đất nước thì ngoài vốn,
công nghệ và lao động ra, sự ổn đònh chính trò-xã hội là một
điều kiện cực kỳ quan trọng. Thực tiễn xã hội luôn luôn vận
động thì tính ổn đònh của trạng thái chính trò-xã hội cũng mang
tính lòch sử cụ thể, nó bò chi phối bởi một loạt các yếu tố cả
bên trong lẫn bên ngoài, trong đó yếu tố quan trọng nhất là sự
vữngmạnh của hệ thống chính trò dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Truyền thông đại chúng là một yếu tố, một phương tiện có
sức mạnh to lớn trong việc hướng dẫn nhận thức, hình thành dư
luận xã hội tích cực. Dư luận xã hội tích cực là tiền đề, điều
kiện cho trạng thái chính trò-xã hội ổn đònh.
Tóm lại, truyền thông đại chúng có ảnh hưởng to lớn đến sự
phát triển kinh tế-xã hội. Thông qua các chức năng của mình
như chức năng tư tưởng, chức năng dân trí, văn hóa, chức năng
giám sát và quản lý xã hội… Truyền thông đại chúng đã trở
thành động lực cách mạng của công cuộc đổi mới và phát
triển. Vì thế Đảng ta luôn luôn đánh giá cao vai trò của truyền
thông đại chúng trong xã hội, trong hoạt động cách mạng của
mình, cũng như trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do xây
dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện
12
nay khi mà công cuộc đổi mới đang có những bước tiến mạnh
mẽ, thu được những thành tựu quan trọng, khi mà đất nước đang
đứng trước những thời cơ vận hội và cả những thử thách lớn
thì Đảng ta cần quan tâm đến truyền thông đại chúng, đánh giá
cao vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc
thúc đẩy tiến trình đổi mới phát triển đúng hướng, đưa đất
nước vượt qua khó khăn, vững bước đi lên chủ nghóa xã hội.
Câu 3. Trình bày sự lãnh đạo quản lý các phương tiện
truyền thông đại chúng của Đảng và Nhà nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
Nhằm tăng cường sự phát triển hợp lý và có hiệu quả của
hệ thống truyền thông đại chúng phục vụ đắc lực cho việc thực
hiện các nhiệm vụ chính trò-kinh tế-xã hội. Kế thừa và phát
triển những tư tưởng của chủ nghóa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng và phát triển truyền thông cách mạng,
Đảng và Nhà nước thường xuyên đánh giá và chỉ ra phương
hướng hoạt động cho hệ thống truyền thông đại chúng trong các
giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Nhờ đó,
truyền thông đại chúng nước ta hiện nay đã có bước phát triển
khá nhanh chóng về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ.
Vai trò của truyền thông đại chúng trong xã hội, nhất là trong
xã hội hiện đại rất to lớn, quan trọng trong việc thúc đẩy xã hội
phát triển. Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến công tác
lãnh đạo quản lý các phương tiện truyền thông đại chúng.
Hiện nay, truyền thông đại chúng nước ta đã có bước phát
triển khá nhanh về chất lượng, số lượng và cơ cấu đội ngũ. Cho
13
đến tháng 8 năm 1997, cả nước có gần 600 tờ báo, tạp chí và
bản tin, trong đó báo chí trung ương có 284 tờ, báo chí đòa phương
156 tờ. Báo chính trò-xã hội 144 tờ; báo kinh tế khoa học kỹ
thuật 138 tờ,; báo chí khoa học xã hội và nhân văn có 27 tờ;
báo văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, báo giáo dục có 104
tờ; báo dành cho thiếu niên nhi đồng có 6 tờ; báo chí bằng
tiếng nước ngoài có 20 tờ. Về phát thanh và truyền hình có Đài
phát thanh Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, 61 Đài phát thanh
truyền hình tỉnh, thành phố. Khoản 70% dân số nước ta có thể
thu được sóng của Đài truyền hình Việt Nam. Trong cả nước có 38
nhà xuất bản đang hoạt động, mỗi xuất bản hơn 8.000 tên sách
với gần 170 triệu bản. Nền điện ảnh non trẻ của đất nước
cũng có những bước phát triển mới, mỗi năm cho ra đời hàng
trăm phim nhựa, phim Video … Phần quảng cáo phát triển nhanh
chóng cả qui mô và chất lượng.
Sự phát triển có hiệu quả của hệ thống truyền thông đại
chúng đã phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trò, kinh tế-xã hội
của Đảng và Nhà nước ta. Truyền thông đại chúng của nước ta
đã đi đầu trong việc tuyên truyền giải thích đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và nhà nước một cách nhanh chóng kòp
thời đáp ứng được nhu cầu của công chúng. Mọi chính sách của
đảng và Nhà nước đều được cơ quan truyền thông đăng tải đến
công chúng.
Truyền thông đại chúng đã góp phần vào cuộc đấu tranh
chống tiêu cực, tệ nạn xã hội. Ngoài ra truyền thông đại chúng
góp phần vào việc giao lưu hợp tác quốc tế, đưa tin từ nước mình
ra cho bạn bè quốc tế biết và ngược lại, từ đó đã lợi dụng được
nhiều nguồn lực từ phía nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp công
14
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và việc vạch trần những
luận điệu diễn biến hòa bình chống phá lại cách mạng nước ta.
Toàn cầu hóa truyền thông đại chúng đem lại những mặt
thuận lợi, thời cơ cho nước ta phát triển, nhưng đồng thời cũng
đem lại những hiện tượng tiêu cực vào, những luận điệu diễn
biến hòa bình chống phá lại cách mạng nước ta. Do vậy Đảng và
nhà nước ta rất quan tâm đến công tác lãnh đạo quản lý các
phương tiện truyền thông đại chúng.
Đảng lãnh đạo truyền thông đại chúng là nguyên tắc hàng
đầu bất di bất dòch. Trước đây, Đảng lãnh đạo truyền thông đại
chúng góp phần vào việc giải phóng dân tộc và điều đó đã
trở thành hiện thực. Trong thời kỳ này truyền thông đại chúng
góp phần to lớn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân
chủ. Nhưng ngày nay với nền kinh tế nhiều thành phần đònh
hướng xã hội chủ nghóa càng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng
đối với truyền thông đại chúng cấp thiết hơn bao giờ hết. Bởi vì
để bảo đảm được nội dung có đònh hướng đúng đắn, chân thật,
có sức thuyết phục thì truyền thông đại chúng có khả năng hình
thành dư nhà nước, nhân dân đòi hỏi rất cao về khả năng của
các nhà làm truyền thông. Vì thế Đảng phải quy hoạch, sắp xếp
cán bộ có đủ tài năng, phẩm chất chính trò, bản lónh để chủ trì
các cơ quan truyền thông theo đúng đònh hướng của Đảng và
nhà nước cũng như việc bảo vệ lợi ích và thành quả của nhân
dân.
Vì vậy, hoạt động của truyền thông đại chúng phải bảo đảm
các nguyên tắc sau:
15
-Tính đảng, là nguyên tắc vô cùng quan trọng của truyền
thông đại chúng vô sản, nó thể hiện mọi hoạt động của
truyền thông đại chúng phục vụ cho sự nghiệp của đảng và
đặt dưới sự lãnh đạo của đảng. Người làm công tác truyền
thông phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân, bảo
vệ cái đúng chống lại cái sai, đấu tranh cho sự thắng lợi của
lý tưởng cộng sản và chứng minh sự đúng đắn của đảng.
-Tính khoa học, là truyền thông đại chúng phải lý giải thực
tiễn một cách trung thực với thế giới quan và phương pháp
luận đúng đắn, phản ảnh sự kiện, hiện tượng đúng với bản
chất, quy luật phát triển của nó. Truyền thông đại chúng
phải có sức tuyết phục và giáo dục cao hướng công chúng
đến với chân-thiện-mỹ.
-Tính nhân dân, là truyền thông đại chúng phải là một
diễn đàn rộng rãi của quần chúng nhân dân phục vụ lợi ích
của nhân dân chứ không phục vụ lợi ích của một giai cấp
nào khác. Sự tham gia tích cực và thường xuyên của nhân
dân vào hoạt động truyền thông đại chúng và ngược lại
truyền thông đại chúng phải phục vụ nhu cầu của nhân dân.
-Tính đa dạng, bởi vì cuộc sống của con người rất đa dạng
và phong phú, công chúng thì nhiều trình độ, tâm lý, sở
thích, tính cách khác nhau, vì thế truyền thông đại chúng phải
đáp ứng được nhu cầu đa dạng này.
-Tính chân thực, là vì “Sự chân thực đó chính là sức mạnh
của báo chí chúng ta” (Lenin), tính chân thực phải được phản
ánh một cách khách quan, đúng lúc và đúng thời lượng cần
thiết. Như cương lónh xây dựng đất nước thời kỳ quá đokhẳng
16
đònh: “phát triển phương tiện truyền thông đại chúng thông tin
đa dạng nhiều chiều, kòp thời chân thực và bổ ích”.
Tóm lại, xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa Đảng ,
Nhà nước, công tác truyền thông đại chúng cần phải tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với
hoạt động của truyền thông đại chúng đồng thời truyền thông
đại chúng phải là nhân tố tích cực đi đầu trong việc phát huy các
tính chất trong nguyên tắc hoạt động của truyền thông đại chúng
nhằm không ngừng phát huy mối quan hệ biện chứng đó hoạt
động truyền thông đại chúng CM sẽ đạt kết quả cao nhất đi tới
góp phần xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Câu 4. Đồng chí hiểu như thế nào về chiến lược
diễn biến hòa bình và nguy cơ xâm lược chính trò qua
hoạt động truyền thông đại chúng ?
Diễn biến hòa bình là việc sử dụng các biện pháp, hình
thức để tạo ra diễn biến từ từ, bên trong,diễn biến nội bộ
bên trong các nước xã hội chủ nghóa theo hướng có lợi phù
hợp với mục đích của chủ nghóa đế quốc và các thế lực
phản động. Diễn biến hòa bình ở nhiều phương diện và
nhiều hình thức như ngoại giao, du lòch, giao lưu văn hóa, thể
thao, đầu tư KT, hợp tác giáo dục đào tạo, trao đổi phim ảnh
và các phương tiện truyền thông. Trong đó hình thức diễn
biến hòa bình trên phương diện truyền thông đại chúng giữ vò
trí quan trọng nhất, ít tốn kém, tác động nhanh, qui mô rộng,
dễ chấp nhận, tránh được các rào cản hữu hình. Vì thế thế
17
giới thù đòch lợi dụng triệt để phương tiện truyền thông đại
chúng phục vụ cho âm mưu diễn biến hòa bình của mình. Vì
thế, từ những năm 70 cho đến những năm 80 chi phí cho
truyền thông đại chúng của Mỹ tăng 15 lần.
Chiến lược diễn biến hòa bình là một âm mưu, thủ đoạn
của đấu tranh chính trò vô cùng nguy hiểm và thâm độc, vì
kẻ thù không lộ mặt, xuất hiện dưới diện mạo khách quan,
hữu nghò, hợp tác, từ thiện và được bao phủ bởi nhiều tầng
lớp và thời gian lâu dài mới lộ rõ bộ mặt thật của nó.
Trong diễn biến hòa bình có chiến thuật đổi màu:
Mục đính các nước xã hội chủ nghóa là xây dựng một
chế độ xã hội công bằng, tự do và thònh vượng tạo điều
kiện để mọi cá nhân phát triển toàn diện, vì thế nó đã lôi
kéo được hàng triệu người vào cuộc đấu tranh tự giải phóng
mình, phong trào này ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn
cầu. Cho nên việc dùng sức mạnh quân sự và kinh tế đơn
thuần không thể nào khuất phục được ý chí của nhân dân
tiến bộ trên toàn thế giới, vì thế các nhà chiến lược phương
tây đặc biệt là Mỹ cho rằng để có thể chiến thắng cầÀn
phải có một sự chuyển biến dần dần về các khía cạnh văn
hóa, lối sống, nhận thức, thái độ chính trò… nói chungđây là
sự đổi màu về tư tưởng. Sự đổi màu về tư tưởng là điều
kiện để dẫn đến những thay đổi quyết đònh về chế độ khi
có thời cơ.
Đối tượng chủ yếu của chiến thuật đổi màu là thế hệ
trẻ, vì họ sẽ là người chủ xã hội trong tương lai. Chiến lược
đổi màu được thể hiện dưới nhiều hình thức, nhưng quan trọng
18
nhất, chủ yếu nhất là lối sống và văn hóa. Chiến thuật
đổi màu về thực chất là sự biến tướng của cuộc đấu tranh
ý thức hệ giữa chủ nghóa xã hội và chủ nghóa tư bản.
Vũ khí của diễn biến hòa bình là thông tin, tuyên truyền
chính trò.
Trong điều kiện toàn cầu hóa thông tin ngày nay, thông tin
tuyên truyền chính trò trở thành một công cụ, một loại vũ khí
vô cùng quan trọng trong chiến lược diễn biến hòa bình.
Diễn biến hòa bình vạch ra lộ trình xâm lược chính trò đối
với các nước xã hội chủ nghóa cụ thể. Lộ trình này là một
bộ phận chiến lược diễn biến hòa bình của phương tây, đặc
biệt là Mỹ, lộ tình này được ghi rõ trong chiến lược diễn biến
hòa bình và đã được áp dụng thực hiện ở Liên xô và Đông
u vào những năm 80, nó trải qua bốn giai đoạn:
-Giai đoạn 1: giai đoạn diễn biến chậm:
Đây là giai đoạn đầu tiên và lâu dài nhất. Thế giới thù
đòch dùng phương tiện, hình thức nghệ thuật, thủ đoạn và nội
dung thông điệp để tác động vào đời sống xã hội của các
nước xã hội chủ nghóa, từ đó tạo ra thay đổi về nhận thức
và từ từ làm thay đổi về quan điểm dẫn đến thay đổi lập
trường chính trò. Trong thực tế đối tượng tập trung đó là thanh
thiếu niên, vì đây là thế hệ trẻ, là người chủ tương lai của
đất nước, hơn nữa đối tượng này dễ làm thay đổi nhận thức.
Chiến lược này tập trung vào việc nuôi dưỡng các nhân
vật nổi tiếng làm nòng cốt dẫn lối kêu gọi lực lượng. Họ
thường là những người bất mãn hay sa sút về phẩm chất,
đối tượng này có thể trong hoặc ngoài nước.
19
Ở giai đoạn này lực lượng thù đòch đưa ra những thông tin
thông thường không liên quan đến chính trò, tạo nên cảm giác
dễ chòu, dễ chấp nhận và dễ mất cảnh giác, với lượng
thông tin ngày càng ồ ạt và thường xuyên, từ đó tác động
hình thành hiệu ứng truyền thông. Nhưng những hiệu ứng
này, với qui mô chưa lớn, chưa làm xuất hiện những tiền đề
cho nhiễu loạn.
-Giai đoạn 2: giai đoạn nhiễu loạn:
Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn một, lúc này tư
tưởng, tâm lý, lối sống của người dân bắt đầu thay đổi
dần, những hiệu ứng xã hội nối tiếp nhau dồn tụ lại thành
những vấn đề nổi cộm trong xã hội, đây là giai đoạn nhiễu
loạn bắt đầu.
Thực chất giai đoạn này, những hiệu ứng xã hội trở
thành những vụ rắc rối khó giải quyết, xuất hiện những
đụng độ về quan hệ xã hội, về quan điểm chính trò, kinh tế.
Ở giai đoạn này chính quyền bò suy yếu, các thế lực thù đòch
bắt đầu ngoi lên tìm cách bám trụ tồn tại công khai tập hợp
lực lượng, vai trò của đảng suy yếu, mất dần lòng tin của
quần chúng, trong nội bộ đảng xuất hiện những bất đồng,
các thế lực đế quốc phản động tìm mọi cách tăng cường
viện trợ cho các lực lượng tay chân của nó để làm tăng
thêm sự rối loạn, từ đó lấy cớ để can thiệp.
-Giai đoạn 3: Giai đoạn bùng nổ xã hội:
Giai đoạn này xung đột xã hội quyết liệt, quyền lực chính
trò của chế độ bò lung lay, chính quyền bò tê liệt ở nhiều
khâu, nhiều bộ phận, không có khả năng giải quyết dứt
20
điểm những xung đột xã hội. Thực chất đây là giai đoạn cao
trào của hiệu ứng xã hội, bên cạnh đó các phương tiện
truyền thông đại chúng của thế giới thù đòch can thiệp vào
đời sống chính trò-xã hội một cách công khai.
-Giai đoạn 4: Giai đoạn chuyển đổi quyền lực:
Đây là giai đoạn cuối của lộ trình xâm lược chính trò, chính
quyền được thay đổi theo xu hướng có lợi cho phương tây, đặc
biệt là Mỹ, thông thường lúc này là dùng đảo chính để
giành chính quyền, lập nên chính phủ thân phương tây.
Để chống lại diễn biến hòa bình cần phải thực hiện các
giải pháp:
-Thông tin kòp thời phong phú cho tất cả mọi người trong
xã hội, về các sự kiện hiện tượng, các vấn đề nảy sinh
trong và ngoài nước, để đáp ứng nhu cầu nhận thức, thò
hiếu thẩm mỹ của nhân dân. Không ngừng nâng cao trình
độ văn hóa, đònh hướng tư tưởng tạo thành dư luận xã hội
tích cực nhằm giải quyết các nhiệm vụ chính trò-xã hội, thỏa
mãn nhu cầu thông tin về mọi mặt cho nhân dân, để tránh
được sự điều khiển thông tin từ bên ngoài.
-Truyền thông đại chúng phải có tính giáo dục một cách
có hệ thống và liên tục nhằm hình thành nền tảng ý thức
tư tưởng vững chắc, tình cảm tốt đẹp trong nhân dân, loại bỏ
những thông tin có ảnh hưởng không tốt hoặc những thông
tin chống phá đường lối chính sách của cách mạng.
-Tố cáo vạch trần mọi âm mưu thủ đoạn đen tối của chủ
nghóa đế quốc và bọn phản động tay sai trong và ngoài nước,
21
vạch mặt kẻ thù, phơi bày ánh sáng những kẻ dã tâm, bản
chất xấu xa vô nhân đạo.
Tóm lại, Diễn biến hòa bình là một chính sách, một chiến
lược có thật, được tổ chức có bài bản trong khuôn khổ chính
sách ngoại giao của Mỹ và các thế lực phản động, nhằm
thay đổi chế độ chính trò của các nước xã hội chủ nghóa,
thành lập một chính quyền thân Mỹ và phương tây, có lợi cho
Mỹ và Phương Tây. Vì vậy, xét về mặt truyền thông đại
chúng, chúng taThường xuyên cảnh giác, ngăn chặn sự thâm
nhập những loại thông tin mang tính chất phản động đang
hàng ngày hàng giờ tác động vào tâm lý tính cảm của
người dân, nhất là đối tượng thanh thiếu niên. Đối với người
cán bộ lãnh đạo quản lý cần nhận thức vai trò to lớn của
truyền thông đại chúng, đồng thời phải biết cách xem xét
đánh giá để đối xử với từng loại thông tin 1 cách hợp lý
ngay ở cơ sở đòa phương đến toàn xã hội nhằm phát huy tính
tích cực của truyền thông đại chúng trong mọi hoạt động, đònh
hướng xã hội, chống diễn biến hòa bình của các thế lực
thù đòch.
Câu 5. Trình bày nội dung, ý nghĩa của mơ hình truyền thơng và mơ hình
truyền thơng đại chúng
Mơ hình truyền thơng theo các yếu tố thành phần và mối quan hệ tác động trực tiếp.
Điều kiện khơng chỉ nhận thức mà còn tìm ra phương pháp, cách thức tác động hợp lý
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thơng. Trong lịch sử vận động và phát triển
22
truyền thông đại chúng, xuất hiện hai loại mô hình chính, đó là mô hình truyền thông đại
chúng một chiều áp đặt và mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo.
Mô hình truyền thông đại chúng một chiều áp đặt là mô hình trong đó thông tin được
truyền đi từ một hướng nguồn phát đến người nhận trong mô hình này, người phát ngôn
giữ vai trò quyết định, áp đặt ý chí của mình đối với công chúng. Người nắm giữ các
phương tiện truyền thông đại chúng chỉ quan tâm đến cái mình muốn, để đưa ra ý muốn
của mình cho công chúng. Mô hình này chỉ phù hợp với điều kiện lịch sử khi mà các
phương tiện kỹ thuật truyền thông đại chúng không có khả năng thiết lập kênh phản hồi
trực tiếp. Sách, báo, phim, ảnh và phát thanh truyền hình thời kỳ đầu chỉ có thể truyền
thông tin của công chúng. Mặt khác, trình độ nhận thức và các tập quán xã hội trước đây
quy định sự tiếp nhận thông tin một cách thụ động của công chúng. Nguồn thông tin hạn
chế, phương thức quản lý xã hội thiếu dân chủ.
Xã hội càng phát triển, trình độ hiểu biết của con người ngày càng được nâng lên,
đời sống xã hội ngày càng dân chủ hóa thì mô hình truyền thông đại chúng một chiều áp
đặt trước nguy cơ sụp đổ và buộc phải dần chuyển hóa theo khuynh hướng mới. Đồng thời,
khoa học kỹ thuật phát triển, không ngừng hoàn thiện các kỹ thuật cũ và đưa ra các loại
phương tiện mới cho phép thiết lập quan hệ hai chiều liên tục trực tiếp giữa nguồn phát
thanh và công chúng.
Mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo là mô hình trong đó quá trình
truyền thông được thực hiện theo hai chiều liên tục, trực tiếp và cả nguồn phát cũng như
người tiếp nhận đều có khả năng lựa chọn thông điệp.
Với mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo, vai trò của công chúng tiếp
nhận được phát thanh như một trong những yếu tố quyết định quá trình truyền thông. Tích
cực của công chúng với tính chất là đối tượng tiếp nhận thông điệp không chỉ thể hiện ở sự
lựa chọn thông tin tiếp nhận, sự bày tỏ mong muốn, yêu cầu về thông tin mà còn là sự bày
tỏ mong muốn, yêu cầu về thông tin mà còn là sự tham gia trực tiếp trở thành một yếu tố
quy định trong quá trình vận hành và hoạt động của truyền thông đại chúng. Hoạt động
23
truyền thông đại chúng qua mạng Internet hầu như rất ít bị hạn chế trong việc tiếp nhận và
lựa chọn thông tin theo yêu cầu
Mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo là biểu hiện và phản ánh một
trình độ phát triển cao của xã hội loài người trên tất cả các bình diện của đời sống kinh tế,
khoa học – kỹ thuật, công nghệ, văn hóa. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động truyền thông đại
chúng trong điều kiện xã hội ấy, việc nghiên cứu công chúng có vai trò rất quan trọng.
Câu 6. Trình bày cơ chế tác động của truyền thông đại chúng vào đời sống xã
hội.
Hai mô hình của hoạt động truyền thông đại chúng là sự phát triển liên tục phù hợp
với điều kiện lịch sử cụ thể. Thực chất mô hình nào cũng có tác động qua lại của hai chiều
thông tin. Sự phân biệt chủ yếu chỉ được xem xét theo tính trội và các thức quan hệ giữa
hai chiều thông tin. Cho dù là mô hình nào thì thông tin từ nguồn phát cũng mang tính
khuynh hướng và khuynh hướng đó bị quy định bởi mục đích thông tin của nguồn phát
nhằm tác động vào xã hội để đạt được kết quả.
Việc tìm hiểu cơ chế tác động của truyền thông đại chúng vào xã hội chính là để làm
rõ tính chất, phương pháp vận hành của truyền thông đại chúng nhằm đạt hiệu quả
Chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các
phương tiện truyền thông tải đến công chúng xã hội rộng rãi. Quá trình tạo dựng thông
điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng. Nói cách khác mục đích, quan điểm của chủ
thể phát thông điệp bao giờ cũng ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông
tin. Tính khuynh hướng trong nội dung thông tin được phản biện thông qua cách lựa chọn,
xử lý chi tiết, trình độ nhận thức phương pháp phân tích, đánh giá và đề ra chính kiến phát
biểu trực tiếp.
Thông tin qua phương tiện tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, tháy độ
mới hay thay đổi nhận thức, thái độ cũ. Sự thay đổi về ý thức xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã
24
hội và sau đó tạo ra hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả xã hội của sự tác động của truyền
thông đại chúng cũng phụ thuộc vào sự tiếp nhận thông tin của công chúng, quá trình tiếp
nhận thông tin của công chúng gồm 5 bước :
1- Tiền đề nhận thức của công chúng xã hội có vai trò như một yếu tố nền cho sự
tiếp nhận thông tin. Đó chính là trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, quan điểm chỉnh trị
xã hội.
2- Sự quan tâm của đối tượng với nguồn tin, công chúng tập trung ý chí vào thông
tin khi người ta cảm thấy sự cần thiết hay có ý nghĩa nào đó đối với họ.
3- Sự đánh giá của công chúng xã hội đối với nguồn thông tin, là cánh cửa quan
trọng nhất dẫn đến việc công chúng tiếp nhận nguồn thông tin hay không.
4- Bước thử nghiệm của đối tượng được thực hiện trên thực tế hay thông qua thí
nghiệm tưởng tượng. Đây là thách thức cuối cùng đối với nguồn tin trước khi mạng lại
hiệu quả trên thực tế, trở thành các hành vi xã hội
5- Công chúng chấp nhận và điều chỉnh hành vi xã hội của mình phù hợp với quy
mô, tính chất và khuynh hướng của nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông đại
chúng.
Nếu chỉ xét trên sự bình diện tiếp nhận thông tin thì mỗi nhóm công chúng tùy thuộc
theo tiền đề nhận thức sẽ có mức độ tiếp nhận khác nhau. Thông thường nhóm có tiền đề
nhận thức trung bình dễ tiếp nhận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng. Nhóm
có tiền đề nhận thức cao và nhóm có tiền đề nhận thức hạn chế khó hơn trong việc tiếp
nhận thông tin. Nguyên nhân là do sự bất cẩn, chọn lọc kỹ lưỡng đối với nhóm trung bình,
hoặc do thiếu hiểu biết mà hạn chế nhu cầu đối với nhận thức cao và thấp. Trong bất cứ
trường hợp nào, việc nghiên cứu nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác
động bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu đảm bảo hiệu quả hoạt động truyền
thông đại chúng.
25
Câu 7. Trình bày nội dung và ý nghĩa chức năng tư tưởng của truyền thông đại
chúng.
Công tác tư tưởng là hoạt động tác động vào ý thức của con người nhằm hình thành
và củng cố hệ tư tưởng chính trị lãnh đạo xã hội. Yêu cầu đặc ra đối với công tác tư tưởng
là tác động tích cực vào đời sống tinh thần của con người, xây dựng và không ngừng hoàn
thiện một ý thức xã hội tiến bộ, tích cực, làm cơ sở cho việc động viên, phát huy những
tiềm năng, sức mạnh to lớn của nhân dân và công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng có sức mạnh và những khả năng to
lớn để giải quyết các nhiệm vụ công tác tư tưởng trên phạm vi toàn xã hội. Các phương
tiện truyền thông đại chúng là công cụ duy nhất có thể tác động, đồng thời nhanh chống
đến từng thành viên xã hội, liên kết các thành viên xã hội thông qua việc truyền tải các giá
trị tích cực. Mặt khác, tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đến xã hội
được thực hiện với những phương thức phong phú, sinh động vào sức thuyết phục và với
điều kiện dễ tiếp nhận.
Hướng dẫn và hình thành dư luận xã hội tích cực, đúng đắn trên cơ sở nhanh chóng,
đầy đủ và phong phú về các sự kiện thời sự, những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội.
Dư luận xã hội phản ánh nhận thức của nhân dân trước các sự kiện, thời sự. Dư luận xã hội
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định chính trị, xã hội, một điều kiện sống còn
của sự phát triển xã hội. Xã hội luôn vận động, sự nhận thức của con người. Để hình thành
dư luận xã hội đúng đắn và tích cực, yêu cầu đặt ra đối với truyền thông đại chúng là phải
thông tin đầy đủ, kịp thời, phong phú và chân thật về những sự kiện, hiện tượng, những
vấn đề thời sự. Truyền thông đại chúng còn phải phân tích, lý giải, chỉ ra bản chất, tính quy
luật của các sự kiện, biến cố thời sự, giúp nhân dân nhận thức và ứng xử hợp lý, tích cực.
Giáo dục chính trị tư tưởng, trang bị những kiến thức cần thiết làm cơ sở, điều kiện
cho việc hình thành chất lượng nội tại về chính trị, tư tưởng, tức là quản điểm, lập trường,
thái độ chính trị xã hội đúng đắn, tiến bộ và tích cục. Mục đích đặt ra cho việc thực hiện
chức năng giáo dục chính trị tư tưởng là tạo lập trong nhân dân một thế giới nhân sinh