BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THIÊM
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THIÊM
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Mã số: 60720701
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1: PGS.TS. Trịnh Hoàng Hà
2: PGS.TS. Nguyễn Văn Huy
HÀ NỘI – 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, phòng Đào
tạo sau Đại học, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế Công cộng, Trường
Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cám ơn các Thầy, Cô Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y
tế đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập cao học tại trường.
Tôi xin trân trọng biết ơn PGS.TS Trịnh Hoàng Hà, PGS.TS Nguyễn
Văn Huy, ThS Nguyễn Hữu Thắng là những người thầy đã tận tình giảng
dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu, trang bị kiến thức để tôi
bước đi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn CN Nguyễn Thị Huyền Trâm đã giúp đỡ và
đồng hành cùng tôi trong nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám đốc bệnh viện, phòng Quản lý
chất lượng, phòng Điều dưỡng, khoa Chẩn đoán hình ảnh cùng tập thể bác sỹ,
điều dưỡng, nhân viên Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha Mẹ kính yêu đã sinh thành,
nuôi dưỡng, luôn động viên con giúp con có nghị lực và ý chí vươn lên.
Xin được gửi tình yêu thương tới gia đình: người bạn đời thân yêu, con
trai, con gái yêu quý là chỗ dựa tinh thần để tôi phấn đấu.
Và cuối cùng, xin cảm ơn anh chị em, bạn bè đã luôn bên cạnh động
viên tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2017
Nguyễn Xuân Thiêm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Xuân Thiêm, học viên lớp Cao học khóa 24. Trường Đại
học Y Hà Nội, chuyên ngành Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
thầy PGS.TS. Trịnh Hoàng Hà và thầy PGS.TS. Nguyễn Văn Huy.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi
nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2017
Nguyễn Xuân Thiêm
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATNB
BCH
BYT
CSNBTD
ĐD
ĐTNC
ĐTV
JCI
NVYT
PVS
QLCLBV
TLN
WHO
An toàn người bệnh
Bộ câu hỏi
Bộ y tế
Chăm sóc người bệnh toàn diện
Điều dưỡng
Đối tượng nghiên cứu
Điều tra viên
Joint Commission International
(Tổ chức giám định chất lượng bệnh viện)
Nhân viên y tế
Phỏng vấn sâu
Quản lý chất lượng bệnh viện
Thảo luận nhóm
World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN...............................................................................3
1.1. Một số khái niệm......................................................................................3
1.1.1. Khái niệm điều dưỡng.....................................................................3
1.1.2. Sự cố y khoa....................................................................................4
1.1.3. An toàn của người bệnh..................................................................5
1.2. Thực trạng an toàn người bệnh.................................................................5
1.3. Phân loại sự cố y khoa..............................................................................6
1.4. Hậu quả của sự cố y khoa.........................................................................8
1.5. Các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa.......................................................8
1.6. Nguyên nhân dẫn đến không đảm bảo an toàn người bệnh....................10
1.7. Các yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành về an toàn người bệnh của
điều dưỡng.............................................................................................12
1.8. Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh...15
1.8.1. Trên thế giới..................................................................................15
1.8.2. Tại Việt Nam.................................................................................16
1.9. Khung lý thuyết đánh giá kiến thức và thực hành an toàn người bệnh.....19
1.10.Khái quát về địa điểm nghiên cứu.........................................................21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............22
2.1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................22
2.2. Thời gian.................................................................................................22
2.3. Địa điểm..................................................................................................22
2.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................23
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................23
2.4.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu.............................................................23
2.5. Biến số, chỉ số.........................................................................................23
2.6. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin............................................25
2.6.1. Công cụ thu thập thông tin............................................................25
2.6.2. Phương pháp và quy trình thu thập thông tin................................25
2.7. Xử lý và phân tích số liệu........................................................................26
2.8. Sai số và hạn chế của nghiên cứu............................................................27
2.9. Đạo đức nghiên cứu................................................................................28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................29
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu............................................29
3.2. Kiến thức và thực hành của điều dưỡng về an toàn người bệnh............36
3.2.1. Kiến thức của điều dưỡng về an toàn người bệnh.........................36
3.2.2. Thực hành về an toàn người bệnh của điều dưỡng.......................41
3.3. Một số yếu tố liên quan với kiến thức và thực hành của điều dưỡng về
an toàn người bệnh................................................................................45
3.3.1. Liên quan giữa một số yếu tố với kiến thức về an toàn người bệnh. .45
3.3.2. Liên quan giữa một số yếu tố với thực hành an toàn người bệnh. 48
3.3.3. Một số yếu tố khác liên quan đến kiến thức và thực hành an toàn
người bệnh.....................................................................................51
Chương 4: BÀN LUẬN.................................................................................55
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu............................................55
4.2. Kiến thức và thực hành của điều dưỡng về an toàn người bệnh............57
4.2.1. Kiến thức của điều dưỡng về an toàn người bệnh.........................57
4.2.2. Thực hành của điều dưỡng về an toàn người bệnh.......................60
4.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của điều dưỡng về
an toàn người bệnh................................................................................63
4.3.1. Liên quan giữa một số yếu tố với kiến thức an toàn người bệnh....63
4.3.2. Liên quan giữa một số yếu tố với thực hành an toàn người bệnh...65
4.3.3. Một số yếu tố khác........................................................................66
KẾT LUẬN....................................................................................................69
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.
Sự cố y khoa tại Mỹ và các nước phát triển..................................5
Bảng 1.2.
Nhiễm khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện Việt Nam...............6
Bảng 1.3.
Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại...............................7
Bảng 2.1.
Cỡ mẫu nghiên cứu định tính......................................................23
Bảng 2.2.
Các thuật toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu............27
Bảng 3.1.
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.................................29
Bảng 3.2.
Đặc điểm công việc và môi trường làm việc của điều dưỡng.....31
Bảng 3.3.
Nhận thức về công việc của điều dưỡng.....................................32
Bảng 3.4.
Tỷ lệ hài lòng của điều dưỡng.....................................................33
Bảng 3.5.
Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt về an toàn người bệnh..........36
Bảng 3.6.
Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt về phân loại sự cố y khoa theo
6 nhóm sự cố...............................................................................38
Bảng 3.7.
Tỷ lệ thực hành đạt về các giải pháp trong an toàn người bệnh
của điều dưỡng............................................................................41
Bảng 3.8.
Mức độ thường xuyên thực hiện đúng giải pháp an toàn người
bệnh của điều dưỡng...................................................................43
Bảng 3.9.
Liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức của
điều dưỡng về an toàn người bệnh của điều dưỡng....................45
Bảng 3.10. Liên quan giữa một số yếu tố đặc điểm công việc với kiến thức
về an toàn người bệnh của điều dưỡng.......................................46
Bảng 3.11. Liên quan giữa thời gian làm việc/tuần với kiến thức của điều
dưỡng về an toàn người bệnh của điều dưỡng............................47
Bảng 3.12. Liên quan giữa kiến thức về an toàn người bệnh với sự hài lòng
của điều dưỡng............................................................................47
Bảng 3.13. Liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với thực hành về an
toàn người bệnh của điều dưỡng.................................................48
Bảng 3.14. Liên quan giữa một số yếu tố về công việc với thực hành về an
toàn người bệnh của điều dưỡng.................................................49
Bảng 3.15. Liên quan giữa thời gian làm việc/tuần với thực hành của điều
dưỡng về an toàn người bệnh của điều dưỡng............................50
Bảng 3.16. Liên quan giữa kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh của
điều dưỡng...................................................................................50
Bảng 3.17. Liên quan giữa thực hành và sự hài lòng của điều dưỡng...........51
DANH MỤC HÌN
Hình 1.1. Khung lý thuyết đánh giá kiến thức và thực hành an toàn người bệnh
....................................................................................................20Y
Hình 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi của điều dưỡng.......................................30
Hình 3.2. Phân bố trình độ chuyên môn của điều dưỡng..............................30
Hình 3.3. Kinh nghiệm làm việc của điều dưỡng.........................................31
Hình 3.4. Điểm trung bình sự hài lòng công việc của điều dưỡng................34
Hình 3.5. Tỷ lệ hài lòng chung của điều dưỡng............................................35
Hình 3.6. Tỷ lệ điều dưỡng phân loại đạt các danh mục sự cố y khoa nghiêm
trọng phải báo cáo.........................................................................37
Hình 3.7. Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt về an toàn người bệnh............39
Hình 3.8. Tỷ lệ điều dưỡng có thực hành đạt về an toàn người bệnh...........43
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống được nâng
lên đáng kể, con người quan tâm đến sức khỏe nhiều hơn. Với các ứng dụng
tiến bộ khoa học công nghệ y sinh học, nền y học thế giới ngày càng phát
triển với tốc độ vượt bậc, người dân dần được hưởng các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe với chất lượng tốt hơn. Họ sử dụng đa dạng các dịch vụ y tế, nhưng
thời gian khám chữa bệnh và điều trị vẫn diễn ra chủ yếu tại bệnh viện. Theo
một báo cáo của Ủy ban châu Âu về An toàn người bệnh ở các nước EU năm
2014 cho biết các sự cố liên quan trực tiếp đến nhiễm khuẩn bệnh viện làm 37
000 người chết/ năm [1]. Bên cạnh đó, theo ước tính, mỗi năm ở Hoa Kỳ, có
đến một triệu người bị thương và 98.000 chết là hậu quả của sai sót y khoa
(IOM, 2000) [2]. Những sự cố, rủi ro y khoa có thể xảy ra tại bệnh viện, đe
dọa đến sự an toàn của người bệnh. Tại Việt Nam, hiện chưa có một nghiên
cứu hệ thống nào để có một bức tranh đầy đủ về sai sót chuyên môn và sự cố
y khoa. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh đều phải đương đầu với
các sự cố ở các mức độ và ảnh hưởng khác nhau. “An toàn người bệnh” là
một chương trình có sự khởi đầu nhưng không có sự kết thúc, vì nguy cơ của
các sự cố y khoa luôn thường trực và có thể xảy ra bất cứ khi nào. Ngày 12
tháng 7 năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT về
“Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại
bệnh viện” cũng nhấn mạnh nội dung triển khai các biện pháp bảo đảm an
toàn người bệnh và nhân viên y tế [3]. Ngày nay, an toàn người bệnh chiếm vị
trí hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe. Trong một cơ sở khám chữa bệnh, nhân
viên y tế là điều dưỡng chiếm số lượng đáng kể, là lực lượng lao động lớn
đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc người bệnh. Đồng thời họ áp dụng
kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để cung cấp các dịch vụ y tế, các nhu cầu
2
khác nhau và thay đổi thường xuyên của người bệnh trong quá trình khám
chữa bệnh [4]. Vậy kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh của điều
dưỡng tại bệnh viện ra sao? Trong khi vai trò của điều dưỡng rất quan trọng
trong cơ sở y tế, một trong những nơi hay xảy ra sự cố là tỷ lệ điều dưỡng/
người bệnh thấp [5]. Do vậy, đo lường kiến thức và thực hành về an toàn
người bệnh của của các điều dưỡng là rất quan trọng, đo lường cho nhóm đối
tượng này sẽ giúp cung cấp thông tin cụ thể cho quản lý chất lượng trong đảm
bảo an toàn người bệnh tại bệnh viện [6].
Bệnh viện đa khoa Hà Đông là bệnh viện đa khoa hạng I thuộc Sở Y tế
Hà Nội. Bệnh viện đa khoa Hà Đông được thành lập và phát triển qua nhiều
giai đoạn đến nay với 39 khoa phòng và 01 đơn nguyên, đang thực sự đóng
vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân Thủ đô.
Hiện nay, Bệnh viện cũng đã và đang chú trọng công tác nâng cao chất lượng
bệnh viện, đảm bảo an toàn người bệnh nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào về
tìm hiểu về kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh tại Bệnh viện. Do
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức và thực hành về an toàn
người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2016 và
một số yếu tố liên quan” với mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh của điều dưỡng
tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2016.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về an toàn
người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2016.
3
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm điều dưỡng
Điều dưỡng
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp
chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người
bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Nó bao gồm thúc đẩy sức khỏe,
phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong [7].
Theo Hội đồng điều dưỡng quốc tế: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và
phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng
đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Điều dưỡng bao
gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn
tật và cả tử vong. Vận động thức đẩy một môi trường an toàn, nghiên cứu,
tham gia hoạch định chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế và giáo dục cũng là
vai trò của điều dưỡng [8].
Theo Hiệp hội Điều dưỡng Mỹ: Điều dưỡng là sự bảo vệ, thúc đẩy và tối
ưu hóa sức khỏe và khả năng, phòng ngừa bệnh tật và thương tích, giảm đau
thông qua chẩn đoán và điều trị các đáp ứng của con người, vận động sự
chăm sóc từ các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [9].
Điều dưỡng viên/ Người điều dưỡng
Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức
khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để
phục vụ cho quá trình chắm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu
cho bệnh nhân [10].
Theo một định nghĩa khác thì điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ)
là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu
chuẩn được kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng [10].
4
Chức năng của Điều dưỡng
- Chức năng phụ thuộc: là thực hiện y lệnh của bác sĩ.
- Chức năng phối hợp: là phối hợp ngang hàng với bác sĩ trong việc chữa
trị bệnh cho người bệnh.
- Chức năng độc lập: là chủ động chăm sóc người bệnh theo nhiệm vụ đã qui định.
Nhiệm vụ của điều dưỡng
ĐDV có nhiệm vụ chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD), bắt đầu từ
khi nhập viện, trong khi nằm viện tới lúc xuất viện. Họ có nhiệm vụ phải nhận
định tình trạng NB, đánh giá về sự đáp ứng của họ đối với bệnh tật để từ đó chẩn
đoán ĐD và vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn
ĐD để lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc, đánh giá toàn trạng
và ghi chép diễn biến trường hợp bệnh nặng và cấp cứu để điều chỉnh kịp thời.
Bên cạnh đó ĐD còn có nhiệm vụ phải phối hợp với bác sĩ trong thực hiện kế
hoạch CSNBTD như thực hiện, theo dõi giám sát ĐD cấp dưới trong thực hiện y
lệnh, tư vấn, giáo dục sức khoẻ và đào tạo (ĐT) cho học sinh (HS), sinh viên
(SV), học viên (HV), chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, ĐD còn có
nhiệm vụ quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị, môi trường làm việc, phát triển
nghề nghiệp và phải hành nghề theo y đức và pháp luật [11].
1.1.2. Sự cố y khoa.
Theo WHO, Bộ Y tế cũng đưa ra định nghĩa:
Lỗi - Error: Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng
các quy định không phù hợp [12], [3].
Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới
người bệnh [3].
Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE): Sự cố không mong
muốn tổn thương làm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn,
kéo dài ngày nằm viện hoặc chết. Nguyên nhân do công tác quản lý khám
chữa bệnh (health care management) hơn là do biến chứng bệnh của người
5
bệnh. Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [12], [13].
Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ: Sự cố không mong muốn
gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế. Để đo
lường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Mỹ dựa vào 3 nhóm tiêu
chí. (1) Các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng; (2) Các tình
trạng/vấn đề sức khỏe người bệnh mắc phải trong bệnh viện; Và (3) sự cố dẫn
đến 1 trong 4 thiệt hại nghiêm trọng cho người bệnh nằm trong Bảng 4 Phân
loại mức độ nguy hại cho người bệnh từ F-I, bao gồm: kéo dài ngày điều trị,
để lại tổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấp cứu và chết người
1.1.3. An toàn của người bệnh
Theo WHO An toàn người bệnh: công tác dự phòng các lỗi, tác hại hay
những sự cố không mong muốn, ảnh hưởng xấu tới người bệnh trong chăm
sóc sức khỏe [12], [14].
Thực hành an toàn người bệnh: là những biện pháp làm giảm nguy cơ
hoặc các điều kiện có thể gây ra tác hại không mong muốn liên quan đến
trong chăm sóc sức khỏe [15].
1.2. Thực trạng an toàn người bệnh
Thực trạng an toàn người bệnh trên thế giới
Bảng 1.1. Sự cố y khoa tại Mỹ và các nước phát triển [16]
Số NB
NC
Mỹ (Harvard Medical Practice Study )
1989 30 195
Mỹ (Utah-Colorado Study)
1992 14 565
Mỹ (Utah-Colorado Study)*
1992 14 565
Úc (Quaility in Australia Health Case Study)
1992 14 179
Úc (Quaility in Australia Health Case Study)** 1992 14 179
Anh
2000 1014
Đan Mạch
1998 1097
Ghi chú: * Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Mỹ
** Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Úc.
Sự cố y khoa do phẫu thuật: WHO ước tính hàng năm có
Nghiên cứu
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Năm
Số Tỷ lệ
sự cố (%)
1133 3,8
475
3,2
787
5,4
2353 16,6
1499 10,6
119 11,7
176
9,0
khoảng 230
triệu phẫu thuật. Các nghiên cứu ghi nhận tử vong trực tiếp liên quan tới phẫu
6
thuật từ 0,4-0,8% và biến chứng do phẫu thuật từ 3-16% [17], [18]. Theo Viện
nghiên cứu Y học Mỹ và Úc gần 50% các sự cố y khoa không mong muốn
liên quan đến người bệnh có phẫu thuật [19].
Sự cố y khoa liên quan tới nhiễm khuẩn bệnh viện: WHO công bố
NKBV từ 5-15% người bệnh nội trú và tỷ lệ NKBV tại các khoa điều trị tích
cực từ 9-37%; Tỷ lệ NKBV chung tại Mỹ chiếm 4,5% [20]. Năm 2002, theo
ước tính của CDC tại Mỹ có 1,7 triệu người bệnh bị NKBV, trong đó 417,946
người bệnh NKBV tại các khoa hồi sức tích cực (24,6%) [21].
Bảng 1.2. Nhiễm khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện Việt Nam [3]
Nghiên cứu
Phạm Đức Mục và cộng sự (11 BVTW)
Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (6BV phía Nam)
Nguyễn Việt Hùng (36BV phía Bắc)
Trần Hữu Luyện. Giám sát NKVM của 1000 NB có
phẫu thuật tại BVTW Huế.
Lê Thị Anh Thư. Giám sát VPBV liên quan thở máy
của 170NB tại BV Chợ Rẫy.
Năm
2005
2005
2006
NKBV %
5,8
5,6
7,8
2008
4,3
2011
39,4
1.3. Phân loại sự cố y khoa
Tùy theo mục đích sử dụng mà có các cách phân loại sự cố y khoa khác
nhau. Các cách phân loại hiện tại bao gồm: Phân loại theo nguy cơ đối với
người bệnh, phân loại theo báo cáo bắt buộc và phân loại theo đặc điểm
chuyên môn.
Theo kinh nghiệm của một số nước, sự cố y khoa được phân loại theo
các cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Bao gồm phân loại theo
mức độ nguy hại của người bệnh, theo theo tính chất nghiêm trọng của sự cố
làm cơ sở để đo lường và đánh giá mức độ nguy hại cho người bệnh [14], [3].
Bảng 1.3. Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại
Mức
Mô tả
Mức độ
7
độ
A
B
C
D
E
nguy hại
Sự cố xảy ra có thể tạo ra lỗi/sai sót
Sự cố đã xảy ra nhưng chưa thực hiện trên NB
Sự cố đã xảy ra trên NB nhưng không gây hại
Sự cố đã xảy ra trên NB đòi hỏi phải theo dõi
Sự cố xảy ra trên NB gây tổn hại sức khỏe tạm
F
thời đòi hỏi can thiệp chuyên môn
Sự cố xảy ra trên NB ảnh hưởng tới sức khỏe
G
H
hoặc kéo dài ngày nằm viện
Sự cố xảy ra trên NB dẫn đến tàn tật vĩnh viễn
Sự cố xảy ra trên NB phải can thiệp để cứu sống
I
NB
Sự cố xảy ra trên người bệnh gây tử vong
Không nguy
hại cho NB
Nguy hại
cho NB
Nguồn: NCC MERP Index, Medication Errors Council Revises and
Expended Index for categorizing Errors, June 12, 2001.
Phân loại sự cố y khoa theo đặc điểm chuyên môn Hiệp hội an toàn
người bệnh Thế giới phân loại sự cố y khoa theo 6 nhóm sự cố gồm:
1)
2)
3)
4)
5)
6)
Nhầm tên người bệnh
Thông tin bàn giao không đầy đủ
Nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật
Nhầm lẫn liên quan tới các thuốc có nguy cơ cao
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Người bệnh ngã
1.4. Hậu quả của sự cố y khoa
Hậu quả về sức khỏe: hậu quả của các sự cố y khoa không mong muốn
làm tăng gánh nặng bệnh tật, tăng ngày nằm viện trung bình, tăng chi phí điều
trị, làm giảm chất lượng chăm sóc y tế và ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin đối
với cán bộ y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ.
Tại Mỹ (Utah- Colorado): các sự cố y khoa không mong muốn đã làm
tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết sự cố cho một người bệnh là 2262
8
US$ và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh. Theo một nghiên cứu khác của
Viện Y học Mỹ chi phí tăng $2595 và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2
ngày/người bệnh [16].
Ở Australia hàng năm: 470 000 NB nhập viện gặp sự cố y khoa, tăng
8% ngày điều trị (thêm 3,3 triệu ngày điều trị) do sự cố y khoa, 18000 tử
vong, 17000 tàn tật vĩnh viễn và 280000 người bệnh mất khả năng tạm thời
[22], [23].
Tại Anh: Bộ Y tế Anh ước tính có 850.000 sự cố xảy ra hàng năm tại
các bệnh viện Anh quốc, chỉ tính chi phí trực tiếp do tăng ngày điều trị đã lên
tới 2 tỷ bảng. Bộ Y tế Anh đã phải sử dụng 400 triệu bảng để giải quyết các
khiếu kiện lâm sàng năm 1998/1999 và ước tính phải chi phí 2,4 tỷ bảng Anh
để giải quyết những kiện tụng chưa được giải quyết. Chi phí cho điều trị
nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới 1 tỷ bảng Anh hàng năm. Con số kiện tụng lên
tới 38000 đối với lĩnh vực chăm sóc y tế gia đình và 28000 đơn kiện đối với
lĩnh vực bệnh viện [24].
1.5. Các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa
Theo các nhà nghiên cứu, các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa gồm:
Yếu tố người hành nghề, yếu tố chuyên môn, yếu tố môi trường công việc và
yếu tố liên quan tới quản lý và điều hành cơ sở y tế.
Yếu tố con người
a) Sai sót không chủ định
- Do thiếu tập trung khi thực hiện các công việc thường quy (bác sĩ ghi
hồ sơ bệnh án, điều dưỡng tiêm và phát thuốc cho người bệnh..). Các sai lầm
này không liên quan tới kiến thức, kỹ năng của người hành nghề mà thường
liên quan tới các thói quen công việc.
9
- Do quên (bác sĩ quên không chỉ định các xét nghiệm cấp để chẩn
đoán, điều dưỡng viên quên không bàn giao thuốc, quên không lấy bệnh phẩm
xét nghiệm,..).
- Do tình cảnh của người hành nghề (mệt mỏi, ốm đau, tâm lý,..).
- Do kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế áp dụng các quy định
chuyên môn không phù hợp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sự cố y khoa
không mong muốn xảy ra ngay đối với các thầy thuốc có kinh nghiệm nhất và
đang trong lúc thực hiện công việc chuyên môn có trách nhiệm với người bệnh.
b) Sai sót chuyên môn
- Cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn
- Vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Đặc điểm chuyên môn y tế bất định
- Bệnh tật của người bệnh diễn biến, thay đổi
- Y học là khoa học chẩn đoán luôn kèm theo xác suất
- Can thiệp nhiều thủ thuật, phẫu thuật trên người bệnh dẫn đến rủi ro
và biến chứng bất khả kháng.
- Sử dụng thuốc, hóa chất đưa vào cơ thể dễ gây sốc phản vệ, phản ứng v.v,..
Môi trường làm việc nhiều áp lực
- Môi trường vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ, diện tích..).
- Môi trường công việc (quá tải, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện..);
Môi trường tâm lý (tiếp xúc với người ốm, tâm lý luôn căng thẳng…).
Quản lý và điều hành dây chuyền khám chữa bệnh
- Một số chính sách, cơ chế vận hành bệnh viện đang tiềm ẩn nhiều
nguy cơ có thể làm gia tăng sự cố y khoa liên quan tới BHYT, tự chủ, khoán
quản làm tăng lạm dụng dịch vụ y tế.
- Tổ chức cung cấp dịch vụ: Dây chuyền khám chữa bệnh khá phức tạp,
ngắt quãng, nhiều đầu mối, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt.
10
- Thiếu nhân lực nên bố trí nhân lực không đủ để bảo đảm chăm sóc
người bệnh 24 giờ/24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần. Các ngày cuối tuần, ngày lễ
việc chăm sóc, theo dõi người bệnh chưa bảo đảm liên tục.
- Đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên
- Kiểm tra giám sát chưa hiệu quả, thiếu khách quan.
1.6. Nguyên nhân dẫn đến không đảm bảo an toàn người bệnh
Từ các nghiên cứu trên thế giới, trong nước kết hợp vói tình hình thực
tiễn cho thấy có 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sự cố y khoa:
Nhóm nguyên nhân do con người: Trong bất cứ lĩnh vực nào con người
luôn có một vị trí quan trọng. Tuy nhiên trước tình trạng quá tải ở các bệnh
viện lớn cùng với thói quen sự chủ quan tin tưởng vào trí nhớ của bản thân
như thăm khám cho vài người bệnh mới tiến hành ghi vào bệnh án hay pha
thuốc cho vài người bệnh rồi mới tiến hành tiêm cuả điều dưỡng đã vô tình
tăng nguy cơ sai sót y khoa dẫn đến sự mất ATNB. Tình cảnh của nhân viên y
tế bao gồm sức khoẻ, tâm lý hay kinh nghiệm chuyên môn cũng ảnh hưởng
đáng kể đến việc hình thành sai sót y khoa. Ngoài ra, việc vi phạm chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp ví dụ thiếu tập trung, dựa vào phác đồ không cập
nhập, làm tắơcắn xén quy trình cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến sự mất
ATNB. Đây là nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sai sót y khoa tuy nhiên đây
cũng là nhóm nguyên nhân có nhiều giải pháp để phòng ngừa và cải thiện
nhất. Ở Việt Nam, để tăng cường ATNB giảm thiểu rủi ro do sai sót y tế, Bộ Y
tế đã đưa ra một loạt thông tư để kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, thông tư
hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện,
thông tư hướng dẫn sử dụng thuốc trong bệnh viện... để giảm thiểu sai sót do
con người.
Nhóm nguyên nhân do đặc tính chuyên môn: Bên cạnh những nguyên
nhân từ con người những đặc tính chuyên môn như xác suất xảy ra sai sót y tế
11
cao hay những rủi ro do can thiệp thủ thuật do môi trường đặc thù cũng góp
phần làm tăng số lượng sai sót trong y tế. Ngoài ra, mỗi người có phản ứng
khác nhau với từng loại thuốc hoá chất khác nhau vì vậy nên việc sai sót có
thể xảy ra với người này nhưng không xảy ra với người khác. Vì vậy để tăng
cường ATNB nhân viên y tế phải theo dõi thường xuyên để có thể xử trí kịp
thời hạn chế tối đa hậu quả của thuốc. Ngày nay khi xã hội ngày càng phát
triển nhiều loại bệnh mới xuất hiện và nhiều loại bệnh đến giờ vẫn chưa có
thuốc chữa đây cũng là nguyên nhân góp phần làm tăng sự cố y khoa.
Nhóm nguyên nhân do dây chuyền khám chữa bệnh phức tạp: Công tác
khám chữa bệnh yêu cầu sự phối hợp của nhiều người, nhiều tổ chức khác
nhau. Bên cạnh đó việc không bàn giao công việc đầy đủ giữa các ca trực đang
là nguyên nhân dẫn đến các sai sót ở bệnh viện. Việc thiếu nhân lực, phương
tiện hoặc chất lượng nhân lực, phương tiện không đảm bảo đang là nguyên
nhân làm cho người bệnh đối mặt với tình trạng thiếu an toàn ở các nước đang
phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Nghề y là nghề liên quan đến tính
mạng con người vì vậy nhân viên y tế luôn phải đối mặt với áp lực tự chủ cao
(lợi ích/an toàn) và đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến ATNB [3].
Từ những thực trạng ATNB Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo
6 giải pháp để tăng cường ATNB bao gồm
- Xác định đúng người bệnh;
- Tăng cường thông tin giữa NVYT, hạn chế ra y lệnh miệng;
- An toàn dùng thuốc;
- An toàn phẫu thuật;
- Giảm thiểu nhiễm khuẩn bệnh viện;
- Phòng ngừa người bệnh bị ngã.
1.7. Các yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành về an toàn người bệnh
của điều dưỡng
12
a. Giới tính
Theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng, những điều dưỡng là nam,
tuổi trong nhóm dưới 30 tuổi hoặc trên 45 tuổi và có trình độ từ cao đẳng trở
lên có kiến thức về ATNB tốt hơn những nhóm còn lại[25].
Theo nghiên cứu của Angelillo năm 1999 cho kết quả kiến thức về kiểm
soát nhiễm khuẩn tại phòng mổ của Điều dưỡng nam cao hơn điều dưỡng nữ
và có nguy cơ khuẩn bệnh viện đến người bệnh [26].
b. Thâm niên công tác
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, Điều dưỡng có nhiều năm kinh
nghiệm có kiến thức và thực hành về an toàn người bệnh tốt hơn so với nhóm
điều dưỡng ít năm kinh nghiệm.
Theo Hadcock năm 2002, có một số lượng lớn điều dưỡng có kiến thức
về an toàn người bệnh, đặc biệt là các điều dưỡng lâu năm có nhiều kinh
nghiệm tốt hơn điều dưỡng có ít thâm niên công tác [27, 28].
Khi tiến hành nghiên cứu nhận thức của 92 Điều dưỡng về những thiếu
sót trong thực hiện thuốc của Hassan H và cộng sự năm 2009 ở Malaysia kết
quả có 93,75% Điều dưỡng cho rằng thiếu sót thường xảy ra trong 5 năm làm
việc đầu tiên của họ [29].
Nghiên cứu của Võ Văn Tân, điều dưỡng ở khoa ngoại có kiến thức
không đạt cao nhất chiếm 73,3% tiếp đó là điều dưỡng khoa nội và điều
dưỡng khoa nhi/sản có kiến thức ATNB không đạt nhất [30].
Nghiên cứu của Westbrool J.I và cộng sự năm 2011 về những thiếu sót xảy
ra trong tiêm tĩnh mạch ở bệnh viện và kinh nghiệm của 107 Điều dưỡng tại Anh
cho thấy, Điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm sẽ mắc ít thiếu sót hơn [31].
Trong nghiên cứu của Fadi El-Jardali và cộng sự năm 2011 cho thấy nhân
viên y tế làm lãnh đạo, quản lý có tỷ lệ nhận thức văn hóa an toàn người bệnh
gấp 1,79 lần (95% CI= 1,16-2,74) so với nhân viên ĐD[32].
13
Theo nghiên cứu của Fujita và cộng sự năm 2013 cho thấy tại Nhật Bản
và Đài Loan tình hình “tinh thần đồng đội trong đơn vị” trong các ĐD làm
việc <40 giờ/tuần tốt hơn so với các ĐD làm việc ≥ 60 giờ/tuần. Thời gian
làm việc dài gây ra mệt mỏi, căng thẳng, từ đó dẫn đến những sai lầm hoặc
truyền thông tin không chính xác, các vấn đề giữa các cá nhân kết quả là
không tôn trọng, hỗ trợ và giúp đỡ nhau. Điều đó làm mức độ an toàn người
bệnh của bệnh viện giảm đi [33, 34].
Một nghiên cứu khác cho thấy có 52,7% điều dưỡng cho biết thiếu các
phương tiện làm việc, 48,3% thiếu nhân lực, 21,8% thiếu thời gian chỉ có 10%
điều dưỡng thấy thiếu chuyên môn và cao tuổi. Bên cạnh đó việc thủ tục rườm rà
cũng là nguyên nhân cản trở việc thực hành an toàn người bệnh ở điều dưỡng.
Tuy nhiên, chỉ tìm được mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa khoa công tác và
thực hành an toàn ở điều dưỡng (OR = 3,7; 95% KTC: 1,3 – 11,3) [35].
Trong nghiên cứu về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Võ Văn Tân cho
thấy gần 2/3 ĐD đang làm việc ở các khoa Nội (62%), còn lại ở các khoa Ngoại.
Có sự khác biệt về kiến thức phòng ngừa chuẩn của ĐD Nội khoa và Ngoại
khoa. Các yếu tố môi trường và tổ chức ảnh hưởng đến NKBV như thiếu xà
phòng rửa tay, nơi đặt bồn rửa tay không thuận tiện, thiếu kính bảo vệ mắt, ĐD
chăm sóc rất nhiều BN, sự quan tâm của lãnh đạo BV và lãnh đạo khoa [30].
Theo các nghiên cứu cũng cho thấy việc chữ bác sỹ xấu là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự mất ATNB. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị
Hồng Lâm những người thường xuyên/thỉnh thoảng gặp khó khăn khi thực
hiện y lệnh bác sỹ do chữ quá xấu có kiến thức không đạt cao hơn 2,83 lần
những người thuộc nhóm hiếm khi mới gặp [36].
Những người điều dưỡng cho rằng trang thiết bị tại bệnh viện chưa đầy
đủ thì có nguy cơ có kiến thức không đạt gấp 1,77 lần nhóm cho rằng đầy đủ,
ngược lại những người điều dưỡng cho rằng trang thiết bị của bệnh viện chưa
14
tốt có nguy cơ có kiến thức không đạt chỉ bằng 83% so với nhóm cho rằng
trang thiết bị không tốt [37].
Trong nghiên cứu của Trần Ngọc Trung “Nghiên cứu định tính cũng cho
thấy, trong quá trình chăm sóc người bệnh, điều dưỡng viên gặp không ít khó
khăn, nhiều áp lực khi phải thực hiện trong điều kiện cơ sở vật chất xuống
cấp, số lượng người bệnh đông, thiếu điều dưỡng, một điều dưỡng phải chăm
sóc nhiều người bệnh [35].
Những điều dưỡng ở nhóm cho rằng việc giám sát công việc tại bệnh
viện chưa tốt hoặc bình thường có nguy cơ có kiến thức không đạt cao hơn
gấp 2,08 lần so với nhóm cho rằng việc giám sát công việc của bệnh viện đã
rất tốt (95% KTC: 1,18- 3,65) [38].
Những điều dưỡng cho rằng mình có gặp khó khăn trong việc nhận diện
thuốc hoặc thường xuyên/thỉnh thoảng gặp khó khăn trong giao tiếp với người
bệnh/người nhà bệnh nhân thường có thái độ về ATNB không đạt cao gấp
1,91 lần; 1,18 lần những người không gặp khó khăn trong hai vấn đề này [39].
Ngược lại những người cho rằng thủ tục của bệnh viện rất phức tạp/phức tạp
thường có thực hành không đạt chỉ bằng 94% những người cho rằng thủ tục
bệnh viện không phức tạp. Trong mối hên hệ giữa các khó khăn người điều
dưỡng gặp phải tại bệnh viện và thái độ về ATNB của điều dưỡng chỉ có đủ
bằng chứng để chứng minh mối liên hệ giữa nguy cơ nhầm thuốc của điều
dưỡng và thái độ của họ với x=4,77; p=0,03.[40]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh tại bệnh viện đa khoa Cai Lậy năm
2006 cũng cho thấy có sự cải thiện các quy trình kỹ thuật điều dưỡng khi
thực hiện công tác chấn chỉnh, nhắc nhở, trong đó: ĐD thực hiện kỹ thuật đạt
tăng từ 59,4% lên 92%; ĐD chuẩn bị dụng cụ đạt tăng từ 73,2% lên 94%; ĐD
giao tiếp trước khi thực hiện đạt tăng từ 29% lên 47,1%; ĐD giao tiếp sau khi
thực hiện tăng từ 29% lên 47,1% [41].