CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở huyện Phú Ninh
Tên đề tài sáng kiến:
Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
lớp lớn 2 trường Mẫu Giáo Hoa Mai xã Tam Lãnh.
1. Chủ đầu tư sáng kiến: Phạm Thị Tuyết Xuân
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy trẻ 5-6 tuổi, tại lớp lớn 2 trường
mẫu giáo Hoa Mai.
3.
Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Năm học: 2019-2020
4. Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
Giáo dục mầm non là bậc học giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân
Việt Nam, có nhiệm vụ tạo thành quá trình giáo dục thống nhất và liên tục, là thời
kỳ tăng trưởng về cơ thể và phát triển về trí tuệ, tình cảm, xã hội, diễn ra rất nhanh
so với giai đoạn sau này của cuộc đời con người. Là thời kỳ nhân cách bắt đầu hình
thành. Nhà giáo dục Nga đã từng nói: “Tính tình con người hình thành trong những
năm thơ ấu, cái gì đã khắc sâu cá tính thời đó thì nó sẽ ăn sâu chặt chẽ như thiên
tính thứ hai”
1
Đây là lứa tuổi có sự nhạy cảm với mọi tác động bên ngoài, do đó việc giáo
dục của người lớn có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ. Nếu được chăm
sóc giáo dục chu đáo sẽ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của trẻ và ngược lại.
Giáo dục mầm non còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo
dục con người.
Chính vì lẽ đó, bản thân tôi cần lựa chọn một số kinh nghiệm nào cần cho
cuộc sống của trẻ để truyền đạt cho trẻ và tổ chức các hoạt động nhằm giúp trẻ lĩnh
hội được các nội dung đó là vấn đề hết sức cấp bách. Với phương châm “Tiên học
lễ hậu học văn”, để góp phần hoàn thiện nhân cách cho trẻ sau này trước tiên phải
hình thành được ở trẻ hành vi giao tiếp có văn hóa, và tôi đã lựa chọn “biện pháp
giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” nhằm hình
thành ở trẻ các kỹ năng giao tiếp: tôn trọng con người, có thiện chí, quan tâm đến
người khác, nhân hậu, trung thực, cách cư xử lịch sự và khéo léo, nhận thức đúng
đắn về những quan hệ trong xã hội và còn hình thành ở trẻ kỹ năng, thói quen ứng
xử có văn hóa trong quan hệ với mọi người.
Như chúng ta đã biết: Ở độ tuổi mẫu giáo tâm hồn của trẻ như tờ giấy trắng,
sự hình thành nhân cách của trẻ bắt đầu từ sự uốn nắn, dạy dỗ tại thời điểm này. Vì
thế cần phải vẽ lên đó những hình tượng đẹp đẽ nhất để sau này khi lớn lên trẻ
không trở thành những con người vô dụng như Bác Hồ đã nói: “Người có tài mà
không có đức là người vô dụng.”
Từ ngàn xưa kinh nghiệm của cha ông ta đã đúc kết nhiệm vụ học đầu tiên
của mỗi con người phải là “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ phép là nét đẹp văn hóa
được đặt lên hàng đầu. Trong thời đại hiện nay, chúng ta tiếp thu nhiều nền văn hóa
khác nhau nên đâu đó vẫn còn những câu chuyện đáng thương tâm về đạo đức của
con người, việc mà chúng ta thường nghe và thấy trên các phương tiện thông tin đại
chúng, trong cuộc sống hàng ngày…
2
Giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa ở lứa tuổi mầm non là góp phần hình
thành nhân cách cho trẻ, tạo ra những tác động tích cực, loại bỏ bớt những yếu tố
tiêu cực. Đặc biệt trong chừng mực nhất định nào đó có thể cải tạo yếu tố không
thuận lợi biến chúng thành yếu tố thuận lợi đến với trẻ. Chính nhờ có sự giáo dục
dạy bảo của người lớn mà thế hệ trẻ hôm nay sẽ trở thành lớp người có ích trong
tương lai. Vậy để tạo ra lớp người có phẩm chất đạo đức tốt cho ngày mai thì
nhiệm vụ của các cô giáo mầm non là phải dạy cho trẻ những nề nếp thói quen tốt
ngay từ khi còn học ở trường lớp mẫu giáo.
Như vậy để hình thành hành vi giao tiếp có văn hóa (HVGTCVH) cho trẻ
trước hết cần giáo dục thái độ, tình cảm đối với việc thực hiện hành vi, giúp trẻ cảm
nhận được hành vi có ý nghĩa với chúng, hình thành kỹ năng, thói quen tạo điều
kiện cho trẻ có khả năng sẵn sàng thực hiện hành vi và giáo dục ý thức giúp trẻ có
thể thực hiện hành vi một cách tự giác.
Đầu năm học 2019-2020, lớp tôi có 28 trẻ. Trong đó: 06 trẻ nữ và 22 trẻ nam.
Trong quá trình chăm sóc và dạy trẻ tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
Về cơ sở vật chất: BGH trường MG Hoa Mai luôn quan tâm giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học (phòng học, trang thiết bị,
đồ dùng đồ chơi trẻ 5-6 tuổi, tài liệu về xây dựng môi trường học tập cho trẻ, tài
liệu giáo dục lấy trẻ làm trung tâm...) nhằm phục vụ nhu cầu vui chơi của trẻ và
phát huy sự sáng tạo của giáo viên.
Bản thân tôi là một giáo viên luôn yêu nghề, mến trẻ, có trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, luôn năng nổ, tích cực trong công
việc, luôn trau dồi chuyên môn và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp những
người đi trước.
3
Phụ huynh luôn quan tâm, ủng hộ nhiệt tình trong các phong trào của trường,
lớp, phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ nói chung
và việc tạo nên hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ nói riêng.
*Khó khăn:
Qua những năm công tác ở trường tôi nhận thấy trẻ em vừa mới chập chững
bước vào trường mầm non, tâm hồn trong sáng như một trang giấy trắng, hành vi
giao tiếp còn hạn chế, đến cuối tuổi mầm non (5-6 tuổi) những phẩm chất, nhân
cách chủ yếu của con người đã bắt đầu được hình thành và được bộc lộ dần ở trẻ,
tuy nhiên phần lớn trẻ chưa ý thức được hành vi, lời nói của mình mà hành vi giao
tiếp của trẻ bị lệ thuộc vào nhiều yếu tố, môi trường sống và hoạt động của cá nhân.
Ở một vùng nông thôn như xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh thì địa bàn này có
những đặc điểm khác biệt so với các xã khác. Hầu hết các cháu đều là con em thuộc
gia đình nông dân, dân tộc thiểu số đặc biệt hơn nữa là trong lớp có nhiều cháu con
nhà nghèo nên việc chăm sóc, giáo dục còn hạn chế, bên cạnh đó còn có một số
cháu được bố mẹ nuông chiều nên chưa thể hiện được hành vi giao tiếp có văn hóa.
Một số phụ huynh chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, thái độ hợp tác
giáo dục trẻ chưa đồng bộ, chưa thống nhất với nhà trường. Giáo dục trẻ ở gia đình
còn mang tính áp đặt và thiếu làm gương tốt cho trẻ noi theo.
Một số cháu chưa qua lớp Bé, Nhỡ nên trẻ còn nhút nhát chưa chủ động tham
gia vào các hoạt động, trẻ còn thụ động,chưa có sự mạnh dạn tự tin, khả năng chú
ý, ghi nhớ và khả năng diễn đạt của trẻ còn hạn chế, chưa biết cách giải quyết tình
huống có vấn đề, thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, hay nói lêu, trả lời
những câu cụt, ra vào lớp tự do, không biết xin lỗi, cảm ơn... còn dựa vào sự can
thiệp của giáo viên, nên trẻ chưa phát huy được hết tính tích cực của mình trong
mọi hoạt động.
Từ những khó khăn trên bản thân là một giáo viên có tinh thần trách nhiệm và
đầy lòng nhiệt huyết, yêu nghề mến trẻ, tôi nhận thấy rằng bản thân cần phải có nếp
4
sống thể hiện mức độ văn hóa giao tiếp cao như một tấm gương trung thực lòng
kiên trì trong việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ, phải dạy trẻ như
thế nào để tất cả trẻ có những hành vi giao tiếp có văn hóa.
Tôi đã nghiên cứu tìm ra một số biện pháp và đã đưa vào áp dụng trong việc
giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ.
Chất lượng giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi tại lớp lớn 2 của trẻ đầu tháng 9/2019 được
thể hiện qua các số liệu như sau:
STT
NỘI DUNG
Chưa có
KHẢO SÁT
Thỉnh
Thường
thoảng
xuyên
(Tỉ lệ %)
(Tỉ lệ %)
- Biết chào hỏi, biết cất 15/28(53,6%) 5/28(17,8%)
1
đồ dùng.
- Biết thưa gởi, cảm 17/28(60,7%) 4/28(14,3%)
2
(Tỉ lệ %)
8/28(28,6%)
7/28(25%)
ơn, xin lỗi. Thích chơi
với bạn, biết đón nhận
và đưa bằng hai tay.
3
- Biết giữ gìn vệ sinh 20/28(71,4%) 2/28(7,2%)
6/28(21,4%)
thân thể, vệ sinh môi
trường, biết yêu quý
vật nuôi cây trồng.
4
20/28(71,4%) 4/28(14,3%)
4/28(14,3%)
22/28(78,6%) 3/28(10,7%)
3/28(10,7%)
- Biết giúp đỡ người
khác, biết giúp đỡ bạn.
6
8/28(28,6%)
- Ăn uống văn minh
lịch sự.
5
15/30(53,6%) 5/28(17,8%)
- Phân biệt đúng sai
yêu ghét rõ ràng.
4.2 Nêu nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
của giải pháp đã biết:
5
*Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức về việc giáo dục hành vi giao tiếp
có văn hóa trẻ mầm non.
*Giải pháp 2: Tạo môi trường giáo dục xung quanh trẻ, giáo dục lễ giáo mọi lúc
mọi nơi.
*Giải pháp 3: Xây dựng mối quan hệ tình cảm, thân thiện giữa giáo viên với trẻ,
giữa trẻ với nhau.
*Giải pháp 4: Tổ chức tiết học có nội dung mang tính giáo dục hành vi giao tiếp có
văn hóa cho trẻ.
*Giải pháp 5: Tổ chức luyện tập hành vi giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hàng
ngày.
*Giải pháp 6: Tổ chức trò chơi, ngày hội ngày lễ với mục đích cho trẻ luyện tập các
hành vi giao tiếp có văn hóa.
*Giải pháp 7: Phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh.
4.3 Nêu các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải
pháp:
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên mầm non – Bộ GD&ĐT.
Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hè năm 2019 – 2020.
Một số vấn đề quản lý giáo dục Mầm non – Nhà xuất bản Đại học quốc gia –
Hà nội
Tâm lý học mầm non.
Tạp chí giáo dục mầm non.
Hướng dẫn thực hiện chương trình 5 - 6 tuổi, Nhà xuất bản giáo dục.
Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ hoạt động ở trường mầm non.
Tư liệu chuyên môn.
Tìm hiểu trên mạng internet và các phương tiện thông tin đại chúng.
Tài liệu bồi dưỡng các mô đun mầm non.
6
Chương trình giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo thông tư số 28/2016/TTBGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo)
4.4 Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp:
Để áp dụng thành công việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo,
tôi đã tiến hành những giải pháp sau:
Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức về việc giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hóa (GDHVGTCVH) trẻ mầm non.
Ngay từ hè năm học 2018-2019, khi có ý tưởng thực hiện đề tài này, tôi đã tìm
hiểu và nghiên cứu các tài liệu về việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho
trẻ, môi trường tâm lí giữa cô với trẻ, giữa các trẻ với nhau… Bên cạnh đó, tôi còn
nghiên cứu qua mạng Internet, trong sách báo, tạp chí mầm non đặc biệt là các sách
báo, tài liệu của ngành về các vần đề giáo dục lễ giáo,... rồi trao đổi với các bạn
đồng nghiệp, học hỏi những người đi trước, dự giờ, tham quan các lớp, trường bạn
nhằm trau dồi kiến thức, học những điều hay, điều mới lạ, nâng cao kiến thức về
việc giáo dục hành vi giao tiếp cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ, giao
tiếp, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, lễ phép.
Giải pháp 2: Tạo môi trường giáo dục xung quanh trẻ, giáo dục lễ giáo
mọi lúc mọi nơi.
Đặc điểm của lứa tuổi mầm non là yêu thích cái đẹp. Xuất phát từ đặc điểm
trên của trẻ, khi trang trí những hình ảnh trong và ngoài lớp tôi thường lựa chọn
những tranh ảnh sinh động, bố cục đơn giản, có màu sắc đẹp, những nhân vật ngộ
nghĩnh, đáng yêu, phù hợp với từng chủ đề đang thực hiện để thu hút sự chú ý của
trẻ, cũng như tạo cho trẻ cảm giác mới lạ, kích thích sự hứng thú của trẻ.
Trong lớp tôi trang trí các góc như: góc lễ giáo đặt ở không gian rộng tránh
che khuất, ở góc này tôi sẽ trang trí những hình ảnh mang tính giáo dục cao theo
từng chủ đề và thường xuyên cùng trẻ trò chuyện vào các giờ hoạt động như hoạt
động chiều, đón trẻ…
7
Ví dụ: hình ảnh nhận quà từ người khác phải nói cảm ơn, chào cô khi đến
lớp, nhường đồ chơi cho bạn… qua những hình ảnh này giúp trẻ hình thành những
thói quen lễ giáo tốt trong giao tiếp.
Góc thư viện tôi bố trí cách xa góc phân vai và góc xây dựng, được đặt gần
cửa phía sau của lớp, như thế trẻ sẽ không bị ảnh hưởng sự ồn ào từ góc chơi khác
và tận dụng được ánh sáng từ bên ngoài. Chính sự yên tĩnh và ánh sáng phù hợp sẽ
giúp trẻ đọc truyện, xem tranh…thoải mái và hứng thú hơn. Bên cạnh đó, dưới mỗi
hình ảnh trong góc thư viện tôi đều ghi các từ ghép tương ứng phía dưới để từ đó sẽ
giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, tập trung chú ý, mở rộng hiểu biết ngoài ra trẻ còn
được làm quen với môi trường chữ viết.
Góc thiên nhiên, tôi trồng những cây xanh, chậu hoa có màu sắc đẹp, gần gũi
với cuộc sống thường ngày của trẻ, tôi bố trí ở ngoài hiên phía trước của lớp học
tận dụng diện tích rộng cho trẻ hoạt động thoải mái, để tạo quang cảnh đẹp cho lớp,
giúp trẻ quan sát tìm tòi những điều mới lạ, giảm bớt căng thẳng, hít thở không khí
trong lành. Ở góc chơi này, tôi khuyến khích luân phiên các nhóm trẻ cùng tham
gia vào các hoạt động chăm sóc cây như: tưới cây, gieo hạt tạo cơ hội cho trẻ thể
hiện cảm xúc của mình và có thái độ thân thiện gần gũi với môi trường.
Lứa tuổi mầm non trẻ rất hay bắt chước, chính vì lẻ đó là giáo viên, người
lớn…cần phải tạo ra một môi trường mẫu mực xung quanh trẻ ngoài môi trường sư
phạm giáo viên cần gương mẫu đối với trẻ về cách ăn mặc, cử chỉ, lời nói, tác
phong phải nhẹ nhàng đúng mực để hình thành thói quen cho trẻ.
Ví dụ: Khi giao tiếp với đồng nghiệp với cô đứng cùng lớp cần chú ý không
xưng hô mày tao, không nói to, không ăn mặc hở han lôi thôi, không đeo trang sức
lòe loặt…Thực hiện tốt nội quy của nhà trường không đưa xe vào sân trường, nhắc
nhở khi có phụ huynh đưa xe vào sân trường.
Thông qua các hoạt động để giáo dục trẻ ở mọi lúc, mọi nơi là biện pháp tốt
nhất: các hoạt động đón trẻ hàng ngày, hoạt động vui chơi, lao động vệ sinh…là
8
những dịp để trẻ bộc lộ cá tính, cách ứng xử lời ăn tiếng nói của mình. Là giáo viên
chúng ta phải gần gũi để kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong
hành vi, lời nói…
Giáo dục lễ giáo cho trẻ thường xuyên mọi lúc mọi nơi điều này rất phù hợp
với đặc điểm tâm lý trẻ mầm non là mau nhớ nhưng chóng quên.
Giải pháp 3: Xây dựng mối quan hệ tình cảm, thân thiện giữa giáo viên
với trẻ, giữa trẻ với nhau.
Trong việc giáo dục hành vi nói chung, giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa
nói riêng, xúc cảm tình cảm có ý nghĩa hết sức quan trọng, có thể nói xúc cảm đóng
vai trò là những tín hiệu bên trong làm cho các quá trình tâm lý diễn ra trong đó
được điều chỉnh và trở thành động cơ thúc đẩy hành vi.
Để kích thích các xúc cảm, tình cảm tích cực của trẻ với các HVGTCVH có
thể sử dụng các yếu tố sau:
Luôn luôn thực hiện theo phương châm “Kỷ luật và không la hét”
Ý thức được điều đó, bản thân tôi luôn thể hiện tình cảm yêu thương, nhẹ
nhàng cư xử ân cần, niềm nở, để trẻ nào cũng thấy được cô yêu quí, tạo cơ hội cho
trẻ được chia sẻ, giải bày tâm sự, nguyện vọng của mình về mong ước của trẻ với
cô, với bạn bè, nhờ vậy mà cô hiểu trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, trẻ cũng tích cực và
hứng thú hơn trong các hoạt động, kết quả hoạt động cũng cao hơn.
Với trẻ mầm non, tạo hứng thú ban đầu không những chỉ mềm dẻo mà phải
nắm được đặc điểm của độ tuổi trẻ, để trò chuyện trao đổi một cách tự nhiên, trẻ
ngồi hoặc đứng thoải mái không gò bó áp đặt trẻ, cách tạo tâm thế đó đã làm cho
trẻ tự tin thoải mái trong quá trình tham gia vào hoạt động.
Tôi không bao giờ quát nạt hay phê bình trẻ, cho trẻ được làm thử dù đúng hay
sai, không hù dọa, chê bai, trách mắng những cái sai của trẻ, trong mọi tình huống
tôi thường động viện trẻ lạc quan, tự tin vào bản thân để trẻ tích cực tham gia vào
9
hoạt động, từ đó ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển hơn, mạnh dạn hơn trong giao
tiếp.
Ví dụ: Những lúc trẻ gặp thất bại tôi thường nói " không sao đâu", " làm
lại đi nào", "từ từ thôi", " con sắp làm được rồi"...
Kiên nhẫn với trẻ, không thúc ép trẻ, và hơn hết là tôi không bao giờ dùng
mệnh lệnh đối với trẻ như thế trẻ sẽ học theo và cũng dần dần hình thành tính cách
cho trẻ: trẻ sẽ ít cấu giận…
Ví dụ: Tôi thường nói "con nên thế này" thay vì " không được làm thế
này ", hoặc " nói nhẹ nhàng" thay vì " không được la hét" hay nói " đi từ từ"
thay cho " không được xô đẩy". Trẻ sẽ mạnh dạn tự tin thể hiện.
Luôn nhìn nhận, khen ngợi bất cứ sự tiến bộ nào của trẻ, dù là nhỏ nhất, luôn
đánh giá trẻ công bằng, phù hợp với yêu cầu sự phát triển của trẻ. Tạo mọi cơ hội
cho trẻ giao tiếp, cùng học cùng chơi, đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, đồng cảm, và thể
hiện sự quan tâm của mình đối với bạn bè, từ đó tạo ra sự gắn kết với bạn bè.
Mọi cử chỉ, lời nói, hành vi ứng xử việc làm của tôi đối với mọi người xung
quanh trước mặt trẻ luôn mẫu mực để trẻ noi theo.
Ngoài ra, tôi cũng phối hợp với đồng nghiệp cho trẻ đi thăm quan các lớp bên
cạnh, tham quan vườn rau, vườn hoa trong trường tổ chức hoạt động ngoài trời,
thăm quan trường tiểu học để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 nhằm giúp trẻ quan
sát và đàm thoại, nhằm khơi gợi hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của
trẻ, đồng thời cung cấp kiến thức cho trẻ về đối tượng, và hướng cho trẻ phát hiện
ra cái mới lạ, hấp dẫn khi tham quan.
Giải pháp 4: Tổ chức tiết học có nội dung mang tính giáo dục hành vi giao
tiếp có văn hóa cho trẻ.
Với điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại như ngày nay việc ứng
dụng các phương tiện hiện đại trong giảng dạy cũng được tôi sử dụng thường
xuyên nhằm gây hứng thú giúp trẻ lĩnh hội kiến thức tốt.
10
Tôi thường lựa chọn những đề tài và cách ứng dụng công nghệ thông tin một
cách phù hợp để đổi mới phương pháp giảng dạy, kích thích sự chú ý, hứng thú của
trẻ vào mỗi hoạt động ví dụ như:
*Đối với hoạt động: Làm quen với văn học.
Để tác phẩm thơ, truyện đi vào lòng trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải mái,
đòi hỏi cô giáo không chỉ có giọng đọc, kể diễn cảm mà phải biết cách lựa
chọn các nội dung trên mạng phù hợp với nội dung bài dạy, hình ảnh phải sinh
động nhằm thu hút sự tập trung, chú ý của trẻ.
Sử dụng mẫu mực, HVGTCVH trong tác phẩm văn học và trong cuộc sống
nhằm mục đích giúp trẻ nhận biết hành vi đúng và tạo ra những xúc cảm, tình cảm
tích cực với các nhân vật trong chuyện kể hoặc con người có hành vi tốt, cần lựa
chọn các câu chuyện có nội dung thể hiện những yêu cầu về văn hóa giao tiếp của
trẻ 5-6 tuổi, phương thức hành vi của nhận vật trong chuyện mà ta có hàm ý giáo
dục trẻ phải được thể hiện rõ cho trẻ dễ thấy.
Ví dụ: bài thơ ‘đi học và về nhà”
Đi học hay về nhà
Cháu đều chào ba mẹ
Cha mẹ khen em ngoan
Thơm má em dịu dàng
Giúp trẻ biết chào hỏi trước và sau khi đi học về lâu dần sẽ hình thành cho
trẻ thói quen tốt trong giao tiếp hằng ngày. Thường xuyên khen trẻ để khích thích
trẻ.
Bài thơ: giao tiếp với bạn
Chúng mình là bạn
Hãy cùng vui chơi
Sẻ chia hòa thuận
11
Nhường nhịn, ân cần
Thông qua bài thơ nhằm giúp trẻ có hành vi tốt trong khi chơi với bạn không
tranh giành biết nhường nhịn chia sẻ cùng bạn...
Bài thơ: ‘không kén ăn” hay bài thơ ‘mời bạn ăn”
Bé muốn khỏe mạnh
Thì không kén ăn
Rau xanh hoa quả
Thịt, cá, đậu, tôm
Bé ăn hết nhé
Để lớn thật nhanh
Thông qua bài thơ giúp trẻ thấy được việc ăn uống văn minh lịch sự không
kén chọn, ăn hết khẩu phần, biết được lợi ích của việc ăn đủ chất...
Thường xuyên kết hợp tranh minh họa khuyến khích trẻ tham gia vào
đàm thoại, giáo viên có thể đặt những câu hỏi mở như:
Trong câu truyện con thích nhân vật nào? Vì sao?
Trong truyện con học được những gì?
Dần dần đàm thoại vào các câu chuyện cụ thể đẫn dắt đến những đề tài
liên quan đến cuộc sống của trẻ và những người xung quanh.
Ví dụ: Với câu truyện “Thỏ con biết vâng lời ” cô vào trang web để tải về
hình ảnh chú Thỏ ngộ nghĩnh, đáng yêu đang làm những công việc mà Thỏ mẹ
giao cho, những cử chỉ như: Thỏ biết vòng tay xin lỗi mẹ, thái độ ngoan, lễ
phép..., sẽ khắc sâu trong tâm trí trẻ lâu hơn, mục đích giáo dục sát với đời
sống thực của trẻ hơn.
Tổ chức cho trẻ đàm thoại về các chuẩn mực hành vi giao tiếp có văn hóa:
Hình thành biểu tượng về hành vi đúng, tạo hứng thú nhận thức và xúc cảm của trẻ
đối với các hành vi giao tiếp có văn hóa.
*Đối với hoạt động: Giáo dục âm nhạc.
12
Tùy theo chủ đề tôi chọn những bài hát phù hợp với độ tuổi trẻ và nội dung
bài hát mang tính giáo dục HVGTCVH cho trẻ cao.
Ví dụ:
Chủ đề trường mầm non “lời chào buổi sáng” thông qua bài hát giáo dục trẻ
biết chào hỏi khi đi học…
Chủ đề bản thân “khúc hát đôi bàn tay” giáo dục trẻ biết tự vệ sinh cá nhân.
Chủ đề môi trường “bài hát phân loại rác” giáo dục trẻ có hành vi đúng đối với
môi trường.
*Đối với hoạt động trẻ khám phá khoa học.
Môi trường xung quanh đối với trẻ vô cùng rộng lớn khó hiểu, trẻ lại tò mò
hiếu động, luôn đặt ra vô vàng câu hỏi. Nó là cái gì ? Như thế nào ? Vì sao nó lại
như vậy?... Chính vì thế cô giáo phải biết áp dụng phương pháp dạy học tích cực,
dám đổi mới và lựa chọn ra những hình thức khác nhau trong mỗi một chủ đề tránh
nhàm chán đối với trẻ khi có những chủ đề kéo dài ba đến bốn tuần mà cô chỉ với
một hình thức quan sát tranh hay trò chuyện thì không thể lôi cuốn thu hút trẻ trong
quá trình hoạt động.
Ví dụ: Chủ đề ‘thời tiết”
Trẻ hiểu và đánh giá đúng các hiện tượng tự nhiên, ảnh hưởng của nó đến
xúc cảm của con người, biểu hiện trạng thái xúc cảm của mình bằng cử chỉ, nét
mặt, hành động,..
Chủ đề: ‘Gia đình’
Giáo dục trẻ tình yêu thương, có thái độ tốt với mọi người trong gia đình, tôn
trọng sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình, có tình cảm gắn bó và mong
muốn tham gia vào các công việc vừa sức trong gia đình và quan tâm đến các công
việc đó.
Những sự vật, hiện tượng xung quanh đều có ý nghĩa đối với trẻ. Để những cái
đẹp đi vào tâm hồn trẻ một cách sâu sắc, điều quan trọng là cô giáo phải truyền thụ
13
kiến thức như thế nào để giúp cho trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái để trẻ
nhớ lâu.
*Đối với hoạt động: Làm quen với toán
Sau khi truyền thụ kiến thức mới cho trẻ để củng cố lại vốn kiến thức đó.Tôi
nghiên cứu, sáng tạo đưa ra các trò chơi. Tùy thuộc vào nội dung bài học mà tôi lựa
chọn ra các trò chơi khác nhau, nhằm cung cấp cho trẻ nhận biết các chữ số, tạo
nhóm, hay so sánh thêm bớt tạo sự bằng nhau..., một cách chính xác và rèn cho
trẻ kỹ năng khi lựa chọn chữ số, tạo nhóm, hay so sánh các hình, khối..., theo
yêu cầu của cô qua trò chơi.
Ví dụ: Dạy trẻ đếm trên đối tượng trong phạm vi 9, nhận biết số 9, sau khi
cung cấp kiến thức cho trẻ, cho trẻ chơi trò chơi “truyền tin” giúp trẻ phát triển
mặt ngôn ngữ trong giao tiếp phối hợp tốt với bạn chơi.
Giải pháp 5: Tổ chức luyện tập hành vi giao tiếp có văn hóa trong cuộc
sống hàng ngày.
Cuộc sống thực tế hàng ngày của trẻ có rất nhiều các tình huống giao tiếp
phong phú, đa dạng. Do đó, giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ thông qua
các hành vi, hoạt động trong cuộc sống thường nhật của trẻ vừa gần gũi, vừa giúp
trẻ nhận diện nhiều giá trị tốt đẹp của cuộc sống vừa tạo dựng các mô hình và mẫu
hành vi đẹp có thể theo trẻ suốt cuộc đời. Chẳng hạn giáo dục văn hóa vệ sinh cho
trẻ có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện, đó
là điều cần thiết để tạo cho trẻ những thói quen tốt. Những thói quen này được lặp
đi lặp lại hằng ngày và trở thành những kỹ năng (Kỹ năng văn hóa vệ sinh sạch sẽ kỹ năng lao động tự phục vụ…) Đó là những động tác, thói quen: rửa mặt, rửa tay,
súc miệng, đánh răng, ngồi ngay ngắn, xì mũi vào khăn, mặc quần áo gọn gàng,
sạch sẽ, không vứt rác, khạc nhổ bừa bãi...Trong các bài học về vệ sinh, làm quen
với môi trường xung quanh hoặc sự giáo dục của người trong gia đình thông qua
các hành vi, việc làm cụ thể hằng ngày... dần dần đã giúp cho trẻ biết được cái đẹp,
14
cái sạch của con người, học được những tác phong, nếp sống văn minh. Những bài
học vệ sinh gồm: Vệ sinh thân thể như luôn giữ cho mắt, mũi, chân tay sạch sẽ, khi
chân tay bẩn phải biết đi rửa, trước khi ăn phải rửa tay, không bôi bẩn lên quần áo,
đầu tóc luôn gọn gàng... Những thói quen văn minh: biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi,
không phá hỏng hoặc bôi bẩn lên đồ dùng đồ chơi, khi sử dụng xong biết cất đúng
nơi quy định và ngăn nắp, đẹp mắt, biết chơi đoàn kết, nhường nhịn nhau, khi ngáp
phải lấy tay che miệng, ho phải biết quay sang hướng khác tránh người đối diện...
Đây là việc làm tuy nhỏ nhưng gia đình và nhà trường cần quan tâm và nên giáo
dục trẻ ngay tuổi mầm non nhằm giúp trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, nhất là
nơi đông người. Trẻ phải biết nói năng rõ ràng, không la hét, nói to tiếng, quát nạt,
không nói tục. Khi nói hoặc làm sai phải biết xin lỗi, biết tạo cho trẻ tình thường
yêu con người, thế giới xung quanh, biết chia sẻ, cảm thông... Trẻ phải nắm được
một số qui định về giao tiếp với người lớn, với các bạn cùng lứa tuổi; biết sử dụng
các phương tiện ngôn ngữ và văn hóa trong mọi tình huống, hoàn cảnh; biết chào
hỏi lễ phép với mọi người, biết chấp hành những yêu cầu của người khác nếu
không đồng ý phải biết bày tỏ để người khác hiểu và chia sẻ...
Giải pháp 6: Tổ chức trò chơi, ngày hội ngày lễ với mục đích cho trẻ
luyện tập các hành vi giao tiếp có văn hóa.
Trong qua trình trẻ tham gia hoạt động vui chơi trẻ thiết lập được mối quan hệ
với nhau. Do đó trò chơi trở thành phương tiện tốt nhất để giáo dục hành vi giao
tiếp có văn hóa cho trẻ. Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi vận
động, trò chơi dân gian…giúp trẻ có cơ hội luyện tập và củng cố kỹ năng giao tiếp
có văn hóa.
Ví dụ: Qua trò chơi “Gia đình” trẻ biết cách cư xử xưng hô giao tiếp với ông
bà, cha mẹ, anh chị…trẻ được tiếp thu lĩnh hội được một số hành vi như ông bà cha
mẹ dặn dò chỉ bảo phải biết nghe lời không cải lời người lớn.
Qua trò chơi “bác sỹ” trẻ biết ân cần niềm nở chăm sóc bệnh nhân…
15
Trẻ bế em bé đi khám bệnh mà quên chào bác sỹ, nhận thuốc bằng 1 tay,
không nói cảm ơn…cô cần đặt câu hỏi và uốn nắn ngay trẻ trong quá trình trẻ chơi.
Trong quá trình chơi cô cần nêu gương khen thưởng những tấm gương tốt để
trẻ noi theo.
Ví dụ: Bạn Hân đang chơi búp bê nhưng thấy bạn Vy cũng thích nên bạn Hân
đã nhường cho bạn Vy. Các con thấy bạn Hân như thế nào? Có đáng khen không?
Khi được cô giáo khen ngợi trẻ sẽ tăng thêm lòng tự tin, hào hứng, hăng hái làm
nhiều việc tốt hơn nữa, xong cô giáo cần phải chỉ rõ vì sao khen và khen cái gì?
Khen ngợi phải đi đôi với việc chê trách nếu trẻ làm sai ví dụ như trong khi chơi trẻ
giành đồ chơi với bạn, vứt đồ chơi lung tung… cô giáo cần yêu cầu trẻ phải biết xin
lỗi, nhắc nhở trẻ sửa chữa lại những việc làm sai trái đó. Cô giáo cần tuyệt đối
không sử dụng hình thức trách phạt thân thể trẻ.
Ví dụ: cô nhập vai chơi cùng trẻ trong trò chơi bán hàng thông qua đó giuos
trẻ tái hiện lại cuộc sống hằng ngày trẻ biết được cách giao tiếp có văn hóa giữa
người bán và người mua…
Tổ chức các ngày hội ngày lễ “vui hội đến trường” “trung thu cùng bé” cho trẻ
tham gia văn nghệ chào mừng các ngày hội ngày lễ thông qua đó giúp trẻ nâng cao
tinh thần tập thể trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện hết mình.
Giải pháp 7: Phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh.
Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì thế, trong sự
phát triển của trẻ, sẽ chịu nhiều yếu tố tác động, do vậy, quá trình giáo dục sẽ đạt
được hiệu quả nếu trẻ được học trong một môi trường học tập lành mạnh và sống
trong môi trường gia đình hạnh phúc. Chính vì thế tôi luôn trao đổi trò chuyện với
phụ huynh để phụ huynh hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hóa cho trẻ để gia đình phối hợp với cô giáo, tìm ra những biện
pháp tốt nhất giúp trẻ như: Cha mẹ cần phải thương yêu, quý trọng hết lòng vì con
cái, trong cuộc sống gia đình phải yêu thương, tôn trọng quan tâm chăm sóc lẫn
16
nhau, tạo ra một môi trường sống đầm ấm, cha mẹ ông bà phải thật sự gương mẫu
về mọi mặt để con cái noi theo. Cuộc sống gia đình cần có văn hóa không nên cải
cọ chửi bới, không nên có những hành vi thiếu văn hóa trước mặt trẻ như nói tục,
gây gỗ đánh nhau, cờ bạc, rượu chè…cần sống hòa thuận với những người xung
quanh, tôn trọng và quan tâm giúp đỡ nhau, giữ gìn vệ sinh công cộng, không gây
ồn ào mất đoàn kết, không đại tiểu tiện bừa bãi…
Thông qua các buổi họp phụ huynh đầu năm học, họp sơ kết, qua góc tuyên
truyền của lớp, tôi thường xuyên đăng những bài viết về việc giáo dục hành vi giao
tiếp có văn hóa cho trẻ. Từ đó, phụ huynh cùng hỗ trợ góp sức cho nhà trường về
vật chất và tinh thần. Như ủng hộ tranh truyện, và các chậu hoa cây cảnh, đồ dùng
đồ chơi, tham gia lao động cùng cô giáo để tạo nên một môi trường tốt cho trẻ.
Như chúng ta biết tình hình dịch COVID 19 diễn ra phức tạp vì thế trẻ không
được tới trường nên việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ bị gián đoạn và việc
trao đổi trực tiếp với phụ huynh không được thường xuyên nên tôi đã lập nhóm liên
lạc với phụ huynh qua điện thoại để cùng phụ huynh trao đổi, tuyên truyền đến phụ
huynh nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa tay dưới vòi nước sạch, lấy khăn che mặt khi
hắt hơi, không tập trung nơi đông người…
Ngoài ra, tôi còn trao đổi với phụ huynh cần kết hợp cùng cô giáo để tạo cho
trẻ được hoạt động giao tiếp nhiều hơn, giúp trẻ mạnh dạn tự tin. thích tò mò đặt
các câu hỏi và tham gia hoạt động.
4.5 Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến một số biện giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi lớp lớn 2 trường Mẫu Giáo Hoa Mai xã tam lãnh. Khi áp dụng sáng kiến
này cho trẻ lớp tôi, trẻ biết chào hỏi, biết cất đồ dùng. Biết thưa gởi, cảm ơn, xin
lỗi. Thích chơi với bạn, biết đón nhận và đưa bằng hai tay, biết giữ gìn vệ sinh thân
thể, vệ sinh môi trường, biết yêu quý vật nuôi cây trồng, ăn uống văn minh lịch sự,
biết giúp đỡ người khác, biết giúp đỡ bạn, phân biệt đúng sai, yêu ghét rõ ràng, từ
17
đó hình thành ở trẻ tính tự lập, kỹ năng sống mới, đánh dấu bước hình thành và
phát triển nhân cách mới ở trẻ tạo tâm thế vững chắc cũng như tiềm năng cho trẻ
bước vào các cấp học tiếp theo.
Với sáng kiến này tôi nghĩ có thể áp dụng nhân rộng cho trẻ 5- 6 tuổi tại
trường và các lớp độ tuổi khác nhau trong khu vực. Vì ở đây sáng kiến này không
tốn kém về mặt kinh tế, cô giáo phải thật sự là tấm gương sáng để học sinh noi
theo, giàu tình thương, luôn thận trọng trong mọi hành vi của mình, thân thiện, yêu
thương để tạo tâm lý thoải mái cho trẻ trong các hoạt động, trong giao tiếp, nhằm
từng bước hình thành nhân cách cho trẻ. Bên cạnh đó môi trường và cảnh quan sư
phạm cũng góp phần hình thành cho trẻ những hành vi văn minh để dần dần hoàn
thiện nhân cách tốt đẹp của truyền thống con người Việt Nam, phù hợp với mọi
chuẩn mực đạo đức xã hội một cách tự nhiên.
5.
Những thông tin cần được bảo mật:Không có.
6. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau một năm nghiên cứu và áp dụng đề tài: Một số biện pháp giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi lớp lớn 2 trường mẫu giáo Hoa
Mai xã Tam Lãnh” tôi đã thu được một số kết quả như sau:
Đối với trẻ:
Qua việc thực hiện các giải pháp trên kết quả khảo sát cuối học kỳ cho thấy:
STT
1
Thỉnh
Thường
thoảng
xuyên
(Tỉ lệ%)
0 (0%)
(Tỉ lệ%)
28/28(100%)
- Biết thưa gởi, cảm 1/28 (3,6%)
1/28
26/28(92,8%)
ơn, xin lỗi. Thích chơi
(3,6%)
NỘI DUNG
Chưa có
KHẢO SÁT
(Tỉ lệ %)
- Biết chào hỏi, biết cất 0 (0%)
đồ dùng.
2
với bạn, biết đón nhận
18
và đưa bằng hai tay.
- Biết giữ gìn vệ sinh 2/28 (7,2%)
3
25/28(89,2%)
thân thể, vệ sinh môi
1/28
trường, biết yêu quý
(3,6%)
vật nuôi cây trồng.
1/28(3,6%)
25/28(89,2%)
- Ăn uống văn minh
lịch sự.
4
1/28(3,6%)
2/28(7,2%)
26/28(92,8%)
2/28(7,2%)
1/28(3,6%)
25/28(89,2%)
- Biết giúp đỡ người
khác, biết giúp đỡ bạn.
- Phân biệt đúng sai
yêu ghét rõ ràng.
1/28(3,6%)
Qua một thời gian thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình, với
những kết quả trên, tôi mới nhận thấy hết niềm vui, sự hứng thú của trẻ khi được
khám phá những điều mới mẽ của cuộc sống xung quanh.
Đặc biệt, trẻ lớp tôi rất thích đi học, trẻ tích cực và hứng thú tham gia vào các
hoạt động trong ngày, bổ sung kiến thức khá phong phú, củng cố kiến thức vững
vàng.
Trẻ biết thể hiện tình cảm, phát triển khả năng giao lưu với cô giáo và bạn bè.
Đối với phụ huynh:
Các bậc phụ huynh có nhận thức sâu sắc về chương trình giáo dục mầm non,
luôn có sự phối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Tin tưởng gửi con vào nhà trường, quan tâm đến chương trình học của trẻ và
có nhu cầu học tập.
Các bậc phụ huynh có chuyển biến rõ rệt, luôn quan tâm đến trẻ từ khâu
chuẩn bị quần áo, cặp sách đến việc dạy trẻ những hành vi giao tiếp tốt, vì thế trẻ
đến lớp không còn tình trạng quần áo xộc xệch, nhếch nhác nữa và luôn có thói
quen tốt trong mọi hoạt động.
Về giáo viên:
19
Bản thân tôi nhờ áp dụng các biện pháp trên nên trong quá trình dạy trẻ
không còn gặp phải những khó khăn vì trẻ nghịch, hư, không nghe lời cô nữa, qua
đó tôi còn được trau dồi thêm kiến thức và kinh nghiệm trong việc dạy trẻ để tiếp
tục áp dụng trong những năm học sau. Và cái được lớn nhất là phụ huynh ngày
càng tin tưởng vào chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ của bản thân và
nhà trường, tạo động lực giúp tôi công tác tốt hơn.
Trong quá trình giáo dục trẻ, tôi đã nhận được sự ủng hộ của đồng nghiệp,
những nhận xét đánh giá khen ngợi của BGH nhà trường. Các bậc phụ huynh đã
nắm được tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ.
Qua thời gian thực hiện, tôi nhận thấy việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn
hóa cho trẻ là một việc không khó nhưng cũng không hề dễ. Cái chính là do chúng
ta đề ra những biện pháp khả thi hay không.
Giáo viên phải luôn bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân, luôn thay đổi hình
thức, tạo tình huống bất ngờ để thu hút sự chú ý của trẻ vào trong các hoạt động.
Thường xuyên trang trí môi trường xung quanh lớp học bằng các hình ảnh
mang tính thẩm mĩ, gần gũi với cuộc sống của trẻ và phù hợp với chủ đề đang thực
hiện, luôn thay đổi tranh trang trí theo từng chủ đề để trẻ không nhàm chán mà kích
thích được sự tích cực của trẻ.
Sắp xếp và bố trí đồ dùng đồ chơi hợp lí, đảm bảo an toàn và đáp ứng mục
đích giáo dục.
Trong lớp phải trồng một số loại cây cảnh, chậu hoa để tạo không khí mát mẻ,
xanh tươi, giảm bớt sự căng thẳng cho trẻ sau mỗi giờ học, vệ sinh môi trường lớp
sạch sẽ, thoáng mát, cho trẻ hưởng thụ không khí trong lành như ở
chính gia đình mình vậy.
Bên cạnh đó, môi trường học tập trong trường mầm non cần phải đảm bảoan
toàn về mặt tâm lí, tạo thuận lợi cho trẻ phát triển nhân cách và phát triển các kĩ
20
năng xã hội và một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hóa cho trẻ đạt kết quả tốt là giáo viên đứng lớp phải tìm ra
phương pháp giáo dục tốt nhất cho trẻ cũng như có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội.
7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần
đầu, kể cả áp dụng thử: Không có.
Nơi nhận:
- Như kính gửi;
- Lưu: TĐ-KT
21