1
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cơ sở huyện Phú Ninh.
Tên sáng kiến:
Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo Lớn.
1. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chăm sóc- giáo dục tại lớp Mẫu giáo Lớn
5- 6 tuổi
3. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Năm học: 2019-2020
4. Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1. Mô tả giải pháp đã biết:
*Ưu điểm:
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương đã đầu tư
trang thiết bị, đồ dùng dạy học cho trẻ đầy đủ, đảm bảo tính an toàn cho trẻ.
Được sự quan tâm dìu dắt của các cấp lãnh đạo, chị em đồng nghiệp đã
luôn tạo điều kiện cho bản thân tham gia các lớp tập huấn về chuyên ngành mầm
non, được dự giờ các chuyên đề về rèn luyện và phát triển kỹ năng sống cho trẻ
cũng như là các môn học khác.
Nhờ có sự chia sẻ, phối hợp giữa bạn bè, đồng nghiệp, phụ huynh học sinh
và kinh nghiệm sống của trẻ hằng ngày nên bản thân đã tìm tòi, sưu tầm các tình
huống, trò chơi gắn liền với cuộc sống hằng ngày của trẻ và luôn sáng tạo hơn
nữa trong công tác tự làm đồ dùng, đồ chơi mới mẻ, đẹp mắt, hấp dẫn để thu
hút sự tham gia hứng thú của trẻ.
Đa số giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn và đội ngũ giáo viên trong
trường đều là những giáo viên trẻ luôn năng động, sáng tạo trong mọi công tác.
Chính vì vậy các cô luôn luôn tạo nhiều cơ hội cho trẻ được vui chơi và sáng tạo
và thường xuyên tổ chức tích hợp nhiều hoạt động rèn luyện kỹ năng sống vào
trong các hoạt động học của trẻ. Điều này vừa tạo điều kiện cho trẻ củng cố kiến
thức, nhớ lâu hơn trong việc học tập.
Một số phụ huynh đã có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc rèn
2
luyện, hướng dẫn cũng như là dạy cho trẻ nhận biết những kỹ năng sống trong
cuộc sống hằng ngày tốt hơn, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho trẻ khi tiếp
xúc với mọi tình huống trong cuộc sống. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện
vẫn còn gặp một số bất cập như sau:
*Nhược điểm:
- Do tác động của xã hội làm cho trẻ bị ảnh hưởng một số thói quen bởi
cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, điện thoại, các trò chơi điện tử nên việc
rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ còn gặp nhiều khó khăn.
- Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc, mọi việc đều được ông, bà bố,
mẹ làm cho, khiến trẻ quen vói thói quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ.
- Phần đông ba, mẹ các cháu đều làm nông nghiệp và công nhân nên ít có
thời gian chăm sóc, giáo dục cũng như rèn luyện các kỹ năng sống cho trẻ còn
rất hạn chế. Vì vậy giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức các
hoạt động tại trường.
- Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, một số trẻ nhút nhát không tự
tin khi tham gia vào các hoạt động, một số trẻ lại quá hiếu động và chưa chú ý
vào sự hướng dẫn của giáo viên. Do đó cùng một thời gian và biện pháp dạy trẻ
các nội dung kỹ năng sống nhưng kết quả trên trẻ đạt chưa đồng đều với nhau.
Khi thực hiện sáng kiến này bản thân đã căn cứ và dựa vào những cơ sở
như sau:
* Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết, trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay thì những
yêu cầu đối với hệ thống giáo dục rất là cao, đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra
những con người phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh
thần, trong sáng về đạo đức. Trong đó việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một
quá trình giáo dục, có tính cốt lõi, làm nền tảng trong công tác giáo dục.
Các nhóm kỹ năng có thể dạy cho trẻ mầm non như: Kỹ năng nhận thức về
bản thân, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội, kỹ năng
học tập, kỹ năng tương tác, kỹ năng phòng tránh, xử lý các tình huống xảy ra
hàng ngày. Từ đó, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra các nội dung đơn
giản và hết sức gần gũi với trẻ như: dạy trẻ có kỹ năng hợp tác với mọi người,
kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng kiểm soát
cảm xúc, các kỹ năng này không tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với
nhau, được thể hiện đan xen vào nhau, có thể thực hành trong bất cứ tình huống
nào xảy ra hàng ngày. Cho nên việc giáo dục và vận dụng tốt sẽ giúp trẻ có nhân
3
cách tốt. Khi giáo dục kỹ năng sống còn góp phần mở rộng nhận thức, phát triển
trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Làm thế nào để rèn luyện cho trẻ được những kỹ năng sống tốt nhất thì
ngay từ cấp học mầm non là giai đoạn rất quan trọng trẻ được học, tiếp thu, lĩnh
hội những giá trị sống để phát triển nhân cách, đồng thời trẻ rất dễ bộc lộ cảm
xúc, trẻ chưa có nhiều kỹ năng ứng phó vì vốn hiểu biết về thế giới xung quanh
còn nhiều hạn chế do đó nhiều trẻ còn thụ động, không biết ứng phó với các tình
huống nguy cấp, không biết tự bảo vệ mình trước nguy hiểm hoặc tìm kiếm sự
giúp đỡ từ người khác. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra tình trạng này,
trong đó việc thiếu kỹ năng sống là nguyên nhân sâu xa nhất. Do đó, việc dạy kỹ
năng sống cho trẻ là rất cần thiết.
*. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục tại
trường thì bản thân đã nắm bắt được thực trạng trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ. Nhận thấy yếu điểm xuất phát đó là: Đa số các bậc phụ huynh tại lớp mà
bản thân đang đảm nhận chủ yếu là làm nông nghiệp, công nhân và một số gia
đình là ba, mẹ đi làm ăn xa nên trẻ phải ở nhà với ông, bà, thiệt thà hơn đối với
lớp học của bản thân năm nay đó là rất nhiều trẻ sống trong gia đình mà bố, mẹ
không sống cùng nhau nên việc quan tâm đến con em còn rất nhiều hạn chế. Bên
cạnh đó một số gia đình nuông chiều trẻ quá mức gây tác động đến kỹ năng ứng
xử, kỹ năng phục vụ của trẻ như: Một số trẻ không biết chào hỏi khi gặp người
lớn, nhận quà không biết cảm ơn, trẻ 5- 6 tuổi nhưng chưa biết tự mặc quần áo,
tự xúc ăn…Qua trải nghiệm, thực hành một số kỹ năng bảo vệ bản thân thì kỹ
năng này của trẻ cũng còn rất hạn chế.
Thời gian đầu bản thân tôi cũng như giáo viên phụ trách lớp gặp rất là
nhiều khó khăn, trẻ đến lớp với thói quen tự do, ra vào lớp tự nhiên, không chào
hỏi, hay nói leo, trả lời không trọn câu hay một số cháu rất ít nói và rụt rè trong
giao tiếp...Môi trường sống của trẻ ở gia đình và môi trường sống, học tập vui
chơi của trẻ ở trường là hai nơi mà trẻ luôn được tiếp cận.
Như chúng ta đã biết đại dịch COVID- 19 đã lan rộng ra toàn cầu. Tại Việt
Nam chúng ta tất cả các ban, bộ, ngành, đoàn thể nhất là đội ngũ y tế, cán bộ,
chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, …đã phối hợp, triển khai kịp thời các biện pháp
và thực hiện theo đúng các hướng dẫn của bộ y tế, để cùng nhau đoàn kết phòng
chống dịch COVID- 19. Chính vì những yếu tố trên là một người giáo viên mầm
non hằng ngày tiếp xúc với trẻ, nên tôi mạnh dạn đề xuất lựa chọn đề tài “Một
4
số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo Lớn” để làm đề tài sáng
kiến, để từng trẻ lớp tôi có được những thói quen, kỹ năng và hành vi đạo đức
phù hợp với chuẩn mực xã hội, sẽ giúp trẻ có cơ hội phát triển nhân cách toàn
diện và đúng hướng.
4.2. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của
giải pháp đã biết:
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là vấn đề cấp thiết, quan trọng với ngành
giáo dục. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non sẽ giúp trẻ thích nghi nhanh
với cuộc sống. Tự làm chủ cuộc sống, phòng tránh được những hiểm nguy, sống
tự lập, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Chính vì vậy việc rèn kỹ năng
sống cho trẻ mầm non góp phần quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ con
người tương lai của đất nước, trong đó trẻ 5- 6 tuổi là một lứa tuổi có vai trò đặc
biệt quan trọng.
Việc rèn kỹ năng sống tốt cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi là xây dựng và củng cố
nền tảng và những gì mà theo trẻ đến suốt cuộc đời, làm cơ sở tiền đề cho cuộc
sống sau này của trẻ. Giúp cho trẻ phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, có sức khoẻ
tốt, tự tin mạnh dạn để học tập và sống tích cực, phát huy tốt khả năng và sở
trường của mình. Giúp trẻ có ý thức và khả năng thích nghi với cuộc sống, trẻ có
thể làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến lối sống lành mạnh.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi có ý nghĩa trong việc hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách cho trẻ, là nền tảng vững chắc cho trẻ bước vào trường
tiểu học và vận dụng vào trong cuộc sống.
Cho nên việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi lúc trẻ ở lứa tuổi
mầm non là rất cần thiết, việc rèn kỹ năng sống cho trẻ như thế nào, định hướng
ra sao, để đạt được hiệu quả cao nhất, đó là vấn đề quan trọng mà bất cứ ai làm
công tác giáo dục trẻ đều phải chú ý. Để thực hiện tốt điều đó thì bản thân tôi
phải kiên trì, quyết tâm đề ra các nội dung, biện pháp tốt nhất và thực hiện từng
bước, liên tục trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
4.3. Các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng
giải pháp.
* Máy tính, ti vi, đồ dùng, đồ chơi, trò chơi…
* Tài liệu tham khảo:
- Mạng Internet, các tài liệu liên quan đến công tác giáo dục, rèn luyện kỹ
năng sống cho trẻ.
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên năm học 2019-2020
5
- Sách hướng dẫn, tổ chức một số hoạt động nhằm rèn luyện kỹ năng sống
cho trẻ.
- Tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non
mẫu giáo lớn (5- 6 tuổi) theo thông tư 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi bổ sung một
số nội dung của chương trình giáo dục mầm non.
- Tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo (Bộ kĩ năng toàn tập dành
cho sinh viên và giáo viên mầm non) Lê Bích Ngọc (2013). Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội.
- Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non.
4.4. Các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp
Sau một thời gian nghiên cứu, với những nội dung, phương pháp, và thông
tin đã nắm được, tôi bắt đầu tìm tòi và tạo điều kiện cho trẻ được tham gia thực
hành một số tình huống giáo dục kỹ năng sống cho trẻ với nhiều hình thức và tổ
chức ở mọi lúc mọi nơi cho trẻ có cơ hội được trải nghiệm. Qua nghiên cứu tìm
hiểu tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Nên tôi đã đưa ra
một số giải pháp cụ thể như sau:
Biện pháp 1: Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ.
Để có thể thực hiện tốt “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 56 tuổi” trước hết là giáo viên mầm non không chỉ nghiên cứu nắm vững mục
đích yêu cầu của hoạt động mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các
phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ
nhàng, không bị gò bó, áp đặt, giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã
học vào thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 5-6 tuổi có được những kỹ
năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải
không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm
5-6 tuổi.
Bản thân tôi luôn muốn rèn luyện cho trẻ có các kỹ năng tốt trong việc giữ
gìn vệ sinh cá nhân theo sự hướng dẫn của bộ y tế, thì việc làm đầu tiên là cô
giáo phải có kiến thức chuẩn xác về kỹ năng thực hành, chính vì điều đó mà bản
thân tôi luôn tìm tòi học hỏi các tài liệu có liên quan để nghiên cứu, qua tài liệu
tôi đã tiếp thu được các quy trình đúng về rửa tay, rửa mặt, đánh răng…và áp
dụng cho trẻ thực hiện hằng ngày cụ thể là:
- Quy trình rửa tay bằng xà phòng có 6 bước:
6
Bước 1: Làm ướt bàn tay bằng nước, lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay
vào nhau
Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay
kia và ngược lại
Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay
Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của lòng bàn tay này vào lòng bàn tay kia
Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa
sạch tay với vòi nước tới cổ tay và làm khô tay.
- Quy trình đánh răng, cách súc miệng bằng nước muối…
- Tôi còn thường xuyên sưu tầm các bài thơ , bài hát câu chuyện về giáo dục
vệ sinh cho trẻ viết vào sổ tay tự học để lồng ghép vào các tiết dạy . Các bài thơ,
bài hát này không những thay đổi không khí cho tiết học mà còn mang tính giáo
dục cao và qua đó trẻ học được rất nhiều những kinh nghiệm, kỹ năng sống tốt.
Biện pháp 2: Sưu tầm một số tình huống giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ và thường xuyên cho trẻ được thực hành, trải nghiệm.
* Tình huống giúp trẻ biết cách phòng và chống bị lạm dụng, xâm hại:
Cho trẻ xem video “Nguyên tắc 5 ngón tay.”
Hiện nay trên các phương tiện truyền thông liên tục đưa những câu chuyện
về trẻ bị xâm hại, đặc biệt là có cả những trẻ ở lứa tuổi mầm non. Bản thân là
một giáo viên mầm non tôi nhận thấy việc đưa kỹ năng phòng và chống bị lạm
dụng, xâm hại vào dạy trẻ ở lứa tuổi này là rất cần thiết.
Để đưa kỹ năng này vào dạy trẻ tôi đã làm như sau: Tôi đã sưu tầm và cho
trẻ xem video “Nguyên tắc 5 ngón tay”.
Cô giáo phải giải thích cho trẻ hiểu “vùng đồ bơi” của các bạn trai và các
bạn gái và đưa ra hệ thống các câu hỏi tương tác để trẻ trả lời:
+ Những ai có thể ôm hôn, ngủ chung, tắm và làm vệ sinh cho bạn nhỏ khi
bạn còn nhỏ? Tại sao? ( Bố, mẹ, anh, chị em ruột, và ông, bà nội ngoại)
+ Những ai có thể nắm tay, khoác vai và chơi đùa cùng với bạn nhỏ? (Cô
giáo, bạn bè, cô, dì, chú, bác họ hàng)
+ Bạn nhỏ không nói chuyện và không cho những ai đến gần mình?
(Những người lạ)
+ Nếu những người lạ đó đến gần và chạm vào “vùng đồ bơi” của bạn nhỏ
thì bạn nhỏ sẽ làm gì? Tại sao? (Hét to và bỏ chạy)
+ Khi đi khám bệnh bạn nhỏ chỉ cho phép bác sĩ khám “vùng đồ bơi” của
bạn khi nào? (Khi mẹ cho phép)
7
+ Những lúc đi chơi không có mẹ bên cạnh bạn nhỏ có làm theo nguyên tắc
“5 ngón tay” không? Tại sao?
+ Bạn có nhận quà từ người lạ không? Tại sao?
+ Bạn nhỏ có tự ý bỏ đi chỗ khác không? Bạn có cho người lạ chụp hình
của mình không? Tại sao?
Việc cho trẻ xem video và đặt hệ thống câu hỏi như trên cho trẻ sẽ giúp trẻ
tư duy, suy nghĩ và tìm ra phương án trả lời của mình. Điều đó giúp giáo dục trẻ
kỹ năng phòng và chống bị lạm dụng, xâm hại như: Không cho ai chạm hay sờ
vào “vùng đồ bơi” của mình.
* Tình huống giúp trẻ biết cách xử lý khi bị lạc, tránh bị kẻ xấu bắt cóc
và xâm hại:
“Khi bị lạc bố, mẹ trong khu vui chơi, con sẽ làm gì?”
Tôi đã cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ đưa ra một cách giải quyết của riêng trẻ.
Lắng nghe ý kiến của trẻ, cho trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý kiến của mình, gợi
mở cho trẻ bằng các câu hỏi:
+ Nếu ở trong hoàn cảnh đó thì con sẽ làm gì?
Sau đó, cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất:
Khi bị lạc, con hãy bình tĩnh, không khóc và không chạy lung tung mà hãy
đứng yên tại chỗ chờ. Vì bố, mẹ sẽ quay lại chỗ đó để tìm con. Hoặc con có thể
đến chỗ chú bảo vệ, cô bán hàng gần con nhất trong khu vui chơi, để nhờ gọi
điện thoại, hoặc thông báo lên loa để tìm bố mẹ. Tuyệt đối con không đi theo
người lạ dù người đó có hứa sẽ đưa về với bố mẹ. Có thể đó sẽ là kẻ xấu lợi
dụng cơ hội đó bắt cóc hoặc xâm hại con.
* Tình huống giúp trẻ biết không đi theo và nhận quà từ người lạ:
“Nếu có người không quen biết cho con quà, con nên làm như thế nào?”
Ở tình huống này, với lứa tuổi của trẻ trên thực tế trẻ rất thích khi được cho
quà. Khi trẻ thảo luận, tôi đưa ra những giả thiết, những tình huống xấu “Nếu đó
là kẻ xấu thì sẽ rất nguy hiểm cho con”. Giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương
án giải quyết đó là: Tuyệt đối không nhận quà, ăn bánh kẹo của người lạ vì có
thể bị người lạ tẩm thuốc mê và dẫn đến việc bị bắt cóc. Khi gặp trường hợp này
bé nên nói “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu dặn cháu không được nhận quà
của người lạ”.
Ví dụ: Đề tài: Không đi theo và nhận quà của người lạ, biết xử lý tình
huống khi ở nhà một mình.
*Mục đích, yêu cầu:
8
1. Kiến thức:
- Trẻ biết không nhận quà và không đi theo người lạ, không mở cửa cho
người lạ.
- Trẻ nhận biết được một số tình huống gây nguy hiểm và an toàn trong khi chơi.
2. Kỹ năng:
- Phát triển khả năng quan sát, phán đoán và biết cách xử lý tình huống.
- Phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
3. Giáo dục:
- Giáo dục trẻ lễ phép với người lớn, biết vâng lời ba, mẹ và cô giáo.
- Trẻ tham gia tích cực vào hoạt động
* Phương pháp, hình thức tổ chức:
- Xây dựng hệ thống các tình huống và đặt câu hỏi:
+ Có khi nào các con đi chơi một mình không?
+ Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đi một mình bây giờ cô mời các con
hãy hướng mắt lên màn hình.
Cho trẻ xem đoạn video “ Bắt cóc trẻ em”.
Cô đàm thoại với trẻ:
+ Trong đoạn phim các con thấy ai đã đến trò chuyện với bạn nhỏ?
+ Theo con cô và chú ấy có phải là người quen của bạn nhỏ đó không?
+ Hai người ấy đã cho bạn nhỏ đó cái gì? ( Cho trẻ xem lại hình ảnh)
+ Nếu là con thì con có giống như bạn ấy không? Vì sao? ( Vì đó là người
lạ nên chúng ta không được nhận...)
+ Sau khi nhận quà của người lạ thì chuyện gì sẽ xảy ra với bạn nhỏ?
+ Bạn nhỏ có biết mình đã bị kẻ xấu bắt cóc không?
+ Trong trường hợp này nếu là con khi phát hiện kẻ xấu bắt cóc mình thì
con sẽ làm gì? (Vùng chạy, kêu cứu thật to để mọi người đến giúp đỡ. Sau khi
được mọi người giúp đỡ thì các con phải biết nói lời cảm ơn nhé!)
- Qua tình huống vừa rồi các con nhớ là không được đi chơi một mình,
không được nhận quà và không đi theo người lạ vì như thế sẽ tạo cơ hội cho kẻ
xấu bắt cóc mình đấy?
- Cô cho trẻ đồng thanh “ Không nhận quà, không đi theo người lạ”.( Trẻ
đọc câu trên màn hình)
+ Nếu các con đang vui chơi ở trường mà có người lạ đến đón thì các con
sẽ làm gì? ( Báo ngay với cô giáo)
- Cô nhận xét, tuyên dương.
9
- Cô trò chuyện cùng trẻ:
+ Có khi nào ba, mẹ đi vắng các con phải ở nhà một mình không? Khi đó
các con thường làm gì? ( cho trẻ kể)
+ Khi ở nhà một mình thì sẽ có nhiều tình huống xảy ra, các con hãy cùng
hướng lên màn hình và theo dõi nhé!
- Cho trẻ xem đoạn phim “ Không mở cửa cho người lạ”
+ Nếu con là bạn ấy thì con sẽ làm gì? Vì sao?
- Khi các con ở nhà một mình thì các con không được mở cửa cho người lạ
vì như vậy kẻ xấu dễ dàng thực hiện ý đồ bắt cóc mình đấy các con?
- Cô dẫn dắt: Có một bạn nhỏ gặp tình huống tương tự như vậy bây giờ các
con hãy nhìn xem bạn nhỏ đó có xử lý giống mình không nhé.
- Cho trẻ xem đoạn clip về tình huống ở nhà một mình.
+ Bạn nhỏ này có mở cửa cho người lạ không các con?
Bạn nhỏ này rất là ngoan phải không các con khi ở nhà một mình thì bạn
nhỏ đã khóa cửa lại cẩn thận, không tự ý ra khỏi nhà và không được mở cửa cho
người lạ và đặc biệt là bạn rất là lễ phép với người lạ nữa đấy các con chúng ta
phải biết học hỏi bạn nhỏ này nhiều hơn nữa nhé các con.
+ Trong trường hợp người lạ tìm mọi cách để vào nhà các con sẽ làm gì?
- Các con hãy nhanh tay gọi điện thoại cho ba, mẹ hoặc là chú công an( cho
trẻ nói số điện thoại của ba, mẹ và số điện thoại của chú công an là 113).
- Cho trẻ xem hình ảnh số 113 và đọc đồng thanh.
- Cô giáo dục trẻ không được tùy tiện gọi vào số điện thoại này chỉ khi nào
cần thiết nhất thì chúng ta mới gọi nhé.
- Cô nhận xét, tuyên dương trẻ.
* Tình huống giúp trẻ biết cách lịch sự khi đến nhà người khác:
“ Khi đến nhà bạn chơi, con thấy nhà bạn có bộ đồ chơi mới mà con lại rất
muốn chơi bộ đồ chơi đó thì con sẽ làm gì?”
Việc đưa ra câu hỏi tình huống kết hợp với cho trẻ xem đoạn phim nói về
cách lịch sự khi đến nhà người khác sẽ giúp trẻ tự suy nghĩ, tìm và nêu ra các
cách xử lý tình huống khác nhau, từ đó giáo viên đưa ra cách xử lý tình huống
đúng và giải thích cho trẻ hiểu vì sao cách xử lý tình huống đó lại là đúng. Khi
con muốn chơi thì trước tiên con phải hỏi xin phép người lớn hoặc xin ý kiến
của bạn đó, tuyệt đối không được tự ý lấy đồ chơi của bạn để chơi, như vậy là
không đúng. Nếu làm được như vậy thì con sẽ được mọi người yêu quý và sẽ
được chơi bộ đồ chơi đó. Qua tình huống này trẻ có thể hiểu được cách cần phải
10
lịch sự khi đến nhà người khác từ đó phát triển kỹ năng cần thiết cho trẻ như kỹ
năng giao tiếp - ngôn ngữ, kỹ năng tình cảm - quan hệ xã hội.
* Tình huống giúp trẻ biết cách nhận biết và xử lý khi đang có cháy ở
khu vực gần trẻ:
“Nếu con thấy có khói, hoặc lửa cháy ở ngay gần khu vực của con thì lúc
ấy con sẽ làm như thế nào?”
Tôi sẽ cho trẻ suy nghĩ và đưa ra các tình huống:
Tình huống 1: Bình tĩnh, kêu cứu, bấm chuông cứu hỏa, gọi cứu hỏa 114.
Tình huống 2: Lấy khăn ướt bịp mũi rồi bò sát mặt đất men theo tường ra
của để thoát hiểm.
Tình huống 3: Khi bị lửa bén vào người không được di chuyển
Dùng hai tay che mặt, lăn qua lăn lại cho đến khi lửa bị dập.
Tình huống 4: Di chuyển khỏi nơi có cháy bằng cầu thang bộ, tuyệt đối
không dùng cầu thang máy.
Trong lúc trẻ suy nghĩ tôi có thể đưa ra câu hỏi gợi mở cho trẻ như: “Khi
thấy cháy ở gần khu vực của con thì con có nên sợ hãi và đứng khóc không?”
Sau khi để trẻ tự nói lên phương án giải quyết thì tôi sẽ đưa ra phương án
giải quyết đúng và dạy trẻ: Khi gặp đám cháy, trước hết con phải hét to báo hiệu
ở đây có cháy để những người xung quanh họ có thể nghe thấy.
=> Cho trẻ thực hành theo nhóm: Khi có chuông báo cháy, trẻ phải biết kêu
cứu, nhóm trưởng sẽ bấm số điện thoại gọi cứu hỏa 114 , sau đó dùng khăn đã
thấm nước bịp vào miệng rồi bò sát đất để ra cửa thoát hiểm. Khi có tiếng báo
có lửa cháy vào người trẻ phải biết bịp mặt lăn đi lăn lại để dập lửa.
Biện pháp 3: Giáo dục lồng ghép kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc, mọi nơi.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không chỉ có trong hoạt động thông qua tiết
học, hoạt động vui chơi mà còn được lồng ghép trong giáo dục chăm sóc sức
khỏe, lao động vừa sức, lễ hội tham quan,…Mỗi hoạt động đều có ưu thế riêng
đối với việc dạy những kỹ năng sống cần thiết với cuộc sống của trẻ. Từ đó tôi
có kế hoạch cụ thể và lựa chọn phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phù
hợp bằng cách giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi.
Với giờ hoạt động ngoài trời: “Quan sát vườn rau”
Trong khi quan sát và đàm thoại trẻ phát hiện có một con sâu đang bò trên
lá rau, trẻ tỏ ra rất sợ hãi, lúc này cô giáo chính là người giúp trẻ quên ngay sự
sợ hãi đó
Cô: Con sâu đang làm gì vậy? Nó có ích hay có hại? Vì sao?
11
Con sâu không đáng sợ nhưng nó lại gây hại cho cây cối, mùa màng đấy
Để cho rau xanh tốt chúng ta phải làm gì? Cô bắt ngay con sâu lên khỏi lá
rau nhé! để trẻ thấy rằng con sâu không đáng sợ mà cần phải diệt trừ nó.
Qua hoạt động ngoài trời còn rèn kỹ năng:
- Kỹ năng giao tiếp: Trẻ biết lắng nghe cô, bạn, nêu ý kiến, chia sẻ thông tin.
- Kỹ năng xử lý tình huống:
Ví dụ: Khi ngồi trên đu quay chẳng may bị ngã bé cần làm gì? (nằm yên,
chờ Đu quay dừng hẳn mới ngồi dậy để tránh Đu quay đập vào đầu, bạn khác
chạy đi báo với cô…)
- Kỹ năng ra quyết định: Làm gì hay không làm gì để phòng tránh ngã?
(Không quay nhanh, xô đẩy bạn khi ngồi trên Đu quay, nắm chắc tay
cầm…)
Hoặc qua giờ ăn trưa giáo viên rèn cho trẻ kỹ năng tự phục vụ từ đó hình
thành một số kỹ năng, hành vi văn hóa trong ăn uống như:
- Cách sử dụng bát, đĩa, thìa, ca cốc. Cách chia thìa, cách chia thức ăn…
- Trẻ còn được rèn luyện thói quen văn minh trong ăn uống như: mời cô,
mời các bạn, vệ sinh trước và sau khi ăn, biết lấy tay che miệng khi ho, không
nói chuyện khi ăn…
Thường xuyên tổ chức các trò chơi, rèn luyện các kỹ năng trong các hoạt
động thì các kỹ năng đó sẽ thành kỹ xảo. Việc tổ chức cho trẻ luyện tập phải có
kế hoạch cụ thể, được tiến hành thường xuyên và không ngừng sáng tạo, có như
vậy mới gây được hứng thú cho trẻ.
Qua trò chơi dân gian: “ Chèo thuyền trên cạn” Với trò chơi này ngoài rèn
một số tố chất thì còn rèn cho trẻ tinh thần đoàn kết, hợp tác với bạn.
Ngoài ra kỹ năng sống cho trẻ còn được giáo dục qua giờ đón trả trẻ. Như
vào thời gian đón hoặc trả trẻ tôi đã trao đổi với phụ huynh về tình hình sức
khoẻ, vệ sinh cá nhân, những phản ứng kém linh hoạt cũng như những kỹ năng
của trẻ để cùng phụ huynh giáo dục trẻ, giúp trẻ chủ động trong các hoạt động.
Thông qua giờ đón trẻ, còn lồng ghép giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ
biết lễ phép chào cô, chào bố mẹ, hỏi han bạn hoặc dạy trẻ biết cất cặp sách vào
tủ, biết xếp dép lên giá, đi vệ sinh đúng nơi quy định…
Luôn tạo tình huống, gợi mở cho trẻ giải quyết tình huống thực tế (trẻ được
thực hành trải nghiệm qua các ngày hội, ngày lễ. Từ đó giáo dục cho trẻ lòng tự
hào dân tộc, biết được ý nghĩa của ngày hội. Từ đó trẻ có ý thức phấn đấu trong
mọi hoạt động để sau này trở thành người có ích cho xã hội).
12
Biện pháp 4. Luôn động viên khuyến khích trẻ kịp thời.
Trẻ luôn mong muốn được người khác khen ngợi và ghi nhận kết quả lao
động của mình. Trẻ luôn mong muốn làm theo những điều đã từng được khen
bởi vậy giáo viên thường xuyên động viên, khen ngợi trẻ kịp thời khi trẻ thực
hiện đạt kết quả tốt, từ đó trẻ tiếp tục phát huy và dần trở thành thói quen tốt.
Khi trẻ chưa làm được theo yêu cầu của cô, thì tôi tìm hiểu nguyên nhân rồi
có thể hướng dẫn trẻ khi cần.
Bằng việc nhận xét đánh giá thường xuyên, tôi đã rút ra được nhiều kinh
nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và cũng đã có nhiều kỹ năng sống được
hình thành và củng cố trên trẻ. Trẻ giao tiếp tốt hơn, tự tin vào bản thân hơn, biết
nhận xét bạn, khéo léo hơn trong các hoạt động.
Biện pháp 5: Phối hợp với phụ huynh cùng rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ
Việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường là một nhiệm vụ thiết thực, tạo
sự liên kết và thống nhất giữa trường và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp,
cách thức tổ chức giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở gia đình. Đây là điều kiện thuận
lợi để nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức giáo dục
trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ có sự phát triển toàn diện cả
về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng
xử... góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà nhiệm vụ năm học đã đề ra.
Tuyên truyền đến các bậc phụ huynh những văn bản chỉ đạo, những chính
sách, chế độ liên quan đến công tác giáo dục mầm non. Trong đó đặc biệt quan
tâm đến nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Trước hết, giáo viên, phụ huynh phải là tấm gương cho trẻ noi theo, luôn
gương mẫu, yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ, tạo điều kiện tốt
nhất để trẻ được vui chơi, học tập với môi trường an toàn, thân thiện
Việc dạy trẻ những kỹ năng đó phải là một quá trình. Nhiều phụ huynh cho
rằng con mình còn quá bé để hiểu được những điều đó cũng như nghĩ rằng trẻ
mẫu giáo vẫn được sống trong sự bao bọc, bảo vệ tuyệt đối của bố mẹ. Nhưng
trên thực tế, không phải lúc nào cha mẹ cũng ở bên con khi có tình huống xấu.
Cô giáo phối hợp cùng phụ huynh khéo léo dạy trẻ cách giữ gìn và bảo vệ các cơ
quan, bộ phận trên cơ thể, giúp trẻ chủ động, cảnh giác với tình huống khi có
người quan tâm thái quá đến cơ thể của trẻ. Dạy trẻ một số cách phản kháng và
bảo vệ bản thân.
Song song với việc thực hiện biện pháp giáo dục trên, là giáo viên chủ
nhiệm lớp, tôi luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phối kết hợp giữa gia
13
đình và nhà trường. Việc dạy kỹ năng sống cho trẻ không phải là chuyện một
sớm một chiều mà là cả một quá trình. Các kỹ năng sống phải được giáo dục,
rèn luyện đồng nhất thì mới bền vững và thành kỹ xảo. Nếu chỉ dạy kỹ năng
sống cho trẻ ở trường thôi thì chưa đủ. Bên cạnh đó, môi trường gia đình rất
thích hợp để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ được tiếp thu các kỹ năng thông
qua gia đình một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà lại hiệu quả cao. Mặt khác, nuôi
dạy con luôn là mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh nhất là trong thời
buổi hiện nay, ai cũng muốn con mình đạt thành tích cao trong học tập cũng như
trưởng thành hơn về mặt nhân cách. Tuy nhiên việc làm thế nào để có thể giúp
trẻ phát huy được khả năng tiềm ẩn? Làm thế nào để trẻ có những kỹ năng sống
tốt nhất thì nhiều phụ huynh còn lúng túng trong vấn đề này. Trên thực tế nhiều
phụ huynh chưa có kiến thức về kỹ năng sống, không biết kỹ năng sống bao
gồm những kỹ năng nào? Cần tuyên truyền với phụ huynh để họ hiểu tầm quan
trọng của kỹ năng sống, những kiến thức cần dạy trẻ, phương pháp dạy trẻ như
thế nào để trẻ tiếp thu một cách thoải mái, tự nhiên. Việc tuyên truyền đến các
bậc phụ huynh được tiến hành trong giờ đón, trả trẻ, thông qua bảng tuyên
truyền, thông qua việc mời phụ huynh tham quan hoặc tham ra trực tiếp vào các
hoạt động của lớp hay thông qua buổi họp phụ huynh. Cụ thể:
Thông qua giờ đón trẻ, tôi đã trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khoẻ,
vệ sinh cá nhân, những phản ứng cũng như những kỹ năng của trẻ để cùng phụ
huynh giáo dục trẻ, giúp trẻ chủ động trong các hoạt động.
Thông qua bảng tuyên truyền với phụ huynh: Bảng được thiết kế đẹp, kích
cỡ chữ to rõ, các phụ huynh có thể đọc, quan sát theo dõi dễ dàng, các nội dung
giáo dục lễ giáo phải được thay đổi theo từng chủ đề, từng tuần, hình thức hấp
dẫn để tạo được sự chú ý của phụ huynh khi đưa con đến lớp.
Thông qua các buổi hợp phụ huynh, tôi cũng đã chủ động lồng ghép nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đến các bậc phụ huynh.
Cha mẹ cần phối hợp với giáo viên một cách chặt chẽ và hợp lý bằng việc
tham gia vào quá trình giáo dục trong nhà trường. Giáo viên mời cha mẹ tham
gia vào các buổi trao đổi, tọa đàm, tham gia đầy đủ các buổi họp phụ huynh học
sinh và dự một số hoạt động học của trẻ ở lớp.
4.5. Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sau khi thực các biện pháp trên thì kết quả như sau:
+ Đối với giáo viên:
- Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện, bản thân đã có một số kinh
14
nghiệm qua các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt
động giáo dục. Thường xuyên trò chuyện với trẻ, trả lời những câu hỏi vụn vặt
của trẻ, giải quyết hợp lý, công bằng với mọi tình huống xảy ra giữa các trẻ
trong lớp. Trong giảng dạy, chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm nhiều
hơn. Phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với cha mẹ trẻ.
+ Đối với trẻ:
- 97 % trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập.
- 100% trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội; kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp;
chung sống sống hòa bình, không xảy ra bạo hành trẻ em ở trường cũng như ở
gia đình.
- 100% trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích
khơi dậy tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin.
- 100% trẻ 5- 6 tuổi được rèn luyện khả năng sẵn sàng học tập ở trường hiệu
quả ngày càng cao.
- 100% trẻ được giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, được bảo vệ sức
khỏe, được bảo đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo bằng biểu đồ
phát triển.
- 82% trẻ luôn có kết quả tốt trong học tập thông qua bảng đánh giá trẻ ở
lớp sau mỗi giai đoạn, cuối độ tuổi và qua kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng
sau mỗi chủ đề đối với từng trẻ đạt khá và tốt:
* So sánh đối chiếu kết quả trước khi thực hiện sáng kiến:
Số
lượng
trẻ
Trước khi
áp dụng
biện pháp
Sau khi áp dụng
biện pháp
- Mạnh dạn tự tin
35
51%
94,3%( Tăng 43,3%)
- Kỹ năng hợp tác
35
54%
97% ( Tăng 43,3%)
- Kỹ năng giao tiếp
35
43%
94% ( Tăng 51%)
- Tự lập, tự phục vụ
35
68%
97%( Tăng 29%)
- Kỹ năng thích khám phá học hỏi
35
66%
97%( Tăng 31%)
- Kỹ năng tự kiểm soát bản thân
35
49%
97%( Tăng 48%)
Các tiêu chí đánh giá
15
+ Đối với phụ huynh
- Các bậc cha mẹ đã có thói quen liên kết phối hợp chặt chẽ với cô giáo
trong việc dạy trẻ các kỹ năng sống.
- Cha mẹ luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục
trẻ ở nhà trường.
- Cha mẹ cảm thấy mản nguyện với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết
quả giáo dục của giáo viên, nhà trường.
* Khả năng áp dụng và nhân rộng của sáng kiến:
Ngay sau khi kết thúc năm học trước tôi đã nghiên cứu những vấn đề gì nổi
cộm cần khắc phục để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong
nhà trường và tôi đã đăng ký xây dựng đề tài “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng
sống cho trẻ Mẫu giáo Lớn”.
Đề ra các giải pháp nghiên cứu để nâng cao chất lượng rèn luyện kỹ năng
sống cho trẻ trong trường cho phù hợp.
Sáng kiến “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo
Lớn”. Được áp dụng thực tế đội ngũ giáo viên và trẻ tại trường mẫu giáo Anh
Thơ- Tam Phước- Phú Ninh nói chung và cho các trường mẫu giáo trên địa bàn
Huyện Phú Ninh nói riêng.
5. Những thông tin cần được bảo mật: Không có
6. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
a. Hiệu quả kinh tế
Để đảm bảo các điều kiện để trẻ có thể tham gia vào các hoạt động giáo
dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Là một người giáo viên tôi luôn đề ra những
biện pháp phù hợp, lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp để trẻ có thể lĩnh hội và
tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn.
Tiết kiệm được rất nhiều kinh phí qua việc tận dụng những nguyên vật liệu
phế thải như: Chai nhựa, vỏ bình sữa, ống nước, thùng catton, ống hút…đã được
vệ sinh sạch sẽ thay cho việc mua những đồ dùng, đồ chơi làm sẵn. Chính từ
việc vận dụng các nguyên vật liệu phế thải này giáo viên đã tạo ra những món
đồ dùng, đồ chơi cho trẻ tạo điều kiện giúp trẻ hoạt động tích cực, tư duy và
sáng tạo hơn khi tham gia hoạt động.
Sáng kiến góp phần cải thiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ .
b. Hiệu quả về mặt xã hội
16
- Trẻ tự tin trong giao tiếp, có kỹ năng giải quyết các vấn đề, biết tự phục
vụ và hợp tác với bạn bè, mọi người xung quanh, tâm lý thoải mái, thích đi học,
thích đến trường, thích hoạt động, thích giao tiếp.
- Giáo viên được nắm chắc nội dung, phương pháp, giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của rèn kỹ năng sống cho trẻ.
- Tính tự lập, mạnh dạn, hợp tác, chia sẻ và biết kiên trì hoàn thành các công
việc được giao của trẻ có hiệu quả hơn.
- Tính tò mò, trí tưởng tượng, năng động, thói quen lao động, tự phục vụ,
kỹ năng tự lập của trẻ tốt hơn.
- Các hành vi, hành động, ngôn ngữ có văn hoá theo chuẩn mực đạo đức xã
hội của trẻ tiến bộ hơn.
- Phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống
cho trẻ 5- 6 tuổi.
- Phụ huynh ngày càng tin tưởng giáo viên, luôn quan tâm chăm lo đến việc
học tập, các hoạt động, lời nói, hành vi của con em trên lớp cũng như lúc ở nhà.
Một số phụ huynh đã mạnh dạn trao đổi những vấn đề cần thiết nhờ giáo viên
quan tâm giúp đỡ. Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa cô, trẻ và phụ huynh ngày càng
gần gũi hơn.
c. Giá trị làm lợi khác
Với sáng kiến Một số biện pháp Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi,
được thực hiện thông qua các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi và đặc biệt là trẻ
được thực hành, trải nghiệm và thế hiện được tính tư duy, sáng tạo, tự lập và
mạnh dạn ở trẻ. Chính trẻ là người sẽ tích hợp được các kỹ năng đã học để giải
quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn.
Trẻ yêu mến cô, bạn bè, trường, lớp, yêu các hoạt động, chủ động, tự tin
trong cuộc sống.
Thể hiện được tính tự lập, mạnh dạn, hợp tác, ứng xử trong cuộc sống, chia
sẻ và biết kiên trì hoàn thành các công việc được giao của trẻ có hiệu quả hơn.
Có các hành vi, hành động, ngôn ngữ có văn hoá theo chuẩn mực đạo đức
xã hội của trẻ tiến bộ hơn.
Sáng kiến góp phần cải thiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ .
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà truờng.
Kích thích tính sáng tạo của mỗi giáo viên và làm cho các hoạt động trở
nên phong phú, nhiều màu sắc hơn.
17
* PHẦN PHỤ LỤC
Hình ảnh: Trẻ hoạt động rèn luyện kỹ năng phòng chống dịch bệnh CORONA.
Hình ảnh : Dạy trẻ kỹ năng không nhận quà và không đi theo người lạ.
18
Hình ảnh : Giáo viên hướng dẫn cho trẻ các thao tác rửa tay.
Hình ảnh : Phụ huynh tham dự chuyên đề lồng ghép kỹ năng sống cho trẻ tại
trường.
19
Hình ảnh : Trẻ thực hiện hoạt động nhặt rác ngoài sân trường bỏ vào thùng rác.
Hình ảnh : Sắp xếp đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi xong.
20
Hình ảnh : Bé nhận quà từ ông già NOEL bằng hai tay và thể hiện được lời nói
cảm ơn.
Hình ảnh : Hoạt động chăm sóc, nhặt lá vàng, bắt sâu cho rau.
21
Hình ảnh : Bé tham gia phối hợp cùng với bạn để chơi trò chơi “ Đá bóng”