TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA ĐỊA CHẤT
LƯỜNG THỊ VÂN GIANG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THAN MỎ TÔ PAN
HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
Hà Nội - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA ĐỊA CHẤT
LƯỜNG THỊ VÂN GIANG
SINH VIÊN: ĐH4KS
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THAN MỎ TÔ PAN
HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên khoáng sản
Mã ngành
: 7520501
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Chí Công
TS. Nguyễn Thị Thục Anh
Hà Nội – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Sinh viên xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của bản thân và được sự
hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Chí Công và TS. Nguyễn Thị Thục Anh. Các
nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và được sự cho phép của
các cơ quan quản lý. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính sinh viên thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ
trong phần tài liệu tham khảo.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung đồ án.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2018
Người cam đoan
Lường Thị Vân Giang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nội dung
BĐĐC
Bản đồ địa chất
BCTB
Biến chất trung bình
CHDCND
Cộng hòa dân chủ nhân dân
ĐCTV
Địa chất thủy văn
ĐCCT
Địa chất công trình
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
THKT
Thành hệ kiến trúc
TNDB
Tài nguyên dự báo
TBVN
Tây Bắc Việt Nam
TB - ĐN
Tây Bắc – Đông Nam
QL
Quốc lộ
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, có vị trí
địa chất, địa lý vô cùng độc đáo. Là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn
Thái Bình Dương và Địa Trung Hải. Là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các
quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Là quốc gia có hàng
nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó phải
kể đến nhóm khoáng sản năng lượng, đặc biệt là khoáng sản than.
Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại bao gồm than biến
chất thấp đến biến chất trung bình và biến chất cao. Than đóng vai trò sống còn với
sản xuất điện và vai trò này sẽ còn được duy trì trong tương lai. Khoảng 39% lượng
điện sản xuất ra trên toàn thế giới sử dụng than làm nhiên liệu và tỷ lệ này sẽ vẫn
được duy trì trong nhiều năm tới. Vì vậy những năm gần đây Nhà nước ta đã có
những chiến lược khoáng sản, phát triển công nghệ và đẩy mạnh khai thác khoáng
sản nói chung và than nói riêng. Ngoài các mỏ lớn ở Quảng Ninh, cần phải tìm
kiếm và thăm dò các mỏ ở địa phương khác để có thể khai thác phục vụ nhu cầu ở
chính địa phương đó, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đời sống xã hội ở chính
những nơi có mỏ. Trong đó, tỉnh Sơn La là một tỉnh có tiềm năng về khoáng sản và
than là loại khoáng sản mà Sơn La hướng tới trong những năm gần đây. Với nhiều
điểm mỏ được thăm dò và khai thác, trong đó có mỏ than Tô Pan thuộc xã Chiềng
Pằn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, là một trong những mỏ than được coi là có tiềm
năng lớn có thể phục vụ nhu cầu sử dụng than của địa phương. Tuy nhiên, mỏ than
Tô Pan mới đi vào hoạt động và nguồn than sử dụng tại Sơn La là than được nhập
chủ yếu từ Quàng Ninh. Để đảm bảo cho mỏ than Tô Pan khai thác bền vững và lâu
dài, cần đánh giá chất lượng than để xác định được hướng sử dụng tài nguyên hợp
lý, vừa đảm bảo nơi tiêu thụ cho mỏ hoạt động có lãi, vừa đáp ứng được nhu cầu sử
dụng ngay tại địa phương, giảm giá thành sản phẩm và chi phí vận chuyển. Để góp
phần giải quyết vấn đề này, dưới sự định hướng của tiểu ban hướng dẫn, sinh viên
đã được giao đề tài “Đánh giá chất lượng than mỏ Tô Pan huyện Yên Châu tỉnh
Sơn La và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên”.
7
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm, đặc tính công nghệ của khoáng sản than tại khu vực
nghiên cứu.
- Đánh giá chất lượng than trong khu vực nghiên cứu.
- Định hướng sử dụng tài nguyên hợp lý.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm khoáng sản than tại khu vực nghiên cứu (thành phần
khoáng vật, thành phần hóa học các nguyên tố trong khoáng sản).
- Nghiên cứu tính khả tuyển của than và khả năng làm giảm lưu huỳnh trong
than tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu và khảo sát nhu cầu thị trường về than tại địa phương để đưa ra
hướng sử dụng tài nguyên hợp lý.
Để hoàn thành đồ án sinh viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu.
- phương pháp khảo sát thực địa.
- Sử dụng phần mềm mapinfo, tin học địa chất.
Cấu trúc đồ án
Mở đầu
Chương 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên – kinh tế - nhân văn và lịch sử nghiên cứu
địa chất vùng
Chương 2. Đặc điểm địa chất và khoáng sản
Chương 3. Đặc điểm chất lượng các vỉa than
Chương 4. Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên
Kết luận, kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Do thời gian có hạn và kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên đồ án
không thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung lẫn hình thức, sinh viên rất
mong được sự chỉ dẫn, giúp đỡ và góp ý của các Thầy, Cô giáo trong khoa Địa chất
để đồ án được hoàn thiện hơn.
8
Qua đây, sinh viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô Giảng viên
khoa Địa chất, đặc biệt là ThS. Nguyễn Chí Công và TS. Nguyễn Thị Thục Anh đã
giúp đỡ sinh viên hoàn thành đồ án tốt nghiệp này. Đồng thời sinh viên cũng xin
chân thành cảm ơn các cán bộ Phòng Tài nguyên khoáng sản, Sở Tài Nguyên và
Môi trường tỉnh Sơn La, ban lãnh đạo và các cán bộ, công nhân tại mỏ than Tô Pan
đã tạo điều kiện cũng như nhiệt tình hướng dẫn sinh viên trong quá trình sinh viên
trong quá trình thu thập tài liệu và khảo sát thực địa.
Cuối cùng sinh viên kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các cán bộ công tác tại sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Sơn La và Công ty Cổ phần phát triển Việt Mỹ luôn dồi dào sức
khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc.
9
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ - NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG
1.1.
Vị trí địa lý
Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, nằm trên trục
Quốc lộ 6, cách Hà nội 240 km theo hướng Tây Bắc, cách thị xã Sơn La 64 km về
phía Đông, là khu vực đệm giữa 2 cao nguyên Nà Sản và Mộc Châu, có toạ độ địa
lý: 1040 10’ –1040 40’ kinh độ Đông, 210 07’ – 21014’ vĩ độ Bắc, phía Đông giáp
huyện Mộc Châu, phía Tây giáp huyện Mai Sơn, phía Bắc giáp huyện Bắc Yên,
phía Nam tiếp giáp với nước CHDCND Lào, có 47 km đường biên giới.
Mỏ than Tô Pan cách thị trấn Yên Châu 5km về phía Tây Bắc, thuộc bản Tô
Pan, xã Chiềng Pằn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Diện tích khu vực mỏ 100 ha.
10
Hình 1.1. Sơ đồ vị trí hành chính khu mỏ than Tô Pan, Yên Châu, Sơn La
Bảng 1.1. Tọa độ các điểm góc diện tích thăm dò [1].
Điểm khống chế
vị trí khu mỏ
1
2
3
4
5
6
Hệ tọa độ VN-2000 KTT 1040, múi chiếu 3
X
Y
2332325
527552
2332460
527632
2332412
527724
2332106
528225
2332037
528193
2332063
528136
1.2. Đặc điểm tự nhiên
1.2.1. Đặc điểm địa hình
Yên Châu là một huyện miền núi cao, địa hình chia cắt nhiều và chia thành 2
vùng rõ rệt:
- Vùng lòng chảo Yên Châu và vùng cao biên giới. Vùng lòng chảo có 9/15
xã, xen giữa 2 cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản nằm ở độ cao trung bình 400 m so
với mặt biển.
- Vùng cao biên giới có 6/15 xã, nằm ở độ cao từ 900 – 1000 m so với mặt
nước biển, các xã cách trung tâm huyện từ 30 -70 km.
Khu mỏ than Tô Pan phân bố ở địa hình đồi thấp, dạng dải kéo dài phương
Tây Bắc – Đông Nam. Độ cao tuyệt đối đường địa hình từ 370 m - 690 m. Khu mỏ
thấp dần về phía Nam – Tây Nam chuyển tiếp đến đồng bằng, thung lũng núi. Địa
hình thoải dần với độ nghiêng sườn từ 250 - 50, bề mặt ít bị chia cắt, đỉnh bằng, độ
bóc mòn yếu, đa phần bị lũ tích cuốn trôi và sườn tích che lấp. [8]
1.2.2. Đặc điểm sông suối
- Vùng quốc lộ 6 có 2 hệ thống suối chính: Hệ thống suối Sập và hệ thống suối
Vạt. Hệ thống suối Sập bắt nguồn chảy từ Mộc Châu và các nhánh khác nhập về
như: Huổi Tô Buông, Huổi Nà Ngà, Suối Phà... và hợp với suốt Vạt ở xã Sặp Vạt.
trữ lượng nước nhiều nhưng giá trị sử dựng của suối này còn thấp, chưa đựơc khai
thác tốt chủ yếu là phục vụ cho sinh hoạt. Hệ thống suối Vạt bắt nguồn từ dãy Khau
11
Cạn thuộc xã Chiềng Đông và các nhóm suối khác như: Huổi Hịt, Huổi Lưu, Huổi
Tủm... Lượng nước không nhiều nhưng nó là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản
xuất và sinh hoạt của vùng.
- Vùng cao biên giới có hệ thống suối Nậm Pàn chảy theo hướng Tây Bắc đổ
ra sông Đà, suối này chỉ phục vụ một phần ít cho xã Chiềng On, Yên Sơn, Phiêng
Khoài và tập trung chủ yếu cho công trình thủy lợi Chờ Lồng.
Khu vực mỏ than Tô Pan không có sông chảy qua, thuộc khu vực thượng
nguồn sông Nậm Sập, gồm hệ thống suối Nậm Vạt, bắt nguồn từ Chiềng Đông chảy
qua Yên Châu theo hướng Đông Nam đổ vào sông Nậm Sập và hòa vào sông Đà
theo hướng Đông Bắc.
Sông Nậm Sập chiều dài chung 15km, phân bố ở phía Đông Nam khu mỏ Tô
Pan, lòng rộng nước chảy xiết, trong tương lai có khả năng cải tạo thành luồng vận
tải sông Đà. Chiều dài suối Nậm Vạt khoảng trên 20km, lòng suối rộng và nông.
Trong khu mỏ có hệ thống suối Huổi Mây, lòng hẹp, thượng lưu suối dốc.
Chúng chia cắt bề mặt địa hình thành nhiều khe lạch cạn. Mùa mưa lượng nước
nhiều tập trung dòng chảy đổ vào suối Nậm Vạt. Mùa khô, suối hầu như ít nước,
các khe lạch ở thượng nguồn bị cạn kiệt, tốc độ dòng chảy của hệ thống suối lớn
nhất vào mùa mưa. Có những đợt lũ hay sảy ra (lũ quét), các phương tiện vận tải,
người ra vào mỏ rất khó khăn. Mùa khô, các hoạt động trở lại bình thường.
Các suối nhánh thường có dòng chảy cắt vuông góc với phương cấu tạo địa
chất, làm địa hình phân cắt lộ đá gốc thuận lợi cho việc khảo sát địa chất. [1]
1.2.3. Đặc điểm khí hậu
Huyện Yên Châu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa
mưa từ tháng 5- 10, mùa khô hanh từ tháng 11-4 năm sau, mùa khô thường có rét
đậm kéo dài nhiệt độ trung bình năm 23 0c, nhiệt độ có ngày cao nhất 40,5 0c, nhiệt
độ có ngày thấp nhất 1,70C, biên độ chênh lệch ngày đêm khá cao. Độ ẩm trung
bình 78,2 %, độ ẩm thấp nhất 38,7 %.
Khu vực mỏ than Tô Pan nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm
chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Song, vùng Yên Châu lại có đặc
12
thù riêng về thời tiết đồng bằng thung lũng núi tiếp cận với tiểu vùng khí hậu lưu
vực sông Đà.
Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đén cuối tháng 3 năm sau. Nhiệt độ
trung bình, mùa đông từ 15 ÷ 17 0C, thường có sương mù dày đặc. Song, đặc biệt
trong ngày mùa đông có ngày nhiệt độ lên tới 27 ÷ 28 0C. Lượng mưa hiếm hoi,
hanh khô và thiếu nước kéo dài.
Mùa mưa bắt đầu từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 9, nhiệt độ trung bình
mùa hè 28 ÷ 300C có ngày nóng, khô, nhiệt độ lên tới 37 ÷ 40 0C. Xuất hiện gió Tây
khô, nóng oi bức, những đợt gió nóng kéo dài 07 đến 10 ngày.
Lượng mưa trong mùa hè tương đối lớn, số lần mưa trung bình trong tháng từ
4 đến 8 lần. Lượng mưa gây lũ từ 970 mm – 1210 mm, đôi khi xuất hiện lũ quét làm
thiệt hại mùa màng, phá vỡ các công trình, kè cống, đập, hệ thống đường giao thông
bị sạt lở khá mạnh mẽ. [8]
1.3.
Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.3.1. Đặc điểm dân cư
Khu vực mỏ than Tô Pan nằm trong địa bàn dân cư tương đối đông đúc, tính
đến năm 2016 dân số là 3455 người, cách quốc lộ 6A khoảng 4 km. Đây là nơi
chung sống của cộng đồng các dân tộc Kinh, Thái chiếm nhiều nhất. Ngoài ra có
dân tộc ít người như người Xá, Mông ở vùng sâu, vùng xa. Dân cư sinh sống chủ
yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, khai thác lâm sản. Lực lượng công nhân viên
chức (chủ yếu giáo viên), cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm khoảng 5%.
Trình độ văn hóa tương đối khá. Văn hóa, giáo dục y tế đáp ứng cho cộng
đồng dân cư, ở vùng sâu vùng xa, giao thông khó khăn, đời sống vật chất, văn hóa
xã hội thấp, bệnh tật hoành hành. Song, nhờ có chính sách của Đảng, Nhà nước và
chính quyền các cấp đã kịp thời giúp đỡ, tài trợ. [8]
1.3.2. Đặc điểm kinh tế
Sản xuất nông nghiệp chiếm 60%, chăn nuôi chiếm 10%; dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp chiếm 30%. Đời sống nhân dân các dân tộc trong xã có bước phát triển
đáng kể, thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 22.500.000đồng/người/năm,
tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, tỷ lệ
13
hộ nghèo toàn xã còn 10,62%; hộ cận nghèo 5,73%; trong độ tuổi lao động 1.886
người. Tỷ lệ đạt danh hiệu văn hoá năm 2016, đạt 77,91% gia đình văn hóa, 100%
bản đạt danh hiệu văn hóa. Quốc phòng, an ninh luôn được củng cố và tăng cường,
an ninh chính trị luôn được giữ vững, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
sự điều hành của chính quyền, yên tâm tư tưởng tích cực lao động sản xuất, hoàn
thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
1.4.
Đặc điểm giao thông
Gồm có quốc lộ 6A và quốc lộ 13A. Quốc lộ 6A chạy qua Yên Châu 50km. Từ
mỏ ra QL6A khoảng 3 – 4km đường đất, mùa mưa hầu như không hoạt động được.
Từ khu mỏ có thể vận tải đường bộ lên khu công nghiệp Mai Sơn 30km; ra bến Tạ
Khoa 50km để xuôi sông Đà về Hòa Bình hoặc lên Sơn La, xuôi Mộc Châu 55km,
về Hà Nội 240km lên khu gang thép Thái Nguyên 320km. Ngoài hệ thống đường
giao thông QL6A, QL13A, Yên Châu còn có hệ thống đường giao thông miền núi
nối khu Mường Lựm, Ke Lay, Hang Mon với QL6A, nếu được nâng cấp sẽ tạo điều
kiện tốt cho công tác địa chất, khai thác các nguồn tài nguyên trong khu vực.
1.5.
Lịch sử nghiên cứu địa chất
Khu vực sông Đà giàu tiềm năng khoáng sản, đa dạng loại hình, phong phú về
chủng loại nguyên liệu khoáng. Trong đó than có tiềm năng lớn hơn các khoáng sản
khác. Các loại than bùn, than biến chất thấp, biến chất trung bình (BCTB) và biến
chất cao có diện phân bố dọc sông Đà đến Hòa Bình và Ninh Bình.
Than BCTB có tuổi Trias muộn (gồm than khí, mỡ, cốc và kết dính yếu) có trữ
lượng, tiềm năng, diện tích phân bố lớn hơn các loại than khác ở khu vực sông Đà.
Từ lâu, đã có nhiều nhà địa chất trong và ngoài nước đến nghiên cứu địa chất,
khoáng sản ở khu vực này. Do đó, khu Tô Pan vùng Yên Châu gắn liền với lịch sử
nghiên cứu địa chất vùng sông Đà. Tổng quát chia làm 2 giai đoạn chính:
1.5.1. Giai đoạn trước năm 1954
Giai đoạn trước năm 1954, các nhà địa chất Pháp tiến hành ở TBVN nói
chung, vùng sông Đà nói riêng tập trung vào một số lĩnh vực cổ sinh, địa tầng, kiến
tạo, đo vẽ BĐĐC sơ lược tìm kiếm thăm dò, đánh giá một số mỏ than khu vực Vạn
Yên và Nho Quan.
14
Từ việc phát hiện than, nghiên cứu các trầm tích chứa than khu vực sông Đà,
Chợ Bờ đến các vùng Vạn Yên và dọc sông Đà của các nhà địa chất Pháp như
Mausuy (1912 – 1914), Deprat (1915), Jacob (1919 – 1921) đến Dussaulit (1929),
Fromaget (1929 – 1937 – 1941),… đã xác định tuổi các trầm tích chứa than trong
khoảng Trias muộn đến Jura sớm, trên cơ sở đối sách các sưu tập hóa đá động vật
Chợ Bờ, Vạn Yên, Nho Quan và thực vật với phức tập Napeng Miến Điện và Hòn
Gai Việt Nam mạng các yếu tố “Nori-Reti”.
“Các thành tạo chứa than là một sản phẩm của địa mạng sông Đà sau pha uốn
nếp Indosini (Fromaget – 1941)”. Trục của địa mạng sông Đà phương Tây Bắc –
Đông Nam nằm giữa cánh nâng sông Mã (phía Tây Nam) và cánh nâng Fansipan
(phía Đông Bắc) kéo dài từ biên giới Việt – Trung đến bờ biên Ninh Bình.
Các thành tạo đá vôi (bao quanh hoặc lót dưới đáy các thành tạo chứa than
Nori-Reti) vùng hạ lưu sông Đà được Deprat (1915) xác định tuổi Anis (T2a).
Những tài liệu địa chất, khoáng sản đầu tiên có ở khu vực sông Đà do người
Pháp tiến hành từ 1954 để lại. Là tư liệu quý giá cho chúng ta tham khảo trong khi
nghiên cứu, đo vẽ BĐĐC tỷ lệ 1:500.000, BĐĐC tỷ lệ 1:200.000 và tìm kiếm thăm
dò các mỏ than cũ được phát hiện trước đây.
Hạn chế của nghiên cứu trước năm 1954 của các nhà địa chất Pháp: mức độ sơ
lược, khối lượng rất hạn chế, tài liệu sơ sài, công tác tìm kiếm thăm dò đánh giá mỏ
sơ lược được kết hợp với nghiên cứu địa chất nhằm định hướng cho các công ty
khai khoáng đầu tư vào Việt Nam.
1.5.2. Giai đoạn sau 1954
Giai đoạn sau 1954 là thành tựu nghiên cứu địa chất khoáng sản, tìm kiếm
thăm dò than được đẩy mạnh ở TBVN nói chung, vùng sông Đà nói riêng đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ.
Dovjicov (1965) trên BĐĐC tỷ lệ 1:500.000, đã xếp các trầm tích chứa than
vào hệ tần Suối Bàng tuổi Nori (T3n-r sb).Địa máng sông Đà (Fromaget, 1941) được
Dovjicov chia tách thành các đới kiến trúc Sơn La, sông Đà, Tú Lệ và Ninh Bình.
Các trầm tích chứa than vùng Yên Châu trong đó có Tô Pan nằm ở bờ phải sông Đà
thuộc các đới Sơn La và Sông Đà.
15
Nguyễn Xuân Bao (1969 – 1978) trên BĐĐC tỷ lệ 1:200.000 tờ Vạn Yên đã
xếp các trầm tích chứa than vùng Yên Châu có tuổi Nori-Reti vào hệ tầng Suối
Bàng (T3n-r sb). Các sưu tập hóa động vật, thực vật trong trầm tích chứa than được
Đặng Vũ Khúc và Nguyễn Chí Hưởng (1973 - 1980) xác định. Các ông đã khoanh
định chính xác các phân vị địa tầng chứa than Trias thượng, hệ tầng Suối Bàng và
phân thành hệ nhỏ hơn:
Phân hệ tầng dưới (T3n-r sb1) không chứa than
Phân hệ tầng trên (T3n-r sb2) chứa than, có triển vọng
Các công trình nghiên cứu cấu trúc kiến tạo khu vực sông Đà như Trần Văn
Trị (1973 - 1986) và những người khác đã gộp các đới kiến trúc của dovjicov
(1965) khu vực Sông Đà vào một đơn vị “võng Sông Đà” dạng hoạt hóa kiến tạo từ
Paleozoi muộn gọi là rifto Sông Đà (1986). Các vùng Yên Châu, Vạn Yên nằm vào
đới kiến trúc “rift” Sông Đà.
Các công trình nghiên cứu tổng hợp địa chất – khoáng sản than gồm có:
• Bản đồ địa chất khoáng sản than – Lê Văn Cự (1973) khu vực Sông Đà được xếp
chung vào hệ tầng Suối bang của Dovjicov (1965)
• Bản đồ địa chất khoáng sản than phần miền Bắc – Nguyễn Trí Vát (1979) đã nghiên
cứu độ chứa than, chất lượng than đánh giá tiềm năng than, phân vùng triển vọng
công nghiệp các trầm tích chứa than từ Paleozoi muộn đến Đệ Tứ vùng Yên Châu,
trầm tích chứa than Trias muộn – hệ tầng Suối Bàng (T3n sb) ít có triển vọng.
• Bùi Huy Chương (1985), nghiên cứu độ chứa than BCTB và phương hướng tìm
kiếm thăm dò than mỡ tây bắc Việt Nam. Tính toán tiềm năng BCTB và trữ lượng
đã tìm kiếm thăm dò vùng Yên Châu:
Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo (TNDB) = 1.525.560 tấn
Trong đó: Trữ lượng cấp 122 = 155.000 tấn
TNDB cấp 333 = 1.370.560 tấn
Xếp nhãn hiệu than khí – mỡ, vùng có trữ lượng nhỏ.
• Công trình nghiên cứu “Tổng hợp đánh giá tiềm năng than BCTB các vùng TBVN.
Tìm kiếm phát hiện và chi tiết hóa một số diện tích có triển vọng” (giới hạn các
16
vùng ở bờ phải sông Đà) do tác giả Nguyễn Đạt Khanh và những người khác (1995)
đã nêu kết luận về triển vọng than ở vùng Yên Châu như sau:
-
Các trầm tích hệ tầng Suối Bàng ở vùng Yên Châu có thể phân thành hai phân hệ
tầng:
+ Phân hệ tầng dưới (T3n- r sb1) nghèo than, nếu có thì triển vọng than không
đáng kể.
+ Phân hệ tầng trên (T3n- r sb2) chứa từ 1 đến 8 vỉa than. Có triển vọng công
nghiệp từ 1 đến 4 vỉa.
-
Bồn trũng chứa than Yên Châu, chịu ảnh hưởng của hệ thống đứt gãy Tây Bắc –
Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam chia cắt thành các khối kiên trúc nhỏ chứa than
và mỗi khối tương ứng với khu mỏ hiện tại:
+ Khối Đông Nam bồn trũng Yên Châu (Mường Lựm, Ke Lay và Buôn An)
+ Khối trung tân bồn trũng Yên Châu (Phuphaton)
+ Khối Tây Bắc bồn trũng Yên Châu (PhuPhahai, Phuphaca), gồm các khu
Chiềng Đông, Tô Pan, Bản Phô và Bản Phát
Năm 1977-1999, Liên đoàn địa chất Tây Bắc tiến hành đánh giá triển vọng
than mỡ khu Tô Pan đã giải quyết những vấn đề sau:
-
Xác định đặc điểm cấu trúc địa chất khu Tô Pan
-
Đánh giá trữ lượng than mỡ khu Tô Pan đạt cấp 122 = 155.000 tấn.
-
Khoanh chọn diện tích có triển vọng để khai thác.
17
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
2.1. Đặc điểm địa chất vùng
2.1.1. Địa tầng
Tham gia vào các cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu là các thành tạo Mesozoi
và Kainozoi. Các thành tạo cổ hơn có thể ở rất sâu hoặc chỉ lộ ra ven rìa các vùng
lân cận nên không đề cập đến. Thứ tự các phân vị địa tầng khu vực như sau:
Giới Pleozoi
Hệ tầng Nậm Sập (D1-2ns)
Hệ tầng do Đovjikov A.E. và nnk., 1965 (Trias giữa-muộn) xác lập. Hệ tầng
phân bố dọc sông Đà, đoạn từ Ghềnh Mon đến cửa suối Nậm Khoa. Hệ tầng gồm
phần thấp chủ yếu đá cát kết, cát kết dạng quarzit xen đá phiến philit, phần trên chủ
yếu có đá phiến muscovit, đá phiến chlorit xen ít lớp cát kết phân lớp mỏng. Có
nhiều thể pegmatit và gabro-diabas xuyên cắt hoặc xuyên theo các lớp đá trầm tích
gây hiện tượng biến chất đá vây quanh đến tướng anbit-epidot và sừng pyrocen,
chứa các hoá thạch: Howellella cf. crispa, Dicoelostrophia sp., Atrypa sp.,
Modilopsis cf. yunnanensis, Hexacrinites (?) trangxaensis, Hexacrinites sp.,
Fenestella sp., tuổi Đevon sớm (Tống Duy Thanh và nnk., 1994). Hệ tầng dày
1750m.
Quan hệ dưới của hệ tầng chưa rõ, phía trên hệ tầng nằm chỉnh hợp dưới trầm
tích tạm xếp vào hệ tầng Bản Cải tuổi Đevon muộn. Với quan hệ địa tầng và tập
hợp hoá thạch như mô tả, hệ tầng được tạm xếp vào tuổi Đevon sớm - giữa.
Giới Pleozoi
Hệ tầng Bản Cải (D3bc)
Hệ tầng do Nguyễn Xuân Bao và nnk., 1969, (Givet) xác lập trên cơ sở mặt
cắt theo ngọn sông Mua cắt qua Bản Cải.
Thuộc phạm vi tỉnh Sơn La hệ tầng phân bố thành những dải hẹp ở vùng
thượng nguồn sông Mua và vùng Bản Khoa. Mặt cắt tiêu biểu theo ngọn Sông Mua
cắt qua Bản Cải. Hệ tầng gồm phần thấp có đá phiến sét, phiến silic xen các lớp
mỏng đá vôi, phần trên chủ yếu đá vôi, đá vôi sét cấu tạo dạng sọc dải phân lớp vừa
18
đến dày xen ít lớp đá phiến silic, chứa mangan và các hoá thạch: Palmatolepis
delicatula, P. marginifera,P. glabra pectinata, P. quadratinodosalotaba, P. cf.
regularis, P. gigas, P. triangularis, Eogeinitzina sp. (aff. rara), Eonodosaria cf.
evlanensis, Nanicella cf. uranica, Tikhinella. Hệ tầng dày 350-900m.
Hệ tầng có quan hệ chỉnh hợp trên hệ tầng Bản Páp tuổi Đevon sớm- giữa và
chỉnh hợp dưới hệ tầng Đa Niêng tuổi Carbon sớm, chứa hoá thạch Conodonta như
mô tả ở trên, nên hệ tầng được xếp tuổi Đevon muộn.
Ở vùng Tạ Khoa, các đá tương tự trên song chưa phát hiện được hóa thạch và
nằm chỉnh hợp với hệ tầng Nậm Sập, cũng được tạm xếp vào hệ tầng Bản Cải.
Khoáng sản liên quan có: Niken, đồng (coban).
Giới Pleozoi
Hệ tầng Đa Niêng (C1đn)
Nguyễn Xuân Bao và nnk., 1969, (Givet - Frasni).
Tống Duy Thanh, Đoàn Nhật Trưởng, 1995 (Carbon hạ).
Theo mặt cắt thượng nguồn sông Mua và được coi là mặt cắt phụ chuẩn của hệ
tầng (hypostratotyp) thuộc đới Fansipan.
Hệ tầng có diện lộ nhỏ, với thành phần chủ yếu là đá vôi màu xám đen phân
lớp trung bình đến dày xen ít lớp kẹp silic mỏng, dày 110m. Chúng được chuyển
tiếp liên tục từ hệ tầng Bản Cải (D 3bc). Quan hệ trên chưa quan sát trực tiếp, song
thường nằm dưới tầng đá vôi hệ tầng Bắc Sơn (C- P bs).
Phần
thấp
hệ
suleimalovi.,Septabrunsina
tầng
kinigirica,
chứa
Foraminifera:
Chernyshinella
Parathurammina
tumulosa.,...
Conodonta:
Pseudopolygnathussp.,Siphonodella sp.,... tuổi Turne sớm - giữa.
Phần cao hệ tầng chứa Foraminifera: Spinoendothyra ucrrainica.,S.umberculata...;
Conodonta: Siphonodella cooperi ., Scaliognathus amchoralis, tuổi Turne muộn.
Hệ tầng là mức địa tầng cao nhất của chu kỳ trầm tích Đevon, tương ứng với
hệ tầng Lũng Nậm (C1ln) ở Đông Bắc.
Đáng chú ý, ở rìa nếp lồi Tạ Khoa đới Sông Đà có mặt tầng đá vôi màu đen
chứa ít Trùng lỗ: Tetrataxis cf. torosus, Brunsia signoides., Endothyra sp.,... tuổi
19
Turne - Vize (Đoàn Nhật Trưởng, 1994). Do đó, các đá vôi này cũng được xếp vào hệ tầng
Đa Niêng.
Giới Pleozoi
Hệ tầng Yên Duyệt (P3yd)
H tầng do Phan Cự Tiến và nnk., 1977 xác lập.
Hệ tầng đặc trưng bởi các trầm tích biển gần bờ, gồm đá vôi, đá vôi silic, đá
phiến sét và sét vôi, có hoá thạch đa dạng phong phú: Foraminifera, Trilobita,
Rugosa, Brachiopođa, Crinoidea... Chúng phân bố thành dải hẹp lượn khớp đều
quanh diện phân bố các đá phun trào mafic Cẩm Thuỷ. Ngoài ra, các vết lộ lục
nguyên ở thượng nguồn Nậm Hẹ, sát biên giới Việt-Lào, có Phillipsidae, Leptodus
richthofeni tuổi Permi muộn cũng được xếp vào hệ tầng Yên Duyệt.
Mặt cắt đặc trưng lộ dọc đường ô tô qua đèo Sơn La:
- Tập 1: đá phiến sét, sét vôi cát bột kết thấu kính sialit sắt, dầy 50m. Chúng
nằm chuyển tiếp trên các lớp tuf bazan phong hóa mầu đỏ hệ tầng Cẩm Thủy.
- Tập 2: đá vôi silic mầu xám xen kẹp các lớp phiến silic chứa: Colaniella
parva, Palaeofusulina prisca, Codonofusiella asiatica, Nankinella inflata,
Pachyphloia sp., Reichelina sp., dày 30 m.
- Tập 3: đá phiến sét mầu xám , đá phiến silic xen kẽ và thấu kính đá
vôi,
chứa Pseudomonoti sp., Pseudophillípia sp., Chonetes sp., Productacea,
Marginifera sp., dày 80 m .
- Tập 4: đá vôi, đá vôi silic mầu xám đen có Colaniella parva, Nankinella
exgr inflata, Codonofusiella sp., Frondicularia sp., Geinitzina sp., Reichelina sp.,
dày 35 m.
Bề dày chung của hệ tầng ở vùng này đạt 200 m.
Các lớp đá vôi tập 4 nằm ở mút cấu tạo uốn cong với góc dốc lớn; kề sát
chứa đá vôi về phía đông bắc là cát bột kết chứa vôi mầu vàng nhạt dầy hơn 10m có
Claraia, tiếp đến là đá phiếnsét chứa Claraia stachei thuộc hệ tầng Cò Nòi (T1cn).
Do đó hệ tầng Yên Duyệt ở đây được xếp vào Permi muộn.
Giới Mesozoi
Hệ tầng Cò Nòi (T1cn)
20
Hệ tầng do Đovjikov A.E. và nnk., 1965 xác lập ở mặt cắt bản Cò Nòi.
Trong phạm vi tỉnh Sơn La hệ tầng phân bố ở đới Nậm Cô thành dải nhỏ ở
ven rìa dải đá vôi hệ tầng Đồng Giao. Mặt cắt hệ tầng theo đường quốc lộ 13A,
đoạn gần bản Cò Nòi, gồm 6 tập sau:
- Tập 1: đá phiến sét, bột kết xen cát kết màu vàng, phân lớp mỏng, có chỗ
phân dải thanh, chứa Pteria sp., Lingula tenuisima., dày 30 m.
- Tập 2: bột kết, đá phiến sét xen cát kết màu vàng, nâu đỏ xen thấu kính đá
vôi, dày 0,5-1m, chứa Pteria sp., Entolium discites., Eumorphotis cf.
inaequicostata,...dày 30 m.
- Tập 3: cát kết chuyển lên bột kết xen cát kết phân lớp song song hoặc xiên,
dày 100m.
- Tập 4: bột kết màu đỏ xen ít cát kết màu xám vàng, dày 15 m.
- Tập 5: đá phiến sét xen bột kết màu xám nhạt xen bột kết và ít cát kết, chứa
Eumorphotis sp., dày 35 m.
- Tập 6: đá phiến sét vôi, vôi sét xen bột kết, đá phiến sét, trên mặt lớp sét vôi
thường có cấu tạo vón cục dài dạng giun, dày 100 m, chứa Eumorphotis reticulata.,
E. inaequicostata,... tuổi Olenec. Tập này chuyển tiếp liên tục lên đá vôi Anizi hệ
tầng Đồng Giao tại ngay bản Cò Nòi.
Bề dày hệ tầng 310 m.
Ở vùng thị xã Sơn La, theo mặt cắt Nà Có, phần thấp của hệ tầng còn có mặt
các hoá thạch: Claraia aurita, C. stachei.,...tuổi Indi. Do đó hệ tầng Cò Nòi xếp vào
Trias sớm (T1cn).
Giới Mesozoi
Hệ tầng Viên Nam (T1vn)
Hệ tầng do Phan Cự Tiến và nnk., 1977 xác lập trên cơ sở nghiên cứu mặt cắt
chuẩn từ núi Viên Nam đến làng Cổ Đông thuộc tờ Hà Nội. Trên diện tích tỉnh Sơn
La hệ tầng Viên Nam có diện phân bố rộng rãi dọc lưu vực sông Đà thành dải kéo
dài phương tây bắc - đông nam, diện lộ ít hơn ở vùng núi Ông, thành dải phương á
kinh tuyến.
21
Mặt cắt được nghiên cứu khá tốt dọc Suối Trát sang đến cửa Suối Sập và dọc
đường lâm nghiệp từ Phù Yên vào xã Mường Lang, gồm:
Phần thấp là bazan porphyrit, bazan aphyr, bazan cao magne, chuyển dần lên
trên có diabas porphyrit, tufobazan, andesitobazan, trachytobazan, andesito-daxit,
tufo daxit, tufo trachyt, trachyt porphyr, ryotrachyt ryolit, cát kết tuf, bột kết tuf.
Dày 900-1000 m.
Hệ tầng Viên Nam phủ không chỉnh hợp trên đá vôi Paleozoi thượng. Ở
Ninh Sơn (tờ Hà Nội), hệ tầng phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Yên Duyệt chứa
hoá thạch thực vật tuổi Permi muộn, nhiều nơi các đá của hệ tầng có thế nằm
chỉnh hợp dưới hệ tầng Tân Lạc, tuổi Olenec. Do vậy, hệ tầng được xếp tuổi
Trias sớm.
Giới Mesozoi
Hệ tầng Pác Ma (T3cpm).
Mansuy H., 1912. Calcaire rouge de Pacma.
Vũ Khúc và nnk., 1965, Carni.
Trong tờ bản đồ, dải đá vôi ở bản Phố ở đông bắc Yên Châu, các đá vôi này
được Nguyễn Xuân Bao, 1969 xếp vào phần thấp điệp Suối Bàng (T3n-rsb).
Theo mặt cắt từ Bản Ngùa đi Bản Phố, gồm 3 tập:
- Tập 1: đá vôi màu xám, dày 200 m, chứa Halobia disperscinsectal, H.
pacmaensis.
- Tập 2: đá vôi màu hồng phân lớp trung bình, dày 150 m chứa Tay cuộn:
Mentrelia sp., San hô: Aulacothyropsis inflata, Koninekima sp., Wellmellidae,... tảo,
thực vật biển.
- Tập 3: đá phiến sét vôi màu xám, dày 50 m chứa Cúc đá: Tornquisstites sp.,
Các đá vôi này, tương tự như đá vôi đỏ Pac Ma (Vũ Khúc, 1965) chứa hoá
thạch chủ yếu Carni.
Hệ tầng có quan hệ kiến tạo với các đá vôi xám sáng hệ tầng Đồng Giao chứa
Placunopsis cf. plama tuổi Anizi và phía trên bị tầng chứa than hệ tầng Suối Bàng
phủ trên.
22
Giới Mesozoi
Hệ tầng Đồng Giao T2ađg
Hệ tầng Đồng Giao gồm các khối núi đá vôi phân bố thành dải hẹp bao quanh
khu Bản Phô về phía Bắc và kề sát với khu Tô Pan ở phía Nam – Tây Nam. Hệ tầng
Đồng Giao chia làm 2 phân hệ:
Phân hệ tầng dưới T2ađg1: Phân hệ tầng dưới có diện tích phân bố thành những
dải hẹp ở phía Bắc – Tây Bắc đến Đông Nam vùng nghiên cứu. Thành phần gồm đá
vôi màu xám đen, đá vôi sét, đá vôi dăm, đôi khi kẹp đá vôi silic. Cấu tạo phân lớp
mỏng đến dày hoặc dạng khối. Thế nằm của phân hệ tầng dưới cắm về Nam – Tây
Nam, Bắc – Đông Bắc tạo thành nếp lõm với góc dốc các cánh từ 45 0 – 600 dọc theo
đứt gãy các đá bị biến đổi góc dốc 750 – 800. Chiều dày 350 – 750 m.
Phân hệ tầng trên T2ađg2: Thành phần trầm tích của phân hệ tầng trên bao gồm
đá vôi phân lớp dày, đá vôi dạng khối màu xám sáng, xám trắng, trắng phớt hồng
xen kẹp các tập đá vôi silic hạt mịn. Trong đá vôi còn xen kẹp đá vôi sét, đá vôi
dạng dăm, đá vôi cát sắc xám phớt hồng. Diện phân bố của hệ tầng trên thành dải
bao quanh các trầm tích hệ tầng Suối bang từ bản Phô đến bắc Tô Pan. Ranh giới
phân hệ tầng trên có quan hệ chuyển tiếp với phân hệ tầng dưới nó, có tiếp xúc kiến
tạo đứt gãy với hệ tầng Suối Bàng. Do đó thế nằm các đá khó xác định, các đá bị
biến vị khá mạnh mẽ. Chiều dày 800 – 1000 m.
Giới Mesozoi
Hệ tầng Suối Bàng T3n-r sb
Hệ tầng Suối Bàng phân bố thành 2 dải hẹp phương Tây Bắc – Đông Nam kéo
dài từ Chiềng Đông đến suối Nậm Sập.
Dải thứ nhất – Trũng Bản Phô (phía Bắc – Đông Bắc khu vực nghiên cứu)
chiều dài 9km, rộng 1,5 – 2km.
Dải thứ hai – Trũng Tô Pan (phía Nam – Tây Nam khu vực nghiên cứu) chiều
dài từ 6 – 8 km, rộng từ 0,8 – 1,5 km. Hệ tầng Suối Bàng chia thành hai phân hệ:
-
Phân hệ tầng dưới T3n-r sb1
Phân hệ tầng dưới đặc trưng bằng những thành tạo lục nguyên hạt mịn xen ít
carbonat lộ chủ yếu ở 2 cánh của trũng Bản Phô và một dải hẹp ở cánh đông bắc của
23
trũng Tô Pan. Mặt cắt quan sát từ Tô Pan đi Bản Phô đến suối Huổi Cao theo thứ tự
từ dưới lên. Dưới cùng, cát kết hạt nhỏ, bột kết chứa vôi màu xám vàng, phân lớp
mỏng, tiếp đến là đá phiến sét, bột kết, cát kết chứa 25% - 30% carbonat xen nhau
dạng nhịp. Chuyển tiếp lên là cát kết hạt mịn đến hạt thô, phân lớp mỏng đến trung
bình, chiều dày cát kết từ 5 – 10 m. Các thấu kính đá vôi phân lớp mỏng xám phớt
hồng sặc sỡ xen kẹp trong bột kết, đá vôi cát. Chiều dày 380 – 400 m.
-
Phân hệ tầng trên T3n-r sb2
Phân hệ tầng trên gồm có cuội kết, sạn kết thạch anh, hoặc cát kết nhiều
khoáng hạt nhỏ đến thô, phân lớp trung bình đến lớp dày, bột kết, sét kết, thấu kính
đá vôi phân lớp mỏng, đá vôi dạng cát mà xám vàng, chứa than dạng vỉa, dạng thấu
kính. Đặc điểm trầm tích của phân hệ tầng trên như sau:
+ Phần dưới: có cuội kết, sạn kết, cát kết thạch anh, cát kết chứa vôi, bột kết,
sét kết chứa thấu kính than dày.
+ Phần giữa: sạn kết, cát kết, bột kết ít sét kết chủ yếu cát kết hạt trung bình
đến thô xen bột kết phân lớp mỏng đến lớp dày, góc dốc từ 35 0 – 500, nhiều chỗ 500
– 600, gần đứt gãy có độ dốc tăng lên 650 – 700, đá bị ép nén, vỡ vụn dạng dăm,
không chứa than.
+ Phần trên: sạn kết, cát kết, bột kết, đá phiến sét, các lớp than mỏng từ 0,05 –
0,15m, trên cùng là cát kết hạt trung bình đến thô phân lớp dày.
Quan hệ phía trên của phân hệ tậng bị các thành tạo trẻ hơn phủ không chỉnh
hợp trên nó. Chiều dày từ: 225 – 450 m.
Các thành tạo phủ trên hệ tầng Suối Bàng
Trong diện tích nghiên cứu địa chất khu vực các thành tạo phủ trực tiếp trên hệ
tầng Suối Bàng bao gồm: Hệ tầng Yên Châu và các trầm tích Đệ Tứ.
Giới Mesozoi
Hệ tầng Yên Châu K2 yc
Các thành tạo vụn thô màu đỏ, hệ tầng Yên Châu phân bố khá rộng, dọc thung
lung QL6A từ đèo Chiềng Đông qua thị trấn Yên Châu đến đèo Mộc Châu.
Hệ tầng Yên Châu được chia làm 2 phân hệ:
24
• Phân hệ dưới K2yc1
Các thành tạo vụn thô phân hệ tầng dưới phủ không chỉnh hợp trên các thành
tạo có tuổi trước nó, thành phần gồm: cuội kết, sạn kết đa dạng về thành phần. Chủ
yếu là cuội đá vôi, cát kết vôi, silic, quazt, đá phun trào, độ gắn kết rắn chắc, phân
lớp xiên theo hướng dòng chảy: từ xiên thoải đến dốc. Quan sát các mặt cát Tô Pan,
Bản Mây, Bản Phát: phân hệ tầng dưới tiếp xúc với hệ tầng Suối Bàng, dọc theo đứt
gãy FB đá bị ép, cà nát, vỡ vụn mạnh, hướng cắm chung về đông bắc góc dốc từ 55 0
– 600 tăng lên 750 – 850. Chiều dày từ 150 – 250 m.
• Phân hệ tầng trên K2yc2
Phân hệ tầng trên chuyển tiếp từ phân vị dưới lên, thành phần trầm tích gồm
cát kết, bột kết, sét kết, phân lớp dày từ 40 đến 80 cm. Đá cấu tạo phân lớp xiên
thoải đến phân lớp ngang, trong chúng xen kẹp một vài lớp cuội kết, sạn kết mỏng
kích thước cuội không quá chênh lệch nhau. Chuyển lên phần trên mặt cắt là bột –
sét kết, sét – bột kết, cát – bột kết hạt mịn, có biểu hiện thạch cao, nước muối.
Quan hệ phía trên của phân hệ tầng với trầm tích Đệ Tứ là không chỉnh
hợp.Chiều dày từ 70 – 400m.
Giới Kainozoi
Hệ Đệ tứ (không phân chia)
Các thành tạo Đệ tứ bao gồm các trầm tích bở rời: Tảng, cuội, sỏi, sạn, cát,
bột, sét, đất thổ nhưỡng phủ không chỉnh hợp trên các thành tạo có tuổi trước nó.
Ngoài ra, có lớp travectin phủ lên hệ tầng Suối Bàng.Chiều dày từ 1 – 4 đến 5 –
10m.
2.1.2. Các thành tạo magma xâm nhập
Vùng Yên Châu nói chung và khu vực Bản Phô nói riêng nằm xa khối xâm
nhập, nên chưa quan sát được diện phân bố và đặc điểm của chúng.
2.1.3. Cấu trúc kiến tạo
a. Vị trí kiến tạo vùng nghiên cứu
Các bồn trũng Bản Phô,Tô Pan, Chiềng Đông và Bản Phát có cấu trúc kiểu
địa hào dạng tuyến hẹp dọc theo hệ đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam, là bộ
phận của đới kiến trúc “rifto Sông Đà”.
25