TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN ĐỨC QUYẾT
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẮC GIANG
ĐOẠN CHẢY QUA HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018
HÀ NỘI, THÁNG 3 NĂM 8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN ĐỨC QUYẾT
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẮC GIANG
ĐOẠN CHẢY QUA HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018
Ngành: Công nghệ kỹ thuật môi trường
Mã ngành: D850101
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Trịnh Thị Thủy
HÀ NỘI, THÁNG 3 NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan toàn bộ kết quả nghiên cứu dựa trên những đóng góp riêng
về dữ liệu thực tế, trung thực và không hề có bất cứ sự sao chép nào. Những kết quả
nghiên cứu kế thừa các công trình khoa học khác đều được trích dẫn theo quy định.
Nếu có bất cứ dấu hiệu nào thiếu trung thực. Em xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, ngày ..... tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện.
Nguyễn Đức Quyết
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô
trong Khoa Môi trường, các thầy cô quản lý phòng thí nghiệm - Trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để em được học tập, nghiên
cứu trong suốt 04 năm học.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS. Trịnh Thị Thủy - Giảng viên
Khoa Môi trường - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình
giúp đỡ, động viên, chia sẻ, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt
nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn và tri ân sâu sắc đến TS. Lưu Thế AnhTrưởng phòng phân tích thí nghiệm tổng hợp Viện Địa lý - Viện Hàn Lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, TS. Dương Thị Lịm, Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Hương,
Thạc sĩ Nguyễn Thị Huế, Thạc sĩ Nguyễn Hoài Thư Hương, Thạc sĩ Đặng Trần
Quân và các cán bộ phòng phân tích thí nghiệm tổng hợp Viện Địa Lý đã chỉ bảo
và hướng dẫn em tận tình, cho em nhiều kiến thức và kỹ năng thực hành, đã tạo
điều kiện cho em có thể tiến hành đề tài đồ án tốt nghiệp một cách thuận lợi ở
phòng thí nghiệm.
Mặc dù trong quá trình làm và hoàn thành đồ án em đã cố gắng hết sức. Tuy
nhiên, do còn hạn chế về kiến thức cũng như thời gian và các vấn đề nghiên cứu
rộng và phức tạp, em vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của quý Thầy cô và các bạn để đồ án của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày ..... tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức QuyếtMỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
Kí hiệu viết tắt
BOD
COD
DO
TCVN
QCVN
WQI
AOAC
Giải nghĩa
Nhu cầu oxy sinh học
Nhu cầu oxy hóa học
Oxy hòa tan
Tiêu chuẩn Việt Nam
Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia Việt Nam
Chỉ số chất lượng nước mặt
Hiệp hội các nhà hóa phân tích chính thức
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2. 1: Vị trí lấy mẫu
Bảng 2. 2: Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Bảng 2. 3. Các bước xây dựng đường chuẩn NO2Bảng 2. 4 Các bước tiến hành xây dựng đường chuẩn xác định PO43Bảng 2. 5. Các bước tiến hành xây dựng đường chuẩn xác định tổng Fe
Bảng 2. 6. Các bước tiến hành xây dựng đường chuẩn xác định NO3Bảng 2. 7. Các bước tiến hành xây dựng đường chuẩn xác định NH4+
Bảng 2.8. Bảng quy định các giá trị qi, BPi
Bảng 2. 9 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa
Bảng 2.10. Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH
Bảng 2. 11 Bảng đánh giá chất lượng nước
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2. 1 sơ đồ vị trí lấy mẫu
`
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nước là một loại tài nguyên quý giá. Không có nước thì không có sự sống trên
hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh,
kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản…
Ngày nay, việc bảo vệ nguồn nước, đa dạng sinh học và sử dụng hợp lí các
nguồn tài nguyên thiên nhiên này đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, đặc biệt sự
ô nhiễm các nguồn nước (nhất là nguồn nước ngọt) đang trở nên ngày càng trầm
trọng, đe dọa cuộc sống của loài người và gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất, đời
sống của con người.
Bắt nguồn từ vùng núi có độ cao 1.200m thuộc xã Thượng Quan (huyện Ngân
Sơn), chảy theo hướng Bắc - Nam rồi chuyển sang hướng Tây - Đông qua thị trấn
Yến Lạc, đổ vào hệ thống sông Kỳ Cùng, tỉnh Lạng Sơn ở phía Bắc huyện Na Rì.
Đoạn chảy qua huyện dài 28,6km trên địa bàn các xã Lương Thượng, Lạng San,
Lương Thành, Lam Sơn, thị trấn Yến Lạc và xã Kim Lư. Chiều rộng lòng sông
trung bình 40 - 60m, độ chênh cao giữa sông và mặt ruộng khoảng 4 - 5m. Lưu
lượng dòng chảy bình quân năm đạt 24,2 m 3/s, vào mùa lũ lưu lượng có thể lên tới
2.100 m3/s (năm 1979, 1986). Ngoài ra, thượng nguồn sông Bắc Giang còn có một
số nhánh suối chính như suối Khuổi Súng, suối Tả Pìn, suối Khuổi Khe là nguồn
sinh thuỷ dồi dào cung cấp lượng dòng chảy đáng kể cho sông chính và diện tích lưu
vực: 2.670 km².
Bắc Kạn có mạng lưới sông ngòi dày đặc, chảy ra nhiều hướng xung quanh.
Trong các con sông ở Bắc Kạn, sông Bắc Giang bị ô nhiễm nặng nhất do các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, khai thác khoáng sản, sinh hoạt của con người. Với
khoảng 04 điểm khai thác chì, kẽm, vàng và đá. Do chưa được quản lý tốt, đa phần
các mỏ khai thác đều không có hệ thống xử lý nước thải, nên nước thải trong và sau
khi khai thác, tuyển quặng được xả thẳng vào các sông suối làm cho nguồn nước ở
các vùng khai thác bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bờ sông bị xói lở, nước luôn đục ngầu,
các loại máy móc, hóa chất ngày đêm gặm nhấm dòng sông Bắc Giang.
9
`
Trước hiện trạng sông Bắc Giang đang có biểu hiện bị ô nhiễm do nguồn thải
từ các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội trong khu vực xung quanh gây nên. Với
vai trò ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế-xã hội của huyện Na Rì, việc bảo vệ
tổng thể môi trường sông Bắc Giang nói chung và bảo vệ môi trường nước huyện
Na Rì nói riêng là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, em thực hiện đề tài
“Đánh chất lượng nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì trong 6
tháng đầu năm 2018” để tổng quan đưa ra sự đánh giá chất lượng môi trường sông
Bắc Giang trong 6 tháng đầu năm 2018, tìm hiểu các nguyên nhân gây ô nhiễm
nguồn nước sông Bắc Giang, các tác động xấu của nước sông Bắc Giang đến cảnh
quan môi trường, sức khỏe người dân cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì, tỉnh
Bắc Kạn trong 6 tháng đầu năm 2018.
- Luận giải nguyên nhân ô nhiễm nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trong 6 tháng đầu năm 2018.
3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu thu tập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực
nghiên cứu.
- Tìm hiểu, thu thập số liệu quan trắc nước số liệu quan trắc các chỉ tiêu chất
lượng nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn các năm
trước
- Thực hiện quan trắc chất lượng nước sông Bắc Giang trong thời gian nghiên
cứu
+ Vị trí lấy mẫu 10 vị trí.
+ Thông số: đo nhanh (pH, độ đục, DO, nhiệt độ…); phân tích trong phòng
thí nghiệm (TSS, BOD5, NO3-,NO2- NH4+, PO43-; COD, Tổng Colifom, Cl-, tổng Fe
, Chì (Pb), Đồng (Cu), Crom tổng, Kẽm (Zn), Cadimi (Cd).
- Thực hiện phân tích trong PTN.
- Xử lý số liệu và tính toán WQI.
- Đánh giá độ tin cậy của phương pháp phân tích thông qua độ lặp
10
`
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.Tổng quan về sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì
- Bắt nguồn từ vùng núi có độ cao 1200m thuộc xã Thượng Quan (huyện
Ngân Sơn), chảy theo hướng Bắc - Nam rồi chuyển sang hướng Tây - Đông qua thị
trấn Yến Lạc, đổ vào hệ thống sông Kỳ Cùng, tỉnh Lạng Sơn ở phía Bắc huyện Na
Rì. Đoạn chảy qua huyện dài 28,6km trên địa bàn các xã Lương Thượng, Lạng San,
Lương Thành, Lam Sơn, thị trấn Yến Lạc và xã Kim Lư. Chiều rộng lòng sông
trung bình 40 - 60m, độ chênh cao giữa sông và mặt ruộng khoảng 4 - 5m. Lưu
lượng dòng chảy bình quân năm đạt 24,2 m 3/s, vào mùa lũ lưu lượng có thể lên tới
2100 m3/s (năm 1979, 1986). Ngoài ra, thượng nguồn sông Bắc Giang còn có một
số nhánh suối chính như suối Khuổi Súng, suối Tả Pìn, suối Khuổi Khe là nguồn
sinh thuỷ dồi dào cung cấp lượng dòng chảy đáng kể cho sông chính và diện tích lưu
vực: 2.670 km².
- Lòng sông có chiều rộng trung bình từ 40 - 60 m, lưu lượng dòng chảy bình quân
năm 24,2 m3/s. Ở thượng nguồn sông Bắc Giang còn có một số nhánh suối như
suối Pai Dòng, suối Ngân Sơn, suối Bản Riềng, suối Nậm Chảy, suối Nà Dường,…
Trong địa phận Bắc Kạn, sông Bắc Giang không thuận lợi cho việc giao thông bởi
nước chảy xiết vào mùa lũ và lòng sông rất cạn vào mùa đông.
1.2Tổng quan về huyện Na Rì đoạn sông Bắc Giang chảy qua
a) Vị trí địa lý:
Na rì là huyện miền núi ở Bắc Kạn, diện tích 864,5km2, chiếm khoảng 17,54%
diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, nơi tập trung nhiều mỏ khai thác khoáng sản.
- Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn.
- Phía Nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn).
- Phía Tây giáp huyện Bạch Thông.
Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng
hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn. Độ cao trung bình toàn huyện là 500m,
cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở xã Kim Lư
11
`
với độ cao 250m so với mực nước biển. Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng
thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc.
Hệ thống đường giao thông đối ngoại của Na Rì gắn liền với các trục đường
bộ quan trọng của khu vực vùng núi phía Bắc, đặc biệt là các trục này nối các tỉnh
biên giới phía Bắc nước ta với Đồng bằng sông Hồng. Tỉnh lộ 279 từ phía Bắc tỉnh
Tuyên Quang qua Ngân Sơn, Na Rì và đi Bình Giá- Lạng sơn. Đây là điều kiện
thuận lợi liên kết kinh tế Na Rì với các địa bàn phát triển khác, giúp huyện khai thác
những thế mạnh của huyện, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi rừng, du
lịch và các cơ hội phát triển từ bên ngoài.
b) Điều kiện kinh tế -xã hội:
Điều kiện kinh tế:
Cơ cấu kinh tế hiện nay của Na Rì là nông- lâm nghiệp- dịch vụ- công nghiệp.
Trong đó, khu vực phi nông nghiệp (gồm công nghiệp – xây dựng và dịch vụ)
chiếm trên 35,1% giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Vai trò của khu vực dịch
vụ ở địa bàn được trợ cấp thông qua ngân sách và các chương trình nhà nước (y tế,
giáo dục, xóa đói giảm nghèo,...) khác với dịch vụ các khu vực phát triển phục vụ
cho sản xuất kinh doanh là chủ yếu ( vận tải, thương mại, ..). Do đó, tỷ trọng các
khu vực dịch vụ khá cao và đã tăng từ 18,7% (năm 2011) lên 23,2% (năm 2015).
Các ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp chủ đạo của huyện hiện nay là khai
thác và chế biến nông-lâm sản.
Bảng 1. 1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các khu vực trong kinh tế Na Rì theo giá trị
sản xuất
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
Về giá trị SX
100%
100%
100%
100%
100%
1. Công nghiệp
3,6%
4,3%
4,6%
4,4%
5,3%
12
`
-
2. Xây dựng
15,6%
18,4%
14,2%
16,1%
10,9%
3. Nông – lâm- ngư nghiệp
60,2%
56,7%
58,1%
57,4%
58,9%
4. Dịch vụ
20,5%
20,6%
23,1%
22,1%
24,8%
Về GDP
100%
100%
100%
100%
100%
1. Công nghiệp
12,8%
15,8%
12,9%
14,6%
11,8%
2. Nông – Lâm – ngư nghiệp
68,5%
65,6%
65,9%
64,6%
64,9%
3. Dịch vụ
18,7%
18,6%
21,2%
20,8%
23,2%
Về lĩnh vực lâm nghiệp: Ngoài ra, với lợi thế về địa hình, huyện Na Rì còn đẩy
mạnh công tác trồng rừng. Nhận thấy rõ lợi ích khi tham gia trồng rừng, những năm
qua nhiều hộ dân đã tích cực tham trồng, nhận khoán chăm sóc và bảo vệ rừng.
Ngoài ra, các hộ dân còn tự bỏ vốn để đầu tư trồng rừng.. Hiệu quả kinh tế từ rừng
mang lại trong những năm qua đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế của
địa phương. Việc khai thác tỉa thưa rừng của bà con cũng được sự hướng dẫn và
quản lý của cơ quan chuyên môn và chính quyền xã. Việc triển khai công tác trồng
rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm, tổng diện tích thực hiện được
1.844,30/2.190 ha, trong đó: trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 được
1.799,10/2.190 ha, đạt 84,07% KH; trồng rừng nguyên liệu của Trạm Lâm nghiệp
được 45,2/50ha, đạt 90,4% KH; nhân dân tự đầu tư trồng được 68,7ha; trồng rừng
thông qua hoạt động dự án 3PAD được 121,3/147,5 ha, đạt 82,23KH[1]
- Về sản xuất nông nghiệp: Những yếu tố có vai trò lớn trong việc tăng sản lượng các
loại cây trồng là tăng năng suất và diện tích gieo trồng. Tổng diện tích gieo trồng
tăng bình quân mỗi năm 6,04%. Năm 2015, diện tích trồng lúa đạt 3,201 ha tăng
729 ha so với năm 2011, diện tích ngô là 3013 ha tăng thêm 14 ha so với cùng kỳ.
Diện tích các loại cây công nghiệp, rau củ các loại cũng tăng đáng kể. Nhìn chung,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp đã có chuyển biến tích cực [1]
- Về Thủy sản: Thủy sản là ngành có đóng góp không nhiều cho nền kinh tế. Sản
lượng hàng năm khoảng 60-70 tấn, năm 2015 đạt 80 tấn trong đó cá nuôi 74,5 tấn,
góp phần làm phong phú thêm bữa ăn của người dân. Nhìn chung, sự phát triển của
huyện đã đạt hiệu quả, tạo cơ hội phát triển kinh tế với tốc độ nhanh
13
`
c)Tổng quan dân số.
Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Na Rì có
44,280 người, với 7,830 hộ. Mật độ dân số huyện Na Rì là 46 người/ km 2, thấp nhất
trong 8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Kạn, Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc anh
em, từ lâu đời sống xen kẽ và có quan hệ mật thiết trong các hoạt động kinh tế và xã
hội. Đó là các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Kinh. Trong đó, dân tộc Tày
chiếm khoảng 70%.
Bảng 1. 2 Hiện trang dân số huyện Na Rì (tính đến năm 2015)
Tên đơn vị
Diện
tích
(km2)
Dân số Dân số
điều tra
năm 2015
2010
Số hộ
Mật độ dân
số
(người/km2)
Huyện Na Rì
853
41964
44280
7830
46
Thị Trấn Yến Lạc
4,215
4825
6019
794
869
Xã Vũ Loan
79,637
1667
1759
332
21
Xã Kim Hỷ
76,217
1664
1756
331
22
Xã Văn Học
14,510
1047
1105
209
73
Xã Cường Lợi
18,653
1650
1741
329
89
Xã Lương Thượng
37,942
1885
1989
375
50
Xã Lạng San
34,877
1975
2084
393
57
Xã Lương Hạ
17,817
1380
1456
275
78
Xã Ân Tình
22,327
1045
1102
208
47
Xã Lương Thành
17,697
1070
1129
213
61
Xã Kim Lư
55,328
2208
2330
440
40
Xã Lam Sơn
22,673
1833
1934
365
81
Xã Văn Minh
38,086
1184
1249
236
31
Xã Cư Lễ
60,174
2087
2202
416
35
Xã Côn Minh
63,561
2707
2856
539
43
Xã Hữu Thác
24,180
1441
1520
287
60
Xã Quang Phong
45,504
1550
1636
309
34
Xã Hảo Nghĩa
22,829
1369
1444
273
60
Xã Dương Sơn
36,708
1660
1752
331
45
14
`
Xã Đồng Xá
78,759
2551
2692
508
33
Xã Xuân Dương
35,663
2188
2308
436
62
Xã Liêm Thủy
45,645
1170
1235
233
26
(Nguồn: Viện chiến lược phát triển)
Tính đến năm 2015, dân số trong tuổi lao động có khoảng 23,1 ngàn người, chiếm
59% dân số toàn huyện. Hiện tại, số lao động trên tập chung chủ yếu vào khu vực
nông- lâm nghiệp. Lao động dư thừa, nhàn rỗi, thiếu việc làm vẫn còn phổ biến.
d) Văn hóa giáo dục:
Tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao nhân dịp các ngày
truyền thống và lễ lớn của đất nước, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa
phương. Phối hợp kiểm tra các hoạt động kinh doanh văn hoá trên địa bàn kịp thời
phát hiện nhắc nhỏ, xử lý các trường hợp vi phạm. Thực hiện phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, năm 2012 toàn huyện có 115 khu dân
cư văn hoá, đặt 109,5% (chỉ tiêu giao 111 khu) tăng 14 khu so với năm 2011; 7020
gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá, đạt 74,47% (chỉ tiêu giao 70%), tăng 862
gia đình so với năm 2011
e) Khí hậu, thủy văn:
Từ tháng 4 đến tháng 9 là thời kỳ gió mùa Đông Nam thổi và cũng là mùa mưa của
địa bàn. Mùa này, tập trung khoảng 70-80% lượng mưa của cả năm. Tuy nhiên, do
đặc điểm địa hình là thung lũng sâu, kín gió và bị án ngữ bởi khối núi đá vôi Kim
Hỷ ở phía Tây nên lượng mưa trung bình năm của huyện tương đối thấp, chỉ khoảng
1,260mm, là một trong những huyện có lượng mưa ít nhất của tỉnh Bắc Kạn. Cho
dù lượng mưa trung bình ít, nhưng do địa hình đồi núi, độc dốc của sông, suối lớn,
lớp thực vật bị khái thác là nguyên nhân đẫn đến lũ lụt và lũ quét thường xảy ra ở
mùa mưa, gây thiệt hại cho dân cư và kinh tế của huyện.
f) Những vấn đề về chất lượng môi trường:
Tại địa bàn có trên 04 điểm khai thác khoáng sản chì, kẽm, vàng và đá. Dọc
theo sông Bắc Giang chảy qua địa bàn huyện Na Rì, đó là các mỏ: Mỏ thôn Hợp
Thành - Hát Lài, xã Lam Sơn và thôn Nà Diệc, xã Lạng San; Mỏ thôn Nà Khon, xã
Lương Thành; Mỏ khu vực Hát Chặp - Vằng Kháp, xã Lam Sơn và Mỏ khu vực xã
15
`
Kim Lư. Do chưa được quản lý tốt, đa phần các mỏ khai thác đều không có hệ
thống xử lý nước thải, nên nước thải trong và sau khi khai thác, tuyển quặng được
xả thẳng vào các sông suối làm cho nguồn nước ở các vùng khai thác bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
-
Khu vực khai thác tại Hợp Thành - Hát Lài xã Lam Sơn cách trung tâm thị trấn Yến
Lạc khoảng 5km còn khu vực Nà Diệc xã Lạng San cách trung tâm thị trấn Yến Lạc
khoảng 15km theo đường quốc lộ 279. Vị trí khai thác ở phần trung tâm khu vực
mỏ của 2 khu vực là lòng sông Bắc Giang chảy từ Ngân Sơn về Na Rì đoạn qua xã
Lạng San và Lam Sơn.
- Khu vực mỏ cát sỏi thuộc thôn Nà Khon, xã Lương Thành, huyện Na Rì, tỉnh Bắc
Kạn có diện tích 5,3 ha, cách ủy ban nhân dân huyện Na Rì khoảng 15km, khu vực
xin khai thác tại sông Bắc Giang đoạn qua xã Lương Thành, huyện Na Rì, cách xa
dân sinh sống. Khu vực khai thác là lòng sông Bắc Giang không có đất canh tác của
nhân dân, chỉ có khu vực sân công nghiệp và nhà ở công nhân được thuê lại từ soi
bãi của dân, xung quanh không có di tích lịch sử cũng như công trình văn hoá, công
trình thuỷ lợi cần bảo vệ. Đường vào khu vực khai thác rất thuận lợi, gần đường
giao thông quốc lộ 279.
- Mỏ cát, sỏi và khoáng sản đi kèm tại khu vực Vằng Kháp - Hát Chặp, xã Lam Sơn,
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, bao gồm 2 khu mỏ khai thác.
- Khu vực khai thác cát, sỏi lòng sông và khoáng sản đi kèm tại khu vực Kim Lư, xã
Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có diện tích khai thác là 28,6 ha, được tạo
thành do tích tụ dòng chảy của sông Bắc Giang, tạo nên các bồi lắng nằm cạnh bờ
sông và trong lòng sông.
Nước sử dụng trong hoạt động khai thác khoáng sản tại khu vực Na Rì chủ
yếu lấy trực tiếp trên con sông Bắc Giang hoặc nước ngầm, sau khi sử dụng để
tuyển quặng đều được thải trực tiếp xuống sông Bắc Giang. Hệ quả là dầu mỡ (thất
thoát trong quá vận hành máy móc sản xuất) và một lượng lớn TSS được khuấy trộn
đất đá và đổ thẳng ra sông mang theo nhiều chất ô nhiễm.
Khu vực sinh sống của người dân khai thác khoáng sản không ổn định trong những
dãy nhà dựng tạm, cùng với đó là nhà vệ sinh không đạt tiêu chuẩn. Nguồn nước
thải sinh hoạt hoàn toàn không được xử lý và được đổ thẳng xuống sông. Đây cũng
là một nguồn góp phần gây ô nhiễm cho dòng sông Bắc Giang.
16
`
Hoạt động khai thác diễn ra tại đoạn
sông Bắc Giang đoạn chảy qua xã
Lam Sơn[2]
Hoạt động khai thác diễn ra tại đoạn
sông Bắc Giang đoạn chảy qua xã
Lương Thành, huyện Na Rì [2]
17
`
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì, tỉnh Bắc
Kạn
2.2Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: nghiên cứu lưu vực sông Bắc Giang đoạn chảy qua
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
+ Về thời gian: thưc hiện chuyên đề từ ngày 6 tháng 3 năm 2018 đến ngày
27 tháng 5 năm 2018
2.3Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu, kế thừa và phân tích tổng hợp
Thu thập số liệu, các thông tin dữ liệu hiện có liên quan đến kinh tế, xã hội,
môi trường huyện Na Rì nơi có sông Bắc Giang chảy qua, tiến hành hệ thống hoá
và xử lý các số liệu, tính toán chọn lọc, xác định số liệu nào là cơ bản và điển hình,
đồng thời so sánh chuỗi số liệu ở các thời gian khác nhau (từ năm 2012 đến hết
năm 2017) nhằm xác định xu thế biến đổi của môi trường nước sông Bắc Giang
2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, đo đạc, nhằm xác định rõ hiện trạng
và các tác động môi trường nước sông Bắc Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì,
tỉnh Bắc Kạn, cụ thể như:
+ Khảo sát các nguồn thải vào sông Bắc Giang;
+ Khảo sát, đo đạc, phân tích đánh giá chất lượng môi trường nước sông Bắc
Giang đoạn chảy qua huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
18
`
2.3.3 Phương pháp thực nghiệm
a)Phương pháp lấy mẫu
- Trên cơ sở khảo sát đặc điểm địa hình của sông Bắc Giang, các nguồn
tiếp nhận nước của sông Bắc Giang, các vị trí thu mẫu được lựa chọn, xác định
mang tính đại diện và đặc trưng cho chất lượng nước sông Bắc Giang. Các
thành phần thuỷ, lý, hoá đo đạc và phân tích được lựa chọn phù hợp với tính
chất môi trường sông, bao gồm các nhóm chính:
+ Nhóm các chất gây ô nhiễm hữu cơ, đặc trưng bởi các thông số như nhu
cầu ô xy hoá học (COD), nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), ôxy hoà tan (DO).
+ Nhóm các chất có nguồn gốc Nitơ, Phốtpho, đặc trưng bởi các thông số
như NO3-, NO2-, NH4+, PO43-.
+ Nhóm các kim loại và kim loại nặng trong nước như Sắt (Fe), Chì (Pb),
Crôm tổng (Cr), Kẽm (Zn), Cadimi (Cd)
+ Nhóm chỉ thị ô nhiễm do vi khuẩn, với thông số đặc trưng Coliform.
(Total Coliform).
- Phương pháp lấy mẫu theo quy định tại TCVN 6663-6:2008: Chất lượng
nước - lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
+ Trước khi lấy mẫu.
Súc rửa sạch dụng cụ lấy mẫu: Tất cả dụng cụ có tiếp xúc với nước đều phải
được súc rửa. Lấy đủ một thể tích nước của thủy vức được lấy mẫu để súc rửa kỹ tất
cả các dụng cụ, sử dụng cùng kỹ thuật lấy mẫu đang được dùng tại noi lấy mẫu.Súc
rửa bình lấy mẫu bằng cách lấy đủ nước vào bình rồi xoay bình để nước lắng đều tất
cả các bề mặt bên trong bình. Đổ bỏ nước súc rửa trong bình vào phía ha lưu nơi lấy
mẫu hoặc theo các thức sao cho nước súc rửa đó không làm nhiễm bẩn nước nơi
được
lấy mẫu.
+ Tiến hành lấy mẫu:
Nhúng ngập bình vào trong nước của khu vực được lấy mẫu mở nút bình và
giữ bình trong một tay. Đưa cổ bình đã mở nút xuống dưới mặt nước cho đến khi
ngập ở độ sâu 50cm. Nếu nước nông thì phải đảm bảo mẫu nước lấy không bị ô
19
`
nhiễm bùn đấy.Lấy mẫu đầy đúng đến miệng bình để đẩy hết không khí trong bình
ra. Khi đã lấy đúng lương mẫu cần lấy , nhấc bình ra khỏi nước và đậy nắp bình lại
thật kỹ. Khi lên bờ dán nhãn lên bình và thêm chất bảo quản nếu cần.
+ Mã hóa mẫu:
Các mẫu phải được ghi nhãn ngay tại thời điểm thu mẫu và trước khi đến nơi
lấy mẫu tiếp theo. Nhãn bao gồm tên mẫu, ngày lấy mẫu, vị trí lấy mẫu, người lấy
mẫu, phương pháp bảo quản.
Sau khi lấy mẫu cần tiến hành đo nhanh tại hiền trường một số chỉ tiêu bị biến
đổi theo thời gian.
- Thiết bị và dụng cụ lấy mẫu nước: TCVN 6663-1:2011: Chất lượng nướclấy mẫu phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu..
- Bảo quản mẫu nước: TCVN 6663-3:2008: Chất lượng nước – lấy mẫu
phần 3: hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- Vị trí lấy mẫu đượng thể hiện tại bảng 2.1:
Bảng 2. 1: Vị trí lấy mẫu
ST
T
Ký
hiệu
mẫu
Tọa độ
N
Mô tả vị trí lấy mẫu
E
Thời
Điều kiện
gian
khí hậu
Nhiệt
Gần trung tâm văn hóa xã Kim
1
BG1
22°14'7,42"
106°11'37,96" Lư
độ:26oC
10h00
Trời nhiều
Có nguồn nước thải sinh hoạt
2
BG2
22°14'23,65
106°10'59,37
"
"
mây
Gần tập thể trường PTDT Nội
Nhiệt
trú Na Rì qua cầu Hát Deng
độ:26oC
(Km55+740 QL3B), thị trấn Yến 10h30
Lạc
Trời nhiều
mây
Có nguồn nước thải sinh hoạt
3
BG3
22°14'26,76
106°10'42,29
Thôn Đồn Tắm, xã Lương Hạ
"
"
Có nguồn nước từ suối chảy
20
11h20
Nhiệt
độ:27oC
`
Trời nhiều
xuống
mây
Nhiệt
Thôn Khuổi Nằn 2, xã Lương
4
BG4
22°14'7"
106°9'41,82"
Hạ
độ:29oC
13h30
Trời nhiều
Có nguồn nước thải sinh hoạt
mây
Nhiệt
5
BG5
22°13'46,16
"
106°9'28,8"
Thôn Nà Nôm, xã Lam Sơn
độ:28oC
Có hoạt động sản xuất nông 14h00
Trời nhiều
nghiệp
mây
Nhiệt
6
BG6
22°13'16,24
"
27oC
Thôn Hát Lài, xã Lam Sơn
106°9'15,54"
độ:
14h30
Có nguồn nước thải sinh hoạt
Trời nhiều
mây
Nhiệt
7
BG7
22°12'58,77
"
độ:27oC
Thôn Pac Cap, xã Lương Thành
106°7'36,85"
15h00
Có nguồn nước thải sinh hoạt.
Trời nhiều
mây
Nhiệt
Thôn Nà Khon, xã Lương Thành
8
BG8
22°13'34,21
"
106°5'55,05"
độ:27oC
Hoạt động sản xuất nông nghiệp 16h00
và khai thác khoáng sản
mây
Nhiệt
Thôn Chợ Mới, xã Lạng San
9
BG9
22°14'39,67
"
106°4'43,55"
độ:26oC
Có nguồn nước từ suối chảy 17h00
xuống
Thôn
10
BG10
22°15'49,34
"
Trời nhiều
Trời nhiều
mây
Nà
Làng,
xã
Lương
Nhiệt
độ:25oC
Thượng
106°4'32,28"
18h00
Có hoạt động sản xuất nông
nghiệp
21
`
Sơ đồ vị trí lấy mẫu được thể hiện ở hình 2.1
Hình 2. 1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu
b) Phương pháp bảo quản mẫu
Phương pháp bảo quản các thông số phân tích trong mẫu nước mặt phải
đúng theo TCVN 6663-3:2008.
Bảng 2.1: Phương pháp bảo quản mẫu
STT
1
2
Bảo quản
Thông số
- Axit hóa mẫu bằng H 2SO4 1:1 đến pH < 2
COD, Fe
- Giữ ở 2 – 5 0C ở nơi tối. Phân tích trong 5 ngày
- Làm lạnh từ 2 – 5 0C
N-NH4+, P-PO43-, NO2-,
TSS, BOD 5, Cl -
- Phân tích trong 24h
22
`
3
- Bình tối màu, đã được hấp, lấy mẫu 2/3 bình
- Axit hóa mẫu bằng HNO 3 1:1 để pH = 1 – 2
4
- Phân tích trong 1 tháng
Tổng Coliform
Pb, Zn, Cu, Cd
Mẫu sau khi lấy cần được vận chuyển đến phòng thí nghiệm và phân tích
càng sớm càng tốt. Trong quá trình vận chuyển mẫu phải tiếp tục được bảo
quản trong các điều kiện cần thiết để đảm bảo an toàn và không biến đổi khi về
tới phòng thí nghiệm.
c) Phương pháp phân tích mẫu
Bảng 2. 2: Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
STT
Tên thông số
Tên/số hiệu phương pháp sử dụng
1
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
TCVN 6625:2000
2
Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD 5)
TCVN 6001-2:2008
3
Nhu cầu oxi hóa học (COD)
TCVN 6491:1999
4
Amoni (NH 4+)
TCVN 6179-1:1996
5
Nitrit (NO 2-)
TCVN 6178:1996
6
Nitrat (NO3-)
TCVN 6180:1996
7
Photphat (PO43-)
TCVN 6202:2008
-
8
Clorua (Cl )
9
Sắt (Fe)
TCVN 6177:1996
Chì (Pb), cadimi (Cd), Đồng
TCVN 6193:1996
( Cu), Kẽm (Zn)
Coliform
TCVN 6187-2:1996
10
10
TCVN 6194:1996
Phương pháp xác định BOD5 theo TCVN 6001-1:2008
Nguyên tắc
- Trung hoà mẫu nước cần phân tích và pha loãng mẫu bằng những lượng khác
nhau của một nước pha loãng giàu oxi hoà tan và chứa các vi sinh vật hiếu khí
23
`
(chứa đệm photphat, dung dịch MgSO4, dung dịch CaCl2, dung dịch FeCl3), có hoặc
không chưa chất ức chế nitrat hoá.
- Ủ mẫu ở nhiệt độ 20oc trong thời gian xác định (5 ngày) ở chỗ tối, trong bình
hoàn toàn đầy và nút kín.
- Xác định hàm lượng oxi hoà tan trước và sau khi ủ. Tính khối lượng oxi tiêu
tốn trong 1 lit nước.
Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này áp dụng phân tích BOD đối với nước có
BOD nằm trong khoảng 3- 6000mg O2/l
Yếu tố cản trở:
Phường pháp này có thế bị ảnh hưởng bởi nhiều chất độc đối với vi sinh vật
như các chất diệt khuẩn, các kim loại độc, clo tự do chúng ức chế sự ôxi hoá sinh
hoá. Sự có mặt của tảo hoặc vi sinh vật nitrat hoá có thể làm cao kết quả.
Cách tiến hành
-
Trung hoà mẫu nước cần phân tích bằng những lượng khác nhau của một loại nước
-
pha loãng giàu oxi hoà tan và chứa vi sinh vật hiếu khí.
Ủ mẫu ở nhiệt độ 20oC trong 5 ngày trong bình hoàn đầy và nút kín, ở chỗ tối.
Xác định hàm lượng oxi hoà tan trước và sau khi ủ. Tính khối lượng tiêu tốn trong
-
1 lit nước.
Chuẩn bị các dung dịch muối: đệm photphat, MgSO4, CaCl2, FeCl3.
Nước pha loãng: Lấy 4l nước cất, thêm vào mỗi dung dịch muối 4ml. Đem sục
-
không khí trong 1 giờ (dung dịch 1) đảm bảo hàm lượng oxi hoà tan phải đạt 8mg/l.
Nước pha loãng cấy vi sinh vật: Thêm 10ml nước cấy/1lit nước pha loãng, khuấy
-
đều.
Lấy chính xác 250ml mẫu cho vào bình định mức 500ml, định mức đến vạch bằng
nước pha loãng cấy vi sinh vật. Đổ tràn bình ủ rồi đem ủ ở 20 oC trong 5 ngày, phần
-
còn lại đem đi đo DO1.
Chuẩn bị mẫu trắng: lấy 500ml nước pha loãng cấy vi sinh vật, nạp tràn bình rồi
-
đem ủ ở 20oC trong 5 ngày, phần còn lại đem đi đo DO1.
Sau 5 ngày tiến hành đo DO5 của dung dịch đã ủ.
Tính kết quả
Hàm lượng BOD5 =[ (DO1- DO5)MMT - (DO1- DO5)MT ] x f (mg/l)
24
`
Trong đó:
-
MMT: mẫu môi trường
MT: Mẫu trắng
F: hệ số pha loãng
Phương pháp xác định COD theo TCVN 6491:1999
Nguyên tắc
Trong môi trường axit sunfuaric đặc, với sự có mặt của xác tác Ag 2SO4 thì khi
đun nóng K2Cr2O7 oxi hoá các chất hữu cơ. Chuẩn độ lượng dư K 2Cr2O7 bằng dung
dịch muối Morh nồng độ 0,024 (M) với chỉ thị feroin, tại cuối điểm chuẩn độ màu
của dung dịch sẽ chuyển từ màu xanh lục sang màu nâu đỏ.
Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này áp dụng phân tích COD đối với nước có
COD nằm trong khoảng 30 – 700 mg/l.
Chất cản trở: Ion Cl- được loại bỏ bằng cách cho thêm HgSO4.
Cách tiến hành
-
Mẫu được để cân bằng với nhiệt độ phòng trước khi phân tích.
Lắc đều mẫu trước khi phân tích.
Phá mẫu:
-
Chuẩn bị 10 ống nghiệm có nắp đậy (chuẩn bị mẫu trắng). Hút 2ml mẫu vào ống
nghiệm, thêm 1ml dung dịch K 2Cr2O7/ HgSO4 và 3ml dung dịch AgSO4/ H2SO4.
Đậy và vặn chặt nắp ống ngiệm, lắc đều, rửa sạch bên ngoài bằng nước cất và lau
-
khô.
Bật bộ phá mẫu COD, gia nhiệt đến 150oC.
Mẫu trắng làm tương tự như mẫu môi trường thay vào đó bằng 2ml nước đề io.
Đặt ống nghiệm đựng mẫu và mẫu trắng vào bộ phá mẫu COD đã được gia nhiệt tới
-
150oC và đặt thời gian 2 giờ.
Tắt nguồn điện bộ phá mẫu, đợi khoảng 20 phút để mẫu nguội xuống khoảng 120oC
Đảo ngược ống nghiệm vài lần khi vẫn còn ấm, đặt lên giá và đợi tới khi ống
nghiệm trở về nhiệt độ phòng.
Chuẩn độ:
-
Sau khi phá, lấy mẫu ra, để nguội và chuyển toàn bộ dung dịch trong ống nghiệm
vào trong bình tam giác 100ml, tráng rửa ống nghiệm và thêm nước cất đến khoảng
-
50ml.
Thêm 2- 3 giọt chỉ thị feroin, lắc đều.
25