B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
INH THI NH NGUYấT
ĐáNH GIá KếT QUả CủA THUốC ứC CHế BƠM PROTON
Và AMOXICILLIN LIềU CAO TRONG ĐIềU TRị XUấT
HUYếT TIÊU HóA DO LOéT HàNH Tá TRàNG Có
HELICOBACTER DƯƠNG TíNH
Chuyờn ngnh : Ni Tiờu húa
Mó s
: CK. 62722001
CNG LUN VN CHUYấN KHOA CP II
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Vu Trng Khanh
H NI 2019
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AMX
: Amoxicillin
BN
: Bệnh nhân
CLR
: Clarithromycin
DD - HTT
: Dạ dày – Hành tá tràng
H. pylori
: Helicobacter pylori
LVX
: Levofloxacin
MTZ
: Metronidazol
NSAID
: Non-Steroid Anti Inflammation Drug
(Thuốc chống viêm không Steroid)
PCR
: Polymerase Chain Reaction
(Phương pháp khuếch đại gen)
VK
: Vi khuẩn
XH
: Xuất huyết
XHTH
: Xuất huyết tiêu hóa
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1.............................................................................................................. 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................................4
1.1. Dịch tễ xuất huyết tiêu hóa do loét hành tá tràng............................................4
1.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của XHTH do loét hành tá tràng...................4
1.2.1. Nguyên nhân............................................................................................4
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của XHTH do loét hành tá tràng..................................5
1.3. Chẩn đoán XHTH do loét hành tá tràng..........................................................6
1.3.1. Tiền sư.....................................................................................................6
1.3.2. Triệu chứng lâm sàng...............................................................................7
1.3.3. Triệu chứng cận lâm sàng........................................................................8
1.4. Vi khuẩn Helicobacter pylori........................................................................11
1.4.1. Dịch tễ học.............................................................................................11
1.4.2. Một số đặc điểm của H. pylori...............................................................14
1.4.3. Cơ chế gây bệnh của H. pylori...............................................................16
1.4.4. Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori........................................17
1.4.5. Điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori........................................................21
CHƯƠNG 2............................................................................................................ 29
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........................................29
2.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................29
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu............................................29
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.................................................................................29
2.2. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................30
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu...............................................................................30
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu........................................................30
2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu........................................................................30
2.4. Phương tiện nghiên cứu................................................................................31
2.5. Các quy trình kỹ thuật trong nghiên cứu.......................................................31
2.5.1. Nội soi dạ dày tá tràng...........................................................................31
2.5.2. Test urease (RUT)..................................................................................32
2.5.3. Test thở C14...........................................................................................32
2.6. Can thiệp điều trị bằng phác đồ hai thuốc liều cao........................................33
2.7. Các tiêu chuẩn đánh giá................................................................................33
2.7.1.Chẩn đoán bệnh nhân có nhiễm H. pylori trước điều trị.........................33
2.7.2. Đánh giá hiệu quả diệt trừ H.pylori sau điều trị.....................................33
2.7.3 Đánh giá kết quả lành ổ loét hành tá tràng sau điều trị............................33
2.7.4. Đánh giá tuân thủ dùng thuốc................................................................33
2.8. Cách thức tiến hành nghiên cứu....................................................................34
2.8.1. Sàng lọc chọn lựa bệnh nhân.................................................................34
2.8.2. Thu thập số liệu bằng phiếu mẫu bệnh án nghiên cứu............................35
2.8.3. Chỉ định dùng thuốc điều trị bằng phác đồ PPI + AMX sau khi BN ra
viện..................................................................................................................35
2.8.4. Tái khám và đánh giá BN......................................................................35
2.9. Xư lý và phân tích số liệu.............................................................................35
2.10. Đạo đức nghiên cứu....................................................................................35
CHƯƠNG 3............................................................................................................ 37
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................37
CHƯƠNG 4............................................................................................................ 44
DỰ KIẾN BÀN LUẬN..........................................................................................44
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..........................................................................................44
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ.........................................................................................44
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................1
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân chia mức độ mất máu..................................................................10
Bảng 1.2. Phân loại Forrest...................................................................................11
Bảng 1.3. Mật độ nhiễm H. pylori trên phương pháp mô bệnh học..................18
Bảng 1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị tiệt trừ H.pylori theo
ý định điều trị và theo thiết kế nghiên cứu..........................................................21
Bảng 2.1. Các biến số và chỉ số nghiên cứu.........................................................30
Bảng 3.1. Tỷ lệ BN theo nhóm tuổi.......................................................................37
Bảng 3.2. Đặc điểm về giới....................................................................................37
Bảng 3.3. Tiền sử XHTH trước đây.....................................................................37
Bảng 3.4. Triệu chứng lâm sàng của BN khi vào viện.........................................37
Bảng 3.5. Tình trạng huyết động của BN khi vào viện.......................................38
Bảng 3.6. Nồng độ hemoglobin, hematocrit của BN khi nhập viện...................38
Bảng 3.7. Phân loại mức độ XHTH theo Forrest................................................38
Bảng 3.8. Phân loại theo đặc điểm ổ loét..............................................................39
Bảng 3.9. Kết quả liền sẹo ổ loét sau điều trị.......................................................39
Bảng 3.10. Tỷ lệ liền sẹo ổ loét sau điều trị..........................................................40
Bảng 3.11. Hiệu quả liền sẹo theo kích thước ổ loét............................................40
Bảng 3.12. Hiệu quả diệt trừ H. pylori.................................................................40
Bảng 3.13. Hiệu quả diệt trừ H. pylori theo nhóm tuổi......................................41
Bảng 3.14. Hiệu quả diệt trừ H.pylori theo giới tính bệnh nhân........................41
Bảng 3.15. Tỷ lệ diệt trừ H.pylori theo tình trạng liền sẹo ổ loét.......................41
Bảng 3.16. Mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân....................................42
Bảng 3.17. Liên quan giữa mức độ tuân thử dùng thuốc và hiệu quả diệt trừ
H.pylori..................................................................................................................42
Bảng 3.18. Tác dụng phụ của phác đồ.................................................................42
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) do loét dạ dày – hành tá tràng là nguyên
nhân phổ biến nhất của xuất huyết tiêu hóa trên. Là một biến chứng thường
gặp trong cấp cứu nội - ngoại khoa, chiếm khoảng hơn 50% số trường hợp
xuất huyết tiêu hóa trên. Đây là một vấn đề ý tế nghiêm trọng với tỷ lệ mắc
bệnh và tư vong đáng kể. Trong đó tỷ lệ tư vong dao động từ 3 – 14%. Hầu
hết những trường hợp tư vong xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, thường có bệnh
nặng kèm theo hoặc xuất huyết tái phát.
Hiện nay, điều trị nội khoa tốt nhất cho xuất huyết tiêu hóa do loét hành
tá tràng là sư dụng thuốc ức chế bơm proton. Đặc biệt vai trò của thuốc ức chế
bơm proton liều cao trước và sau điều trị cũng được đề cập nhiều, mục đích
để làm giảm bài tiết acid dịch vị, ức chế bài tiết acid nhanh hơn, góp phần làm
giảm tỷ lệ xuất huyết tái phát sớm dựa theo nguyên lý nâng PH dạ dày trên 6
để ngăn ngừa cục máu đông không bị phá hủy. Sự ra đời của các thuốc ức chế
bơm proton là một bước tiến nhảy vọt trong điều trị XHTH do loét dạ dày –
hành tá tràng. Trong đó, Esomeprazole là một trong những thuốc ức chế bơm
proton thế hệ mới có khả năng nâng và duy trì pH cao trong thời gian lâu hơn.
Các yếu tố nguy cơ thường gặp có thể gây xuất huyết tiêu hóa do loét dạ
dày – hành tá tràng là sư dụng NSAID, Aspirin, Stress và nhiễm Helicobacter
pylori. H. pylori được công nhận là một yếu tố nguyên nhân quan trọng cho
sự phát triển của bệnh loét dạ dày - tá tràng và là yếu tố nguy cơ chủ yếu của
xuất huyết tiêu hóa trên. Nhiễm H. pylori được tìm thấy trong khoảng
50%(65%) bệnh nhân XHTH do loét dạ dày và 71% ở bệnh nhân XHTH do
loét tá tràng. Vì vậy tất cả các bệnh nhân bị xuất huyết do loét nên được kiểm
tra, xét nghiệm H. pylori và điều trị càng sớm càng tốt. Liệu pháp diệt trừ
2
H.pylori làm giảm tỷ lệ chảy máu từ 20% xuống còn 3% và cải thiện đáng kể
kết quả lâm sàng. Tuy nhiên, điều trị H. plylori vẫn là một thách thức đối với
các bác sĩ vì không có liệu pháp đầu tay hiện tại nào có thể diệt trừ H. pylori ở
tất cả các bệnh nhân đã được điều trị.
Trước đây, phương pháp điều trị được lựa chọn đầu tiên cho nhiễm vi
khuẩn H. pylori bao gồm thuốc ức chế bơm proton/ clarithromycin /
amoxicillin hoặc metronidazole trong 7- 14 ngày, nhưng gần đây tỷ lệ diệt trừ
của liệu pháp ba thuốc chuẩn này nói chung đã giảm xuống 80%. Vì vậy,
các chế độ điều trị khác đã chứng minh được tỷ lệ diệt trừ cao ở những
vùng khác nhau trên thế giới. Các chế độ điều trị này bao gồm liệu pháp
điều trị không Bismuth 7-14 ngày, liệu pháp tuần tự 10 – 14 ngày và liệu
pháp lai 14 ngày. Trong đó, phác đồ điều trị với liệu pháp kép liều cao PPI
và amoxicillin cũng đạt được tỷ lệ diệt trừ cao trong các nghiên cứu được
báo cáo. Phác đồ điều trị này đơn giản, chỉ liên quan đến hai loại thuốc và
quan trọng nhất là kháng amoxicillin vẫn còn rất thấp trên toàn cầu, tỷ lệ
kháng là 0% ở Đài Loan. Điểm mấu chốt để thành công cho liệu pháp này
là PPI liều cao đã được sư dụng trong một số nghiên cứu về diệt trừ H.
pylori và có thể làm tăng pH dạ dày thuận lợi cho việc diệt trừ tối ưu.
Ngoài ra, do Amoxicillin có tác dụng diệt H. pylori phụ thuộc vào thời gian
và nồng độ nên Amoxicillin được ổn định trong môi trường pH cao, cũng
góp phần làm tăng hiệu quả diệt trừ H. Pylori.
Tuy nhiên, ở Việt Nam những nghiên cứu này chưa được thực hiện nhiều
và cho đến nay vẫn chưa rõ đó có phải là chế độ diệt trừ H. pylori hàng đầu
tốt nhất với tỷ lệ diệt trừ cao nhất, ít tác dụng phụ nhất không. Do đó, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả của thuốc ức chế bơm
Proton và Amoxicillin liều cao trong điều trị xuất huyết tiêu hóa do loét
3
hành tá tràng có Helicobacter pylori dương tính tại khoa Tiêu hóa bệnh
viện Bạch Mai năm 2019 - 2020” với mục tiêu:
1.
Đánh giá kết quả diệt trừ Helicobacter pylori của thuốc ức chế bơm
Proton và Amoxicillin liều cao ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do
loét hành tá tràng.
2.
Đánh giá kết quả lành ổ loét trên nội soi sau điều trị của thuốc ức chế
bơm Proton và Amoxicillin liều cao ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa
do loét hành tá tràng có Helicobacter pylori dương tính.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Dịch tễ xuất huyết tiêu hóa do loét hành tá tràng
Xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính là một tình trạng phổ biến trên toàn thế giới,
có tỉ lệ mắc bệnh hàng năm khoảng 40 - 150 trường hợp/100.000 dân, trong đó tỷ
lệ xuất huyết do loét hành tá tràng dao động trong khoảng 17 – 37%.
Tần suất bệnh xuất huyết tiêu hóa nhập viện hàng năm ở Mỹ ước tính
khoảng 150/100.000 dân, nguyên nhân xuất huyết thường gặp nhất là do loét
dạ dày - hành tá tràng, chiếm khoảng 50% các trường hợp. Ở Anh, tần suất
này trong khoảng 50 - 190/100.000 dân mỗi năm và 30- 35% là do loét dạ dày
– hành tá tràng.
Ở Việt Nam, theo thống kê của Nguyễn Khánh Trạch tỷ lệ XHTH do loét
dạ dày – tá tràng trên tỷ lệ chảy máu tiêu hóa chung là 34,56%, theo Tạ Long
là 32,2%, theo Hà Văn Quyết là 52%. Gần đây, theo nghiên cứu của Đặng
Ngọc Quý Huệ và cộng sự tại bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai
trong hai năm 2010- 2011, có 645 bệnh xuất huyết tiêu hóa trên, trong đó có
56,9% trường hợp là do loét dạ dày – hành tá tràng.
1.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của XHTH do loét hành tá tràng
1.2.1. Nguyên nhân
Loét dạ dày – hành tá tràng (DD - HTT) là bệnh do nhiều nguyên nhân,
là sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ và các yếu tố tấn công. Các nguyên
nhân thường gặp trong bệnh lý loét DD - HTT là nhiễm H. pylori, sư dụng các
thuốc kích thích tiết pepsinogen và acid chlorhydric như thuốc lá, corticoids,
aspirin, đặc biệt là các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs). Trong đó,
hai nguyên nhân chính làm suy giảm yếu tố bảo vệ dẫn đến loét DD - HTT và
biến chứng XHTH là nhiễm H. pylori và dùng NSAIDs hoặc cả hai.
5
Tình trạng nhiễm H. pylori ở bệnh lý loét DD - TT và loét có biến chứng
xuất huyết chiếm tỷ lệ cao. Có khoảng 80% dân số bị nhiễm H. pylori ở các
nước đang phát triển và 20- 50% dân số ở các nước phát triển. Theo nghiên
cứu của Phạm Thanh Bình, tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân loét DD - TT là
50%, trong đó loét tá tràng là 75,86%. Trong nghiên cứu của Holster, bệnh
nhân XHTH do loét DD - TT có tỷ lệ nhiễm H. pylori là 43-56%. Theo
Gralnek, tỷ lệ bệnh nhân loét DD - TT nhiễm H. pylori là 72%.. Đối với loét
có biến chứng xuất huyết, tác giả Laine L ghi nhận tỷ lệ xuất huyết tái phát
sau 12 tháng ở các bệnh nhân không điều trị tiệt trừ H. pylori là 26%, trong
khi đó chỉ có 1,3% bệnh nhân xuất huyết tái phát sau 12 tháng có điều trị tiệt
trừ H. pylori.
Một nguyên nhân thường gặp khác của bệnh lý loét DD - TT và loét có
biến chứng xuất huyết là sư dụng thường xuyên các NSAIDs, có khoảng 45% bệnh nhân bị loét DD - TT sư dụng các thuốc này sau một năm và 1,5%
trường hợp có biến chứng xuất huyết, thủng mỗi năm. Tỷ lệ các bệnh nhân sư
dụng NSAIDs có biến chứng xuất huyết có khác nhau. Theo Lê Thị Thu Hiền,
bệnh nhân loét DD - TT và loét có biến chứng xuất huyết có sư dụng NSAIDs
chiếm tỷ lệ khá cao 90% và 88,2%. Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả
khác như Trần Duy Ninh, Ngô Văn Thuyền, Đặng Ngọc Quý Huệ cho thấy
các bệnh nhân xuất huyết có sư dụng NSAIDs thấp hơn chiếm tỷ lệ 15,1%,
8,7% và 8,1%.
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của XHTH do loét hành tá tràng
Loét DD – HTT là sự tổn thương ở thành dạ dày hoặc hành tá tràng đến
tận lớp cơ niêm, khi có biến chứng xuất huyết, bệnh có tổn thương biểu hiện
qua nội soi với các hình thái như chảy máu thành tia, rỉ máu, mạch máu lộ
không chảy máu, có cục máu đông, đáy phẳng. Nguy cơ xuất huyết tái phát
cao nhất ở những tổn thương đang xuất huyết và trên 50% ở những tổn
6
thương có mạch máu lộ. Thuật ngữ mạch máu lộ không chính xác vì mạch
máu thường không nhìn thấy mà chỉ thấy cục máu đông hoặc dạng giả phình
mạch. Năm 1980, viện nghiên cứu quốc gia về y tế Mỹ đã đưa ra thuật ngữ
cho tổn thương này là chỗ phồng lên có sắc tố. Theo Palmer K, xuất huyết
tiêu hóa là do các yếu tố tấn công như acid dịch vị tác động vào mạch máu
nằm bên dưới. Mức độ trầm trọng của bệnh có liên quan đến kích thước của
mạch máu bị khiếm khuyết và đường kính của mạch máu, xuất huyết nặng
thường gặp ở những tổn thương loét mặt sau của hành tá tràng, loét ở bờ cong
nhỏ của dạ dày do acid dịch vị tác động vào động mạch DD - TT và nhánh
trái của động mạch dạ dày.
Cơ chế bệnh sinh gây xuất huyết do loét DD - TT theo Hoàng Trọng
Thảng chủ yếu là do loét vào mạch máu, các ổ loét nông thường gây xuất
huyết mao mạch nên số lượng ít và tự cầm. Trong khi đó, các ổ loét sâu nhất
là loét xơ chai, loét vào các động mạch khả năng co mạch bị hạn chế nên XH
thường ồ ạt và khó cầm.
Theo Nguyễn Khánh Trạch, xuất huyết do loét DD - TT có thể là do kết
quả của sự phá hủy thành mạch, do hiện tượng viêm xuất huyết cấp hoặc sự
xói mòn của acid dịch vị tác động trực tiếp lên ổ loét..
1.3. Chẩn đoán XHTH do loét hành tá tràng
Chẩn đoán XHTH do loét hành tá tràng dựa vào tiền sư bệnh, các biểu hiện
lâm sàng và cận lâm sàng, trong đó nội soi chẩn đoán đóng vai trò quan trọng.
1.3.1. Tiền sư
- Tiền sư loét dạ dày tá tràng (đau thượng vị, ợ hơi, ợ chua tái phát thành
đợt), tiền sư xuất huyết tiêu hóa cao.
- Tiền sư về bệnh lý nội khoa mạn tính như bệnh cơ xương khớp phải
dùng NSAIDs kéo dài, bệnh lý tim mạch có dùng thuốc chống đông, chống
ngưng tập tiểu cầu…
7
1.3.2. Triệu chứng lâm sàng
1.3.2.1. Hoàn cảnh xuất huyết tiêu hóa
- Bệnh nhân có các đợt đau thượng vị một vài ngày hoặc một vài tuần rồi
xuất hiện nôn ra máu, đi ngoài phân đen. Có thể dữ dội ngay từ đầu hoặc tăng dần.
- Một số bệnh nhân xuất huyết sau làm việc căng thẳng, sau phẫu thuật,
dùng thuốc có nguy cơ gây xuất huyết tiêu hóa cao....
1.3.2.2. Triệu chứng cơ năng
- Tiền triệu: lúc thay đổi thời tiết, sau gắng sức, hoặc không có một lý do
gì tự nhiên thấy hoa mắt, chóng mặt, lợm giọng, buồn nôn, có thể ngất xỉu.
- Nôn ra máu: nôn ra máu đỏ tươi, máu đen lẫn máu cục, có thể lẫn với
thức ăn và dịch vị, số lượng và màu sắc thay đổi tùy theo số lượng máu chảy,
tính chất máu chảy và thời gian máu lưu giữ trong dạ dày. Nếu chảy máu ít và
nôn ngay thì máu thường có màu hồng, nếu chảy máu ít và nôn muộn thì máu
thường có màu đen, loãng, nếu chảy máu nhiều và cấp thì thường nôn ra ngay do
đó máu có màu đỏ tươi. Tuy nhiên, dưới tác động của acid chlorhydric trong dạ
dày nên máu được phân hủy rất nhanh, thường chuyển thành màu đen.
- Đại tiện phân đen: tùy vào mức độ chảy máu mà màu sắc phân có thể
nâu, đen như nhựa đường, như bã cà phê hoặc nâu đỏ. Theo J.Kurt (1998) khi
mất 60 ml máu trở lên phân bắt đầu có màu đen, đen như bã cà phê, phân nát,
bóng, có mùi rất thối, khắm. Nếu XH ít, phân chỉ có màu nâu cần xem kỹ
hoặc xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân mới phân biệt được. Nếu XH nhiều
và cấp phân có thể ngả sang màu đỏ tươi.
- Đặt sonde dạ dày có máu đỏ tươi hoặc dịch màu đen chảy ra, gặp trong
90% các trường hợp xuất huyết.
1.3.2.3. Triệu chứng thực thể
- Tình trạng toàn thân: Mạch nhanh, huyết áp có thể tụt và có thể có dấu
hiệu của sốc mất máu. Mạch nhanh là một triệu chứng nhạy và thường tỷ lệ với
8
lượng máu mất, nhưng cần chú ý ở những người mạch chậm do block nhĩ thất
hoặc mạch nhanh do các nguyên nhân khác như rối loạn thần kinh thực vật,
cường giáp thì triệu chứng có thể không trung thực. Nếu xuất huyết cấp nặng
nhất thì khi có choáng thì mạch nhanh nhỏ, nhiều lúc không bắt được.
- Hạ huyết áp tư thế nhất là thấp và kẹt là một dấu hiệu phản ánh xuất
huyết nặng, nhưng cần phân biệt ở bệnh nhân cao huyết áp. So với mạch thì
huyết áp giảm chậm hơn, khi đã giảm nặng là đã vượt quá khả năng bù trừ
của cơ thể, nên sẽ rơi vào choáng nhanh và nguy hiểm.
- Màu sắc da nhợt nhạt, vã mồ hôi và chân tay lạnh.
- Dấu hiệu thiếu máu não: thường là chậm như tình trạng ngất hoặc nặng
hơn là hôn mê.
- Lượng nước tiểu ít.
1.3.3. Triệu chứng cận lâm sàng
1.3.3.1. Hồng cầu, Hemoglobin và Hematocrit
Xét nghiệm tổng phân tích các tế bào máu như Hồng cầu, Hemoglobin,
Hematocrit ở các bệnh nhân XHTH trên cấp tính trong những giờ đầu
chưa thay đổi nhiều, cần có thời gian 3 -4 giờ mới phản ánh trung thực tình
trạng mất máu.
1.3.3.2. Ure máu
Urê máu tăng trong 3/4 trường hợp XHTH trên do tăng urê máu trước
thận thứ phát do giảm thể tích máu, do tiêu hóa các protein của máu và
hấp thu các sản phẩm của nitrogen.
Tác giả Tomizawa và cs nghiên cứu trên 76 bệnh nhân XHTH trên, các
tác giả kết luận rằng những bệnh nhân có chỉ số urê ≥ 21mg/dL có biểu hiện
XHTH trên nặng.
9
1.3.3.3. Đánh giá mức độ mất máu.
* Vai trò
- Đánh giá mức độ mất máu rất quan trọng giúp ta có thái độ xư trí kịp
thời và hiệu quả nhất.
- Tiên lượng gần, xa về bệnh, có tái phát hay phải can thiệp ngoại khoa không.
* Triệu chứng sốc mất máu
- Huyết áp giảm hay không đo được: ở người lớn được coi là tụt huyết
áp khi huyết áp tâm thu < 90mmHg, hay huyết áp trung bình giảm quá
40mmHg so với mức huyết áp trước đó ở bệnh nhân tăng huyết áp.
- Các biểu hiện giảm tưới máu tạng khác thường gặp:
+ Mạch nhanh, nhỏ, khó bắt.
+ Nổi vân tím: bắt đầu xuất hiện ở gối, sau lan rộng.
+ Đầu chi lạnh, tím, vã mồ hôi.
+ Rối loạn ý thức từ mức độ đờ đẫn, lẫn lộn, hay kích thích vật vã, tới
giai đoạn cuối bệnh nhân có thể hôn mê.
+ Thiểu niệu (< 20ml/h) hay vô niệu (< 10ml/h).
Nếu không can thiệp ngay, có thể ảnh hưởng xấu tới tế bào vào chuyển
hóa. Cuối cùng sốc nặng dần dẫn tới ngừng tuần hoàn.
* Phân loại mức độ mất máu
- Dựa vào số lượng máu đã mất qua nôn, phân:
+ < 200 ml: mất máu nhẹ.
+ 200-500 ml: mất máu trung bình.
+ > 500 ml: mất máu nặng.
+ >1000 ml: mất máu rất nặng.
Đánh giá theo cách này chỉ là ước lượng, không chính xác.
- Theo các chỉ tiêu lâm sàng (mạch, huyết áp) và cận lâm sàng (hồng
cầu, hemoglobin, hematocrit).
10
Bảng 1.1. Phân chia mức độ mất máu
Chỉ tiêu
Nhẹ
Vừa
Nặng
Mạch (lần/phút)
< 100
100 - 120
>120
Huyết áp tối đa (mmHg)
>100
80 - 100
< 80
>3
2,5 - 3
< 2,5
Hemoglobin (g/l)
>120
100 - 120
< 100
Hematocrit
> 0,35
0,3 – 0,35
< 0,3
Hồng cầu (T/l)
Tuy nhiên các xét nghiệm máu thường là chậm mất nhiều giờ so với lúc
chảy máu. Do vậy cần phải dựa vào việc theo dõi mạch, huyết áp, theo dõi
trực tiếp lượng máu mất đi, tính chất và màu sắc của máu chảy:
- Lượng máu trong phân nhiều và đỏ là xuất huyết nặng.
- Đặt sonde dạ dày thấy máu ra nhiều và đỏ là xuất huyết nhiều và mới.
1.3.3.4. Nội soi dạ dày – tá tràng
- Giá trị của nội soi: Nội soi là phương pháp chính xác nhất để chẩn đoán
loét dạ dày - hành tá tràng. Bằng hình ảnh nội soi có thể nhìn thấy vị trí, số
lượng, hình dạng (bờ, đáy), kích thước ổ loét.
- Bảng phân loại của Forrest qua nội soi DD – TT:
+ Năm 1971, Forrest đã đưa ra chỉ tiêu đánh giá hình thái XHTH qua
nội soi. Năm 1991, hội nghị tiêu hóa ở Mỹ đã bổ sung chi tiết hơn vào bảng
phân loại của Forrest (bảng 1.2). Phân loại của Forrest có tác dụng tiên lượng
về chảy máu tái phát và tư vong.
11
Bảng 1.2. Phân loại Forrest
Mức độ
Nguy cơ cao
Nguy cơ thấp
Hình ảnh nội soi
Chảy máu
tái phát
(%)
Tỷ lệ tử vong
(%)
55
11
IA
Máu phun thành tia
IB
Rỉ máu
IIA
Có mạch máu nhưng
không chảy máu
43
11
IIB
Có cục máu động
22
7
IIC
Có cặn đen
10
3
III
Đáy sạch
5
2
1.4. Vi khuẩn Helicobacter pylori
1.4.1. Dịch tễ học
1.4.1.1. Tỷ lệ hiện mắc
Nhiễm H. pylori là một nhiễm trùng phổ biến trên toàn thế giới, khoảng
50% dân số thế giới bị nhiễm. Tỷ lệ nhiễm khác nhau trong mỗi nước và giữa các
nước, tỷ lệ nhiễm cao hơn ở những người có điều kiện kinh tế xã hội thấp. Tỷ lệ
nhiễm trong cộng đồng ở một số nước có xu hướng giảm do cải thiện điều kiện
kinh tế xã hội và điều trị diệt trừ H. pylori, chủ yếu ở các nước phát triển.
Ở các nước phát triển, tỷ lệ nhiễm < 40%, các nghiên cứu dịch tễ học
cho thấy tỷ lệ nhiễm khác nhau giữa các nhóm sắc tộc, quần thể, lứa tuổi. Tỷ
lệ nhiễm ở Hoa Kỳ 7,5% (2010), Úc 15,1% (2008). Tại Đức, tỷ lệ nhiễm của
người Đức sống ở Đức 13,1%, và người Thổ Nhĩ Kỳ sống ở Đức là 30,4%.
Tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng ở một số nước phát triển, đang có xu hướng
giảm. Xu hướng giảm này là do kinh tế phát triển nhanh, điều kiện vệ sinh
được cải thiện, sư dụng kháng sinh và thuốc ức chế bơm proton rộng rãi. Tại
12
Nhật Bản tỷ lệ nhiễm năm 1974, 1984 và 1994 lần lượt là 72,7%, 54,6% và
39,3%. Nghiên cứu của Shiota S. và cộng sự cho thấy tỷ lệ nhiễm ở Nhật Bản
giảm theo thời gian ở mọi lứa tuổi (biểu đồ 1.1).
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ nhiễm trung bình 80-90%, các nghiên
cứu có xu hướng phân tích về các điều kiện kinh tế xã hội có liên quan đến
nhiễm H. pylori. Năm 2010, tỷ lệ nhiễm ở Trung Quốc là 73%, Thái Lan là
40-50% năm 2015
Tại Việt Nam, một phân tích tổng hợp gồm 184 nghiên cứu về tỷ lệ
nhiễm H. pylori nhiều nơi trên thế giới đã ước đoán tỷ lệ nhiễm trong dân số
khoảng 70,3%. Theo Tạ Long tỷ lệ nhiễm H. pylori rất cao trong dân số,
khoảng 70% ở miền Bắc và 50% ở miền Nam. Nguyễn Lâm Tùng và cộng sự
nghiên cứu trên mẫu 270 bệnh nhân nội soi tại hai Trung tâm nội soi lớn tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, kết quả tỷ lệ H. pylori dương tính là
65,6%. Nghiên cứu của Nguyễn Khánh Trạch năm 2014, tỷ lệ nhiễm H. pylori
cộng đồng là 75%.
1.4.1.2. Tỷ lệ mới mắc
Tỷ lệ mới mắc ở người lớn thấp hơn trẻ em. Parsonnet J. và cộng sự
nghiên cứu trên một mẫu 341 người gồm những nhà dịch tễ học cho thấy tỷ lệ
mới mắc là 0,49%/năm. Một nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ mới mắc trung
bình ở người lớn 2,4%/năm. Nghiên cứu của Muhsen và cộng sự năm
2010, tỷ lệ mới mắc ở trẻ em hàng năm là 5%.
1.4.1.3. Nguồn lây
Cho đến nay nguồn lây của H. pylori vẫn còn đang bàn luận. Một số
nghiên cứu cho rằng động vật là nguồn lây, một số khác cho rằng nước là
nguồn lây. Tuy nhiên, theo Lehour và cộng sự người là nguồn lây duy nhất.
Bằng chứng là tỷ lệ nhiễm H. pylori tăng ở các đối tượng sống gần gũi
nhau trong một số quần thể. Việc lây truyền của H. pylori chủ yếu xảy ra
13
trong gia đình. Nguy cơ tương đối của một đứa trẻ bị nhiễm H. pylori lớn hơn
khoảng 8 lần nếu người mẹ bị nhiễm và lớn hơn khoảng 4 lần nếu người cha
bị nhiễm. Một số nghiên cứu đã chứng minh sự lây truyền từ mẹ sang con. Số
thành viên trong gia đình càng nhiều càng dễ lây bệnh. Có mối liên quan giữa
tình trạng nhiễm của một người với tình trạng nhiễm của vợ hoặc chồng của
họ, nguy cơ lây nhiễm ngày càng tăng với số năm mà vợ chồng đã chung sống
với nhau. Mặc dù phần lớn các nghiên cứu ủng hộ quan điểm lây truyền H.
pylori xảy ra trong gia đình, ở một số ở một số nước nguồn gốc của nhiễm H.
pylori có thể nằm bên ngoài gia đình.
1.4.1.4. Đường lây truyền
Đường lây truyền của vi khuẩn vẫn chưa rõ ràng. Lây truyền giữa con
người với nhau là con đường chính, mặc dù lây truyền qua môi trường như
nước uống bị nhiễm khuẩn vẫn có thể xảy ra.
- Đường lây truyền dạ dày- miệng
Sự hiện diện của H. pylori trong dịch dạ dày lên đến 58 % số bệnh nhân
nhiễm H. pylori làm tăng khả năng cho rằng dịch dạ dày trào ngược là một
phương tiện mang vi khuẩn truyền bệnh. Theo Axon A. T., đường truyền dạ
dày- miệng là đường truyền quan trọng ở trẻ em. Chất nôn là một phương tiện
truyền bệnh quan trọng.
- Đường lây truyền miệng - miệng
Sự hiện diện của H. pylori trong khoang miệng là bằng chứng gián tiếp
ủng hộ đường truyền miệng - miệng. Krajden và cộng sự phân lập được H.
pylori từ các mảng bám răng của 1 trong 29 bệnh nhân đã được sinh thiết dạ
dày dương tính với H. pylori. So sánh H. pylori của chủng phân lập từ dạ dày
và chủng phân lập từ mảng bám răng của bệnh nhân này cho thấy 1 trong 3
chủng phân lập từ mảng bám răng là không thể phân biệt với mẫu phân lập từ dạ
dày. Vi khuẩn trong khoang miệng có thể lây nhiễm và gây tái nhiễm ở dạ dày.
14
- Đường truyền phân - miệng
Mặc dù có một số bằng chứng H. pylori có thể đi qua ruột, tuy nhiên vi
khuẩn này khó thích ứng với môi trường này vì chúng rất nhạy cảm với
những tác động của dịch mật, do đó sự tồn tại của vi khuẩn H. pylori sau khi
đi qua đường ruột khó có thể xảy ra.
Nhiều nỗ lực nuôi cấy H. pylori từ phân phần lớn không thành công.
Một số nghiên cứu phân lập được H. pylori trong phân. Tuy nhiên bằng
chứng xác nhận các vi khuẩn H. pylori trong phân của các nghiên cứu này là
không có căn cứ. Mặc dù phát hiện DNA của H. pylori trong phân có thể thêm
vào bằng chứng về đường lây truyền phân - miệng, nhưng cần lưu ý rằng việc
tìm thấy DNA của H. pylori không nhất thiết có nghĩa là H. pylori có mặt
trong phân.
Hiểu biết về cách lây truyền của H. pylori là một vấn đề quan trọng để có
thể ngăn ngừa lây lan bằng biện pháp y tế công cộng và có thể hữu ích để xác
định được các quần thể có nguy cơ cao, đặc biệt là những vùng có tỉ lệ cao
bệnh nhân bị u lympho dạ dày, ung thư dạ dày và loét dạ dày – hành tá tràng.
1.4.2. Một số đặc điểm của H. pylori
1.4.2.1. Đặc điểm hình thái học và cấu trúc của vi khuẩn H. pylori
Helicobacter pylori là trực khuẩn gram âm có hình xoắn. Dưới kính hiển
vi điện tư, vi khuẩn có kích thước dài 2 - 4 µm, đường kính 0,5 - 1 µm, với 2 6 tiêm mao ở một đầu. Hình dạng xoắn và các tiêm mao giúp cho vi khuẩn di
chuyển trong lớp nhầy. Vi khuẩn sống ở lớp nhầy trên bề mặt niêm mạc dạ
dày, một số ít bám trên bề mặt niêm mạc. Helicobacter pylori tăng trưởng ở
nhiệt độ 34-40 0C, tốt nhất là 37 0C; nó chịu được môi trường pH từ 5,5 - 8,
tốt nhất là môi trường trung tính.
15
1.4.2.2. Đặc điểm vi sinh vật của vi khuẩn Helicobacter pylori
Helicobacter pylori là vi khuẩn vi ái khí, mọc chậm và cần môi trường
nuôi cấy phức tạp trong phòng xét nghiệm. Môi trường chọn lọc thường là
Helicobacter - agar hoặc thạch máu ngựa hoặc cừu. Vi trường tối ưu cho sự
phát triển của H. pylori là hỗn hợp khí O2:CO2:N2 với tỷ lệ 5:10:85%, tương
ứng. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp nhất là 35-37 0C. Nuôi cấy H. pylori cần có
môi trường chọn lọc và kháng sinh thích hợp (gồm: Vancomycine,
Trimethoprim, Cefsulodin, Amphotericin B) để ức chế nấm và tạp khuẩn Mẫu
mô niêm mạc dạ dày dùng để nuôi cấy H. pylori không được để quá 2 giờ ở
nhiệt độ phòng. Khi nuôi cấy có vi khuẩn mọc trên môi trường đặc, các khuẩn
lạc nhỏ như đầu đinh ghim, đường kính khoảng 1 mm, trơn láng, hơi mờ,
thường sẽ xuất hiện từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 trên bề mặt đĩa thạch.
1.4.2.3. Đặc điểm các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Helicobacter pylori
Các yếu tố liên quan sinh cư và gây bệnh của H. pylori bao gồm vai trò của
tiêm mao, enzyme urease, yếu tố bám dính và các yếu tố độc lực của vi khuẩn.
Các tiêm mao giúp H. pylori di chuyển xuyên qua lớp nhầy đến bề mặt
niêm mạc, nơi có pH trung tính để sinh sống và xâm nhập vào tế bào biểu mô
vật chủ để gây bệnh. Enzyme urease xúc tác thủy phân ure, một sản phẩm
của quá trình phân hóa protein trong thức ăn ở dạ dày, cuối cùng tạo ra
NH4+, vừa là độc lực gây bệnh vừa kháng acid để cho H. pylori tồn tại. Các
yếu tố bám dính gồm: BabA (HopS), SabA và SabB (HopP), OipA (HopH) là
các protein màng ngoài, giúp vi khuẩn tăng cường kết dính vào tế bào biểu
mô dạ dày để gây bệnh.
Vi khuẩn Helicobacter pylori có nhiều yếu tố độc lực, trong đó kháng
nguyên kết hợp độc tố tế bào cagA (cytotoxin-associated gene A) và độc tố gây
không bào vacA (vacuolating cytotoxin) được nghiên cứu nhiều nhất. Các độc
lực này cùng với DupA, IceA, OipA và BabA của H. pylori có liên quan đến tiên
lượng viêm teo dạ dày, dị sản ruột và những bệnh cảnh lâm sàng nặng.
16
1.4.3. Cơ chế gây bệnh của H. pylori
Nhờ hoạt động của các tiêm mao và cấu trúc hình xoắn, vi khuẩn H.
pylori dễ dàng di chuyển qua lớp niêm dịch vào lớp dưới niêm mạc dạ dày để
tồn tại trong môi trường acid của dịch vị. Sau khi vận động vào trong lớp
nhày dạ dày, H. pylori bám dính vào biểu mô tiết ra nhiều men urease, phân
hủy ure thành amoniac trong dạ dày, gây kiềm hóa môi trường xung quanh,
giúp H. pylori tránh được sự tấn công của acid - pesin trong dịch vị. Amoniac
cùng các độc chất tế bào (cytotoxin) phân hủy các thành phần của chất nhầy
dạ dày. Mặt khác, sau khi bám vào màng tế bào thông qua các thụ thể, H.
pylori sẽ tiết ra các nội độc tố (endocytotoxin), gây tổn thương trực tiếp các tế
bào biểu mô dạ dày, gây thoái hóa, hoại tư, long tróc tế bào, tạo điều kiện để
acid – pepsin thấm vào tiêu hủy, gây trợt rồi loét.
Do H. pylori gây tổn thương niêm mạc dạ dày sẽ làm giảm tiết
somatostatin. Chất này được sản xuất từ tế bào D có mặt ở nhiều nơi trong
niêm mạc ống tiêu hóa trong đó có dạ dày. Lượng somatostatin giảm sẽ gây
tăng gastrin máu từ tế bào G sản xuất ra, mà chủ yếu tăng gastrin-17 (từ hang
vị), còn gastrin -34 (từ hành tá tràng) tăng không đáng kể. Hậu quả trên làm tăng
tế bào thành ở thân vị, tăng tiết acid HCL và kèm theo là tăng hoạt hóa
pepsinogen thành pepsin. Đây là 2 yếu tố tấn công chính trong cơ chế bệnh sinh
của loét dạ dày hành tá tràng. H. pylori sản xuất ra nhiều yếu tố có tác dụng hoạt
hóa bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, giải phóng
các yếu tố trung gian hóa học trong viêm (các Interleukin, các gốc oxy tự do),
giải phóng ra yếu tố hoạt hóa tiểu cầu- một chất trung gian quan trọng trong
viêm, làm cho biểu mô phù nề hoại tư, long tróc, bị acid- pepsin ăn mòn dẫn đến
trợt rồi loét. Cơ thể bị nhiễm H. pylori, sản xuất ra kháng thể chống lại H. pylori.
Các kháng thể này lại gây phản ứng chéo với các thành phần tương tự trên các tế
bào biểu mô dạ dày của cơ thể, gây tổn thương niêm mạc dạ dày.
17
Như vậy tổn thương niêm mạc dạ dày do H. pylori gây viêm loét dạ dày
qua 3 cơ chế khác nhau: sự thay đổi sinh lí dạ dày, nhiễm độc trực tiếp từ các
sản phẩm của vi khuẩn, các phản ứng viêm với sự giải phóng nhiều sản phẩm
phản ứng độc tố khác nhau. Nếu nhiễm trùng không được điều trị thì sau 10 20 năm sẽ teo niêm mạc dạ dày, làm tăng pH dạ dày lên 6-8. Các tuyến bị
mất, viêm teo niêm mạc dạ dày và dị sản ruột, điều này có thể khởi đầu cho
giai đoạn ác tính.
1.4.4. Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori
Kể từ khi H. pylori được tìm ra vào năm 1982 đến nay đã có nhiều
phương pháp chuẩn đoán nhiễm H. pylori. Trong chẩn đoán, mỗi phương
pháp có những ưu nhược điểm khác nhau và việc lựa chọn tùy thuộc vào mục
đích nghiên cứu hoặc ứng dụng trong thực hành và còn tùy thuộc vào giá
thành của thư nghiệm. Điều quan trọng nhất là các thư nghiệm phải có độ
nhạy và độ đặc hiệu cao để giúp cho chẩn đoán trước điều trị và theo dõi sau
điều trị đạt hiệu quả tốt. Các phương pháp chẩn đoán H. pylori có thể chia
làm 2 nhóm: Các phương pháp xâm lấn và các phương pháp không xâm lấn..
1.4.4.1. Phương pháp xâm lấn
- Test nhanh urease:
Dựa vào đặc tính H. pylori tiết rất nhiều men urease, người ta làm xét
nghiệm tìm urease qua đó xác định sự có mặt của H. pylori trong dạ dày - tá
tràng. Qua nội soi dạ dày - tá tràng, sinh thiết một mảnh niêm mạc, mảnh
niêm mạc này được vùi vào môi trường lỏng (test maison, CU test) hoặc bán
đặc (CLO test, HUT test) hoặc trên một màng gọi là Pyloritek có chứa ure và
chất chỉ thị màu theo pH. Nguyên tắc của thư nghiệm là nhằm phát hiện men
urease của H. pylori, H. pylori gần như là loại vi khuẩn duy nhất trong dạ dày
tiết urease với khối lượng lớn (ngoại trừ một số ít bệnh nhân bị nhiễm
Helicobacter helmani). Men urease của H. pylori có trong mẫu mô dạ dày sẽ
18
biến đổi ure thành amoniac (NH3), NH3 làm môi trường thuốc thư có pH
kiềm, vì vậy làm đổi màu chất chỉ thị theo phản ứng:
Urease
↓
Urea + H2O → CO2 + NH3 (môi trường kiềm) → Đổi màu chất chỉ thị màu
+ Ưu điểm của test nhanh urease: Độ nhạy > 98%, độ đặc hiệu 99%. Độc
kết quả sau 20 phút, ngay trong phòng nội soi đã có thể chẩn đoán được 96%
trường hợp nhiễm H. pylori mà không có phản ứng dương tính giả.
+ Hạn chế của test urease:
Trong điều kiện hiện nay người ta thừa nhận ngưỡng phát hiện vi khuẩn
là 104 – 105 vi khuẩn/ml.
Nếu đọc test sau 24 giờ, do 1 số vi khuẩn có nguồn gốc ở miệng hoặc ở
ruột cũng sản xuất urease nhưng chậm hơn H. pylori cho nên có thể cho kết
quả dương tính giả.
- Mô bệnh học: Mô bệnh học được sư dụng rộng rãi để chẩn đoán nhiễm
H. pylori với các phương pháp nhuộm hexamtoxyline và eosin (HE), Giemsa,
Warthin-Starry, nhuộm tím Cresyle, nhuộm bạc hoặc Acridin Orange, nhuộm
bạc cho hình ảnh H. pylori rõ nhất. Độ nhạy 93% và độ đặc hiệu trên 87%.
Bảng 1.3. Mật độ nhiễm H. pylori trên phương pháp mô bệnh học
Độ
Kí hiệu
Trên toàn bộ quang trường
0
(-)
Không tìm thấy H. pylori
1
(+)
H. pylori xếp rời rạc thấy từng khóm nhỏ
2
(++)
Ít hơn 5 khóm nhỏ hoặc 1 khóm lớn
3
(+++)
Trên 5 khóm nhỏ hoặc 2 khóm lớn
Mật độ nhiễm H. pylori có liên quan đến thương tổn mô bệnh học. Trong
trường hợp nhiễm H. pylori với mật độ 2(+) hoặc 3(+) có thể thấy toàn bộ các
19
tuyến ở niêm mạc dạ dày bị phá hủy. Ngoại trừ các tuyến môn vị ở sâu ít khi
bị ảnh hưởng và chỉ bị khi mật độ nhiễm H. pylori nhiều 3(+).
• Nhuộm Giemsa là phương pháp được sư dụng rộng rãi nhất bởi kỹ
thuật đơn giản, dễ thực hiện, giá rẻ mà độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
• Nhuộm Warthin-Starry cho hình ảnh rõ nét của H. pylori với độ nhạy
và độ đặc hiệu cao nhưng lâu, kỹ thuật phức tạp và khá tốn kém.
• Nhuộm Hematoxilin-Eosin tuy độ nhạy thấp hơn nhuộm Giemsa và
Warthi-starry. Nhưng cho phép xác định tốt những mô bệnh học.
- Nuôi cấy: Vi khuẩn H. pylori được nuôi cấy từ các mẫu sinh thiết dạ
dày. Độ nhạy của kỹ thuật không cao nhưng độ đặc hiệu 100%. Nuôi cấy cho
kết quả chậm nên chỉ dùng trong nghiên cứu hoặc đánh giá sự nhạy cảm của
vi khuẩn đối với kháng sinh và đây là cơ sở để lựa chọn thuốc điều trị với các
trường hợp kháng kháng sinh.Tuy nhiên xét nghiệm đòi hỏi kỹ thuật phức tạp
nên chưa áp dụng thường quy trên lâm sàng.
- Phương pháp khuếch đại gen (PCR – Polymerase Chain Reaction): là
một xét nghiệm có độ nhạy cao 94 – 100%, độ đặc hiệu rất cao 100%.
Phương pháp này cho phép phát hiện chuỗi AND đặc hiệu của H. pylori trong
mẫu sinh thiết dạ dày, trong dịch dạ dày, trong chất nhầy hoặc trong nước bọt,
mảng bám răng, trong phân có thể phát hiện mật độ vi khuẩn (VK) thấp
<106/1g phân. Tuy nhiên không cho phép phát hiện sự hiện diện của VK
sống. Kỹ thuật này cũng cho phép phát hiện VK từ mẫu sinh thiết dạ dày, sự
đột biến nhiễm sắc thể gây đề kháng với các macrolides sự hiện diện của các
gen có tiềm năng gây bệnh như gen CagA, allen VacA Sự khuếch đại của thư
nghiệm PCR dựa vào 30 – 40 chu kỳ nhiệt theo 3 bước: giai đoạn làm biến
tính, giai đoạn bắt cặp, giai đoạn kéo dài. Cuối cùng, những sản phẩm khuếch
đại trên 109 bản sao từ ADN đích ban đầu sẽ được phát hiện bằng phương
pháp điện di. Hiện nay, PCR là một kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến nhưng chưa
được phổ biến ở Việt Nam trong chẩn đoán H. pylori.
20
1.4.4.2. Phương pháp không xâm lấn
- Huyết thanh học:
- Phương pháp phát hiện kháng thể IgG đặc hiệu với H. pylori trong
huyết thanh.
+ Xét nghiệm huyết thanh học định tính: Xác định có hay không có
kháng thể H. pylori trong huyết thanh. Độ nhạy và độ đặc hiệu cao, kỹ thuật
đơn giản với những Kit bán sẵn trên thị trường cho chẩn đoán nhanh. Tuy
nhiên, phương pháp này chỉ cho biết có hay không có nhiễm H. pylori còn
hiện tại không biết rõ có còn H. pylori hay không.
+ Xét nghiệm huyết thanh học định lượng (với test ELISA chuẩn): Xác
định hàm lượng kháng thể trong huyết thanh. Vì thế, để đánh giá kết quả điều
trị, test ELISA phải làm sau điều trị ít nhất 6 tháng mới thấy được hàm lượng
kháng thể kháng H. pylori trong huyết thanh giảm. Do đó, phương pháp này
chỉ có giá trị trong nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H. pylori.
- Test thở (13C/14C urea breath test): Được coi là phương pháp đáng tin
cậy nhất và dễ thực hiện. Tuy nhiên, việc sư dụng test thở còn hạn chế do giá
thành cao và máy khá đắt.
+ Nguyên tắc: Sư dụng urea đã được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ
13
C hoặc 14C cho bệnh nhân uống, urea nhanh chóng bị thủy phân bởi urease
của H. pylori thành NH3 và CO2. Khí CO2 (có 13C hoặc 14C) được hấp thu
vào máu, vận chuyển đến phổi và được đào thải ra ngoài. Sự có mặt hoặc
không có mặt của H. pylori được đánh giá bởi nồng độ 13C, 14C đo được qua
lượng CO2 mà bệnh nhân thở ra.
+ Ưu điểm: Là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao (>95%).
Dùng để đánh giá kết quả diệt H. pylori sau điều trị mà không cần nội soi.
+ Nhược điểm: giá thành cao và trang thiết bị đắt tiền nên còn chưa phổ
biến rộng rãi ở các tỉnh nhất là các tỉnh vùng sâu vùng xa.
Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori qua phân, nước bọt và
nước tiểu đang trong thời kỳ nghiên cứu.