Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

BÁO cáo THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (616.14 KB, 37 trang )

STT

HỌ VÀ TÊN

MSV

LỚP

ĐÁNH GIÁ

1

Nguyễn Thị Lan Anh
(Nhóm trưởng)

611834

K61KHMTA

Tích cực

2

Nguyễn Phương Thảo

622856

K62QTKDB

Tích cực


3

Chúc Thị Hường

633007

K63KDNNA

Tích cực

4

Nguyễn Thị Thu Trang

633102

K63KDNNA

Tích cực

5

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

633003

K63KDNNA

Tích cực


Danh sách thành viên nhóm 03


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
DANH MỤC SƠ ĐỒ,BẢNG BIỂU,BIỂU ĐỒ
Phần 1: TỔNG QUAN CHUNG
1.1 TỔNG QUAN CHUNG THỊ TRƯỜNG VÀNG
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi trường vàng
1.1.3 Các thị trường vàng lớn trên thế giới
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VÈ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT
NAM
1.2.1 Tính chất
1.2.2 Ứng dụng
1.2.3 Vai trò vàng đối với nền kinh tế

Phần 2: THỊ TRƯỜNG VÀNG CỦA VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG TOÀN CẢNH THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀNG ĐẾN NỀN KINH TẾ
2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY BIẾN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG VÀNG
2.4 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG VÀNG
2.5 TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG VÀNG HIỆN NAY

Phần 3: TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM
3.1 TÁC ĐỘNG

3.1.1 Xuất khẩu
3.1.2 Nhập khẩu


3.1.3 Thị trường bất động sản
3.1.4 Cuộc sống của người dân
3.2 SO SÁNH THỊ TRƯỜNG VÀNG TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ

Phần 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM

Phần 5: DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT
NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
5.1 Dự báo xu hướng phát triển thị trường vàng tại Việt Nam
5.2 Dự báo xu hướng phát triển thị trường vàng trên thế giới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI NÓI ĐẦU
Từ xưa đến nay, vàng vẫn luôn được coi là biểu tượng của quyền lực và của
cải,luôn được lưu giữ như một khoản tiết kiệm trong mỗi gia đình. Vàng tượng
trưng cho vẻ đẹp,sự giàu có thịnh vượng của mỗi con người, của mỗi quốc gia.mọi
người luôn quan tâm đến vàng vì nó là công cụ chính để bảo vệ tài sản ,chống rủi
ro kinh tế và biến động chính trị. Những năm gần đây, giá vàng liên tục tăng biến
đổi theo chiều hướng gia tăng,làm cho thị trường vàng ngày càng trở nên sôi độn,
sự biến đổi giá không ngừng của nó đã mang đến những ảnh hưởng cả về tích cực
và tiêu cực đến nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Thị
trường vàng đã trở thành sự quan tâm lớn và nó đã thu hút chú ý của rất nhiều
người. Xuất phát từ thực tế của nền kinh tế hiện nay, nên nhóm em đã quyết định

chọn đề tài: “ Tìm hiểu Thị trường Vàng Việt Nam hiện nay”.
Mục đích nghiên cứu của nhóm em là tìm hiểu thực trạng thị trường Việt Nam
nhưng năm qua, những yếu tố tác động cũng như những ảnh hưởng của vàng đến
sự phát tiển của nền kinh tế đất nước ta. Từ đó cũng đưa ra nhưng so sánh ,giải
pháp và triển vọng của thị trường vàng trong nước nhằm phát triển thị trường vàng
Việt Nam trong thời kì nền kinh tế hội nhập, mở rộng khắp nơi trên thế giới.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do trình độ và thời gian có hạn nên nhóm em chỉ nghiên cứu về tình hình thị
trường vàng trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài dử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
truyền thống: phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp,phương pháp logic,so
sánh,tổng hợp,thống kê và so sánh từ các bảng biểu,biểu đồ từ các cơ quan ban
ngành có liên quan.
Mặc dù nhóm em đã có nhiều cố gắng và nỗ lực song do những hạn chế về tài liệu
và thời gian cũng như kinh nghiệm trong công tác tìm hiểu,thu thập các dữ liệu về
đề tài nghiên cứu,nên chúng em vẫn còn những thiếu sót. Vậy nên,nhóm em rất
mong nhận được sự góp ý của thầy để bài báo cáo của nhóm em hoàn thiện hơn.
Nhóm em xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC SƠ ĐỒ,BẢNG BIỂU,BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: biểu đồ biến động giá vàng 5 năm từ 2015- 2019 tính theo USD/oz
Hình 2.2.1: biểu đồ biểu diễn lượng vàng trang sức và vàng miếng và tiền
vàng tại Việt Nam(tấn)
Hình 2.2.2: biểu đồ biểu diễn lượng tiêu thụ vàng tại Việt Nam so sánh với các
quốc gia khác (2017)
Hình 2.3: biểu đồ biểu diễn sự dao động giá vàng SJC khoảng 6 tháng đầu
năm 2019(1/1/2019-19/7/2019) (triệu đồng)
Hình 2.4: đường biểu diễn diễn biến giá vàng trên thế giới(USD/OUNCE) từ
ngày 1/7/2019 đến 31/7/2019



Phần 1: TỔNG QUAN CHUNG
1.1 TỔNG QUAN CHUNG THỊ TRƯỜNG VÀNG
1.1.1 Khái niệm
Thị trường Vàng là thị trường bán buôn ngoài sàn để giao dịch vàng và bạc
giao ngay.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường vàng
- Quan hệ về nguồn cung vàng
Trước tiên, ta có thể nói rằng, vàng là một loại hàng hoá, một loại hàng hoá đặc
biệt. Chính vì mang tính chất của một loại hàng hoá nên vàng cũng chịu tác động
của quy luật cung cầu trên thị trường. Xét về nguồn cung của vàng, vàng được
cung cấp bởi chủ yếu từ những nước có trữ lượng vàng lớn, sản lượng xuất khẩu
lớn có tầm ảnh hưởng đến thị trường vàng thế giới: Nam Phi,Mỹ,Nga,Canada, Úc,
… Theo dự báo, nguồn cung vàng cho thế giới sẽ giảm nhẹ khoảng 1,3% so với
năm 2008 đạt mức 2.295 tấn(tương đương với 73,7 triệu ounce) nhưng vẫn đang
cao hơn so với nhu cầu thực tế. Trong năm 2009, dự báo thế giới sẽ dư khoảng 300
tấn vàng (tương đương với 9,1 triệu ounce).
Nguồn cung vàng từ khu vực Nam Phi, Úc và Canada sẽ giảm, nhưng lại tăng
tại các nước như Trung Quốc, Nga và Peru. Điều đáng lưu ý là, nếu giá vàng tăng
mạnh như trong thời gian vừa qua, nhiều khả năng các nước sẽ điều chỉnh tăng sản
lượng.
Ngân hàng trung ương một số nước như Italia và Đức, thậm chí cả IMF đang
cân nhắc bán vàng ra. Thỏa thuận bán vàng của các ngân hàng trung ương (CBGA)
sẽ hết hiệu lực vào tháng 9 năm nay. Nhưng, khả năng các ngân hàng trung ương
bán ra với khối lượng lớn vào thời điểm cuối năm nay là không nhiều.
Trong khi đó, nhu cầu về vàng trong năm 2009 có thể tăng nhẹ so với năm
ngoái. Tuy nhiên, hiện tại cầu tại một số thị trường đã qua thời đỉnh điểm. Ấn Độ một nước nhập khẩu vàng khá lớn đã không nhập vàng trong tháng 2/2009 do giá
vàng quá cao. Trong khi đó, cùng kỳ năm ngoái, quốc gia này đã nhập về 23 tấn.
Trung bình hàng năm, Ấn Độ nhập nhập khoảng 500-700 tấn vàng. Trong thời

điểm kinh tế bất ổn, việc đi tìm một công cụ đầu tư và tích trữ an toàn như vàng là
điều rất dễ hiểu. Hiện tại nhu cầu vàng đang được hỗ trợ vững chắc bởi các yếu tố
như nhu cầu mua vàng của một số ngân hàng trung ương nhằm tăng dự trữ vàng;


nhu cầu về đầu tư vàng thỏi và đầu cơ theo chỉ số giá vàng (ETF) và nhất là nhu
cầu nắm giữ vàng của các nhà đầu tư…
Thêm vào đó, chính vì loại hàng hoá đặc biệt nên vàng có tính hấp dẫn đối với
tất cả mọi người. Ai cũng muốn sở hữu và tích luỹ chúng vào các mục đích riêng
của mình:trang sức, tích luỹ, đầu tư, thanh toán, … Đối với nền kinh tế đang bất ổn
như hiện nay, nhu cầu vàng ngày càng gia tăng cao.
- Ảnh hưởng của USD đến giá vàng
Vì là một loại hàng hoá nên giá vàng cũng bị ảnh hưởng,tác động bởi các
đồng tiền nội tệ và ngoại tệ mua nó mà ở đây chủ yếu là đồng USD
Chính vì thế, việc giao động đồng USD cũng ảnh hưởng không nhỏ tới giá
vàng. Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh
tế Mỹ và những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy
yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị
trường tín dụng và thị trường vốn.
Như ta đã biết, thị trường bất động sản là nơi khởi nguồn, là nơi bắt đầu cho
cuộc đại suy thoái của kinh tế Mỹ. Sự suy giảm rồi kết quả là sụp đổ của thị trường
bất động sản sẽ kéo theo sự giảm giá trị của đồng USD. Sự suy giảm giá trị của
đồng tiền có sức ảnh hưởng lớn với nền kinh tế cũng kéo theo sự suy giảm về niềm
tin nơi các nhà đầu tư về đồng tiền này. Các nhà đầu tư đang dần chuyển sang một
loại tiền tệ khác có tính ổn định cao hơn và có tính an toàn hơn USD. Từ Euro,sang
Bảng Anh, và thậm chí có thể là dùng vàng là đơn vị chuyển đổi hàng hoá.
Thị trường bất động sản sụp đổ, hậu quả kéo theo là sự đi xuống của phố
Wall. Chứng khoán Mỹ đang đứng trước những chuỗi ngày dài đen tối nhất trong
lịch sử tồn tại của mình. Cổ phiếu của các hãng lớn lần lượt trượt dốc, không chỉ
khiến các đại tỷ phú mất đi phần lớn tài sản của mình mà còn khiến nhiều công ty

vì thế mà phá sản. Chuỗi dài ngày đen tối của kinh tế Mỹ được kéo dài cùng với
chuỗi các công ty, ngân hàng Mỹ cùng “rủ” nhau phá sản, xin trợ cấp. Mới đây
nhất chính là tập đoàn ôtô khổng lồ GM đang đứng bên bờ vực, chỉ đợi ngày phá
sản nếu không có sự ra tay cứu giúp kịp thời của Mỹ.
Từ Lehman Brothers đến Merrill Lynch rồi AIG,… tất cả đều có chung một
kết cục dù trước đây là những đại gia trên thị trường tài chính. Điều gì sẽ xảy ra
với nền kinh tế lớn nhất thế giới nếu các tập đoàn lớn cùng phá sản? Đó thực sự là


một thảm hoạ cho kinh tế thế giới mà ngay cả các nhà kinh tế học chuyên nghiên
cứu về suy thoái kinh tế hàng đầu cũng không dám tưởng tượng ra. Chủ tịch Cục
dự trữ Liên Bang Mỹ FED, Ben S. Bernanke,một nhà kinh tế học nghiên cứu suy
thoái kinh tế Mỹ những năm 1930 chắc chắc sẽ là người hiểu rõ nhất điều gì sẽ đến
với đầu tàu kinh tế thế giới.
Các công ty phá sản cũng đồng nghĩa với việc số lượng người thất nghiệp
cũng tăng lên theo từng ngày. Hàng loạt các công ty sát nhập, phá sản nhằm giảm
bớt chi tiêu cho ngân sách lương đã khiến cho hàng trăm ngàn công nhân phải thất
nghiệp. Các hãng khác như Yahoo,Microsoft,Samsung,Sony,… cũng phải cắt giảm
công nhân thậm chí đóng cửa các chi nhánh làm việc khônh có hiệu quả. Số lượng
nhân công thất nghiệp phản ánh thực trạng của nền kinh tế của một nước. Nó cho
biết kinh tế đất nước đang nằm trong giai đoạn phát triển hay suy thoái. Qua đó, số
lượng người thất nghiệp cũng ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế của Mỹ,
ảnh hưởng đến tỷ giá đồng USD đối với các loại tiền tệ khác cũng như đối với giá
vàng.
Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD,
đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết
định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED
công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác
động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD. Dù quyết định tăng/giảm lãi suất
của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế

hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định
tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong
ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các
ngoại tệ khác trong mối tương quan so sánh. Khi giá trị của đồng USD dao động,
giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD cũng dao động tức thời theo
quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng
có giá là 800 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi suất thì vàng “vô tình” bị định giá
thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng
lên, trong trường hợp này 1 ounce vàng sẽ có giá là 810 USD.
- Mối quan hệ giữa vàng và dầu
Sự tương quan trong biến động giá cả giữa các loại hàng hóa trên thị trường là
điều không tránh khỏi, nhất là các loại hàng hóa cùng được định giá bằng một loại
tiền tệ, trong đó vàng và dầu là 2 loại hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ về giá.


Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới được biết đến là
vùng Trung Đông và các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng,
do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông
quá lớn, ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều NĐT thường nhìn vào
diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu
để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng.
Tuy nhiên, cần có sự phân biệt rằng, vàng và dầu là 2 loại hàng hóa khác
nhau, dĩ nhiên sẽ chịu những tác động khác nhau khi biến động giá cả. Nếu sự biến
động của dầu được đánh giá là đến từ tác động của đồng USD thì dao động giá dầu
phần lớn sẽ diễn biến tương quan với biến động của vàng.
Nhưng nếu yếu tố tác động khiến cho dầu dao động không đến từ đồng USD,
mà vì lý do khác thì khó có thể nói rằng, diễn biến của vàng rồi cũng diễn ra theo
chiều hướng như vậy.
Dù vậy, sự tăng hay giảm giá dầu đều có tác động ít nhiều đến nền kinh tế Mỹ
vì Mỹ là nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới và thật là thảm họa cho nền

kinh tế Mỹ nếu một ngày nào đó không đủ lượng dầu đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ
thì các hoạt động kinh tế, sản xuất… đều có khả năng ngưng trệ.
Tuy nhiên, cần phân tích những tác động của biến động giá dầu đến nền kinh
tế Mỹ, qua đó tác động trở lại giá trị đồng USD thì mới dự đoán được diễn biến
dao động giá vàng.
1.1.3 Các thị trường vàng lớn trên thế giới
+ Thị trường vàng London
+ Thị trường vàng New York
1.2 Giới thiệu chung về vàng và thị trường vàng Việt Nam
1.2.1 Tính chất
-

Vàng Việt nam hay còn gọi là vàng ta:

+ Vàng ta có tính dẫn nhiệt và điện tốt và không chịu tác động bởi không khí,
hoàn toàn không bị bay hơi khi hóa lỏng.


+ Vàng ta không bị ảnh hưởng về mặt hóa học khi tiếp xúc với nhiệt độ cao
hoặc thấp nên sẽ không bị biến dạng.
+ Vàng ta hoàn toàn không bị ôxy và hầu hết chất ăn mòn nên dễ dàng cất
giữ.
+ Vàng ta có thể dùng để tạo ra nhiều hợp kim khác nhau như kết
hợp với đồng sẽ cho màu đỏ hơn, kết hợp với sát cho màu xanh lá, với
nhôm cho màu tia và với bạc cho ra màu trắng… để làm trang sức…

- Đơn vị đo lường:
Các đơn vị đo lường Vàng:
Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính
theo đơn vị là cây vàng (còn gọi là lượng hay lạng) hoặc là chỉ vàng.

+ 1 lượng vàng = 1 cây vàng = 10 chỉ vàng
+ 1 chỉ vàng = 10 phân vàng
+ 1 phân vàng = 10 ly vàng
+ Một cây vàng nặng 37,50 gram. +Một chỉ vàng bằng 1/10 cây
vàng, nghĩa là 1 chỉ vàng nặng 3,75 gram.
+ Trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là troy ounce
(ký hiệu oz). 1 troy ounce tương đương 31.1034768 gram.
1.2.2 Ứng dụng
+Trao đổi tiền tệ
+Đầu tư
+Nữ trang


+Y học
+Thực phẩm và đồ uống
+Công nghiệp
+Điện tử
+Hoá học
+Xây dựng
VD:
1,Điện thoại di động
Vàng thường có mặt trong các mối nối, thiết bị chuyển mạch… giúp điện
thoại không bị ăn mòn. Theo Hội đồng Vàng thế giới, một chiếc điện thoại di động
chứa 50 mg vàng, đó là một lượng rất nhỏ. Tuy nhiên, nếu nhân với con số 1 tỷ
điện thoại di động sản xuất mỗi năm, khối lượng vàng đã lên một con số đáng kể,
khoảng gần 500 triệu đô la.
2, Chữa viêm khớp
Ngày nay, kim loại quý đã được sử dụng để điều trị bệnh nhân viêm khớp.
Trong đó vàng được sử dụng để làm giảm sưng, làm lành những vết tổn thương
xương, giảm đau và sưng khớp. Quá trình chữa trị bằng vàng rất chậm, bệnh nhân

thường phải được “tiêm” vàng trong vòng 22 tuần liên tiếp mới mong khỏi bệnh.
- Vai trò của vàng trong nền kinh tế
 Vàng là một kênh chú ẩn an toàn chống lạm phát,biến động giá và bất
ổn kinh tế chính trị
+Đa dạng hoá danh mục đầu tư(danh mục đầu tư có vàng sẽ ổn định hơn so
với các danh mục đầu tư khác)
+Là kênh ngắn hạn phòng ngừa rủi rõ cho thị trường chứng khoán Âu Mỹ
+Công cụ đầu tư thay thế đồng USD ,dự trữ ngoại hối
+Tạo lực ổn định cho hệ thống tài chính bằng cách làm giảm các khoản thua
lỗ khi thị trường chứng khoán đối diện những cú sốc
 Vàng không được coi là tiền tệ chính thức ở các nước phát triển nhưng tác
động mạnh đến giá trị tiền tệ vàphải coi trọng tính thanh khoản.
1.2.3 Vai trò vàng đối với nền kinh tế


- Vàng giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư (danh mục đầu tư có chưa vàng sẽ
ổn định hơn so với các danh mục khác)
- Là công cụ đầu tư thay thế đồng USD,vàng còn được sử dụng trong việc dự
trữ ngoại hối.
- Vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho thị trường chứng khoán.
- Là kênh trú ẩn ngắn hạn lẫn phòng ngừa rủi ro cho thị trường chứng khoán
Âu Mỹ.
- Vàng có thể tạo lực ổn định cho hệ thống tài chính bằng cách làm giảm các
khoản thua lỗ khi thị trường chứng khoán đối diện với những cú sốc.


PHẦN 2 Tổng quan về thị trường vàng của Việt Nam
2.1 Thực trạng toàn cảnh thị trường vàng hiện nay
Với nhu cầu vàng đạt trên 60 tấn /năm trong khi nhu cầu về vàng bị hạn
chế,chưa liên thông với thị trường thế giới nên giá vàng tại Việt Nam luôn cao hơn

trên thế giới: 12 /2016,sự chênh lệnh giá là trên 5.000.000 đồng/ lượng.Tuy
nhiên ,vì không có nguồn quặng mới đủ dể cung cấp sản lượng khái thác và thay
thế lượng vàng tiêu dùng.Dẫn dến,trong những năm qua ,sản lượng vàng trên thế
giới chỉ tăng được 3% trong khi giá vàng tăng hơn 20%.
Theo chuyên gia tài chính – ngân hàng TS.Nguyễn Trí Hiếu ,giá vàng biến
động mạnh trong thời gian gần đây do tình hình biến động ,có sự xung đột trên thị
trường tài chính,quân sự,chính trị trên thế giới: “ việc ngân hàng dự trữ liên bang
mỹ giảm lãi suất cùng với chiến tranh thương mại Mỹ -Trung chưa có hướng giải
quyết đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu nói chung,cũng như thị trường
giá vàng nói riêng.

Hình 2.1: biểu đồ biến động giá vàng 5 năm từ 2015- 2019 tính theo USD/oz


Dự báo giá vàng thế giới và trong nước từ nay trong năm 2019 vẫn đang có
xu hướng tăng,giá vàng có thể đạt mốc tới 1450 USD/ounce nếu những bất ổn về
tình hình tài chính thế giới và cuộc đối đầu giữa Iran-Mỹ không có dấu hiệu được
giải quyết.Điều đó cũng đồng nghĩa với “vàng là nơi trú ẩn an toàn trong một thế
giới bất ổn như hiện nay.”
Tại phiên giao dịch ngày 3/9/2019, giá vàng giao kì hạn leo lên mức cao nhất
trong 6 năm qua. Viện quản lý nguồn cung (ISM) công bố chỉ số ngành sản xuất
rớt xuống mức 49,1% vào tháng 8/2019 từ 51,2% của tháng 7/2019.( dưới ngưỡng
50% cho thấy tình hình kinh tế dang xấu đi). Đóng cửa phiên ngày thứ 3
3/9/2019 ,giá vàng giao kì hạn tháng 12/2019 tăng 26,60 USD/ounce tương đương
với 1,7% lên 1555,90 USD/ounce.
Thị trường vàng trong nước có nhiều biến động do chịu ảnh hưởng của diễn
biến giá vàng trên thế giới.Với những biện pháp quản lý,điều hành của cơ quan nhà
nước,ngân hàng nhà nước ,nói chung thị trường vàng đã có sự ổn định nhất
định.Hiện nay,Chính phủ đã ban hành nghị định 24/2012/NĐ-CP nhằm tăng cường
biện pháp quản lý kinh doanh thị trường vàng,tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa

được như mong đợi.Tuy nhiên ,chính sách của Chính Phủ cũng han chế sự đầu
cơ ,buôn lậu vàng góp phần ổn định tỷ giá ngoại tệ.
Việt nam là 10 nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới. Theo số liệu thống kê
của hội đồng vàng thế giới,vào 2015Việt Nam đứng thứ 9 thế giới về nhu cầu vàng
tiêu dùng,đến năm 2017 xếp thứ 14 trên thế giới về lượng tiêu thụ vàng trên đầu
người.Trong những năm gần đây,người dân Việt Nam có xu hướng mua vàng với
mục đích làm tài sản tiết kiệm,đầu tư và làm trang sức.


Tính về số lượng ,vàng miếng và tiền vàng vẫn chiếm tới 70% tổng tiêu thụ
vàng tại Việt Nam.

Hình 2.2.1: biểu đồ biểu diễn lượng
vàng trang sức và vàng miếng và
tiền vàng tại Việt Nam(tấn)

Hình 2.2.2: biểu đồ biểu diễn lượng
tiêu thụ vàng tại Việt Nam so sánh
với các quốc gia khác (2017)

- 2010-2013: Chính Phủ ban hành quy định nahwmf kiểm soát thị trường vàng
,chấm dứt tình trạng “vàng hóa” tại ngân hàng.
- 2012-2017 ,quy mô thi trường vàng miếng giảm mạnh với tỷ lệ tăng trưởng
kép giảm 13%,tuy nhiên thị trường trang sức tăng trưởng kếp 10% mỗi năm.
Tuy nhiên,tỷ lệ tiêu thụ vàng trang sức/tổng tiêu thụ vàng tại Việt Nam mới
chỉ là 31% trong khi các nước khác trong khu vực trên 50%.Chỉ riêng trong tháng
8 vừa qua, giá vàng miếng tại Việt Nam tăng 2,8-3 triệu đồng/lượng. Nếu tính từ
đầu tháng 6 đến nay, mỗi lượng vàng đã tăng thêm khoảng 6-7 triệu đồng/lượng.
Hiện giá vàng miếng SJC mua vào dao động quanh mức 42,25 triệu đồng/lượng và
bán ra 42,6 triệu đồng/lượng. Trước đó, có thời điểm giá vàng trong nước vượt



43,5 triệu đồng/lượng, cao nhất trong bảy năm. Dù giá vàng tăng sốc nhưng giao
dịch khá yếu.

2.2 Ảnh hưởng của thị trường vàng đến nền kinh tế
Một lượng vàng rất lớn đang được người dân nắm giữ. Đang trở thành luồng
vốn hoạt động không chính thức gấy sức ép không nhỏ đến chính sách tiền tệ,tăng
trưởng kinh tế nói chung và hoạt động các ngân hàng thương mại nói riêng.

Hình 2.3: biểu đồ biểu diễn sự dao động giá vàng SJC khoảng 6 tháng đầu
năm 2019(1/1/2019-19/7/2019) (triệu đồng)


Giá vàng tăng cao gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và
ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn.Xét từ quan hệ ảnh hưởng từ trực tiếp có thể
thấy tác động của giá vàng tăng như sau:
- Ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của khu vực tài chính; khi
giá vàng tăng người dân sẽ rút tiết kiệm trong ngân hàng để đầu tư vàng thay vì gửi
tiết kiệm như bình thường tại ngân hàng.Dẫn đến việc huy động vốn kinh doanh tại
cái NHTM bị giảm sút,ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân
hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
- Thị trường ngoại tệ tự do bành trướng: tình trạng USD hóa ở Việt Nam
không chỉ biểu hiện bằng tỉ lệ gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng
mà còn là khối lượng ngoại tệ lưu hành ngoài hệ thống tài chính,khi giá vàng tăng
làm cho nhu cầu mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lậu rất lớn đến
đến tỷ giá USD tăng ,khó kiểm soát.
- Nguy cơ lạm phát: trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế dẫn đến hiện tượng
dùng vàng để định giá các tài sản lớn điển hình là bất động sản.Khi vàng trở thành
thước đo giá trị,việc vàng tăng giá cao kéo giá bất động sản và các loại hàng hóa

khác tăng theo,gây nguy cơ lạm phát.
- Thâm hụt cán cân thương mại: khi giá vàng tăng thì nhập khẩu vàng tăng và
nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu càng lớn. Khối lượng vàng cất trữ rất lớn và gia
tăng nhanh chóng những năm này đã giải thích vì sao thâm hụt cán cân thương
mại.
2.3 Nguyên nhân gây biến động
Giai đoạn 2007-2008, khi xảy ra khủng hoảng tín dụng của Mỹ, Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ (Fed) đã giảm lãi suất cơ bản từ trên 4% xuống 0%, mức giảm cực
lớn… Trong bối cảnh đó, giá vàng tăng vọt lên 1.924USD, kéo theo giá vàng trong
nước tăng 49 triệu đồng vào thời điểm đó.
Còn trong ba tháng qua, từ ngày 4-6 đến nay, giá vàng thế giới đã tăng trên
17%. Đây là một con số đáng kể và giá vàng trong nước đã tăng đuổi kịp giá vàng
thế giới.
Trong giai đoạn đầu tháng 6, giá vàng thế giới tăng nhưng giá vàng trong
nước tăng chậm hơn. Đến ngày 26/8/2019, tại Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Osaka
(Nhật), khi đình chiến thương mại không có kết quả và xảy ra khủng hoảng vùng
vịnh Iran đã thổi bùng giá vàng.


Trong khoảng thời gian này, giá vàng tăng vượt mức 10% và tâm lý hành vi
người tiêu dùng bắt đầu thay đổi. Khi giá vàng đạt lợi suất 17%, lúc này tỉ suất lợi
nhuận vàng đã đánh đổ lợi tức các kênh truyền thống khác như trái phiếu, chứng
khoán, tiền gửi ngân hàng. Cũng từ đây người tiêu dùng củng cố lòng tin vàng chỉ
có tăng và không giảm nên trở lại kênh vàng vì sợ chậm chân. Đó là lý do giải
thích đến tháng 8, giá vàng trong nước bám rất chặt giá vàng thế giới.
Thứ nhất , vàng thế giới bị chi phối bởi nền kinh tế.
Vào phiên sáng đầu tuần 7/1/2019, giá vàng thế giới giao ngay giao dịch
quanh mốc 1288 USD/ounce,tăng 4 USD .Đây là phiên đầu tiên Mỹ-Trung quốc
diễn ra đợt đàm phán cấp Thủ trưởng giải quyết vấn đề thương mại 2 nước,vàng
tiếp tục tăng.giá vàng trên thế giới biến động khá mạnh trong trong nửa năm đầu

2019.Các chuyên gia đều cho rằng vàng tăng-giảm đều phụ thuộc vào những nhận
định về nền kinh tế có ổn định,hay giảm tăng trưởng.
Thứ hai, vàng trong nước đi theo thế giới.

Hình 2.4: đường biểu diễn diễn biến giá vàng trên thế giới(USD/OUNCE) từ
ngày 1/7/2019 đến 31/7/2019
Nhận định của chuyên gia và đầu tư,vàng đang dy trì ở mức cao và có khả
năng còn tăng bởi nền kinh tế toàn cầu đang gặp khá nhiều trở ngại do chiến tranh


thương mại Mỹ-Trung.Chỉ đến khi nào 2 quốc gia này chính thức đi đến quyết định
tháo gỡ thì vàng mới có thể giảm sâu.

Thứ ba, việc vàng miếng SJC chiếm thị phần lớn (tới trên 90%) tạo lợi thế độc
quyền tự nhiên, dẫn đến mỗi khi giá vàng biến động, tình trạng khan hiếm vàng
SJC làm cho thị trường biến động mạnh hơn.

Thứ tư, do sự thiếu thống nhất trong các quy định về chức năng quản lý Nhà nước
đối với hoạt động kinh doanh vàng.
Thứ năm, do những bất cập trong quy định về huy động cho vay vốn bằng
vàng.những năm gần đây,khi thị trường quốc tế và trong nước có những biến động
mạnh,các tổ chức tín dụng đã thực hiện cho vay vàng đối với cá nhân,mua bán
vàng miếng quy mô lớn trên thị trường đã làm gia tăng đầu cơ,thị trường ngầm về
vàng diễn biến phức tạp, tăng lậu nhập vàng,ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tiền
tệ,ngoại hối và tỷ giá.
Thứ 6, những bất cập và hệ lụy của Chính phủ ban hành Nghị định số 24/NĐ-CP .


- có những mẫu thuẫn với Luật doanh nghiệp.sự hình thành mạng lưới doanh
nghiệp cửa hàng kinh doanh vàng nhỏ lẻ là xuất phát từ nhu cầu tất yêu của thị

trường,là hệ thống phân phối tự nhiên trên cư sở cung-cầu xã hội. Không ai bỏ vốn
đầu tư kinh doanh khi thi trường không có nhu cầu.Trên thị trường các doanh
nghiệp nhỏ lẻ không đủ vốn đầu tư để đầu cơ ,thâu tóm thi trường mà chỉ có thể là
những ngân hàng, doanh nghiệp có nhiều vốn.do vậy,việc quy định chỉ cho phép
các đơn vị có vốn lớn kinh doanh vàng chính là tạo điều kiện ,môi trường cho hoạt
động đầu cơ, lũng đoạn phát sinh.
- Gây ra tính độc quyền 1 thương hiệu của 1 doanh nghiệp: SJC chiếm hơn
90% thị trường vàng trong nước.về mặt lí thuyết,điều này tạo điều kiện thuận lợi
cho việc nhà nước quản lý,song trên thực tế, đã xuất hiện các loại vàng SJC giả
nhái kém chất lượng.
- Việc ổn định tỉ giá; do sự kiềm chế lạm phát,lượng ngoai tệ mua vào dự trữ
nhiều hon,do sự khó khăn,đình trệ của nền kinh tế dẫn tới sản xuất bị đình trệ,nhu
cầu nhập khẩu nguyên vật liệu của doanh nghệp cũng nhue nhu cầu tiêu dùng của
người dân sụt giảm,nên nhu cầu ngoại tệ giảm,tỷ giá không biến động nhiều,tương
đối ổn định.
- Gây ra sự mẫu thuẫn trong điều hành thị trường vàng với Nghi quyết Quốc
hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2013
- Tính bất hợp lý của việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với vàng: sau việc
lạm dụng sự độc quyền trong kinh doanh vàng miếng của SJC là 1 động thái mới
của Ngân hàng nhà nước sự định đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào vàng .thuế suất
tiêu thụ đặc biệt dao động từ 10% - 15%.Nếu tiến hành đánh thuế tiêu thụ đặc biệt
thì người dân sẽ hạn chế giao dịch vàng tại các cửa hang.Nếu đánh thuế người dân
sẽ chuyển sang mua các hình thái khác của vàng do thói quen tích trữ không thay
đổi; chênh lệch giá càng tăng cao gây rối loạn thêm thị trường vàng trong
nước. Vàng không phải một loại hàng hóa xa xỉ mà là phương tiện cất giữ, bảo
toàn vốn thông dụng tại Việt Nam, phổ biến trong mọi tầng lớp.
2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến thị trường vàng
1. Dự trữ Ngân hàng trung ương
Các ngân hàng trung ương thường dự trữ tiền giấy và vàng dự. Hội đồng
Vàng Thế giới đã tuyên bố rằng các ngân hàng trung ương gần đây đã bắt đầu mua

vàng nhiều hơn lượng họ bán ra, lần đầu tiên điều trong nhiều thập kỷ. Khi các
ngân hàng trung ương đa dạng hóa dự trữ tiền tệ của họ – giảm tích lũy tiền giấy và


tăng tích lũy vàng – giá vàng tăng. Có nhiều quốc gia trên thế giới dự trữ vàng là
chủ yếu, bao gồm Hoa Kỳ, Đức, Ý, Pháp, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và khu vực đồng
Euro.

2. Giá trị của đồng Đô la Mỹ
Nhìn chung, giá vàng thường tỉ lệ nghịch với giá trị đồng đô la Mỹ: đồng đô
la Mỹ mạnh có xu hướng làm cho giá vàng thấp hơn và ổn định hơn; đồng đô la
Mỹ yếu có thể sẽ đẩy giá vàng cao hơn, bởi vì mọi người có khuynh hướng đầu tư
và giao dịch đô la khi đồng đô la đang mạnh. Trong thời kỳ bất ổn về kinh tế và khi
đồng đô la yếu đi, người ta thích đầu tư vào vàng thông qua các phương tiện như
quỹ vàng hoặc đồng tiền vàng.


3. Thị trường trang sức toàn cầu và nhu cầu công nghiệp
Theo Hiệp hội Vàng Thế giới và Hiệp hội Thị trường Vàng Luân Đôn, trong
năm 2010, trang sức chiếm khoảng 54% nhu cầu vàng, đạt 3,812 tấn. Ấn Độ,
Trung Quốc và Mỹ là những nước tiêu dùng vàng lớn nhất về khối lượng trang sức.
Cụ thể, nhu cầu tiêu dùng ở Trung Quốc trong hai tháng đầu năm 2011 đạt 200 tấn
– tăng vượt bậc so với năm trước và chỉ mất 10 tháng để đạt 209 tấn. 12% nhu cầu
vàng khác là sử dụng trong y tế và các ngành công nghiệp sử dụng vàng, nơi nó
được sử dụng trong sản xuất các thiết bị y tế như ống chống tắc nghẽn và thiết bị
điện tử như GPS. Giá vàng có thể bị ảnh hưởng bởi lý thuyết cơ bản về cung và
cầu: khi nhu cầu tiêu dùng những hàng hóa như như đồ trang sức và điện tử gia
tăng, giá vàng có thể tăng theo.
4. Bảo vệ tài sản
Trong thời kỳ bất ổn của nền kinh tế, như đã thấy trong cuộc suy thoái cuối

những năm 2000, nhiều người quay sang đầu tư vào vàng vì giá trị lâu dài của nó.
Vàng thường được coi là “nơi trú ẩn an toàn” cho các nhà đầu tư trong khoảng thời
gian không ổn định của nền kinh tế. Khi lợi nhuận kỳ vọng hoặc thực tế của trái
phiếu, chứng khoán và bất động sản giảm, lãi suất đầu tư vàng tăng, đẩy giá của nó
lên. Vàng có thể được sử dụng như một công cụ bảo đảm cho nhà đầu tư khỏi sự
mất giá tiền tệ, lạm phát hay giảm phát. Thêm vào đó, vàng còn được xem là công
cụ bảo vệ bạn khỏi sự bất ổn về chính trị, gần đây là tình trạng bất ở Trung Đông
và Bắc Phi (MENA), điều này phần nào chịu trách nhiệm việc giá vàng phục hồi
và đạt mức giá cao mới.
5. Sản lượng vàng
Các nước khai thác vàng lớn trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Nam Phi,
Mỹ, Australia, Liên bang Nga và Peru. Sản lượng vàng thế giới ảnh hưởng đến giá
vàng, đây một ví dụ khác về cung và cầu. Theo GFMS, sản lượng khai thác vàng
tăng khoảng 3% trong năm 2010 lên khoảng 2,652 tấn, trong khi một số mỏ mới đã
bắt đầu hoạt động. Tuy nhiên sản lượng khai thác vàng đã giảm trong những năm
2000. Một nguyên nhân chính là tất cả những vàng “dễ khai thác” đều đã được
khai thác thác; các thợ mỏ bây giờ phải đào sâu hơn để để có thể tìm được nguồn
vàng chất lượng. Việc vàng trở nên khó khai thác hơn đã gây ra thêm một số vấn
đề: các thợ mỏ đối diện với nhiều nguy hiểm hơn, và việc khai thác vàng tác động
nhiều hơn đến môi trường. Nói tóm lại, chúng ta đang tốn nhiều tiền hơn để có
được ít vàng hơn. Điều này làm tăng chi phí sản xuất vàng, dẫn đến giá vàng tăng.
2.5 Triển vọng thị trường vàng


- Với nhu cầu tiêu thụ nữ trang ngày một lớn: theo báo cáo của Euromonitor,
ngân sách chi tiêu của người Việt Nam đã tăng mạnh từ cả thành thị đến nông thôn
trong năm 2017 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới. Còn
báo cáo mới đây của Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số GDP tương ứng với sức
mua của người Việt Nam trong năm 2017 đạt 6.876 USD/người và sẽ nâng lên mức
7.377 USD/người trong năm 2018.


Trong khi đó, theo báo cáo của Hội đồng Vàng thế giới, nhu cầu trang sức vàng
toàn thế giới năm 2017 tăng 4% so với năm 2016, đạt 16,5 tấn, đặc biệt tăng mạnh
trong quý IV. So với các nền kinh tế trong khu vực, ngoại trừ Hồng Kông và
Indonesia, mức cầu trang sức của thị trường Việt Nam thường cao hơn các thị
trường còn lại, đặc biệt trong năm 2017, biên độ còn được nới rộng hơn. Cũng theo
số liệu từ Hội đồng Vàng thế giới, trong khi lượng cầu trang sức vàng của hầu hết
các nền kinh tế trong khu vực đều giảm, thì Hồng Kông và Việt Nam là 2 thị
trường có mức tăng trưởng cao hơn năm 2016.
Vàng rất khó kiểm soát chất lượng. hàng ngoại nhập vào thị trường nhờ mẫu
mã đa dạng đã thu hút không ít người tiêu dùng quan tâm, nhưng khó có thể kiểm
soát được chất lượng. Bởi vậy, chất lượng nữ trang là vấn đề khiến người mua đau
đầu và hiện chưa có giải pháp xử lý triệt để.Thông tư 22/2013/TT-BKHCN ngày
26/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý đo lường trong
kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ đã có hiệu lực 2
năm qua, nhưng trên thực tế, vẫn rất ít doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng nữ
trang thực hiện đúng tiêu chuẩn.Trên thị trường vàng hiện nay, số lượng cửa hàng
kinh doanh vàng là rất nhiều, nhưng các thương hiệu lớn thì ít, đặc biệt số lượng
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng quy mô có thương hiệu quốc gia chỉ đếm
trên đầu ngón tay. Vì vậy, việc còn nhiều doanh nghiệp chưa áp dụng tiêu chuẩn


vàng theo Thông tư 22/2013 là không quá khó hiểu, thậm chí nhiều đơn vị nhỏ lẻ
còn chưa biết đến quy định này.
Đây chính là thách thức lớn nhất đối với các cơ quan quản lý trong việc đưa
ra các chính sách kiểm soát chất lượng vàng nữ trang, đặc biệt là chất lượng vàng
nữ trang ngoại nhập, trong khi mẫu mã và giá của mặt hàng này lại khá cạnh tranh
so với nữ trang của doanh nghiệp nội.
- Hoạt động kinh doanh vàng đang gặp khó khăn :Theo quy định hiện hành,
các doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng chỉ được bán vàng miếng nhãn hiệu SJC,

thay vì được bán nhiều nhãn hiệu vàng miếng như trước đây. Hiệp hội Kinh doanh
vàng Việt Nam (VGTA) cũng đã có kiến nghị, khi vàng miếng bị hạn chế thì cần
thiết mở rộng thị trường vàng nữ trang, chẳng hạn cho nhập khẩu vàng nguyên liệu
và xuất khẩu vàng nữ trang có kiểm soát.


PHẦN 3.Tác động của thị trường vàng đến nền kinh tế Việt Nam
3.1 TÁC ĐỘNG
3.1.1 Xuất Khẩu
Việt Nam là nước tiêu thụ vàng nhiều thứ 8 trên thế giới. Tổng nhu cầu vàng
cả năm 2011 của Việt Nam tăng 23% từ mức 81,4 tấn trong năm 2010 lên mức
100,3 tấn năm 2011. Trong khi nhu cầu vàng nữ trang của Việt Nam năm 2011
giảm 9% còn 13 tấn, nhu cầu đầu tư vào vàng miếng đã tăng 30% lên 87,3 tấn.
Nhu cầu vàng trên thị trường vàng Việt Nam bao gồm: Nhu cầu trang sức, nhu cầu
tích lũy, nhu cầu sản xuất và nhu cầu đầu tư. Nhưng, cũng như trên thị trường thế
giới, nhu cầu đầu tư vàng trên thị trường có tác động mạnh đến giá vàng.
3.1.2 Nhập Khẩu.
Nguồn cung vàng của của Việt Nam hàng năm chính là nguồn vàng nhập
khẩu. Khi giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới quy đổi, các công ty kinh
doanh vàng, có sẵn nguồn vàng sẽ xuất khẩu vàng để thu lợi nhuận; Ngược lại, khi
giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, họ lại nhập khẩu vàng để cung cấp
cho thị trường trong nước. Tuy nhiên, nguồn cung này lại phụ thuộc vào hạn ngạch
do Ngân hàng Nhà nước cho phép nên đáp ứng chậm so với nhu cầu, điều này càng
đẩy giá vàng lên cao hơn, tạo điều kiện cho đầu cơ và buôn lậu vàng, khiến tình
hình giá vàng trong nước càng khó kiểm soát.
3.1.3 Thị Trường Bất Động Sản.
Sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là Sàn giao dịch vàng ACB, được
hình thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài
gòn – trực thuộc NHTM cổ phần Á Châu (ACB) gồm 9 thành viên.Các thành viên



×