Quy tắc làm thơ
1. Tiếng bằng
Tiếng bằng là những tiếng KHÔNG DẤU, và những tiếng có DẤU HUYỀN, thí dụ như
hai chữ "thơ" và "tình", cả hai chữ này đều là tiếng bằng!
Tiếng bằng là những tiếng có giọng ÊM dịu, có thể đọc kéo dài ra được.
Tiếng bằng có HAI LOẠI: THƯỢNG BÌNH THANH, và HẠ BÌNH THANH. Nói bằng
cách khác, thượng bình thanh là tiếng bổng, hạ bình thanh là những tiếng CHÌM hay trầm.
Nhất Lang dùng hai chữ thí dụ trên để nói tiếp: "Thơ" là tiếng KHÔNG CÓ DẤU, ta gọi là
tiếng bổng! "Tình" là tiếng CÓ DẤU HUYỀN, ta gọi là tiếng CHÌM hay trầm!
Tiếng bổng và tiếng trầm chan hòa với nhau tạo ra âm điệu du dương, làm bài thơ hay hơn.
Nếu ta chỉ dùng 1 loại tiếng trong một câu thơ thì âm điệu sẽ rất ngang và trúc trắc.
2. Tiếng trắc
Bên cạnh những tiếng bằng, chúng ta còn cần phải làm quen với những tiếng trắc. Tiếng
trắc là những tiếng có giọng đọc ngắn, không kéo dài ra như tiếng bằng.
Những tiếng có chữ C, CH, P, T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu SẮC, HỎI,
NGÃ, NẶNG đều là những tiếng trắc.
Cũng như tiếng bằng, trắc có tiếng trầm và bổng - tiếng trầm của tiếng trắc là những tiếng
có dấu HỎI và NẶNG, tiếng bổng của tiếng trắc là những tiếng có dấu SẮC và NGÃ.
Hai chữ "lãng" và "mạn" đều là tiếng trắc, "lãng" là tiếng bổng, "mạn" là tiếng trầm hay
chìm.
3. Kết hợp bằng, trắc
Mỗi câu thơ đều nên có tiếng bằng và tiếng trắc, và vì hai loại tiếng khác nhau, nên ta phải
xếp sao cho tiếng nọ chế tiếng kia, thì khi đọc sẽ tìm thấy một âm điệu du dương. Nói tóm
lại, mỗi câu thơ nên được xếp sao cho mỗi loại tiếng chan hòa với nhau, có nghĩa là cố giữ
sao cho câu thơ 8 chữ phải có ít nhất 3 tiếng bằng, 5 tiếng trắc hoặc ngược lại... nếu được
4 tiếng này, 4 tiếng kia thì càng tốt; câu thơ 8 chữ mà chỉ có 1 tiếng bằng và 7 tiếng trắc,
thì câu thơ ấy thiệt là chướng tai ghê lắm.
Cho dù câu thơ có mấy chữ đi nữa, bằng và trắc nên được cân đối với nhau, tuy nhiên
không đòi hỏi phải bằng số!
Văn thơ khác hơn âm nhạc ở chỗ chữ bằng không thể nào hợp VẬN cùng chữ trắc. Nghĩa
là chữ TÌNH có thể vần cùng chữ MÌNH, nhưng không thể vần cùng chữ TÍNH.
Luật định: bằng vần với bằng, trắc vần với trắc.
4. Kết hợp trầm, bổng
Tiếng bổng và trầm được xếp ra sao thì là do biệt tài của mỗi người, ta không có luật định
rõ. Tuy nhiên, trầm và bổng được xem là nhất định ở chữ thứ 6 và thứ 8 trong câu BÁT
của thơ lục bát. Nếu tiếng bổng được dùng ở vị trí chữ thứ 6 thì tiếng trầm nhất định phải
được dùng ở vị trí chữ thứ 8. Và ngược lại, nếu chữ thứ 6 đã là tiếng trầm, thì chữ thứ 8
nhất định phải là tiếng bổng. Nếu 1 loại tiếng được dùng ở cả hai vị trí nói trên, thì câu thơ
ấy sẽ bị mất đi âm điệu của thơ.
Các bạn đọc thử hai câu thơ này:
Đêm nay trăng tỏ sao mờ,
Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em về.
Các bạn đọc lại hai câu này:
Đêm nay trăng tỏ sao mờ,
Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em tôi.
Hai câu trên đọc nghe chướng tai lắm, vì cả hai tiếng trầm đều được dùng ở vị trí thứ 6 và
8 trong câu bát (câu có 8 chữ). Hai câu dưới đọc nghe êm tai, vì hai loại tiếng khác nhau
(trầm và bổng) đã được dùng vào vị trí chữ thứ 6 và 8 trong câu bát.
5. Vần
VẦN - nghĩa là những tiếng có cùng một âm hưởng; hai tiếng có cùng giọng phát âm thì
VẦN với nhau được... hai tiếng không VẦN với nhau thành ra LẠC VẬN, trái luật thơ!
Tuy hồn thơ, lời và ý đều quan trọng, nhưng nếu bài thơ không có VẦN thì không gọi là
thơ. Cho dù là thơ MỚI (không chú trọng đến luật) cũng cần phải có VẦN thì bài thơ mới
hay.
Tiếng bằng vần với tiếng bằng, tiếng trắc vần với tiếng trắc... không điều ngoại lệ!
5.1. Vần chính của vần bằng
A vần với A hoặc À, E vần với E hoặc È, AN vần với AN hoặc ÀN, INH vần với INH
hoặc ÌNH.
Một thí dụ cho vần chính của vần bằng:
Pháo nổ dồn, pháo nổ dồn,
Pháo đang xâu xé tâm hồn lẻ loi.
Trong hai câu LỤC BÁT trên Nhất Lang đã dùng vần chính của âm ÔN.
Mắt em hãy nghiền nhắm,
Anh tặng một nụ hôn,
Cho em ấm cả hồn,
Mộng liêu trai chìm đắm.
Bốn câu trên được viết theo thể loại thơ mới (5 chữ), hai chữ cuối của câu 2 và 3 phải vần
nhau, và Nhất Lang cũng đã dùng vần chính của âm ÔN. NHẮM và ĐẮM chỉ là trùng
hợp, hai chữ này không cần phải VẦN nhau.
5.2. Vần chính của vần trắc
Á với Á, Ả, Ã, hoặc Ạ vần với nhau. É với É, Ẻ, Ẽ, hoặc Ẹ vần với nhau. Một thí dụ cho
vần chính của vần trắc:
Cứ mỗi độ chiều về bên suối,
Anh trộm nhìn đắm đuối dáng hoa.
Vần chính của vần trắc đã được dùng trong hai câu SONG THẤT trên.
5.3. Vần thông của vần bằng
Vần thông là những tiếng không có cùng một ÂM như các vần CHÍNH, nhưng có cùng
một giọng PHÁT ÂM, có thể ăn vận với nhau được.
Nếu không am hiểu vần THÔNG chúng ta rất dễ bị LẠC VẬN khi làm thơ. Vì thế khi
muốn dùng vần thông, chúng ta cần phải hiểu rõ luật vần thông.
Theo kinh nghiệm và cách nhìn của Nhất Lang thì người miền Nam thường hay bị lầm lẫn
về vần THÔNG hơn (Nhất Lang chỉ nói là thường - riêng Nhất Lang cũng là người miền
Nam)
VẦN THÔNG là những tiếng có sự vận động của môi và lưỡi rất giống nhau khi ta phát
âm.
Nhất Lang cố gắng đem vào đây hầu hết những VẦN THÔNG mà chúng ta thường gặp...
Các bạn cố gắng chú ý: CẦN NHẤT LÀ NÊN THUỘC LÒNG những vần THÔNG này,
nếu không thì nên dùng chỉ vần chính mà thôi!
VẦN THÔNG của vần bằng:
A và Ơ thông với nhau. Ơ và Ư thông với nhau. Nhưng A và Ư KHÔNG thông với nhau
được!
E, Ê và I thông với nhau. O, Ô và U thông với nhau
Khi Nhất Lang bảo là THÔNG thì có nghĩa là những ÂM ấy VẦN với nhau được!
AI thông với AY. AI thông với tất cả các ÂM sau đây: OI, ÔI, ƠI, ƯƠI, UI, Nhưng, AY,
tuy thông với AI nhưng không thông với các ÂM trên! Tất cả những ÂM trên THÔNG với
nhau.
AO thông với AU. AU thông với ÂU, Nhưng AO không thông với ÂU.
AO thông với tất cả các âm sau: EO, ÊU, IÊU, IU, ƯU Nhưng AU và ÂU không thể thông.
AM thông với ƠM. ĂM thông với ÂM. ÊM thông với IM và EM. AN thông với ƠN. ĂN
thông với ÂN và UÂN
EN, IN, IÊN, và UYÊN thông nhau.
ON, ÔN và UÔN hoặc UN thông nhau.
ANG và ƯƠNG thông nhau.
ƯƠNG và UÔNG thông nhau, Nhưng ANG không thông với UÔNG.
ĂNG, ÂNG, và ƯNG thông nhau
ONG, ÔNG, và UNG thông nhau
ANH, ÊNH và INH thông nhau
ĂN và ĂNG, ÂN và ÂNG, hay UN và UNG vv... không thông nhau.
Những chữ có "G" theo sau nhất định chỉ thông với những chữ có G theo sau! Đây là điểm
mà Nhất Lang nhìn thấy người có giọng phát âm của miền Nam hay bị lầm vì sơ ý hay
theo thói quen. (Nhất Lang lắm khi cũng không ngoại lệ)
5.4. Vần thông của vần trắc
Vần thông của vần trắc cũng dựa theo nguyên tắc như những vần thông của vần bằng.
Vần thông có nguyên âm đứng cuối:
É, Í, Ẻ, Ỉ, Ẽ, Ĩ, Ẹ, Ị thông với nhau
Cũng như vần bằng tất cả những âm I có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều có thể thông
với những âm Y có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG,
... nhưng Y không thông được với E
Ổ, Ũ, Ó, hay Ộ, Ú, Ọ thông nhau
Ọ và ỦA thông nhau (tất cả các âm O và UA có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều thông)
ĨA và UỆ thông nhau
ÁO, IỄU, ẢO, YẾU, ÉO, ỈU, ỮU và tất cả các đồng âm có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG
đều vần được.
ÓI, ẢI, Ội, ỠI, ƯỢI, ÚI và các đồng âm có các dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần
nhau được.
ẤC và ỰC thông nhau
ẠM, ỢM, ÁM, ỞM thông nhau
ẶN và ẨN hay UẨN thông nhau
ÓNG và ÚNG
ẬT và ẮT
ẬT và ỨT
ÚT và UỐT vv...
Tóm lại: vần thông của vần trắc không khác chi vần thông của vần bằng về ÂM, tuy nhiên
ta cần hiểu rõ khác biệt giữa trắc và bằng.
6. Gieo vần
Sau đây là các điều đáng nhớ trong sự GIEO VẦN:
1-- A, Ă, Â rất thường được GHÉP với một phụ âm khác như C, M, N, P, T để tạo thành
âm GHÉP như: AC, ĂC, ÂC... AM, ĂM, ÂM... AN, ĂN, ÂN... AP, ĂP, ÂP... AT, ẮT, ẤT
vv... Những vần GHÉP nói trên CHỈ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng
trước!
Thí dụ: BÁT thông được với BẮT hay BẤT, mà KHÔNG thông được với CẮT hay CẤT
hoặc MẮT hay MẤT... tuy nhiên BÁT thông được CÁT hay MÁT vì chúng đều có âm
GHÉP "AT" theo sau.
TAM thông với TĂM hay TÂM, mà KHÔNG thông với CĂM hay CÂM, cũng không
thông được với TRĂM hay TRÂM... tuy nhiên TAM thông được với CAM, TRAM, vì
chúng có cùng âm GHÉP "AM" theo sau.
TAN thông với TĂN hay TÂN, mà không thông với VĂN hay VÂN vv...
2-- Khi có vần GHÉP bằng 2 hoặc 3 chữ nguyên âm với một phụ âm đứng cuối: IÊN,
UYÊN, UÂN, UÔN, ta nên lấy 2 chữ cuối cùng làm VẬN CĂN, Có nghĩa là dựa theo hai
chữ cuối cùng mà gieo vần...
Thí dụ: EN, IN, vần với YÊN hay UYÊN
ÂN vần với UÂN
ƠN vần với OAN
ON vần với UÔN
VẦN GHÉP bằng 2 HAY 3 NGUYÊN ÂM VỚI 2 PHỤ ÂM:
Thí dụ như chữ ƯƠNG... thì ta nên lấy 3 chữ cuối mà làm VẬN CĂN để GIEO VẦN.
CHO NÊN: ƯƠNG vần với ANG,
CŨNG NÊN nhớ: ƯƠNG vần với UÔNG, nhưng UÔNG không vần với ANG vì Ô không
vần với A.
3-- VẦN GHÉP bằng 2 hay 3 NGUYÊN ÂM:
Khi có loại âm này thì ta nên theo âm điệu mà lấy 1 hay 2 chữ mà làm VẬN CĂN.
Thí dụ: OA, OE, UÊ, UY... thì vận căn là A, E, Ê, Y; nên OA vần với A, OE vần với E,
UÊ vần với Ê, UY vần với I hay Y.
UÂY vần với ÂY
THÍ DỤ: IA, UYA, UA, ƯA... vận căn là I, Y, U, Ư, mà chữ A đứng cuối không ảnh
hưởng chi cả.
I vần với IA
Ư vần với ƯA
Ô vần với UA vv...
4-- Hai tiếng ĐỒNG ÂM và ĐỒNG NGHĨA thì không vần được!!!
Hai tiếng ĐỒNG ÂM mà KHÁC NGHĨA thì vần được!!!
Các bạn và các em đọc lại tất cả các bài đã "POSTED" để làm quen và có gì thắc mắc, cứ
hỏi... Nhất Lang sẽ cố gắng trả lời theo khả năng của mình.
Sau khi mọi người thông qua từ bằng & trắc, bổng & trầm, VẦN CHÍNH & THÔNG thì
mình sẽ bắt đầu nói đến THƠ LỤC BÁT!
Những bước trên là những điều căn bản mà các anh chị, các bạn, và các em cần phải hiểu
khi bắt đầu tập làm thơ.
Nhất Lang mong rằng những điều ghi trên giúp ích được cho các anh chị, các bạn, và em
muốn làm quen cùng nguyên tắc làm thơ. Bài kế tiếp Nhất Lang sẽ bắt đầu nói đến những
loại thơ.
Thơ lục bát
Lục Bát là 1 trong 2 thể loại thơ chính tông của Việt Nam. Thơ Lục Bát khác hơn Ngũ
Ngôn hoặc Thất Ngôn của Hán văn ở chỗ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn chỉ có CƯỚC VẬN
(vần ở cuối câu), còn Lục Bát có cả CƯỚC VẬN & YÊU VẬN (CƯỚC VẬN là vần ở
cuối câu, còn YÊU VẬN là vần ở giữa câu, nghĩa là vần của chữ thứ 6 của câu Bát). Vần
Cước còn gọi là vần CHÂN, chân thì ở cuối, và Vần Yêu còn gọi là vần LƯNG, lưng thì ở
giữa.
Lục Bát là thể loại thơ cứ 1 câu 6 chữ rồi đến 1 câu 8 chữ, cứ như thế mãi...
Vì có YÊU VẬN cho nên cứ 3 câu lại đổi vần 1 lần, bắt đầu từ câu Bát (câu thứ nhì của
bài). Vì có thể đổi vần, loại thơ này mỗi bài có thể viết đến hàng ngàn câu. Những bài Lục
Bát dài ta gọi là Lục Bát Trường Thiên hay Lục Bát Tràng Thiên.
Thông thường, trong thơ LỤC BÁT, chúng ta chỉ dùng mỗi vần bằng... tuy nhiên, vẫn có
trường hợp người ta dùng vần trắc.
Nhất Lang xin phép dùng bài Lục Bát nắn của nhà thơ TÚ XƯƠNG để làm mẫu:
NHỚ BẠN
Ai về còn nhớ ai KHÔNG?
Trời mưa một mảnh áo BÔNG che ĐẦU.
Nào ai có tiếc ai ĐÂU,
Áo bông ai ướt, khăn ĐẦU ai KHÔ?
Người đi Tam Đảo Ngũ HỒ,
Kẻ về khóc trúc, than NGÔ một MÌNH.
Non non, nước nước, tình TÌNH,
Vì ai ngơ ngẩn, cho MÌNH ngẩn ngơ.
Chú ý những chữ in to.
Câu LỤC đầu gieo vần ở chữ KHÔNG, chữ thứ 6 của câu Bát "BÔNG" theo vần chữ
KHÔNG, cuối câu BÁT này lại đổi sang vần mới là ĐẦU... cứ như thế, cứ 3 vần lại đổi 1
vần khác. Nhớ kỷ, chúng ta nhất định phải đổi vần, nếu cứ dùng vần cũ tiếp theo kế hoặc
vài câu kế đó thì âm điệu của bài thơ sẽ bị nhàm chán.
Trong bài trên, tác giả đã dùng TRÙNG TỪ hai lần; theo luật thì không đúng, nhưng trong
trường hợp này tác giả đã cố ý dùng như thế để khơi lại chủ ý của mình; nếu các bạn đọc
kỷ và chia bài thơ ra làm hai đoạn 4 câu, thì sẽ nhìn ra cách hành thơ rất là đặc biệt!
TRÁNH DÙNG ĐỘC VẬN TRONG THƠ LỤC BÁT:
Theo luật của thơ Lục Bát, cứ mỗi 3 câu ta phải gieo vần mới; nếu cứ dùng 1 vần bài thơ sẽ
trở nên nhàm chán.
Thí dụ như đoạn thơ này:
Casino! CASINO!
Lắng nghe giới trẻ trầm TRỒ ngợi KHEN.
Ngày đêm lắm kẻ bon CHEN,
Ôi thôi đủ cả sang HÈN ăn QUEN.
Bài cào, xì dách, đỏ ĐEN,
Bảy lửa, bảy trắng, chớp ĐÈN reo VANG.
Từ chữ KHEN cho đến chữ ĐÈN, tác giả đã dùng liên tục 6 chữ cùng 1 vần... tuy thơ có ý,
nhưng cách dùng chữ và VẦN đã làm giảm đi âm điệu của bài thơ. Ở vị trí chữ thứ 6 và
thứ 8 của câu Bát, ta không thể dùng 2 chữ có cùng một vần, đọc nghe không xuôi lại
không thể gieo vần mới.
Thơ Lục Bát khởi ở tiếng bằng, nên thông thường trong câu thơ nào tiếng thứ nhì cũng là
tiếng bằng. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp người ta dùng tiếng trắc, như khi dùng TIỂU
ĐỐI (tiểu đối là cách đối trong câu... chia câu thơ ra hai đọan bằng nhau thành hai vế đối)
hoặc trường hợp người ta gặp phải danh từ đặc biệt như:
Hà Nội băm sáu phố phường,
Ta cũng có thể đổi thành:
Hà Thành băm sáu phố phường,
Thế nhưng người ta vẫn muốn giữ nguyên hai chữ Hà Nội, nên đành phải dùng cách ngoại
lệ!
Còn một cách ngoại lệ khác, thường gặp trong CA DAO như:
Trai khôn tìm vợ chợ ĐÔNG, Gái khôn tìm CHỒNG giữa chốn ba QUÂN.
Thay vì chữ cuối của câu LỤC vần cùng chữ thứ 6 của câu BÁT, nhưng trường hợp này lại
trái hẳn, chữ cuối của câu LỤC này lại vần cùng chữ thứ 4 của câu BÁT theo sau, và cấu
kết của câu BÁT cũng thay đổi... thay vì chữ thứ 4 là trắc và thứ 6 là bằng, nhưng ở đây lại
trái ngược Tuy không sai, nhưng chúng ta không nên dùng cách này nhiều trong 1 bài
thơ!!!
Có người cho rằng nếu chữ thứ 2 là tiếng trầm, thì chữ thứ 6 nên là tiếng bổng, nhưng theo
Nhất Lang thì trường hợp này không phải là vấn đề quan trọng (nếu ta bố trí chữ được như
thế thì hay, còn không thì câu thơ vẫn không bị trúc trắc), mà chỗ quan trọng là chữ thứ 6
và 8 trong câu BÁT, như Nhất Lang đã nói qua trong bài nói về VẦN. Giờ viết lại thí dụ để
nhắc nhỡ các bạn và các em:
ĐÚNG:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI.
SAI:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.
Các bạn và các em đọc kỷ xem nơi nào trong câu thơ có vấn đề!!!
Để nhắc lại: Tiếng bổng của vần bằng là những tiếng KHÔNG CÓ DẤU HUYỀN, và tiếng
trầm là những tiếng CÓ DẤU HUYỀN.
Luật trầm và bổng chỉ nhất định áp dụng ở chữ thứ 6 và thứ 8 của câu BÁT trong thơ LỤC
BÁT!!! Nếu chữ thứ 6 là trầm thì chữ thứ 8 PHẢI là bổng, nếu chữ thứ 6 là bổng thì chữ
thứ 8 nhất định PHẢI là trầm.
Xem lại:
ĐÚNG:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI.
SAI:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.
CHỜ và TÔI - 1 là tiếng trầm và 1 là tiếng bổng, hai chữ không bị chõi nhau...
CHỜ và VỀ - cả 2 đều là tiếng trầm, làm mất di âm điệu của thơ.
Thêm một thí dụ:
SAI:
Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI, Đừng đi nhanh nhé bỏ RƠI tình TÔI.
Nghe qua lời thơ rất khá, nhưng cấu kết có trục trặc.
Nếu ta sửa lại vài chữ thế này thì câu thơ đọc nghe êm tai hơn...
Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI, Đừng đi nhanh quá, đừng RỜI xa TÔI.
Tuy vậy, khi gieo vần mới bằng chữ TÔI, thì chúng ta nên cẩn thận, cần phải dùng vần
chính, vì nếu dùng vần thông chúng ta lại có thể lập lại âm ƠI, thành ra lại bị trùng vần liên
tục.
1. Luật bằng trắc
1.1. LUẬT ĐỊNH CHO CÂU LỤC
Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN
Đây là "công thức" mà các bạn và các em có thể học thuộc và dựa theo khi làm thơ Lục
Bát:
Cho câu LỤC:
TD B TD T TD B(vần)
TD = Tự Do, nghĩa là bằng hay trắc cũng được.
B = bằng
T = trắc
1.2. LUẬT ĐỊNH CHO CÂU BÁT:
Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN, tiếng thứ 8 bằng và VẦN.
Cho câu Bát:
TD B TD T TD B(vần) TD B(vần)
LỤC và BÁT hợp thành:
TD B TD T TD B(vần*)
TD B TD T TD B(vần*) TD B(vần**)
Những điều trên là LUẬT bằng trắc nhất định cho thể thơ LỤC BÁT; làm thơ không đúng
theo luật ấy là trái luật!
2. VẦN
Trong hai câu thơ LỤC và BÁT, câu LỤC chỉ có 1 vần ở cuối câu (chữ thứ 6) gọi là
CƯỚC VẬN, mà câu BÁT thì lại có 2 vần ở giữa và cuối câu
Câu LỤC đầu có vần bằng đứng cuối và vần cùng chữ thứ 6 của câu BÁT theo sau... câu
BÁT này lại có vần bằng đứng cuối (vần mới) và vần cùng chữ bằng cuối của câu LỤC
theo kế... chữ cuối của câu LỤC này lại tiếp tục vần cùng chữ bằng thứ 6 của câu BÁT
theo kế đó... và câu BÁT này PHẢI có 1 vần bằng mới để đổi sang vần khác cho đoạn thơ
sau. Nếu vần cuối này không được thay đổi mà cứ tiếp tục kéo dài thêm như thí dụ trên thì
bài thơ sẽ trở nên nhàm chán và mất đi âm hưởng của thơ.
3. Đối
Thơ Lục Bát có 2 câu dài và ngắn khác nhau, cho nên khi ta muốn đối, phải dùng TIỂU
ĐỐI, tiểu đối là cách đối trong một câu, mà không dùng BÌNH ĐỐI như trong thơ THẤT
NGÔN hoặc BÁT NGÔN, hai câu đối nhạu Khi dùng tiểu đối, người ta chia đều câu thơ ra
hai đoạn... như trong câu LỤC, người ta chia ra thành 3 và 3, mỗi vế có 3 chữ đối nhau...
như trong câu Bát, người ta chia ra thành 4 và 4, hai vế đối nhau.
Thí dụ:
"Trơ như đá, vững như đồng,"
hay
"Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,"
hoặc
"Khi gió gác, khi trăng sân,"
Để nhắc lại về điều ngoại lệ mà Nhất Lang đã nói ở trên là ngoài danh từ riêng, khi đối
người ta có thể dùng chữ trắc ở chữ thứ 2 trong câu như câu đối thứ 3 trên.
Thêm một thí dụ:
"Trăng xanh gửi mộng, lan vàng hòa thơ."
Có rất nhiều cách đối: đối chữ, như: mẹ và cha, anh và chị, anh và em... đối vần: trắc và
bằng, đối ý: nghịch và thuận vv...
LỤC BÁT còn có các loại BIẾN THỂ, những loại này thường gặp trong Ca Dao, Bài Hát,
Hò Vè vv...
Đây là 1 thí dụ mà chúng ta đã nghe từ nhỏ:
"Con cò, cò bay lả, lả bay la,
Bay qua, qua cửa Phủ, Phủ bay về, về Đồng Đăng."
Đây là thí dụ cách dùng chữ trắc trong thơ LỤC BÁT:
Yêu là thương, yêu là HẬN, Là đợi chờ, là hờn GIẬN vu VƠ.
Yêu là lệ đẩm hoen MỜ,
Dở thương, dở hận, dở CHỜ, dở KHÔNG!
Khi dùng loại biến thể trên, hai câu đầu có sự thay đổi ở vị trí vần luật, như chữ ĐỢI và
HỜN ở vị trí thứ 2 và thứ 4 so với thường lệ.
(Tất cả các bài trong chủ đề này là Sưu tầm)
Chữ ký
Hãy cho đi thật nhiều...
aag
Xem hồ sơ
Tới trang web của aag
Tìm bài gởi bởi aag
#3
11-06-2005
aag
Hiện giờ đang:
Quản trị TTAG
Tham gia ngày: Aug 2003
Nơi Cư Ngụ: Việt Nam
Tuổi: 26
Bài gởi: 1,017
Trả lời: Tập làm thơ. Hướng dẫn từ A --> Z
Thơ song thất lục bát
Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong những truyện
thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ "chính tông" trong Việt thi.
Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT,
tạo thành một KHỔ với ý từ trọn vẹn. (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý.)
Dưới đây là thí dụ của thể Song Thất Lục Bát:
*Chú ý và ghi nhớ các chữ viết "HOA".
NIỀM ĐAU CỦA CÁT
Đâu ai HIỂU niềm ĐAU, của CÁT,
Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM.
Sóng ra biển, cát lại CHÌM,
Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!
Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,
Cã một ĐỜI sóng TẠT mưa TRÔI.
Đêm qua được sóng trao LỜI,
Đêm này lại ngóng ánh NGỜI lao XAO.
Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,
Vẫn âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM.
Sóng ơi, cứ tạt, cứ DÌM,
Miễn sao ta được sóng TÌM đến THĂM.
Ta yêu SÓNG từ TRĂM vạn KIẾP,
Đừng như THUYỀN nối TIẾP ra ĐI.
Thuyền rời cát chẳng buồn CHI,
Sóng xa, cát sẽ phế ĐI kiếp này!
CẤU KẾT:
Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ trắc, tiếng thứ 5 là chữ bằng, và tiếng thứ 7
là chữ trắc và VẦN.
Câu THẤT dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ bằng, tiếng thứ 5 là chữ trắc, vần cùng chữ
thứ 7 của câu THẤT trên, và tiếng thứ 7 là chữ bằng, tạo vần cho chữ cuối của câu LỤC
theo sau.
Hai câu Lục Bát thì theo luật của Lục Bát mà chúng ta đã biết qua.
Trong câu THẤT trên của đoạn 2 và các đoạn theo sau, mọi điều vẫn giữ nguyên, nhưng
chữ thứ 5 phải theo vần của chữ thứ 8 trong câu BÁT trên (chữ cuối của đoạn đoạn trên,
hay khổ trên.
"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"
Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ bằng, tiếng thứ 5 là chữ trắc và VẦN với
tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 của câu 2 này lại là chữ bằng và VẦN cùng chữ cuối
của câu 3, tức câu LỤC theo sau.
"Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐỆM"
***Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật bằng
trắc được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ
thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN.
Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Bát... chữ cuối của câu LỤC vần
với chữ THẤT của câu THẤT dưới (câu THẤT thứ nhì):
"Sóng ra biển, cát lại CHÌM,
Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!"
Tiếng thứ 5 của câu Thất theo kế vần với tiếng cuối của câu Bát trên: (tức câu THẤT thứ
nhất của đoạn sau... và là câu thứ năm trong bài):
"Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!
"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"
Tiếng cuối của câu Thất này lại tiếp tục vần với tiếng thứ 5 của câu Thất theo sau như lúc
bắt đầu.
ĐỐI: Thơ Song Thất Lục Bát có hai câu Thất, cho nên nếu người ta muốn đối, thì có thể
dùng bình đối, như:
"Quê hương BẠN kề BÊN biển BẮC,
Đất nước TÔI xa LẮC trời NAM."
BÌNH ĐỐI là một cách đối một câu chọi một câu (không như TIỂU ĐỐI: hai vế của một
câu đối nhau trong Lục Bát)
ĐIỀU NGOẠI LỆ: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thất trên là chữ trắc, nhưng trong
trường hợp KHÔNG CÓ ĐỐI ở câu THẤT dưới, thì chữ thứ 3 của câu Thất trên có thể là
chữ bằng. Ở đây chúng ta lại có thể dùng chữ thứ 3 này theo vần chữ cuối của khổ trên,
thay vì phải là chữ thứ 5 như luật bình thường.
*Điều giúp các bạn và các em dễ nhớ luật SONG THẤT là "cấu kết của 2 câu này đối
nghịch nhau":
trắc, bằng, trắc (luật của câu trên)
bằng, trắc, bằng (luật của câu dưới)
Thơ mới
Thơ Mới bao gòm nhiều dạng thơ tự do như các loại 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 chữ và thậm chí lên
đến 11 chữ.
Như Nhất Lang nói qua, cho dù là thể loại tự do người yêu nghệ thuật vẫn phải theo quy
tắc nghệ thuật. Thơ tự do là thơ không theo NIÊM LUẬT bắt buộc, nhưng vẫn phải theo
VẦN và kiểu cách ra sao là do biệt tài của mỗi người, của mỗi thi nhân.
(Ở đây Nhất Lang chỉ nói đến loại thơ thông dụng nhất trong lãnh vực tình yêu là loại thơ
Bát Ngôn - 8 chữ - Các loại khác xin các bạn xem ở bài nói về Thơ Tự Do.)
Một trong những loại Thơ Mới là thể loại thơ 8 chữ, một thể loại thơ mang đầy tư tưởng
lãng mạn, phát xuất từ văn học Tây phương, đã được du nhập và Việt hóa từ loại thơ "vần
cuối câu" của Pháp thành loại thơ 8 chữ vào khoảng những năm 1930-1940.
Thơ Mới không có chiều sâu bằng Thi Ca dân tộc; tuy nhiên nó đặc biệt "quan tâm" nhiều
đến lãnh vực tình yêu!
Qua cái tên chúng ta cũng hiểu được Thơ Mới hãy còn non nớt lắm, thế nhưng Nhất Lang
tin rằng trong tương lai, ở thế hệ mai sau, Thơ Mới sẽ được biến hóa hay hơn và được xử
dụng trong những tác phẩm lớn.
Với tin thần yêu mến nghệ thuật văn thơ, Nhất Lang xin được ghi lại đây những gì mình
học hỏi được và kinh nghiệm được trong những năm qua. Nếu gọi là hiểu biết thì thời gian
ấy hãy còn chưa đủ, Nhất Lang chỉ mong được làm một việc gì nhỏ nhoi để gọi là góp
phần gìn giữ những gì cha anh mình đã tìm tòi và để lại cho con em đời sau.
Thông thường thì loại thơ này mỗi câu có 8 chữ, thỉnh thoảng cũng có những câu có đến 9,
10 hoặc cả những 11 chữ. Vì cũng là thể loại tự do nên khi làm thơ BÁT NGÔN ta có thể
bắt đầu bằng bất cứ hình dạng nào, hoặc chữ bằng ở cuối câu đầu, hoặc chữ trắc ở cuối
câu đầu.
Trước khi đi vào cách làm thơ, Nhất Lang xin gửi đến các bạn một vài điều cần nhớ:
Cho dù là thể loại tự do, không theo khuôn khổ, trong thơ BÁT NGÔN có một điểm cần
xem như luật định - Nếu chữ cuối câu được xếp bằng chữ bằng thì chữ thứ 6 của câu nhất
định phải là chữ trắc, và ngược lại, nếu chữ cuối câu là chữ trắc thì chữ thứ 6 của câu nhất
định phải là chữ bằng -- Không theo luật định này thì bài thơ rất là trúc trắc khó đọc vì bị
mất đi âm điệu.
Ngoài ra, chúng ta nên chọn chữ sao cho bằng và trắc khá cân bằng... nếu một câu thơ có
đến 6 hoặc 7 chữ cùng loại (6 - 7 chữ bằng hoặc 6 - 7 chữ trắc) thì nên cẩn thận kẻo âm
điệu của bài thơ bị lạc, đọc nghe không giống thơ nữa. Tuy thế, ta không nhất định phải
dùng đúng 4 chữ bằng và 4 chữ trắc, 3 và 5 cũng đã đạt lắm.
Dưới đây là những cách làm thơ BÁT NGÔN (thơ 8 chữ). Nhất Lang sẽ tìm những thí dụ
thích hợp và "EDIT" bài lại sau cho các bạn xem.
Chú thích:
td = dùng chữ tự do - hoặc bằng, hoặc trắc
B = bằng
T = trắc
V = Vần
1)